|
Ngày 03 tháng 04 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Việc xây dựng và đưa vào vận hành 2 thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4 đã tác động xấu đến hệ thống lưu vực sông Đồng Nai
Trên sông Đồng Nai có thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4 nằm ở khu vực giáp ranh giữa 2 tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng do Công ty Thủy điện Đồng Nai (thuộc Tổng Công ty Phát điện 1 - Tập đoàn Điện lực Việt Nam) làm chủ đầu tư. Việc xây dựng và đưa vào vận hành 2 thủy điện này đã gây nhiều hệ lụy đối với môi trường - xã hội, tác động xấu đến hệ thống lưu vực sông Đồng Nai.
Để xây dựng 2 thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4, chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đã có hơn 2.600 ha rừng ven sông Đồng Nai bị xóa sổ, tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên.
Theo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 4, khi xây dựng công trình, một số diện tích rừng bị chặt phá. Đặc biệt, việc lấy gỗ để làm lán trại, củi đốt, bãi để xe máy, vật tư thiết bị và chỗ ở cho hàng ngàn công nhân đã làm giảm diện tích rừng, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái trong khu vực và vùng phụ cận.
Đối với vùng lòng hồ, khi diện tích nước ở cao trình 476 m, 322 ha đất rừng sẽ bị chìm ngập dưới lòng hồ thuộc các huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng), Đắk G’long (Đắk Nông). Ở khu vực hạ du của công trình, do nước sông từ hồ chứa sẽ được chuyển bằng đường hầm dẫn tới nhà máy, tạo nên một đoạn sông khô cạn, đây là sông chạy qua khu vực có hơn 7.000 ha rừng giàu và trung bình cùng hàng chục ngàn hecta rừng các loại.
Để bù đắp diện tích rừng bị thiệt hại, đầu năm 2014, UBND tỉnh Đắk Nông đã giao Công ty Thủy điện Đồng Nai trồng hơn 1.300 ha rừng, số còn lại trồng hết trong năm 2015. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Bằng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông, đến cuối tháng 3-2015, công ty chỉ mới trồng được 34 ha vì vướng một số vấn đề. Thực ra, số diện tích 34 ha là do Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng trồng từ vốn dịch vụ môi trường rừng nhưng tỉnh đã đồng ý đưa vào chỉ tiêu của Công ty Thủy điện Đồng Nai và doanh nghiệp có nghĩa vụ trả lại số tiền này.
Nói về những tác động của việc mất rừng, PGS-TS Bảo Huy (Trường ĐH Tây Nguyên) phân tích: Việc mất một diện tích rừng lớn ở lưu vực sông Đồng Nai có tác động rất lớn đến môi trường - xã hội như: giảm độ che phủ rừng, giá trị về gỗ, điều hòa khí hậu, đa dạng sinh học, sinh kế của người dân... “Đặc biệt, việc mất rừng ở lưu vực sông sẽ làm giảm chức năng điều hòa nguồn nước, giảm khả năng giữ nước vào mùa mưa dẫn đến nguy cơ lũ quét...” - ông Huy nói.
Ngày 28-3, phóng viên Báo Người Lao Động đã có cuộc khảo sát phía sau đập chính của Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 4, cắt ngang sông Đồng Nai, đoạn giáp ranh giữa 2 xã Quảng Khê (huyện Đắk G’long) và xã Lộc Bảo (huyện Bảo Lâm).
Đập chính của Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 4 chắn ngang sông Đồng Nai, nước từ dòng sông này được dẫn bằng đường hầm về nhà máy nằm ở xã Lộc Bảo phát điện rồi mới được trả lại dòng sông cách vị trí ban đầu khoảng 14 km. Theo quan sát của chúng tôi, đoạn sông phía sau thân đập chỉ có dòng chảy rất nhỏ do nước rò rỉ từ thân đập và khu rừng xung quanh; lòng sông trơ đá, cát, cỏ cây mọc um tùm.
Bà Trần Thị Dung, một người dân địa phương, cho biết mùa mưa, có thời điểm cả 5 cống xả được nâng lên hết cỡ, nước chảy xuống đoạn sông này ầm ầm như thác đổ. Còn mùa khô, sông cạn nước, cỏ mọc nhiều nên người dân thường đưa trâu bò xuống sông chăn thả. Trước đây, đoạn sông phía dưới thân đập có rất nhiều loài cá nhưng giờ thì chỉ trơ đá và cây.
Trả lời câu hỏi của phóng viên vì sao phía sau Nhà máy Thủy điện Đồng Nai 4 khô cạn, một lãnh đạo Phòng Kỹ thuật Công ty Thủy điện Đồng Nai nói: “Anh thấy môi trường chỗ đó thì đổ nước duy trì cái gì?”. Tuy nhiên, khi phóng viên hỏi “như vậy, theo ông thì không cần xả nước để duy trì dòng chảy?”, vị này khẳng định: “Chúng tôi vẫn thực hiện đúng như ĐTM là xả từ 0,6 m3/giây đến 1,4 m3/giây. Hiện nay, vẫn đang duy trì 0,6 m3/giây nhưng do lòng sông rộng nên chỉ chảy thành dòng nhỏ”.
Cũng theo vị này, trước khi xây dựng nhà máy, về mùa khô, đoạn sông có lưu lượng hơn 100 m3/giây, tính toán ban đầu sẽ có 14 km sông khô cạn. Tuy nhiên, sau đó, Nhà máy Thủy điện Đắk R’tíh xây dựng và xả nước với lưu lượng 68 m3/giây, cách thân đập khoảng 7 km nên thực tế chỉ còn 7 km khô cạn.
Tương tự, theo thiết kế kỹ thuật công trình thủy điện Đồng Nai 3, nước sông Đồng Nai được dẫn từ đập dâng tới nhà máy thủy điện nên đoạn sông sau đập có chiều dài 842 m, lưu lượng nước hầu như bằng 0 trong các tháng mùa khô. Tuy nhiên, theo ĐTM, do đoạn sông có độ ẩm phong phú, hẹp lòng, đáy bao gồm các loại trầm tích cát kết, bột kết biến chất che phủ lên đá bazan, các loại thủy sinh kém phát triển và khu vực này cũng không có công trình lấy nước dân sinh nên không cần phải xả nước khống để duy trì sinh thái lòng sông. (Người Lao Động 1.4)đầu trang(
Theo nhận định của các chuyên gia trong và ngoài nước, nếu không sớm có chính sách bảo tồn thì chỉ trong khoảng 20 – 30 năm nữa loài voi ở Tây Nguyên sẽ đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Theo Trung tâm Bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk, hiện toàn tỉnh có 6 – 7 đàn voi hoang dã (voi rừng) với số lượng từ 80 – 100 cá thể. Voi rừng sống thành từng đàn (đàn lớn nhất có khoảng 30 cá thể), tập trung ở Vườn Quốc gia Yok-Đôn và chạy dọc theo khu vực biên giới Campuchia đến Gia Lai. Qua theo dõi các đàn voi rừng, trung tâm bảo tồn voi phát hiện các đàn voi lớn có nhiều thế hệ voi cùng sinh sống, trong đó xuất hiện nhiều cá thể voi con. Đây là tín hiệu tốt đối với công tác bảo tồn vì voi hoang dã vẫn sinh đẻ bình thường.
Không gian sinh tồn bị thu hẹp buộc các đàn voi rừng phải thường xuyên di chuyển để kiếm thức ăn và nguồn nước. Bên cạnh đó, việc bị con người săn bắn, dồn ép khiến quần thể voi rừng ngày càng hung dữ hơn, tiềm ẩm nguy cơ xung đột giữa chúng với con người. Nhưng nhờ Trung tâm Bảo tồn voi làm tốt công tác phối hợp tuyên truyền pháp luật về bảo tồn voi với các địa phương có đàn voi thường xuyên sinh sống hoặc di chuyển qua nên xung đột giữa con người và đàn voi rừng ngày càng giảm. Từ cuối năm 2013 đến nay, gần như không còn hiện tượng đàn voi rừng tiến sâu vào khu đông dân cư và tấn công người trước đó.
Từ khi đi vào hoạt động, Trung tâm Bảo tồn voi cũng thường xuyên phối hợp với tổ chức động vật, trung tâm bảo tồn voi trong khu vực và trên thế giới để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm chăm sóc, cứu chữa, bảo tồn voi. Mới đây, Trung tâm đã phối hợp với Tổ chức động vật Châu Á (Animals Asia Foundation) cứu hộ, phẫu thuật và chữa lành vết thương cho 1 con voi rừng giống đực, khoảng 3 năm tuổi bị dính bẫy, được phát hiện tại Vườn Quốc gia Yok-Đôn vào dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi.
Vào năm 2013, UBND tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt “Dự án khẩn cấp Bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020” với tổng kinh phí tăng gần 85 tỷ đồng (thay cho “Dự án Bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 – 2015). Dự án này nhằm mục tiêu quản lý bền vững quần thể voi hoang dã và voi nhà; khôi phục và bảo vệ nguồn gen động vật, thực vật nguy cấp quý hiếm và đa dạng sinh học trong vùng sinh cảnh của voi; ngăn chặn, phòng ngừa hiệu quả xung đột giữa voi với người; đồng thời tăng cường hợp tác thực thi pháp luật, kiểm soát các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ngà và dẫn xuất từ voi…
Vào 30/3, UBND tỉnh Đắk Lắk đã có Quyết định giao 200ha đất rừng khộp tái sinh ở Tiểu khu 462, thuộc xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) cho Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk. Theo nhận định của trung tâm, đây là khu vực có nhiều điều kiện sinh cảnh thuận lợi, phù hợp cho công tác bảo tồn, phát triển loài voi.
Thế nhưng, trong số 85 tỷ đồng để thực hiện dự án thì có 60% kinh phí là từ Trung ương, số còn lại là do ngân sách của tỉnh Đắk Lắk và tài trợ của các tổ chức nước ngoài. Do nguồn kinh phí từ trung ương chưa được triển khai nên hiện tại, tỉnh Đắk Lắk chỉ cấp kinh phí theo kiểu “nhỏ giọt”, đủ trả lương cho cán bộ, nhân viên chứ chưa thể đầu tư trang thiết bị và hạ tầng cơ sở cho dự án. Nếu có đủ kinh phí, trung tâm bảo tồn voi cũng cần ít nhất 3 năm nữa để xây dựng và hoàn thiện các hạng mục như bệnh viện voi, khu chăn thả…
Có nghĩa là thời gian tới đây, khi phát hiện voi ốm hoặc gặp nạn, nếu không nhờ được các chuyên gia và máy móc nước ngoài thì công tác cứu chữa, điều trị chỉ có thể thực hiện bằng phương pháp thủ công, kém hiệu quả và ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của voi.
Hơn 30 năm qua, đàn voi nhà liên tục giảm từ 502 cá thể (vào năm 1980) xuống còn 46 cá thể (hiện tại). Từ năm 2007 đến hết 2014, đã có 21 con voi nhà bị chết do bị giết hại, thiếu thức ăn, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng kém… Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2015, đã có 3 con voi nhà ở huyện Buôn Đôn và Krông Ana chết bất thường. Mặc dù các cơ quan chức năng xác định voi chết vì già yếu và một số bệnh thông thường nhưng nhiều người cho rằng một trong những nguyên nhân khiến voi chết là do bị khai thác quá sức (voi phục vụ du lịch, phục vụ sản xuất) và không được chăm sóc tốt (chế độ ăn uống, chăn thả…).
Theo ông Huỳnh Trung Luân – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, voi nhà thuộc quyền sở hữu của các gia đình nên họ tùy ý chăm sóc, khai thác sức khỏe của voi, trung tâm chỉ có thể mời họ lên tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và phát thuốc. Muốn bảo tồn và phát triển đàn voi nhà, sau khi hoàn thành các hạng mục của dự án, trung tâm cần phải quy hoạch được đàn voi nhà (mua lại voi của người dân) vào trung khu bảo tồn.
“Hiện tại, việc phát triển đàn voi nhà chỉ còn thực hiện duy nhất qua con đường sinh sản. Nhưng do yếu tố môi trường thay đổi quá nhiều, voi nhà không có không gian để “yêu” nên tỉ lệ sinh sản của chúng trong 30 năm qua chỉ đạt 0,6%/năm và hiện tại đã gần như bằng 0. Mặc dù tỉnh Đắk Lắk đã có chính sách hỗ trợ cho các chủ voi, nài voi với mức 200.000 – 600.000 đồng/ngày tùy vào từng giai đoạn voi động dục, mang thai, sinh đẻ của voi nhưng theo các chủ voi và nài voi thì số tiền này khó có thể lấy được vì họ… chưa thấy voi nhà đẻ bao giờ” – ông Luân nói.
Cũng trong 3 tháng đầu năm 2015, người dân đã phát hiện 1 con voi rừng bị dính bẫy và 1 con voi rừng bị chết. Con voi rừng bị dính bẫy được phát hiện trong tình trạng bị rách vòi và chân trái bị mưng mủ, di chuyển rất chậm. Sau khi được chữa trị kịp thời, sức khỏe của chú voi đã có nhiều chuyển biến tốt nhưng phải cần 1 thời gian dài nữa mới có thể thả về tự nhiên.
Riêng con voi 1 năm tuổi chết ở xã Cư A Mung (huyện Ea H’Leo) vào ngày 24/3, khi phát hiện đã bị người dân cắt 1 mảng da lớn trên thân và toàn bộ 4 đế chân. Bước đầu, cơ quan chức năng xác định con voi này chết tự nhiên nhưng hành động trên cũng khiến nhiều người không khỏi ái ngại.
Từ năm 2005 đến năm 2012, đã có 14.000ha rừng tại 3 huyện có nhiều voi rừng sinh sống là Buôn Đôn, Ea Súp và Ea H’Leo bị chặt phá, lấn chiếm trái phép. Một số dự án thủy điện khi đi vào hoạt động cũng làm thay đổi dòng chảy các con sông, kéo theo sự thay đổi sinh cảnh hệ sinh cảnh ven sông… thu hẹp không gian sinh tồn của loài voi nói riêng và các loài động vật khác nói chung. Bên cạnh đó, việc săn bắn voi trái phép để lấy ngà, xương và lông đuôi voi cũng làm giảm đáng kể quần thể voi vốn đã ít ỏi này. Phải chờ 1 thời gian khá dài nữa trung tâm bảo tồn voi mới hoàn thiện và đi vào hoạt động, liệu khi đó có còn voi? (ThienNhien.net 2/4)đầu trang(
Từ khi bị hổ tát, ông Hỏa Văn Anh cứ ốm yếu, bệnh tật, rồi nằm liệt một chỗ, tính mạng chỉ còn tính bằng ngày.
Cách nay khoảng 15 năm, cũng tại thung lũng Lũng Chuột, trong khu rừng phòng hộ thuộc bản Nà Tông (Thượng Lâm, Lâm Bình, Tuyên Quang), đã diễn ra câu chuyện khó tin, về cuộc chiến giữa ông Chẩu Văn Đông và con cọp xám rất lớn, trước sự chứng kiến của nhiều người.
Người dân ở Thượng Lâm vẫn gọi vui ông Chẩu Văn Đông là Đông “Võ Tòng đả hổ”.
Ông Đông vốn ở bản Nà Luy, nhưng cũng có một đám nương ở thung lũng Lũng Chuột. Hồi đó, trong rừng nhiều cọp, gấu, nhiều lợn rừng độc chiếc, nên người dân lên nương, vào rừng phải đi theo nhóm. Họ làm việc muộn, nhưng về sớm, để tránh loài vật này tấn công.
Bọn lợn rừng thường về ủi sắn, nhai ngô, khi bị đuổi thường xuyên tấn công lại người, nên ai đi nương cũng mang theo súng săn.
Thấy con lợn nặng chừng 70kg đang phá nương, ông Chẩu Văn Đông đã phục kích bắn. Phát súng trúng đầu khiến lợn chết tại chỗ.
Lợn vừa gục xuống, khói súng vừa tan, thì con cọp xám rất lớn xộc đến quắp con lợn. Ông Đông tiếp tục giương súng bắn hổ. Thế nhưng, phát súng này xịt.
Không hiểu lúc đó máu anh hùng nổi lên, hay tiếc con lợn ngon, ông Đông đã bỏ súng, vác dao xông vào chém hổ. Cú chém rất mạnh vào lưng, nhưng dường như con hổ chẳng việc gì, nó quay lại giương tay tát một cái rách da mặt ông Đông.
Lúc đó, mấy người làm nương, nghe tiếng súng, tiếng hổ gầm thì kéo đến xem, nhìn thấy ông Đông đánh nhau với hổ, nhưng không ai dám đến gần, vì con hổ to quá.
Mặc dù máu me đầm đìa mặt, thấm đỏ vai áo, nhưng ông Đông vẫn vác dao tiếp tục xông đến. Tuy nhiên, con hổ quắp lợn chạy tót vào rừng. Mọi người khiêng ông Đông đi cấp cứu.
Hai tháng sau, thêm một lần đen đủi nữa cho ông Chẩu Văn Đông. Sau lần đánh nhau với hổ 2 tháng, khi làm nương ở Lung Sáng, ông Đông lại giáp mặt gấu ngựa. Ông Đông giương súng bắn.
Con gấu trúng đạn, nhưng không chết, nó lao vào vả mấy cái, khiến ông Đông lột cả da mặt, lưng, tay, quần áo rách te tua. Ông Đông phải giả vờ chết, con gấu mới bỏ đi.
Vụ đó, ông Đông phải nằm viện cả tháng trời, khâu cả trăm mũi. Hiện ông Đông vẫn sống ở bản Nà Luy, với những vết thương nham nhở do hổ tát, gấu vồ.
Rời thung lũng Lũng Chuột, chúng tôi vừa cúi vừa luồn, đến chiều tà, vượt qua mấy dải núi, thì một thung lũng rộng mênh mông hiện ra trước mắt.
Theo anh Nông Văn Huy, người bản Nà Tông, thung lũng này rộng chừng 40 héc-ta. Con suối nhỏ chảy qua thung lũng, có loài tôm lạ, mình vằn, chỉ nhỏ như cái que bông ngoáy tai, ăn rất ngon. Loài tôm đó, tiếng Tày gọi là Nghiều Lài, nên gọi luôn thung lũng này là Nghiều Lài.
Thung lũng Nghiều Lài có mấy vách đá dựng đứng, nhiều hang động cheo leo, người không trèo lên được, là nơi voọc ở.
Địa điểm này anh Huy thuộc từng gốc cây, ngọn cỏ, từng hòn đá, vì có nhiều năm phục kích săn thú ở đây, rồi mấy năm nay ăn ngủ trông voọc.
Anh Huy bảo rằng, Những vách núi phía trong thung lũng Nghiều Lài chính là hang ổ của bầy cọp. Loài cọp thường sống một mình, hoặc cặp đôi, mỗi con có một lãnh địa riêng, rộng chừng vài km vuông.
Anh Huy dẫn tôi ra phía ven suối, chỉ vào những dấu chân và phân tích như một chuyên gia động vật tài ba. Rất nhiều dấu chân lợn rừng, dấu chân nai, hoẵng. Tuy nhiên, dấu vết của loài don thì bặt tăm, tìm cả ngày không thấy.
Theo anh Huy, loài hổ đặc biệt thích ăn thịt don, nên hễ ở đâu có nhiều don, thì loài hổ mò đến và hễ ở đâu bỗng dưng hết don, nếu không có thợ săn thì chắc chắn có hổ.
Dẫn chứng đáng tin cậy nhất về sự xuất hiện của hổ tại thung lũng Nghiều Lài, là cách đây đúng 5 năm, vào năm 2010, ông Hỏa Văn Anh, người bản Nà Tông, đã bắn con hổ rất lớn ở đúng thung lũng này.
Khi đó, chính quyền đã thu súng, nhưng chưa cấm gắt gao, nên nhiều người còn giấu súng vẫn thi thoảng vào rừng săn thú.
Sáng sớm tinh sương, ông Hỏa Vân Anh xách súng vào rừng, đến chiều thì vào đến thung lũng Nghiều Lài, để đêm phục bắn don. Loài don cùng họ với nhím, là loài gặm nhấm, có nhiều trên núi đá vôi, đào đất móc củ quả, rễ cây, giun dế ăn như chuột, rất ngốc nghếch nên dễ bắn. Một tối, có thể ông bắn được vài con, ăn cả tuần mới hết.
Hôm đó, chiều tối, đang dựa vào bụi cây, thiu thiu ngủ, thì chợt tỉnh giấc khi thấy tiếng động. Trước mắt ông Hỏa Văn Anh, là con hổ vằn to tướng, như con bê, đang đứng bên mép con suối cạn nước.
Cơ hội ngàn năm có một, ông khai hỏa. Phát súng không trúng đầu, mà có vẻ chỉ trầy da, nên con hổ không chết. Con hổ quay lại xông đến, vả vào lưng, cào rách toạc cả tay, xé rách áo nham nhở.
Ông Hỏa Văn Anh không chịu khuất phục, dùng dao chém hổ tới tấp. Vừa đánh nhau với hổ, ông Hỏa Văn Anh vừa nạp lại đạn. Vừa giương súng định bắn tiếp, thì con hổ chạy mất hút vào rừng sâu.
Mặc dù bị thương, mất nhiều máu, nhưng ông Hỏa Văn Anh vẫn lết được về nhà, rồi được người thân đưa đi cấp cứu.
Điều kỳ lạ, là sau khi bị hổ vồ, mặc dù vết thương không ảnh hưởng đến tính mạng, nhưng sức khỏe ông cứ yếu dần. Gia đình đưa đi chữa trị nhiều nơi, tốn kém thuốc men, nhưng bệnh tật không thuyên giảm.
Cũng không ai rõ ông bị bệnh gì, chỉ biết rằng, ông cứ ốm yếu dặt dẹo quanh năm và giờ thì nằm một chỗ, mạng sống chỉ còn tính bằng ngày. (VTC 1.4)đầu trang(
2.4, ông Phạm Văn Liệu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên huyện Châu Thành - Bến Cầu (Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh) xác nhận đơn vị này vừa phát hiện có thêm 0,5 ha thuộc khu rừng lịch sử xã Hòa Thạnh (H.Châu Thành) có dấu hiệu chết, vụ việc đã được báo cáo lên UBND H.Châu Thành.
Cũng theo ông Liệu, nguyên nhân ban đầu được xác định diện tích trên bị "bức tử" là do ảnh hưởng nước thải của một nhà máy chế biến mủ cao su đóng trên địa bàn thải ra.
Trước đó, tại khu rừng này, nước thải nhà máy cũng đã làm chết 0,8 ha. Ngày 1.4, HĐND H.Châu Thành cùng các đơn vị chuyên môn đã đi khảo sát hiện trạng để có hướng xử lý. (Thanh Niên 3.4)đầu trang(
;
Hôm 1.4, đoàn giám sát của Ban Pháp chế HĐND tỉnh có buổi làm việc với lãnh đạo UBND huyện Đông Giang, kiểm tra kết quả thực hiện công tác điều tra, xử lý các vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng trong hai năm 2013 - 2014.
Theo báo cáo, trong các năm 2013 - 2014, tình trạng khai thác gỗ, khai thác khoáng sản trái phép, phá rừng tự nhiên lấy đất sản xuất vẫn còn diễn ra ở một số địa bàn của huyện Đông Giang, giữa vùng giáp ranh huyện Đông Giang với địa bàn các huyện Nam Giang, Đại Lộc và Hòa Vang (TP.Đà Nẵng), chưa có biện pháp giải quyết triệt để.
Qua các đợt truy quét, ngành chức huyện Đông Giang đã phát hiện và xử lý hành chính 234 vụ vi phạm về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, xử phạt với số tiền hơn 1,8 tỷ đồng (trong đó, phá rừng trái pháp luật 47 vụ; khai thác rừng trái phép 134 vụ; vận chuyển lâm sản 37 vụ; mua bán, cất giữ lâm sản 5 vụ và vi phạm chung các quy định về quản lý, bảo vệ 11 vụ). Ngoài ra, địa phương đã điều tra, xử lý hình sự 3/4 đối tượng có hành vi hủy hoại rừng.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, xác minh diện tích rừng bị phá không có cơ sở pháp lý để xác định loại rừng đặc dụng hay rừng phòng hộ. Do vậy, cơ quan chức năng địa phương không đủ pháp lý để điều tra, xử lý hình sự, nên chuyển qua xử lý hành chính theo quy định.
Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo huyện Đông Giang cũng đề nghị các sở, ngành liên quan của tỉnh cần sớm triển khai Thông báo số 191/TB-UBND, ngày 30.5.2014 của UBND tỉnh về kết quả làm việc với các sở, ngành liên quan của TP.Đà Nẵng giải quyết tình trạng xâm lấn đất khu vực giáp ranh giữa xã Tư (huyện Đông Giang) với xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang, TP.Đà Nẵng), tại núi Cà Nhông trước đây (Báo Quảng Nam đã nhiều lần phản ánh).
Cùng ngày, đoàn giám sát Ban Pháp chế HĐND tỉnh cũng đã có buổi làm việc với TAND và Viện KSND huyện Đông Giang, liên quan đến công tác điều tra, xử lý các vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo về rừng trên địa bàn. (Báo Quảng Nam 1.4)đầu trang(
30/3, ba cá thể gấu ngựa nuôi nhốt trong 2 trang trại tư nhân tại Bến Tre và Bà Rịa đã được Tổ chức Động vật Châu Á cứu hộ và đưa về tới Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam tại Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong đó có hai cá thể gấu ngựa từ thành phố Bến Tre đã được chủ nuôi là bà Phạm Thị Thanh Bình tự nguyện giao nộp cho nhà nước sau khi nuôi khai thác lấy mật trong 15 năm từ năm 2000. Cá thể gấu đực nặng khoảng 150 kg được các cán bộ Tổ chức đặt tên Yogi, cá thể gấu cái khoảng 160 kg được gọi là Coco (Coconut: Dừa) để kỉ niệm quê hương Bến Tre nơi chúng được cứu hộ. Đặc biệt, hai cá thể này đều bị cụt chi, Coco mất bàn tay trái, Yogi mất tay phải, rất có thể do trước đây chúng đã bị trúng bẫy ngoài tự nhiên.
Đoàn cứu hộ gồm một bác sỹ thú y cao cấp, một y tá thú y, các nhân viên chăm sóc gấu đã chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, tiến hành gây mê khám sức khỏe, kiểm tra chip đăng kí cho hai cá thể gấu này ngay trong quá trình chuyển giao. Đại diện cán bộ kiểm lâm Tỉnh Bến Tre, và gia đình chủ nuôi cũng có mặt và nhiệt tình hỗ trợ đoàn cứu hộ.
Cũng giống như hai cá thể gấu tại Bến Tre, cá thể gấu thứ ba được chủ nuôi gấu tại Bà Rịa tự nguyện giao trả gấu cho nhà nước, Kiểm lâm Bà Rịa và Trung tâm Cứu hộ Động vật Hoang dã Hà Nội đã giao cho Tổ chức Động vật Châu Á cứu hộ và đưa về Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam.
Cá thể gấu thứ ba này to lớn, nặng khoảng 200 kg, được đặt tên theo địa danh của Thụy Sỹ: Bern để cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ngài đại sứ Thụy Sỹ tại Việt Nam đã giúp đỡ Tổ chức rất nhiều trong việc vận động cứu hộ gấu Hạ Long. Chuyến cứu hộ diễn ra cùng lúc khi Tổ chức Động vật Châu Á đang vận động để các chủ gấu Quảng Ninh chuyển giao gấu về Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam tại Tam Đảo.
Theo Tổ chức Động vật Châu Á, do bị thu hẹp môi trường sống (sự biến mất dần của các cánh rừng tự nhiên), và nạn săn bắt gấu tự nhiên đưa vào các trại gấu để trích hút mật, số lượng gấu ngoài tự nhiên ước tính chỉ còn vài trăm cá thể.
Trong khi đó, theo số liệu mới nhất của Cục Kiểm lâm Việt Nam vào đầu năm 2015, chỉ còn khoảng 1.245 cá thể gấu ngựa đang bị giam cầm trong 430 trại nuôi nhốt gấu trên cả nước. Tại các trại gấu, chúng bị giam cầm suốt đời trong các lồng cũi chật hẹp và bị chọc kim vào túi mật. Chúng bị tổn thương cả về sức khỏe và tâm lý. Có rất nhiều cá thể gấu đã bị tàn tật sau khi được cứu hộ, những cá thể này sẽ không sống được nếu thả về tự nhiên.
Ngoài tự nhiên, loài gấu có thể sống được 30-35 năm, các chú gấu may mắn trên có thể được sống phần đời còn lại trong an toàn và tự do. Tổ chức Động vật Châu Á cam kết chăm sóc trọn đời cho gấu. (Nông Thôn Ngày Nay + Nông Nghiệp VN 3.4; Vnmedia 2.4)đầu trang(
Cơ quan chức năng vừa phát hiện bắt quả tang 1 vụ, 5 đối tượng khai thác gỗ trái phép tại tiểu khu 356, rừng đặc dụng thuộc lâm phận Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, thuộc địa bàn huyện Hàm Thuận Nam.
Qua kiểm tra cơ quan chức năng thu giữ 4,284 m3 gỗ căm xe nhóm IIA, 5 xe máy và 1 cưa máy. Vụ việc trên đang được Công an huyện Hàm Thuận Nam thụ lý theo thẩm quyền. (Báo Bình Thuận 1.4)đầu trang(
Theo nguồn tin riêng của Báo Bình Định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Quy Nhơn đang khởi tố vụ án đốt vàng mã làm cháy rừng ở núi Bà Hoả, TP Quy Nhơn vào tháng 8.2014, gây thiệt hại hại lớn về kinh tế. Theo tính toán của cơ quan điều tra, vụ cháy rừng đã gây thiệt hại về kinh tế 320 triệu đồng.
Như Báo Bình Định đã đưa tin, vào khoảng 8 giờ sáng ngày 9.8.2014, anh Nguyễn Văn Lâm (SN 1975, tổ 27, khu vực 4 phường Thị Nại, TP Quy Nhơn) cùng vợ là Đinh Thị Kim Uyên đến khu vực nghĩa địa hóc Bà Bếp thuộc tổ 17A, khu vực 4, phường Đống Đa, TP Quy Nhơn, để thắp nhang cho mộ người thân. Đốt nhang xong, chị Uyên ở lại chờ tàn nhang rồi thu dọn đồ về, còn anh Lâm đi đến mộ của anh ruột là Nguyễn Văn Vinh để thắp nhang. Trong quá trình đốt nhang, anh Lâm làm rơi tàn lửa xuống đám cỏ và thực bì và khoảng 2 giờ sau, lửa bốc cháy. Gió thổi mạnh làm lửa lan ra, vượt ngoài tầm kiểm soát của lực lượng bảo vệ rừng.
Tỉnh đã chỉ đạo, huy động trên 800 cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm, dân quân địa phương, công nhân Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn và nhân dân cùng tham gia chữa cháy. Tuy nhiên, đến 3 giờ ngày 10.8.2014, vụ cháy mới được dập tắt hoàn toàn. Vụ cháy làm thiệt hại khoảng 20 ha rừng của Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn. (Báo Bình Định 1.4)đầu trang(
Các chuyên gia môi trường khẳng định, để bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH, cần thiết phải thực hiện quan trắc thông qua việc theo dõi các chỉ thị ĐDSH, các kết quả quan trắc một mặt xác định được xu thế biến đổi của biến đổi của ĐDSH, mặt khác còn đánh giá được hiệu quả quản lý ĐDSH.
Quan trắc ĐDSH được lặp đi lặp lại trực tiếp hoặc gián tiếp một cách có hệ thống các chỉ thị phản ánh hiện trạng, xu hướng biến đổi của ĐDSH, các ảnh hưởng bất lợi đối với tài nguyên ĐDSH để từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có các hoạt động ưu tiên, cải thiện công tác quản lý các hệ sinh thái, các loài và nguồn gen.
Quan trắc đa dạng sinh học là một lĩnh vực mới mẻ ở Việt Nam nếu so với những nghiên cứu và điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên nói chung và điều tra về động thực vật rừng, động thực vật biển và ven biển nói riêng đã được chúng ta tiến hành từ rất lâu. Quan trắc đa dạng sinh học chỉ thực sự nổi lên như là một yêu cầu cấp bách, là sự cần thiết cho công cuộc bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững của các quốc gia từ khi Công ước quốc tế về đa dạng sinh học (CBD) chính thức yêu cầu và hướng dẫn các quốc gia thực hiện quan trắc đa dạng sinh học vào những năm đầu của thế kỷ 20.
Nghiên cứu và thực hiện quan trắc đa dạng sinh học của Việt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua một số dự án, chương trình nhỏ lẻ. Gần đây, các nghiên cứu có tính tổng quan liên quan đến phương pháp luận, cách tiếp cận trong quan trắc đa dạng sinh học phần lớn do Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học trực thuộc Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) chủ trì và điều phối.
Hoạt động quan trắc đa dạng sinh học được thực hiện trên một số đối tượng như: Hoạt động giám sát, quan trắc chim ở Việt Nam tại VQG Ba Bể (Bắc Kạn), Khu BTTN Na Hang (Tuyên Quang), Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn, Khu BTTN Đông Sơn –Kỳ Thượng…
Hoạt động giám sát, quan trắc các nhóm loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng như loài hổ, gấu (VQG Pù Mát- Nghệ An), thú linh trưởng VQG Phong Nha - Quảng Bình; quần thể Voọc đầu trắng Vườn quốc gia Cát Bà - Hải Phòng… Quan trắc đa dạng sinh học hệ sinh thái biển tại Khu bảo tồn biển Nha Trang. Trong khuôn khổ dự án do GEF/Ngân hàng Thế giới tài trợ, các đợt khảo sát toàn diện nhất Việt Nam về các loài và sinh cảnh trong vùng vịnh Nha Trang đã hoàn thành.
Đề tài “Nghiên cứu xây dựng một số thông số, quy trình phục vụ quan trắc đa dạng sinh học quốc gia” do TS. Hoàng Thị Thanh Nhàn – Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học làm Chủ nhiệm đề tài đã thu được một số kết quả quan trọng.
Đề tài đã xây dựng được bộ chỉ thị quan trắc đa dạng sinh học đất ngập nước áp dụng cho Việt Nam gồm 25 chỉ thị thuộc nhóm áp lực, hiện trạng và đáp ứng trong đó có 17 chỉ thị bắt buộc áp dụng. Các chỉ thị gồm cả những chỉ thị phản ánh các yếu tố môi trường cũng như các yếu tố đa dạng sinh học, đồng thời bộ chỉ thị cũng phản ánh được các tác động của con người đến các hệ sinh thái đất ngậpnước thông qua các chỉ thị về mật độ dân số, các hoạt động khai thác cũng như các chínhsách tác động đến hệ sinh thái đất ngập nước.
Vận dụng kinh nghiệm quốc tế và căn cứ vào tình hình thực tiễn Việt Nam, đề tài tiến hànhxây dựng quy trình quan trắc đa dạng sinh học đất ngập nước cho bộ chỉ thị đồng thời đề xuất 51 điểm quan trắc trong mạng lưới quan trắc với các mức độ ưu tiên khác nhau. Việc áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị quan trắc đa dạng sinh học đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy và Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long khẳng định nhìn chung, bộ chỉ thị có thể đo đạc và quan trắc.
Trong khuôn khổ đề tài cũng đề xuất đề án quan trắc đa dạng sinh học đất ngập nước Việt Nam. Bởi theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay, đất ngập nước đang bị tác động bởi rất nhiều yếu tố làm thay đổi địa mạo, chế độ thủy văn và đặc tính của đất, đặc biệt là tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, có khi làm thay đổi bản chất của hệ sinh thái đất ngập nước. Những tác động này là nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH.
Đất ngập nước rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường. Do đó, việc quan trắc ĐDSH đất ngập nước là một công cụ quan trọng phục vụ công tác quản lý đất ngập nước, đặc biệt là công tác bảo tồn hệ sinh thái và ĐDSH.
Quan trắc ĐDSH cần phải được tiến hành thường xuyên, định kỳ để có các số liệu, thông tin một cách hệ thống và liên tục, giúp cho việc phân tích, đánh giá diễn biến về ĐDSH của đất ngập nước, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn có hiệu quả hơn, đảm bảo thực hiện quản lý đất ngập nước theo các mục đích và chức năng của đã được xác định. (Tài Nguyên & Môi Trường 2/4)đầu trang(
Ngày 2.4, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, người bị UBND ra quyết định xử phạt là bà Nguyễn Thị Thủy (sinh năm 1965),í nghề nghiệp buôn bán, trú tại thôn 3, xã Đạ Oai, huyện Đạ H.
Trước đó, qua kiểm tra, lực lượng kiểm lâm Lâm Đồng đã phát hiện và thu giữ của bà Thủy nhiều cá thể động vật rừng và thịt động vật rừng, trong đó có cả động vật thuộc nhóm IB như chà vá chân đen, gà tiền mặt đỏ...
Với 72 cá thể động vật còn sống bị thu giữ, lực lượng kiểm lâm đã tổ chức thả về môig trường tự nhiên như khỉ đuôi dài, gà rừng, gà tiền, kỳ đà hoa ráo trâu, trăn đất...; lực lượng kiểm lâm còn tiêu hủy 56.7k| động vật rừng như cầy vòi hương, heo rừng, voọc chà vá chân cheo cheo, rắn hổ mang...(Lao Động 3.4)đầu trang(
Ngày 2.4, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết vừa có quyết định phê duyệt bổ sung dự toán kinh phí phòng cháy, chữa cháy (PCCC) rừng mùa khô 2014 - 2015 trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, khoản kinh phí bổ sung này là 800 triệu đồng được trích từ nguồn sự nghiệp lâm nghiệp của ngân sách tỉnh; chi cho các đơn vị thuộc cấp tỉnh quản lý (550 triệu đổng) và các cơ quan và đơn vị thuộc huyện quản lý (250 triệu đồng). (Nông Thôn Ngày Nay 3.4)đầu trang(
2.4 tại TP.Đà Lạt (Lâm Đồng), Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Tổ chức Sáng kiến thương mại bền vững và UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp tổ chức “Hội thảo chương trình phát triển Tây nguyên bền vững - thảo luận và đề xuất các giải pháp can thiệp tại Lâm Đồng”.
Theo bà Lê Thị Hà Liên, Phó giám đốc Trung tâm thông tin - Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, từ năm 1976 - 2012, diện tích rừng tự nhiên ở Tây nguyên giảm khoảng 31,8% (1.196.000 ha), tương ứng 33.200 ha/năm.
Đáng lo ngại trong tổng số diện tích rừng còn lại chỉ có 10,4% là rừng giàu, 67% là rừng nghèo, còn lại là trung bình. Việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp, thủy điện, khai thác gỗ, vấn đề di dân... là những nguyên nhân chính dẫn đến mất rừng. (Thanh Niên 3.4)đầu trang(
Đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra nhiều vụ cháy rừng tại các huyện, thành phố. Trong đó, có địa bàn liên tiếp xảy ra cháy rừng trong cùng một thời điểm.
Các vụ cháy rừng đều đã được khống chế và hậu quả đang được khắc phục, tìm nguyên nhân, nhưng thực tế cho thấy công tác quản lý bảo vệ rừng còn có những vấn đề cần quan tâm....
Điểm lại các vụ cháy rừng trên địa bàn tỉnh từ tháng 2 đến nay thấy rằng: Hầu hết các vụ cháy rừng xảy ra đều vào thời điểm người dân đang làm nương và thời tiết khô hanh, gió to. Do vậy, khi lửa bùng phát thường rất khó khống chế, phải mất nhiều thời gian, tốn kém nhân lực.
Điển hình vào ngày 25-2, tại bản Hua Ty B, xã Chiềng Bôm (Thuận Châu) đã xảy ra cháy rừng trồng, mức độ thiệt hại về rừng là 25% (15,3ha). Mặc dù đã huy động lực lượng tại chỗ và các địa bàn khác tham gia chữa cháy; nhưng do rừng bị cháy từ trong ra, thời tiết nắng nóng, địa hình đi lại khó khăn nên khi phát hiện cháy lúc 9 giờ, phải đến 17 giờ mới không chế được lửa.
Tiếp đó, từ đầu tháng 3 đến ngày 17-3, tại Thành Phố đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, gây thiệt hại trên 17ha rừng (thảm thực vật dưới tán, rừng tre và nứa). Trong đó, có 3 vụ cháy xảy ra trong cùng một ngày. Cũng bởi nắng nóng, gió to, trời tối, địa hình hiểm trở nên các lực lượng ứng cứu rất khó khăn...
Các vụ cháy rừng xảy ra vừa qua đều được phát hiện kịp thời, có sự tham gia tích cực ứng cứu của lực lượng tại chỗ. Thậm chí, tại Thành Phố còn huy động được cả nhân dân ở các địa bàn khác cùng tham gia chữa cháy, tuy nhiên, toàn bộ các vụ cháy rừng đến nay gần như không xác định được nguyên nhân, đối tượng.
Ông Hoàng Hặc, Trưởng Ban Quản lý rừng đặc dụng Copia thông tin: Diện tích rừng bị thiệt hại không phải ít. Khi xảy ra cháy thì vai trò của lực lượng tại chỗ rất quan trọng. Bởi đa phần rừng cháy ở những khu vực đi lại hiểm trở nên việc phát huy các phương tiện chữa cháy chuyên dụng gặp nhiều khó khăn. Khi cháy rừng thì giải pháp quan trọng nhất chỉ là tạo đường băng cản lửa. Diện tích rừng bị cháy đều nằm trong diện được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đơn vị có trên 2.000 ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng và đều giao khoán cho cho các bản quản lý, bảo vệ. Do vậy, việc chi trả kịp thời một phần tiền cho các bản cũng là giải pháp để giữ rừng trong thời điểm này.
Cũng như địa bàn Thuận Châu, lực lượng tham gia chữa cháy rừng hiệu quả nhất vẫn chỉ là tại chỗ với dao, cuốc khi được huy động. Còn các phương tiện chữa cháy chuyên nghiệp không phát huy được hiệu quả.
Ông Đào Duy Giang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Yên cho biết: Qua thực tế thấy rằng cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa thật sự vào cuộc, còn cho rằng việc bảo vệ rừng là của kiểm lâm. Cùng với đó, công tác đầu tư cho quản lý, bảo vệ rừng tại cơ sở còn nhiều hạn chế, nhất là các trang thiết bị ở cơ sở gần như không có gì. Người dân vẫn cố tình đốt nương không đúng giờ quy định, khi đốt nương không báo cáo với trưởng bản. Ngoài ra, lực lượng của đơn vị chưa đáp ứng được khi chỉ có 21 người (gồm cả cán bộ văn phòng) được giao, quản lý bảo vệ trên 40.000 ha rừng.
Chỉ riêng địa bàn xã Hang Chú có trên 6.000 ha rừng phải cần tới 6 kiểm lâm địa bàn, nhưng thực tế chỉ có 1 kiểm lâm viên. Do vậy, việc quản lý, phát hiện các vụ việc liên quan tới rừng gặp nhiều khó khăn khi thiếu sự phối hợp, vào cuộc của cấp ủy, chính quyền cơ sở và đơn vị liên quan.
Là địa bàn có diện tích rừng cháy từ đầu năm đến nay nhiều nhất (chủ yếu là rừng tre, nứa). Trong 5 vụ cháy rừng chỉ xác định được duy nhất nguyên nhân, đối tượng của một vụ là do đốt nương. Còn lại không xác định được nguyên nhân và đối tượng gây cháy rừng.
Ông Lê Trần Phú, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thành phố, nói: Nhờ huy động kịp thời người dân tại các bản có kinh nghiệm đi rừng, thông thuộc địa bàn cùng lực lượng tại chỗ tạo đường băng cản lửa. Do vậy, với những địa bàn khó khăn, hiểm trở cần phải quan tâm đầu tư trang thiết bị cho lực lượng phòng cháy cơ sở, như: Loa cầm tay, đèn pin, dao phát, can đựng nước... là những dụng cụ rất cần thiết cho việc chỉ huy và thực hiện công tác chữa cháy rừng tại thực địa. Đối với địa hình cao, gió mạnh, đi lại hiểm trở chỉ có thể áp dụng các biện pháp chữa cháy thủ công. Lực lượng tại chỗ phải được quan tâm đầu tư và coi trọng hàng đầu.
Từ các vụ cháy rừng thấy rõ vai trò của phương châm “4 tại chỗ”. Trong đó, việc sử dụng lực lượng quần chúng tại nơi xảy ra cháy rừng là giải pháp hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, để công tác phòng, chống cháy rừng thật sự hiệu quả, ngoài việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhằm nâng cao nhận thức cho người dân thì việc đầu tư dụng cụ thiết yếu, củng cố và có chính sách hỗ trợ hợp lý cho các tổ, đội PCCCR tại cơ sở là điều cần phải quan tâm. Có vậy, việc phát hiện, xử lý các tình huống xảy ra với rừng mới được triển khai kịp thời, hiệu quả... (Báo Sơn La 2/4)đầu trang(
Nông dân vùng cao của tỉnh Sơn La đang tiến hành đốt nương, làm đất, chuẩn bị vụ gieo trồng trên nương, trong khi thời tiết toàn tỉnh đang khô hanh, nhiệt độ ngoài trời có lúc 34-37 độ C do chịu ảnh hưởng của gió Lào (gió Tây Nam) rất dễ xảy ra cháy rừng, cháy nhà.
Theo Cục Kiểm lâm cảnh báo nguy cơ cháy rừng, Sơn La có các khu vực thuộc huyện Thuận Châu, Mường La, thành phố Sơn La, Yên Châu, Sông Mã, Mai Sơn, Bắc Yên, Phù Yên cảnh báo nguy cơ cháy rừng cấp năm (cấp cực kỳ nguy hiểm). Những khu vực này nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Để phòng chống cháy rừng, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Sơn La đã chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống cháy rừng theo kế hoạch, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm quy định giờ đốt nương, đảm bảo không để xảy ra cháy lan.
Trong hai tháng đầu năm, lực lượng kiểm lâm Sơn La đã phát hiện và lập hồ sơ xử lý 48 vụ vi phạm các quy định về quản lý rừng như phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép, buôn bán vận chuyển lâm sản. Sơn La hiện có khoảng 648.000ha rừng, trong đó rừng khoanh nuôi bảo vệ trên 108.000ha. (ThienNhien.Net 3.4)đầu trang(
"Có cầu thì phải có cung chứ", New York Times dẫn lời một quản lý nhà hàng đặc sản thú rừng tại thành phố Hồ Chí Minh trong bài viết về nạn buôn thú hoang dã quý hiếm ở Việt Nam.
Luc Van Ho nhẹ nhàng xuyên qua khu rừng như một vũ công. Những mảnh tre và lá tràm khô dưới mặt đất gần như không gãy vụn dưới đôi chân trần, chỉ có mùi khói thuốc lá làm lộ ra sự hiện diện của anh ta.
Luc, thợ săn 45 tuổi, rời căn nhà lợp tre trong rừng U Minh từ khi rạng sáng để kiểm tra khoảng 6 chiếc bẫy tự chế trong bụi rậm và trên bờ kênh. Những bẫy này được đặt theo dấu vết của động vật, thường là rắn và rùa. Ông dừng lại ở một chiếc làm bằng gỗ và dây phanh xe đạp, được phủ kín bằng lá cây. Chiếc bẫy trống, không có gì bất thường.
"Trước đây, khu rừng này rất khác", ông Luc nói. "Bây giờ, động vật có quá ít nên hầu hết thợ săn đã đổi nghề".
Thế nhưng, hai tuần trước Luc đã bắt được 9 con rùa hộp Đông Nam Á và rùa ăn ốc Malaysia; 5 con rắn vòi voi; một số chim nước và hai con kền kền Himalaya hiếm. Để an toàn, ông Luc giấu kền kền ở nhà anh trai mình, nhốt chúng trong phòng ngủ cho đến khi tìm được hướng tiêu thụ.
Ông Luc trước đây thường săn được nhiều động vật quý hiếm, trong đó có tê tê. Còn được gọi là thú có vẩy ăn kiến, tê tê là một trong những động vật có vú được buôn bán nhiều nhất trên thế giới. Bạn hàng của Luc thường là các thương nhân sẵn sàng mua tê tê sống với giá 60 USD/gần nửa cân.
Mặc dù chỉ bắt được hai con tê tê vào năm ngoài, cái giá hời này cũng khiến Luc tiếp tục săn lùng chúng. Ông biết nguồn lợi này là hữu hạn, "tê tê sẽ sớm bị tuyệt chủng", ông nói nhưng không hề có ý định ngừng đi săn.
Luc là một trong hàng nghìn thợ săn bất hợp pháp tại Việt Nam, một trong những quốc gia có hệ động vật đa dạng nhất thế giới. Tê giác tại đây đã tuyệt chủng, các nhà bảo tồn ước tính Việt Nam chỉ còn vài con hổ. Ngay cả những loài ít được biết đến hơn như rùa mai mềm và cầy hương cũng đang bị săn bắt để làm thuốc, thực phẩm, vật nuôi và đồ trưng bày.
Buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp là một trong những "ngành" buôn lậu lớn nhất thế giới, có giá trị ước tính khoảng 19 tỷ USD một năm, chưa tính buôn bán thủy sản và gỗ bất hợp pháp. Tất cả các nước Đông Nam Á và nhiều bên khác có liên quan đến vấn nạn này và Việt Nam là một điểm nóng. Việt Nam được coi là "trạm trung chuyển lớn" để tuồn động vật hoang dã từ Campuchia, Thái Lan, Lào, Malaysia, Indonesia và châu Phi sang Trung Quốc.
"Sau Trung Quốc thì Việt Nam là 'bến cảng' lớn của nạn buôn bán động vật hoang dã", Dan Challender, đồng chủ tịch nhóm chuyên gia về tê tê tại Liên đoàn Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế cho biết.
Đồng thời, Việt Nam cũng là nơi tiêu thụ nhiều động vật hoang dã, đặc biệt là những loại sử dụng làm thuốc như sừng tê giác, được cho là có thể điều trị mọi chứng từ giã rượu cho đến ung thư. Thịt động vật quý hiếm được tầng lớp trung lưu muốn "khoe của" coi là "cao lương mỹ vị".
"Tê tê thường là món đắt tiền nhất trên thực đơn, nên người ta gọi món này rõ ràng là để thể hiện với bạn bè và đồng nghiệp", Tiến sĩ Challender nói. "Mọi người đều biết đây là hành vi bất hợp pháp nhưng thậm chí còn thấy điều này hấp dẫn, vì nó giúp họ 'ra oai'".
Nỗi lo ngại về vấn nạn ngày càng gia tăng, nhưng các hội nghị, chiến lược mới và biện pháp nghiền nát ngà voi vẫn chưa làm nên chuyện. Giới chức hồi tháng một chặn đứng việc vận chuyển trái phép 7.500 rùa mũi lợn được bảo vệ ở Indonesia, một con hổ đông lạnh tại Việt Nam và 190 rùa ao đen có nguy cơ bị tuyệt chủng tại Singapore. Khi động vật hoang dã biến mất tại Đông Nam Á, những kẻ săn trộm tăng cường chuyển hướng sang châu Phi.
Gần 700 kg ngà voi và hai tấn da tê tê bị chặn ở Uganda hồi tháng một. Năm ngoái chỉ riêng tại Nam Phi có 1.215 tê giác bị giết để lấy sừng. Giới chức chỉ có thể ngăn chặn 10 đến 20% số vụ này.
"Chúng ta có thể làm gián đoạn mạng lưới vi phạm, nhưng không thể triệt phá tận gốc", Scott Roberton, đại diện Việt Nam và điều phối viên khu vực của các chương trình ngăn chặn nạn buôn bán động vật thuộc Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã cho biết. "Tình hình ngày càng trở nên tồi tệ", ông nói.
Ông Luc cho biết những người săn trộm như ông ít khi vướng vào rắc rối pháp lý. Họ hiếm khi bị khiển trách hay trừng phạt, nếu có thì cũng chỉ phạt nhẹ.
"Những người bị bắt vì sở hữu hổ hay sừng tê giác rất ít khi phải ngồi tù", Douglas Hendrie, trưởng cố vấn kỹ thuật của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên, tổ chức phi lợi nhuận tại Việt Nam, cho biết.
Có thể dễ dàng mua sản phẩm từ động vật hoang dã tại thành thị Việt Nam. "Việc này phần lớn là do tham nhũng, thông đồng và thiếu ý thức", Tiến sĩ Shepherd nói. "Mọi người chỉ đơn giản là không quan tâm".
Một nhà hàng sang trọng tại thành phố Hồ Chí Minh quảng cáo tê tê, gấu, nhím, dơi và nhiều loài động vật khác trên thực đơn. Tê tê được bán với giá 150 USD cho gần nửa cân, khách hàng muốn mua phải đặt món và đăt cọc trước hai, ba giờ.
Khi khách đến, nhà hang mang tê tê sống lên bàn, sau đó cắt tiết ngay tại chỗ để chứng minh là thịt tươi sống và không bị tráo đổi.
"Tê tê được ưa chuộng vì chữa được nhiều bệnh", Quốc Trung, quản lý nhà hàng cho biết. Nhân viên của ông sẽ làm khô và đóng gói vảy tê tê còn thừa. Đây là một thành phần phổ biến trong thuốc đông y ở Việt Nam.
Vào một tối chủ nhật, các gia đình có trẻ nhỏ và một vài nhóm đàn ông trung niên vào nhà hàng. Tại một bàn, hai người đàn ông nói tiếng Pháp gọi một con rắn hổ mang, trước sự thích thú của hai phụ nữ đi cùng. Hai nhân viên phục vụ mang ra một con rắn lớn đang quằn quại ra, miệng rắn bị buộc chặt bằng dây nhựa.
Khi các vị khách thi nhau lấy điện thoại ra quay, một nhân viên kéo căng con rắn, người còn lại cẩn thận di chuyển tay rồi rạch mình rắn bằng một cây kéo và lôi tim ra. Nhân viên siết chặt con vật và nhỏ máu rắn vào một chiếc bát sứ rồi hòa vào rượu.
"Chính phủ không cho phép bán thịt thú quý hiếm, nhưng chúng tôi có nguồn cung và quan hệ tốt với công an", ông Quốc nói. "Có cầu thì phải có cung chứ".
Do thiếu sự tham gia của cơ quan chức năng, các tổ chức bảo tồn ở Việt Nam là bên phải đứng đầu "tiền tuyến" trong cuộc chiến chống vấn nạn này. Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên gần đây khảo sát các nhà hàng, khách sạn và cửa hàng ở 12 quận, huyện Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ghi lại từng hành vi vi phạm về động vật hoang dã và yêu cầu chính quyền xử lý những vụ việc này.
Vài tháng sau, tổ chức tại tiến hành khảo sát và nhận thấy các sản phẩm bất hợp pháp như rượu rắn cho đến mật gấu tại các cơ sở này đã giảm gần 60% ở 8 quận huyện. "Nếu chính quyền ra tay một cách hiệu quả và nhất quán thì chúng tôi sẽ không còn phải làm việc này nữa", ông Hendrie nói.
Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã Save Vietnam’s Wildlife (SVW), tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Vườn Quốc gia Cúc Phương tổ chức khóa đào tạo trên toàn quốc cho kiểm lâm và cảnh sát, mở các chương trình giáo dục cộng đồng và điều hành một trong những trung tâm cứu hộ cho động vật bị tịch thu. Việt Nam hiện có rất ít trung tâm có chức năng tương tự.
Tuy nhiên, nhiều động vật hoang dã bị tịch thu lại bị chính quan chức tuồn ra chợ đen. Nguyen Van Thain, người sáng lập SVW, thường phải tức tốc đến hiện trường tịch thu để cố gắng thu hồi động vật trước khi việc này xảy ra.
"Cán bộ kiểm lâm tham nhũng muốn bán động vật ra chợ đen", ôngNguyen nói. Ngay cả khi không tiêu thụ được thì cũng có rất ít động vật được thả về tự nhiên vì thiếu cơ sở cứu hộ. Động vật không được đưa tới trung tâm cứu hộ thường "bị nhốt cho đến khi chết", Tiến sĩ Shepherd nói.
Ông Nguyen giúp giải cứu 20 con tê tê chỉ trong ba tháng qua, nhưng trung tâm của ông chỉ có sức chứa tối đa là 50 con. Với ngân sách chỉ có 90.000 USD một năm, ông có ít tiềm lực để mở rộng trung tâm và thuê thêm nhân viên.
Ông Nguyen cho rằng không thể thay đổi kịp nhận thức của người Việt để cứu động vật hoang dã. "Vấn đề bảo tồn động vật ở Việt Nam vẫn còn mới". ông nói. "Người Việt Nam cần nghiêm túc coi trọng những thứ chúng ta đang có. Chúng ta cần phải bảo vệ môi trường và động vật hoang dã nếu muốn còn tài nguyên trong tương lai". (Vnexpress 2/4)đầu trang(
Với diễn biến thời tiết phức tạp, nhất là tình hình hạn hán đang diễn ra nhiều nơi trên địa bàn tỉnh gây nhiều bất lợi cho sản xuất và phòng chống cháy rừng. Để thực hiện công tác lâm sinh năm 2015, các địa phương và các đơn vị chủ rừng đã và đang tích cực triển khai các hoạt động chăm sóc, giao khoán quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 10 vụ cháy từng, giảm 9 vụ so với cùng kỳ năm 2014, diện tích cháy giảm trên gần 28ha. Do có kế hoạch chuẩn bị tốt nên hầu hết các vụ cháy rừng để được phát hiện và tổ chức lực lượng chữa cháy kịp thời, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Hiện nay các đơn vị chủ rừng và các địa phương trong tỉnh tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền vận động nhân dân cam kết bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm các quy định phòng chống cháy rừng từ việc chú trọng làm đường ranh cản lửa đến phát dọn thực bì trên các diện tích rừng quản lý. (Đài PTTH Lâm Đồng 2/4)đầu trang(
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết, trong 2 tháng đấu năm 2015, các ngành, địa phương tỉnh Dăk Lăk tiếp tục thực hiện hướng dẫn, đôn đốc các chủ rừng tổ chức triển khai công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng trong mùa khô.
Đã phát hiện xử lý 184 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tịch thu hơn 336 m3 gỗ và 59 phương tiện các loại, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 1,7 tỷ đồng. (Tin Tức Cuối Tuần 2 – 8/4)đầu trang(
Liên quan đến vụ “Qua mặt chính quyền trường học tự ý trảm cây xanh”, sau khi báo Tầm nhìn phản ánh, rất đông Cán bộ CNV của Phòng giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng như người dân huyện Cư M’gar – Đắk Lắk, bằng nhiều hình thức đã nhắn gửi tới PV, đề nghị làm rõ vụ việc trảm, bứng cây xanh cũng như việc chuyên viên của Phòng GD&ĐT giao dịch, nhận hồ sơ ngoài quán nước mía, đặc biệt là việc phòng cho trưng bảng “Bận đại hội chi bộ, PGD không giao dịch” trong ngày, giờ hành chính.
Hiện PV đã làm việc được với người đứng đầu ngành giáo dục của huyện này, còn phát ngôn chính thức theo đăng ký của UBND huyện Cư M’gar tạm thời chúng tôi chưa liên lạc được.
Trao đổi về những vấn đề 2 trường học cấp II Nguyễn Trương Tộ và cấp I Y Jút(Xã Ea H'đinh - Cư M'ga) qua mặt chính quyền tự ý trảm, bứng cây xanh, ông Lê Hữu Quynh – Trưởng phòng GD&ĐT huyện Cư M’gar cho biết: Ngay từ đầu năm học Phòng đã có chỉ đạo cho các trường về việc chặt tỉa cây xanh phải báo cáo với chính quyền địa phương trực tiếp là UBND xã. Mặc dù đó là tài sản của nhà trường nhưng lại do xã quản lý.
Theo nguyên tắc nhà trường muốn chặt cây xanh phải báo cáo cấp xã, khi nào xã cho phép chặt mới được chặt. Việc 2 trường tự ý chặt cây xanh như vậy là hoàn toàn sai phạm.
“Tới đây chúng tôi sẽ cử đoàn thanh tra xuống 2 trường đó để làm việc, xác minh mức độ vi phạm đến đâu?, hậu quả gây ra như thế nào?, những cây đã chặt có thông qua hội đồng nhà trường hay không?, số cây chặt để bán hay sử dụng ra sao?, nếu bán phải thông qua ban định giá để bán đấu giá nộp ngân sách, có giấy tờ hợp lệ không. Sau đó, Phòng sẽ xem xét và đề nghị với Hội đồng kỷ luật huyện xử lý theo thẩm quyền”, ông Quynh cho biết thêm.
Liên quan đến việc chiều ngày 27/3 (chiều thứ 6) khi PV vào liên hệ làm việc với Phòng GD&ĐT mặc dù đang vào giờ hành chính nhưng tất cả cán bộ công nhân viên Phòng GD&ĐT đều không có mặt làm việc, đồng thời PV đã bất ngờ bắt gặp chuyên viên của Phòng GD&ĐT huyện Cư M’gar đang nhận báo cáo, hồ sơ của các giáo viên ngoài quán nước mía.
Lý giải cho chuyện gây phản cảm này,ông Quynh cho biết thêm: Ngày hôm đó Phòng GD&ĐT tổ chức đại hội chi bộ, kế hoạch đại hội diễn ra cả ngày nhưng lại kết thúc sớm hơn dự kiến. Sau đó bảo vệ có xin phép cho nghỉ buổi chiều để bảo vệ kêu người sắp xếp, đóng lại trần cho hội trường, Phòng đã đồng ý nên buổi chiều hôm đó cho anh em nhân viên nghỉ ở nhà.
Đáng lẽ ra việc duy tu, sửa chữa nhỏ này phải chọn những ngày cuối tuần để làm tránh làm ảnh hưởng, gián đoạn đến công tác chuyên môn của Phòng.
Như vậy, chỉ vì cái trần chưa đóng và đại hội(có xin phép) mà những người đứng đầu Phòng GD&ĐT Cư M’gar đã cho cắm một cái bảng to đùng án ngữ ngoài cổng ra vào trong ngày, giờ hành chính với nội dung “Đại hội chi bộ Phòng GD không giao dịch”, trong khi đó chuyên viên lại nhận hồ sơ ngoài quán nước mía.
Hiện PV báo Tầm nhìn (Văn phòng Tây Nguyên) đang tiếp tục điều tra và cố gắng liên hệ với người phát ngôn chính thức của huyện Cư M’gar để làm rõ hơn về vụ việc, nhằm thông tin kịp thời tới độc giả. (Tầm Nhìn 3.4)đầu trang(
Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ kiêm người phát ngôn của Chính phủ, trả lời một số vấn đề dư luận quan tâm tại cuộc họp báo Chính phủ ngày 1-4. TBKTSG Online trích đăng.
Việc cải tạo, thay thế cây xanh đô thị tại Hà Nội vừa qua không nhận được sự đồng tình của dư luận. Đề nghị Người phát ngôn Chính phủ cho biết quan điểm và giải pháp về vấn đề này?
Việc quản lý cây xanh đô thị được quy định tại Nghị định số 64/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm quản lý toàn bộ cây xanh trên địa bàn. Nghị định cũng quy định rõ ba loại cây được chặt hạ, dịch chuyển là: Cây đã chết, đã bị đổ gãy hoặc có nguy cơ gãy đổ gây nguy hiểm; cây bị bệnh hoặc đến tuổi già cỗi không đảm bảo an toàn; cây trong các khu vực thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình.
Việc chặt hạ, thay thế cây xanh của TP Hà Nội vừa qua đã không được dư luận đồng tình, gây bức xúc xã hội. Trước tình hình này, UBND TP Hà Nội đã có chỉ đạo dừng triển khai kế hoạch và tiến hành thanh tra, kiểm tra làm rõ để có biện pháp xử lý theo quy định.
UBND TP Hà Nội đã có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về tình hình chặt hạ, thay thế cây xanh vừa qua và đề xuất các giải pháp xử lý. Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo yêu cầu UBND TP Hà Nội: (1) Khẩn trương thanh tra, làm rõ, kết luận và xử lý nghiêm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân theo quy định; (2) Rà soát, đánh giá các biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện; kịp thời điều chỉnh biện pháp, cách làm không phù hợp, khắc phục những tồn tại, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện; (3) Tăng cường quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn TP Hà Nội theo đúng quy định; (4) Thông tin kịp thời, đầy đủ, công khai, minh bạch và tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, nhân dân, tạo sự đồng thuận trước khi thực hiện.
Việc tỉnh Đồng Nai cho phép doanh nghiệp lấn sông Đồng Nai để xây dựng dự án ở thành phố Biên Hòa gây bức xúc trong dư luận. Xin cho biết Chính phủ đã chỉ đạo việc này thế nào?
Về việc này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải, UBND tỉnh Đồng Nai và các cơ quan liên quan kiểm tra việc thực hiện, đánh giá tác động của dự án, xử lý theo thẩm quyền và quy định của pháp luật hiện hành; đề xuất xử lý những vấn đề vượt thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 5-2015.
Các bộ và UBND tỉnh Đồng Nai đang tích cực triển khai ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng. UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định dừng triển khai dự án này để thẩm định tính pháp lý và đánh giá, làm rõ hơn các tác động của dự án. Trên cơ sở báo cáo của các bộ và UBND tỉnh Đồng Nai, Thủ tướng Chính phủ sẽ có ý kiến về việc này.
Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) và công ty Him Lam đưa ra Đề án phát triển cây mắc-ca tại Việt Nam với quy mô trồng 200.000 ha tại Tây Nguyên trong 5 năm tới. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cũng đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đề xuất bổ sung cây mắc-ca vào nhóm cây nông, công, lâm nghiệp mũi nhọn cần được ưu tiên phát triển giai đoạn tới tại Việt Nam. Một số chuyên gia cho rằng, nên thận trọng khi trồng ồ ạt cây mắc-ca để tránh những hệ luỵ như mất giá, không có thị trường tiêu thụ… Xin cho biết Chính phủ có quan điểm như thế nào về việc này?
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cây mắc-ca có thể trồng được ở nước ta và đã được trồng khảo nghiệm thành công ở một số nơi. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận đưa vào sản xuất 10 giống và Chính phủ đã có chính sách khuyến khích tại Nghị định số 210/2013/NĐ-CP.
Tuy nhiên, việc trồng mắc-ca ở Tây Nguyên với quy mô 200 nghìn héc ta như Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) và Công ty Him Lam đề xuất cần phải cân nhắc thận trọng. Hiện nay, trên thế giới sau nhiều năm phát triển mới chỉ có khoảng 80 nghìn ha.
Đối với đề nghị của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên về việc xem xét bổ sung cây mắc-ca vào nhóm cây nông, công nghiệp mũi nhọn cần được ưu tiên phát triển, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, xử lý các đề xuất, kiến nghị của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang lập quy hoạch phát triển cây mắc-ca, trước mắt dự kiến tới năm 2020 phát triển với quy mô khoảng 10 nghìn héc ta, chủ yếu ở những địa bàn đã khảo nghiệm thành công, có hiệu quả ở Tây Bắc và Tây Nguyên, và chỉ trồng những giống được Bộ công nhận, bao gồm cả trồng tập trung và trồng xen trong các vườn cà phê.
Hiện nay Bộ Công Thương và Hiệp hội Mía Đường đang có quan điểm trái ngược nhau về việc cấp phép nhập khẩu cho đường được sản xuất tại Lào của Công ty Hoàng Anh Gia Lai (Bộ Công Thương cho rằng ngành đường thiếu sức cạnh tranh, chi phí sản xuất cao nên giá thành cao, nguyên nhân là do dựa vào bảo hộ; Hiệp hội Mía đường cho rằng chính sách xuất nhập khẩu đường có bất cập, chỉ phục vụ lợi ích nhóm, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước). Xin cho biết quan điểm của Chính phủ về vấn đề này?
Chính phủ luôn chủ trương thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện với nước bạn Lào. Sau các thoả thuận tại kỳ họp 37 Uỷ ban liên Chính phủ Việt - Lào tháng 1 vừa qua, hai nước đã ký Hiệp định thương mại tháng 3-2015 và đang khẩn trương tiếp tục đàm phán Hiệp định biên mậu, trong đó sẽ đề cập tới quản lý hạn ngạch nhập khẩu đường sản xuất tại Lào của Công ty Hoàng Anh Gia Lai để phù hợp với tính chất quan hệ đặc biệt giữa hai nước.
Cơ chế quản lý nhập khẩu đường được thực hiện theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó đường thuộc danh mục quản lý nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan, bảo đảm phù hợp với cam kết quốc tế, hài hòa lợi ích giữa người sản xuất và người tiêu dùng, khuyến khích người sản xuất cải tiến quản lý, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của sản phẩm mía đường trong nước.
Theo đó, việc nhập khẩu đường từ Lào của Công ty Hoàng Anh Gia Lai đã được Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất phương án điều hành nhập khẩu đường, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (TBKTSG – Online 1.4)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TS Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp kiêm Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (Quỹ Trung Ương) đã khẳng định như vậy khi trao đổi với phóng viên TBTCVN về tình hình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) thời gian tới.
P.V: Nhìn lại 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR (2011 - 2014), xỉn ông cho biết tình hình thực hiện thu, chi của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) đến thời điểm hiện nay?
TS Nguyễn Bá Ngãi: Đến thời điểm hiện nay, quỹ Trung ương đã thu 998,9 tỷ đồng; điều phối và giải ngân cho các quỹ tỉnh là 1.107,4 tỷ đồng. Quỹ tỉnh thu từ các nguồn thu DVMTR nội tỉnh là 334,2 tỷ đồng và đến 25/3/2015, các quỹ tỉnh đã giải ngân 770,3 tỷ đồng đến các chủ rừng và tổ chức không phải chủ rừng (cho khoảng 5,78 triệu ha rừng).
Năm 2015 sẽ phấn đấu duy trì nguồn thu đạt khoảng 1.307 tỷ đồng, trong đó quỹ Trung ương thu 917 tỷ đồng, các tỉnh thu 390 tỷ đồrig, đảm bảo chi trả cho trên 5 triệu ha rừng được quản lý, bảo vệ bằng tiền DVMTR và giải ngân kịp thời số tiền DVMTR đến các chủ rừng theo quy định hiện hành.
P.V: Thưa ông, có ý kiến cho rằng, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ớ một số địa phương còn nhiều hạn chế. Vậy đâu là khó khăn vướng mắc trong quá trình chi trả DVMTR?
TS Nguyễn Bá Ngãi: Đúng là việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở một số địa phương còn hạn chế, vẫn còn tình trạng nợ đọng tiền DVMTR. Trong đó, vướng mắc lớn nhất là các nhà máy thủy điện, chủ yếu là thủy điện tu nhân dưới 30MW chậm trả tiền DVMTR.
Cụ thê. một số địa phương như Hà Giang. Lảo Cai. Yên Bái. Hòa Bình... các nhà máy thủy điện tim nhiểu lý do đẻ thoái thác việc ký hợp đồng và thực hiện thanh toán tiền DVMTR cho các quỹ tỉnh.
Bên cạnh đó, một số quỹ tỉnh, tiền DVMTR vẫn còn tồn đọng, không có đối tượng chi. vần có sự chênh lệch lớn về nguồn thu giữa các tình và chênh lệch về mức chi trả bình quân ha giữa các lưu vực. Ví dụ đơn giá chi trả khác nhau đã dẫn đến sự không công bằng giữa các tỉnh cùng lưu vực sông chính như: Điện Biện, đơn giá chi trả cao nhất là 260.000 đồng/ha, thấp là 826 đồng/ha; Lào Cai, đơn giá chi trả cao nhất là 307.000 đồng/ha, thấp nhất là 38.000 đồng/ha...
Hơn nữa, một số quỹ tỉnh có nguồn thu tiền trồng bù rùng nhưng chưa có quy định cụ thể về quản lý, sử dụng nguồn tiền này. Một số quy định còn chưa cụ thể (DVMTR đối với cơ sở du lịch, cơ sở công nghiệp, nuôi trồng thủy sản)... nên khó thực hiện.
P.V: Để thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả DVMTR trong thời gian tới, tránh tình trạng nợ đọng, cơ quan chức năng cần có giải pháp gì, thưa ông?
TS Nguyễn Bá Ngãi: Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã phối hợp với Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các cơ sở sản xuất thủy điện thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả DVMTR, kê khai, ký kết hợp đồng và chi trả đầy đủ cho các quỹ BV&PTR các cấp.
Bộ NN&PTNT cũng nghiên cứu, ban hành quy định về quản lý, sử dụng khoản nộp tiền trồng bù rừng. Đồng thời, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ cho phép các tỉnh sử dụng tiền chưa có đối tượng chi vào mục đích bảo vệ và phát triển rừng, cũng như nghiên cứu, sửa đổi quy định tại Thông tư số 20/2012/TT-BNNPTNT về nghiệm thu, thanh toán tiền DVMTR.
Đối với các tỉnh, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách ở các địa phương. Trong đó, trọng tâm là đôn đốc công tác thu nộp đầy đủ và giải ngân tiền DVMTR kịp thời cho chủ rừng. Chỉ đạo các địa phương tích cực giải ngân tiền DVMTR cho chủ rừng năm 2014 theo đúng quy định và trình tự thủ tục, phấn đấu hết 30/4/2015 đạt tỷ lệ giải ngân trên 80%.
Song song đó, phối hợp với Bộ Tài chính, cơ quan chức năng, tổ chức công tác kiểm tra, giám sát thực thi chính sách chi trả DVMTR tại các vùng trọng điểm (Tây Bắc, Tây Nguyên, Duyên Hải miền Trung), đảm bào ít nhất một vùng có ít nhất từ 1 - 2 tỉnh được tiến hành kiểm tra, đánh giá thực thi chính sách. (Thời Báo Tài Chính VN 1/4)đầu trang(
Với giá trị kinh tế và dinh dưỡng, Mắcca (Macadamia) đang là loại cây trồng thu hút nhiều sự quan tâm và được kỳ vọng là cây thoát nghèo cho nông dân các tỉnh Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Tuy nhiên, nếu phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch loại cây trồng mới này sẽ tiền ẩn nhiều rủi ro.
Từ năm 2002, đã có nghiên cứu và trồng thử nghiệm cây mắc ca tại Tây Nguyên, Tây Bắc, các tỉnh vùng núi miền trung của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) và một số tổ chức khác, bước đầu là với giống nhập từ Trung Quốc, sau đó nhập từ Thái Lan và Úc.
Cụ thể, năm 2004, Trung Tâm nghiên cứu giống cây rừng đã chọn hộ ông Nguyễn Văn Cúc, trú tại thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, H.Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trồng khảo nghiệm cây mắc ca, với diện tích 1 ha xen với cây cà phê vối. Do phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng nên vườn mắc ca sinh trưởng khá tốt. Sau 4-5 năm cho năng suất khoảng 10 kg hạt/cây, thậm chí có cây đạt 15 kg/cây/năm.
Qua mô hình khảo nghiệm này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận 4 dòng mắc ca gồm: 246; 816; OC; 849 là giống tiến bộ kỹ thuật cho vùng Krông Năng – Đắk Lắk.
Thấy triển vọng từ cây trồng mới này, gia đình ông Cúc tiếp tục trồng xen trong diện tích cà phê còn lại. Đến nay, gia đình ông đã trồng được 1.000 cây mắc ca xen canh trong vườn cà phê. Trong số này, có 800 cây mắc-ca cho thu quả ổn định, 200 cây còn lại bắt đầu cho quả trong năm nay.
Theo nhẩm tính, với giá bán 150.000 đồng/kg như hiện nay gia đình ông đã thu về khoảng 450 triệu đồng. Ngoài bán hạt, mỗi năm ông Cúc còn bán hàng vạn cây giống cho nông dân địa phương và các tỉnh Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng. Ông Cúc cho biết: mắc ca có giá trị gấp 3 lần cà phê, lại ít cần nước tưới, dễ thu hoạch, chăm sóc cũng dễ dàng hơn.
Từ năm 2002, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cũng nghiên cứu và trồng khảo nghiệm cây mắc ca (cả thực sinh và ghép cành) trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên với diện tích trên 20 ha. Sau năm thứ 8 cây cho năng suất đạt 6- 8 kg/cây/năm, với bình quân 300 cây/ha, thì tương đương 2 tấn/ ha.
Cây được 10-12 năm thì năng suất sẽ đạt đến giới hạn khoảng 3 tấn/ ha, gần bằng với năng suất trung bình của cây mắc ca trồng tại Úc. Trọng lượng quả và tỷ lệ nhân của các giống đã trồng đạt được là khá tốt so với vùng nguyên sản như Úc, Hawai cũng như các khu vực trồng mắc ca trên thế giới. Với tỷ lệ nhân là 1/3, với 3 tấn quả, năng suất nhân hạt đạt 1 tấn/ha.
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cũng trồng thử nghiệm cây mắc ca xen với một số loài cây công nghiệp có giá trị trên địa bàn Tây nguyên như cà phê vối, cà phê chè, ca cao. Tính đến nay tổng diện tích mô hình trồng xen là hơn 15 ha. Kết quả bước đầu cho thấy cây mắc ca sinh trưởng tốt ở tất cả các mô hình trồng xen.Tiến sĩ Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên và các cộng sự đánh giá: cây mắc ca có thể sinh trưởng phát triển được ở một số vùng sinh thái của vùng Tây Nguyên, đặc biệt là những nơi có khí hậu lạnh (nhiệt độ tối ưu khoảng 12-32 độ C, nhiệt độ mùa hoa từ 18 -21 độ C).
Sau 9 năm trồng, cây mắc ca cho năng suất từ 7-9 kg hạt/cây với một số giống, cá biệt có những cây cho năng suất hơn 10 kg/cây/năm. Nếu so sánh với năng suất của vùng nguyên sản cây mắc ca, tại Úc vào năm thứ 10 năng suất trung bình trên cây đạt 10 kg hạt/năm, vào giai đoạn kinh doanh ổn định (từ năm thứ 12 trở đi) năng suất trung bình trên cây chỉ cần từ 12-15 kg là đạt hiệu quả.
Như vậy, có thể nói cây mắc ca có triển vọng phát triển trên địa bàn Tây Nguyên. Hiện nay, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên có hơn 20 giống mắc-ca, trong đó H2, OC và 508 là những giống rất triển vọng, cho năng suất cao.
Cũng theo nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, lợi nhuận từ cây mắc ca cao hơn so với các cây công nghiệp dài ngày ở Tây Nguyên như cao su, cà phê. Với năng suất đạt được từ 3-5 tấn hạt/ha, giá bán 60.000 đồng/kg (theo giá thị trường thế giới hiện nay) hạt thì giá trị thu được từ một ha mắc-ca vào khoảng 180 triệu – 300 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận ước tính vào khoảng 150 đến 250 triệu đồng/ha/năm. Nếu trồng xen trong vườn cà phê với mật độ từ 100 đến 120 cây/ha, năng suất mắc ca thu được vào thời kỳ kinh doanh vào khoảng từ 1,2 đến 1,5 tấn hạt/ha, giá trị thu được tăng thêm từ mắc-ca trồng xen sẽ từ 70 - 90 triệu đồng, đồng thời còn tăng tính bền vững hơn cho vườn cà phê.
Với những kết quả khả quan từ nghiên cứu khảo nghiệm, các nhà quản lý, nhà khoa học và người nông dân kỳ vọng đây là cây “thoát nghèo” cho đồng bào vùng Tây Nguyên. Theo định hướng quy hoạch phát triển cây mắc-ca của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tây Nguyên là vùng quy hoạch chính để phát triển cây mắc-ca với diện tích ước tính có thể lên đến 200.000 ha và kỳ vọng đạt được 200.000 tấn hạt thô vào năm 2025. Từ đó, đưa Việt Nam trở thành một cường quốc về cây mắc ca.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó và tránh rủi ro cho nông dân, các ngành chức năng cần giải quyết một số “bài toán” như: xây dựng quy hoạch vùng trồng; tạo nguồn giống có chất lượng; ban hành bộ quy chuẩn kỹ thuật canh tác; thu mua, chế biến, tìm đầu ra cho sản phẩm…
Mắc ca là cây trồng mới, chưa có quy hoạch vùng trồng. Tuy nhiên, hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên người dân đã trồng tự phát hàng nghìn héc-ta mắc ca bất chấp sự cảnh báo của các ngành chức năng. Tại tỉnh Đắk Lắk, diện tích mắc ca khoảng 800 ha (thống kê chưa đầy đủ), chủ yếu được trồng xen trong vườn cà phê. Hầu hết, diện tích mắc mới trồng chưa cho thu hoạch nên hiệu quả của loại cây trồng này chưa thực sự rõ ràng.Các nhà khoa học cảnh báo nếu cứ ồ ạt trồng cây mắc ca như hiện nay thì sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tiến sĩ Lê Ngọc Báu phân tích: phải mất 4 năm, thậm chí 7 năm loại cây này mới cho trái và từ 10 năm trở lên mới cho thu nhập ổn định, bởi vậy, nếu người dân trồng ở vùng không thích hợp về khí hậu, đất đại, chọn nguồn giống không tốt khiến cây không có quả hoặc quả ít thì xem như mất cả chì lẫn chài.
Tiến sĩ Báu đưa ra khuyến cáo: Tây Nguyên đã được xác định là địa bàn thích hợp để phát triển cây mắc ca với quy mô lớn bằng phương thức trồng thuần và trồng xen trong các vườn cà phê, nhưng không phải nơi nào trồng cũng mang lại hiệu quả.
Cây mắc ca thích hợp nhất với địa hình có đọộ cao 700-800 m so với mặt nước biển, như Krông Năng (Đắk Lắk), Măng Đen (Kon Tum), một số vùng ở Đắk Nông, Bảo Lộc (Lâm Đồng). Do đó, các ngành chức năng cần sớm quy hoạch cụ thể vùng trồng cây mắc ca trước khi trồng trên diện rộng. Bà con cũng không nên chặt bỏ các cây trồng khác để trồng thuần cây mắc ca mà nên trồng xen. Bởi, mắc ca là cây lâm nghiệp, có giá trị kinh tế cao, nếu trồng xen trong vườn cà phê, ca cao sẽ vừa tăng thu nhập, tăng tính bền vững cho vườn cây và tránh rủi ro.
Bên cạnh việc quy hoạch vùng trồng thì chất lượng cây giống cũng vô cùng quan trọng. Do nhận thấy lợi nhuận cao từ loại cây này nên không ít hộ dân trong tỉnh đang đua nhau chặt bỏ những diện tích cà phê già cỗi, vườn cây ăn quả… đầu tư mua cây giống về trồng với mơ ước đổi đời.
Có “cầu” ắt có “cung”, nhiều chủ vườn ươm cây giống trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng rập rịch lai ghép, nhân giống mắc ca đáp ứng lượng mua đông đảo của người dân, chưa kể, chủ vườn còn tự tạo nên “cơn sốt” đẩy giá cây giống lên cao, từ 70.000 - 100.000 đồng/cây.Một số ý kiến khác cho rằng, vấn đề tìm đầu ra cho sản phẩm cũng là một bài toán cần sớm có lời giải, bởi trên thực tế đã có những bài học về việc “chồng” rồi “ chặt” của cây cao su, ca cao, điều… khi không tìm được đầu ra cho sản phẩm hoặc giá bán thấp.
Do vậy, trước khi mở rộng diện tích trồng mắc ca, các địa phương ở Tây Nguyên, các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu mắc ca cần phải giải quyết thấu đáo bài toán thị trường, để tránh đi vào vết xe đổ như một số loại cây trồng khác. Ngoài ra, các địa phương cũng phải đầu tư nhà máy chế biến để nâng cao giá trị ngành hàng của loại cây được mệnh danh là “Hoàng hậu quả khô” này…
Theo ông Phan Xuân Dũng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, để cây mắc ca thành cây trồng chủ lực giúp nông dân Tây Nguyên vươn lên thoát nghèo, trong thời gian tới, các nhà khoa học cần tiếp tục nghiên cứu tạo ra nguồn giống có chất lượng, khảo sát những địa bàn trồng cho năng suất cao nhất, nghiên cứu ban hành bộ quy chuẩn kỹ thuật canh tác. Các địa phương cần quy hoạch vùng trồng và khuyến cáo bà con không nên trồng ồ ạt để tránh rủi ro…
Như vậy, có thể nói, cây mắc ca có triển vọng phát triển trên địa bàn Tây Nguyên. Tuy nhiên, đây là loài cây mới nên cần phải được đánh giá kỹ trước khi phổ biến rộng rãi ra sản suất, đặc biệt là công tác chọn giống và quy hoạch vùng trồng cho cây mắc ca. (Tin Tức 2/4)đầu trang(
"Người dân trồng mắc ca sẽ được cho vay mua giống, cho vay cả công chăm sóc, thiết bị canh tác, tưới tiêu và tất cả đều được bảo hiểm hết" - ông Dương Công Minh - Chủ tịch HĐQT Cty CP Him Lam, kiêm Chủ tịch HĐQT LienVietPost Bank khẳng định.
Trao đổi với NNVN, ông Dương Công Minh - Chủ tịch HĐQT Cty CP Him Lam, kiêm Chủ tịch HĐQT Ngân hàng CP Bưu điện Liên Việt (LienVietPost Bank), khẳng định: “Tôi xuất thân từ nông thôn, con nông dân, nên tôi hiểu nỗi cơ cực, vất vả của họ. Vì thế, tất cả nông dân trồng mắc ca tại Tây Nguyên làm theo dự án sẽ được bảo hiểm toàn bộ”.
Lập ngay công ty bảo hiểm mắc ca Ông được biết đến là một doanh nhân bất động sản tầm cỡ ở Việt Nam, nhưng tại sao ông lại tự tin đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là cây trồng mới như mắc ca với số vốn dự kiến lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng? Liệu đầu tư “tay ngang” như vậy có rủi ro không?
Ông Dương Công Minh: Trước khi làm bất động sản, tôi đã từng làm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trái cây, cà phê nên khá am hiểu về kinh doanh nông sản. Tôi cũng xuất thân từ nông thôn, con của nông dân (quê Bắc Ninh). Những người nông dân là tầng lớp khó khăn, vất vả nhất. Qua nghiên cứu về cây mắc ca chúng tôi nhận thấy đây là cơ hội để giúp nông dân không những giảm nghèo mà còn có thể làm giàu. Vì thế, dự án này là thực hiện ý nguyện để giúp đồng bào Tây Nguyên. Nó vừa là chương trình phát triển kinh tế, đồng thời là chương trình kinh doanh của ngân hàng, cũng vừa là chương trình an sinh xã hội mà Him Lam và LienVietPost Bank sẽ làm bằng được.
Những nông dân có dự định trồng mắc ca lo lắng rằng: Giả sử sau 5 năm trồng nhưng hiệu quả không cao, họ lại phải lo trả nợ tiền vay ngân hàng. Ông sẽ giải quyết tình huống này như thế nào?
Ông Dương Công Minh: Đây chính là mấu chốt quan trọng nhất của vấn đề. Về điều này, tôi khẳng định: Nông dân trồng mắc ca theo đúng dự án sẽ không mất gì cả. Tại sao? Bởi họ trồng thì chúng tôi cho vay mua giống mắc ca, cho vay cả công chăm sóc, thiết bị canh tác, tưới tiêu và tất cả đều được bảo hiểm hết, nông dân không mất bất cứ cái gì.
Chúng tôi cũng xác định đây là vốn trung, dài hạn, lãi ân hạn theo chương trình 5 năm, người vay vốn không phải trả lãi ngay mà đến khi có thu hoạch mới phải trả. Đặt trường hợp cây mắc ca trồng không hiệu quả như tính toán thì Công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả toàn bộ (Công ty bảo hiểm do Him Lam là cổ đông chủ chốt).
Quan điểm của chúng tôi là trồng xen mắc ca với cà phê, chè nhằm mục tiêu: Nông dân vẫn có thu nhập ổn định, đồng thời phát triển mắc ca nhưng cũng không làm mất vị trí của cà phê và chè trong cơ cấu nông nghiệp. Trong mọi trường hợp xảy ra, người nông dân sẽ không bị thiệt và tôi tin chắc nông dân chỉ có lợi vì dự án sẽ thành công. Quy hoạch giống phải ưu tiên hàng đầu
Ông đang chỉ đạo đầu tư hình thành các vườn ươm giống mắc ca rất lớn nhằm cung cấp cho nông dân Tây Nguyên. Tiến độ thực hiện các vườn ươm giờ đến đâu rồi?
Ông Dương Công Minh: Tôi cho rằng, việc quan trọng hàng đầu hiện nay là Bộ NN-PTNT phải thực hiện ngay vấn đề quy hoạch giống, để tránh ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cây mắc ca sau này.
Tiếp theo đó là các quy hoạch khác như: Trồng ở đâu? Trồng bao nhiêu? Trồng những giống nào? Bên Him Lam đã chủ động thuê một đơn vị trên Lâm Đồng thực hiện việc khảo sát rất chi tiết, không phải quy hoạch thống kê chung chung như cách làm hồi xưa mà sẽ xác định rất cụ thể: Nông dân nào, ở đâu, tên gì, trồng bao nhiêu cây mắc ca, bằng giống gì, bao nhiêu năm và hiện giờ có trái chưa, gặp những khó khăn gì? Từ đó chúng tôi sẽ kiểm soát tất cả các vùng trồng cũng như sản lượng.
Đồng thời mình biết ở vùng nào trồng được, giống gì sẽ thành công, sau đó triển khai dự án thì rủi ro sẽ thấp. Him Lam khảo sát vô cùng chi tiết như vậy bởi nó liên quan đến đồng vốn chúng tôi bỏ ra.
Chúng tôi cũng đã thành lập Viện nghiên cứu mắc ca Him Lam đặt ở Lâm Đồng. Hiện trụ sở Viện đã có rồi, hai vườn ươm tập trung ở huyện Đức Trọng, Bảo Lộc và hai vườn ươm liên kết cũng đang thành lập. Cây ươm tại đây cơ bản là các giống đã được khảo nghiệm và được công nhận tại Việt Nam.
Chúng tôi cũng sẽ hợp tác với Viện nghiên cứu giống ở Ba Vì (Hà Nội) để thiết lập đầu mối làm việc với Bộ NN-PTNT về vấn đề quy hoạch giống. Các giống nhập về cũng phải được phép và nằm trong bộ giống đã được Bộ NN-PTNT khảo nghiệm tại Việt Nam. Theo tiến độ, sớm nhất cũng phải mùa mưa năm 2016 mới có giống của Him Lam triển khai trồng đợt đầu tại Tây Nguyên.
Ông nói, giống mắc ca sẽ quyết định thành bại sau này của dự án. Vậy LienVietPost Bank và Him Lam sẽ kiểm soát hàng vạn nông dân như thế nào?
Ông Dương Công Minh: Điều kiện tiên quyết để nông dân có thể vay vốn trồng mắc ca là phải trồng đúng giống trong danh sách khảo nghiệm Bộ NN-PTNT đã công nhận, nếu không sẽ bị từ chối. Chúng tôi khuyên người dân không nên tự đi mua giống. Him Lam có thể thực hiện miễn phí việc kiểm nghiệm giống cho người dân, miễn là họ có đăng ký.
Nhân đây chúng tôi cũng khuyến cáo rằng, giống OC hiện tại người dân đang trồng phổ biến không mang lại lợi ích kinh tế lớn. Ưu điểm giống OC năng suất rất cao nhưng quả lại không chịu rụng, nếu cây nhỏ thì còn hái được, chứ cây cao 10 – 15 m thì làm sao hái? Khâu thu hoạch sẽ rất khó khăn. Thứ hai là quả mắc ca giống OC không đồng đều, khiến cho khâu chế biến công nghiệp gặp khó.
Tôi nghĩ ta không nên tham năng suất, nếu năng suất vừa phải nhưng giá bán cao, vẫn hơn giống năng suất cao nhưng giá bán thấp (kinh nghiệm giữa cà phê Robusta Việt Nam chiếm tới 90% diện tích nhưng giá rẻ, so với cà phê Arabica có giá bán rất cao).
Qua nghiên cứu thì chúng tôi cũng khuyến cáo không nên trồng mắc ca ở những vùng khác Tây Nguyên, vì điều kiện khí hậu không đảm bảo cho cây mắc ca lúc ra hoa, kết trái (ví dụ miền Bắc có mưa dầm, sương muối, biến động nhiệt độ trong 1 mùa lớn, giữa 2 mùa nóng – lạnh cũng quá cao…).
Các vấn đề quan trọng như vốn vay, bảo hiểm cho dân, vườn giống… Him Lam và LienVietPost Bank đang gấp rút thực hiện. Nhưng ông sẽ triển khai thực tế cho nông dân thế nào khi những chính sách của nhà nước về cây mắc ca vẫn chưa rõ ràng, cụ thể?
Ông Dương Công Minh: Hiện tại, Chính phủ đã có Nghị định 210, trong đó có quy định về việc hỗ trợ doanh nghiệp trồng cây mắc ca. Cụ thể, nhà đầu tư có dự án trồng cây mắc ca có quy mô từ 50 ha trở lên được ngân sách nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng/ha để xây dựng đồng ruộng, cây giống. Hỗ trợ xây dựng cơ sở sản xuất giống cây mắc ca quy mô 500.000 cây giống/năm trở lên, mức hỗ trợ tối đa là 70% chi phí đầu tư/cơ sở và không quá 2 tỷ đồng.
Tôi cho rằng, quy định này có lợi doanh nghiệp, nhưng về phía nông dân thì không vì ít ai có đủ diện tích 50 ha. Tới đây, rất cần thêm những chính sách xuất phát từ thực tế và cụ thể hơn nữa. Để làm điều đó, chúng tôi đang tiến hành thành lập Hiệp hội mắc ca để thay mặt kiến nghị các chính sách thúc đẩy phát triển ngành hàng này.
Dự kiến trong tháng 5 chúng tôi sẽ tổ chức hội nghị trù bị, xây dựng hoàn chỉnh điều lệ, quy chế hoạt động và khoảng tháng 9 hoặc 10 năm 2015 sẽ ra mắt Hiệp hội mắc ca Tây Nguyên. Hiện Công ty cổ phần Him Lam đã là thành viên của Hiệp hội Mắc ca Úc và Hiệp hội mắc ca Mỹ. Đây sẽ là các kênh thông tin tốt nhất cho Hiệp hội mắc ca của chúng ta sau này. (Nông Nghiệp VN 3.4)đầu trang(
"Việc trồng mắc-ca ở Tây Nguyên với quy mô 200 nghìn ha như Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) và công ty Him Lam đề xuất cần phải cân nhắc thận trọng", Người phát ngôn của Chính phủ Nguyễn Văn Nên cho biết.
Vừa qua, LienVietPostBank và Him Lam đã đưa ra Đề án phát triển cây mắc-ca tại Việt Nam với quy mô trồng 200.000 ha tại Tây Nguyên trong 5 năm tới. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cũng đã có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ đề xuất bổ sung cây mắc-ca vào nhóm cây nông, công, lâm nghiệp mũi nhọn cần được ưu tiên phát triển giai đoạn tới tại Việt Nam. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng, nên thận trọng khi trồng ồ ạt cây mắc-ca để tránh những hệ luỵ như mất giá, không có thị trường tiêu thụ…
Tại buổi họp báo của Văn phòng Chính phủ ngày 1-4, Bộ trưởng- Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Người phát ngôn của Chính phủ đã cho biết quan điểm của Chính phủ về vấn đề này.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên cho biết, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cây mắc-ca có thể trồng được ở nước ta và đã được trồng khảo nghiệm thành công ở một số nơi. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận đưa vào sản xuất 10 giống và Chính phủ đã có chính sách khuyến khích tại Nghị định số 210/2013/NĐ-CP.
Tuy nhiên, việc trồng mắc-ca ở Tây Nguyên với quy mô 200 nghìn ha như LienVietPostBank và Him Lam đề xuất cần phải cân nhắc thận trọng. Hiện nay, trên thế giới sau nhiều năm phát triển mới chỉ có khoảng 80 nghìn ha.
Đối với đề nghị của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên về việc xem xét bổ sung cây mắc-ca vào nhóm cây nông, công nghiệp mũi nhọn cần được ưu tiên phát triển, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, xử lý các đề xuất, kiến nghị của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang lập quy hoạch phát triển cây mắc-ca, trước mắt dự kiến tới năm 2020 phát triển với quy mô khoảng 10 nghìn ha, chủ yếu ở những địa bàn đã khảo nghiệm thành công, có hiệu quả ở Tây Bắc và Tây Nguyên và chỉ trồng những giống được Bộ công nhận, bao gồm cả trồng tập trung và trồng xen trong các vườn cà phê.
Được biết, trước đó, tại Đại hội cổ đông ngày 28-3-2015 của LienVietPostBank, ông Nguyễn Đức Hưởng- Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị LienVietPostBank đưa ra thông tin Ngân hàng này sẽ dành 20.000-22.000 tỉ đồng để phát triển cây mắc-ca tại năm tỉnh Tây Nguyên. Ông Hưởng cho biết: “Không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi đầu tư cho mắc-ca. Tôi đã đi thực nghiệm gần hết các nhà vườn ở Tây Nguyên và Tây Bắc nên biết chắc nó sinh lời tốt như thế nào”.
Dẫn chứng thêm về thị trường, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị LienVietPostBank đánh giá, khoảng 10 năm nữa, nguồn cung cho thị trường nội địa vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu, trong khi đối với thế giới thì 20 năm nữa vẫn thiếu. “Đây chính là lý do mà chúng tôi lên kế hoạch dành số tiền trên để phát triển cây mắc-ca thông qua hình thức cho vay tín chấp với thời hạn 7-10 năm, lãi suất dưới 10%” - ông Hưởng nói. (Hải Quan 2/4)đầu trang(
Chiều 1/4, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái làm việc với Công ty TNHH một thành viên Tuấn Lộc Bắc Giang và Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Trường Lộc về tình hình sản xuất kinh doanh trên diện tích rừng và đất lâm nghiệp được UBND tỉnh cho thuê trong thời gian qua và kế hoạch trong thời gian tới.
2011, UBND tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Trường Lộc thực hiện “Dự án đầu tư phát triển rừng bền vững tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang” với quy mô 1.394,9 ha và Công ty TNHH một thành viên Tuấn Lộc Bắc Giang thực hiện dự án “Đầu tư bảo vệ và trồng rừng” tại huyện Sơn Động; thời hạn sử dụng đất từ năm 2011 đến năm 2061.
Sau hơn 3 năm triển khai, Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Trường Lộc đã đầu tư hơn 26,9 tỷ đồng, đạt 46,2% kế hoạch; Công ty TNHH một thành viên Tuấn Lộc Bắc Giang đầu tư hơn 15,2 tỷ đồng, đạt 34,84% kế hoạch trên các hạng mục: lâm sinh; cơ sở hạ tầng; trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng; đào tạo, tập huấn cho người lao động. Các công ty đã phối hợp với chính quyền địa phương làm tốt công tác bảo vệ đất và rừng của vùng dự án; công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Đồng thời phối hợp với lực lượng công an, kiểm lâm giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Hạn chế tối đa việc hủy hoại rừng, làm cân bằng sinh thái môi trường.
Tại hội nghị, các đại biểu đã thống nhất kế hoạch thực hiện trong thời gian tới. Đồng thời đề xuất, kiến nghị UBND tỉnh giúp đỡ các công ty trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích được thuê; giải quyết dứt điểm vấn đề tranh chấp đất đai tại một số xã; hướng dẫn công ty làm các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ về việc triển khai dự án...
Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái ghi nhận sự nỗ lực của các công ty trong thời gian qua. Tuy nhiên, đồng chí cũng nghiêm túc chỉ ra những khuyết điểm, tồn tại như: việc triển khai các hạng mục còn chậm; công tác quản lý sử dụng đất rừng hiệu quả thấp, đất trống còn nhiều; công tác phối hợp với chính quyền địa phương còn hạn chế; chưa làm giàu được rừng tự nhiên; công tác lập hồ sơ, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đất còn chậm; vai trò của chính quyền địa phương trong tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các công ty còn hạn chế...
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái đề nghị trong thời gian tới, Công ty TNHH một thành viên Tuấn Lộc Bắc Giang và Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Trường Lộc tiếp tục rà soát lại các nhiệm vụ, tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các hạng mục đã được phê duyêt, đảm bảo mục tiêu của dự án.
Đặc biệt quan tâm công tác bảo vệ rừng, PCCCR, nhất là rừng tự nhiên, có kế hoạch làm giàu rừng tự nhiên. Đẩy nhanh kế hoạch trồng mới rừng đối với diện tích đất trống; tăng cường các biện pháp ứng dụng khoa học kỹ thuật; đẩy mạnh liên kết với các hộ dân để hình thành vùng nguyên liệu.
Tập trung triển khai xây dựng các công trình hạ tầng như đường băng cản lửa, đóng mốc, làm đường lâm sinh. Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Trường Lộc hoàn thành hồ sơ cấp Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất; khẩn trường hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà nước. Các công ty phối hợp với Sở Nông nghiêp và PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương xử lý dứt điểm tình trạng tranh chấp đất đai. Củng cố thành lập lực lượng bảo vệ rừng đủ mạnh, đủ số lượng, chất lượng.
Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, các huyện Sơn Động, Yên Thế tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện, tăng cường chức năng quản lý nhà nước. Chính quyền các huyện Sơn Động, Yên Thế tập trung chỉ đạo kiểm tra,kiểm soát, tạo mọi điều kiện hỗ trợ các công ty trong quá trình thực hiện. (Bacgiang.gov.vn 1.4)đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành văn bản số 1226/UBND-TH “Về việc thí điểm xây dựng Phương án kinh doanh phục vụ công tác cổ phần hóa (CPH) Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn”.
Theo đó, trên cơ sở ý kiến thống nhất của các Sở: NN-PTNT, Tài chính, TN-MT, KH-ĐT, KH-CN, LĐ-TB&XH và Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn, Chủ tịch UBND tỉnh đồng ý: Thống nhất chủ trương thí điểm xây dựng phương án kinh doanh phục vụ công tác CPH tại Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn; đồng thời tiến hành xác định phương pháp triển khai CPH đối với công ty lâm nghiệp. Cũng qua văn bản số 1226/UBND-TH, UBND tỉnh xác định rõ: Kinh phí triển khai thí điểm do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ.
Được biết, việc thí điểm xây dựng phương án kinh doanh phục vụ công tác CPH Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn là nhằm làm cơ sở để Bộ NN-PTNT làm việc với đại diện WB tại Việt Nam về việc chọn một số địa phương tham gia thí điểm CPH công ty lâm nghiệp từ nguồn kinh phí tài trợ của WB. (Báo Bình Định 1.4)đầu trang(
Với giá trị kinh tế và dinh dưỡng, mắcca đang là loại cây trồng thu hút nhiều sự quan tâm và được kỳ vọng là cây thoát nghèo cho nông dân các tỉnh Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng.
Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh để phát triển một loài cây kinh tế mới thì không thể chỉ dựa trên sự tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ và thiếu tầm nhìn chiến lược. Một sự phát triển ồ ạt kiểu a dua sẽ đem lại những rủi ro lớn cho chính công cuộc thoát nghèo của bà con.
Từ năm 2002, đã có nghiên cứu và trồng thử nghiệm cây mắcca tại Tây Nguyên, Tây Bắc, các tỉnh vùng núi miền Trung của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) và một số tổ chức khác, bước đầu là với giống nhập từ Trung Quốc, sau đó nhập từ Thái Lan và Australia.
Cụ thể, năm 2004, Trung Tâm nghiên cứu giống cây rừng đã chọn hộ ông Nguyễn Văn Cúc, trú tại thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk trồng khảo nghiệm cây mắcca, với diện tích 1ha xen với cây càphê vối.
Do phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng nên vườn mắcca sinh trưởng khá tốt. Sau 4-5 năm cho năng suất khoảng 10 kg hạt/cây, thậm chí có cây đạt 15 kg/cây/năm.
Qua mô hình khảo nghiệm này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công nhận 4 dòng mắcca gồm 246; 816; OC; 849 là giống tiến bộ kỹ thuật cho vùng Krông Năng, Đắk Lắk.
Thấy triển vọng từ cây trồng mới này, gia đình ông Cúc tiếp tục trồng xen trong diện tích càphê còn lại.
Đến nay, gia đình ông đã trồng được 1.000 cây mắcca xen canh trong vườn càphê. Trong số này, có 800 cây mắcca cho thu hoạch quả ổn định, 200 cây còn lại bắt đầu cho quả trong năm nay.
Theo nhẩm tính, với giá bán 150.000 đồng/kg như hiện nay gia đình ông đã thu về khoảng 450 triệu đồng.
Ngoài bán hạt, mỗi năm ông Cúc còn bán hàng vạn cây giống cho nông dân địa phương và các tỉnh Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng.
Ông Cúc cho biết mắcca có giá trị gấp 3 lần càphê, lại ít cần nước tưới, dễ thu hoạch, chăm sóc cũng dễ dàng hơn.
Từ năm 2002, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cũng nghiên cứu và trồng khảo nghiệm cây mắcca (cả thực sinh và ghép cành) trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên với diện tích trên 20ha.
Sau năm thứ 8 cây cho năng suất đạt 6-8 kg/cây/năm, với bình quân 300 cây/ha, thì tương đương 2 tấn/ha. Cây được 10-12 năm thì năng suất sẽ đạt đến giới hạn khoảng 3 tấn/ha, gần bằng với năng suất trung bình của cây mắcca trồng tại Australia.
Trọng lượng quả và tỷ lệ nhân của các giống đã trồng đạt được là khá tốt so với vùng nguyên sản như Australia, Hawaii cũng như các khu vực trồng mắcca trên thế giới. Với tỷ lệ nhân là 1/3, với 3 tấn quả, năng suất nhân hạt đạt 1 tấn/ha.
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cũng trồng thử nghiệm cây mắcca xen với một số loài cây công nghiệp có giá trị trên địa bàn Tây Nguyên như càphê vối, càphê chè, cacao.
Tính đến nay tổng diện tích mô hình trồng xen là hơn 15ha. Kết quả bước đầu cho thấy cây mắcca sinh trưởng tốt ở tất cả các mô hình trồng xen.
Tiến sỹ Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên và các cộng sự đánh giá cây mắcca có thể sinh trưởng phát triển được ở một số vùng sinh thái của vùng Tây Nguyên, đặc biệt là những nơi có khí hậu lạnh (nhiệt độ tối ưu khoảng 12-32 độ C, nhiệt độ mùa hoa từ 18-21 độ C).
Sau 9 năm trồng, cây mắcca cho năng suất từ 7-9 kg hạt/cây với một số giống, cá biệt có những cây cho năng suất hơn 10 kg/cây/năm. Nếu so sánh với năng suất của vùng nguyên sản cây mắcca, tại Australia vào năm thứ 10 năng suất trung bình trên cây đạt 10kg hạt/năm, vào giai đoạn kinh doanh ổn định (từ năm thứ 12 trở đi) năng suất trung bình trên cây chỉ cần từ 12-15 kg là đạt hiệu quả.
Như vậy, có thể nói cây mắcca có triển vọng phát triển trên địa bàn Tây Nguyên. Hiện nay, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên có hơn 20 giống mắcca, trong đó H2, OC và 508 là những giống rất triển vọng, cho năng suất cao.
Cũng theo nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, lợi nhuận từ cây mắcca cao hơn so với các cây công nghiệp dài ngày ở Tây Nguyên như cao su, càphê.
Với năng suất đạt được từ 3-5 tấn hạt/ha, giá bán 60.000 đồng/kg hạt (theo giá thị trường thế giới hiện nay) thì giá trị thu được từ một ha mắcca vào khoảng 180-300 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận ước tính vào khoảng 150-250 triệu đồng/ha/năm.
Nếu trồng xen trong vườn càphê với mật độ từ 100-120 cây/ha, năng suất mắcca thu được vào thời kỳ kinh doanh vào khoảng từ 1,2 đến 1,5 tấn hạt/ha, giá trị thu được tăng thêm từ mắcca trồng xen sẽ từ 70-90 triệu đồng, đồng thời còn tăng tính bền vững hơn cho vườn càphê.
Với những kết quả khả quan từ nghiên cứu khảo nghiệm, các nhà quản lý, nhà khoa học và người nông dân kỳ vọng đây là cây thoát nghèo cho đồng bào vùng Tây Nguyên.Nhưng mắcca cũng như nhiều loại cây khác, nếu muốn trở thành chủ lực để thoát nghèo vẫn cần một quy hoạch có vĩ mô tối thiểu là 20-50 năm. Đồng thời cần có một chiến lược thật cụ thể cho từng địa phương, từ diện tích, giống cây, nguồn giống, cách chăm trồng thu hoạch, chế biến và đầu ra cho sản phẩm.
Thực tế nhiều năm qua, nông dân Việt Nam và ngay cả các địa phương cũng luôn có tâm lý chạy theo cây trồng nào được giá trên thị trường, "có mới nới cũ." Họ sẵn sàng chặt điều trồng cao su, ca cao, rồi chặt ca cao trồng dừa, trồng bưởi da xanh, chặt cao su để trồng khoai mỳ (sắn)…
Thống kê của Cục trồng trọt, Bộ NN – PTNT , trong vài năm trước, có khoảng 15.000 héc ta điều đã bị chặt bỏ mỗi năm để trồng cao su. Tuy nhiên, hiện giá cao su trên thị trường ở mức dưới 30 triệu đồng/tấn, và vì thế, đã có hiện tượng người dân chặt bỏ cao su để chuyển sang trồng khoai mỳ (sắn).
Chuyện xảy ra tương tự với cây ca cao. Khi cà phê ở mức 30.000 đồng/kg và ca cao có giá 55.000 -60.000 đồng/kg, đã có nhiều tỉnh, công ty “kêu gọi” người dân chuyển sang trồng ca cao. Như vậy, nếu căn cứ vào giá bán để khuyến khích nông dân trồng cây một cây nào đó thì con đường luẩn quẩn là chặt cây này trồng cây khác sẽ không ngừng tiếp diễn. Mà điều quan trọng ở đây là cả rừng cây tới triệu triệu ha.
Trên thực tế, hiện mắcca là cây trồng mới, chưa có quy hoạch vùng trồng. Tuy nhiên, hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên người dân đã trồng tự phát hàng nghìn hécta mắcca bất chấp sự cảnh báo của các ngành chức năng.
Tại tỉnh Đắk Lắk, theo thống kê chưa đầy đủ hiện diện tích mắcca đã là 800ha, chủ yếu được trồng xen trong vườn càphê. Hầu hết, diện tích mắcca mới trồng chưa có thu hoạch nên hiệu quả của loại cây trồng này là chưa rõ thực hư.
Theo cảnh báo của các nhà khoa học, việc trồng ồ ạt theo hướng tự phát sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người nông dân và cho cả vùng cây kinh tế.
Tiến sỹ Lê Ngọc Báu phân tích phải mất 4 năm, thậm chí 7 năm, loại cây này mới cho trái và từ 10 năm trở lên mới cho thu nhập ổn định, bởi vậy, nếu người dân trồng ở vùng không thích hợp về khí hậu, đất đai, chọn nguồn giống không tốt khiến cây không có quả hoặc quả ít thì xem như "mất cả chì lẫn chài."
Theo định hướng quy hoạch phát triển cây mắcca của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tây Nguyên là vùng quy hoạch chính để phát triển cây mắcca với diện tích ước tính có thể lên đến 200.000ha và kỳ vọng đạt được 200.000 tấn hạt thô vào năm 2025, từ đó, đưa Việt Nam trở thành một cường quốc về cây mắcca.
Tiến sỹ Lê Ngọc Báu phân tích, với định hướng trên Tây Nguyên đã được xác định là địa bàn thích hợp để phát triển cây mắcca với quy mô lớn bằng phương thức trồng thuần và trồng xen trong các vườn càphê, nhưng không phải nơi nào trồng cũng mang lại hiệu quả.
Cây mắcca thích hợp nhất với địa hình có độ cao 700-800m so với mặt nước biển, như Krông Năng (Đắk Lắk), Măng Đen (Kon Tum), một số vùng ở Đắk Nông, Bảo Lộc (Lâm Đồng).
Do đó, để tránh người nông dân tự phát đổi hướng canh nông thì các ngành chức năng cần sớm quy hoạch cụ thể vùng trồng cây mắcca trước khi trồng trên diện rộng. Đồng thời có những phân tích, khuyến cáo để bà con hiểu, không vội vã trồng ồ ạt dẫn đến rủi ro.
Mặt khác, mắcca là cây lâm nghiệp do đó không đòi hỏi phải chặt bỏ cây cũ. Phương pháp không trồng thuần cây mắcca mà trồng đan xen càphê, cacao sẽ vừa tăng thu nhập, tăng tính bền vững cho vườn cây và tránh rủi ro.
Bên cạnh việc quy hoạch vùng trồng thì chất lượng cây giống cũng vô cùng quan trọng. Do nhận thấy lợi nhuận cao từ loại cây này nên không ít hộ dân trong tỉnh đang đua nhau chặt bỏ những diện tích càphê già cỗi, vườn cây ăn quả… đầu tư mua cây giống về trồng với mơ ước đổi đời.
Có “cầu” ắt có “cung,” nhiều chủ vườn ươm cây giống trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng rậm rịch lai ghép, nhân giống mắcca đáp ứng lượng mua đông đảo của người dân, chưa kể, chủ vườn còn tự tạo nên “cơn sốt” đẩy giá cây giống lên cao, từ 70.000-100.000 đồng/cây.Vấn đề quan trọng nhất chính là khâu đầu ra cho sản phẩm tránh bị ép giá, không bán được, sản phẩm không được chế biến đúng quy trình chất lượng (chủ yếu để thô) sẽ khiến 7-10 năm chăm tưới với số vốn đầu tư không nhỏ của bà con trở thành công cốc.
Việc các địa phương cũng phải đầu tư nhà máy chế biến để nâng cao giá trị ngành hàng của loại cây được mệnh danh là “Hoàng hậu quả khô” này cũng cần đặt ra nghiêm túc mới hoàn chỉnh được một quy trình "thoát nghèo" cho người nông dân Tây Nguyên. (Vietnam+ 2/4)đầu trang(
Tỉnh Đồng Nai hiện có gần 164.000ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng đặc dụng khoảng gần 102.000ha, rừng phòng hộ gần 31.300ha, còn lại là rừng sản xuất. Dù được đánh giá là địa phương quản lý giữ rừng tương đối tốt, nhưng ở các công ty, lâm trường ở Đồng Nai vẫn còn xảy ra tình trạng đất lâm nghiệp bị lấn chiếm.
Theo đó, toàn tỉnh hiện có gần 2.400ha đất rừng đang có tranh chấp giữa người dân địa phương với các công ty, lâm trường sử dụng đất lâm nghiệp. Tình trạng này đã diễn ra nhiều năm nhưng vẫn chưa được xử lý dứt điểm.
Có nhiều lý do dẫn đến tranh chấp đất lâm nghiệp tại Đồng Nai, song chủ yếu do khi thành lập lâm trường không xác định rõ ranh giới giao đất; cư dân sinh sống sử dụng đất trước khi thành lập lâm trường; các lâm trường cho hộ dân mượn đất canh tác dưới tán rừng… Hiện những diện tích đất lâm nghiệp này đã không còn rừng và người dân đang sản xuất nông nghiệp...(Sài Gòn Giải Phóng 3.4)đầu trang(
Tỉnh Khánh Hòa vừa nghiên cứu, triển khai thành công mô hình phục hồi rừng ngập mặn với đa loài cây ngập mặn (các loài đước, đưng, vẹ dù, mắm trắng, mắm biển) tại đầm Thủy Triều với sự tham gia của chính quyền, cộng đồng và doanh nghiệp, đã mở ra hướng đi mới trong việc phục hồi và phát triển rừng ngập mặn tại địa phương.
Tỉnh Khánh Hòa có đường bờ biển dài gần 400km, nhiều bãi triều rộng lớn ven vịnh Vân Phong, Nha Phu, Nha Trang, Cam Ranh... là nơi sinh sống của các loại cây ngập mặn như bần, đước... cổ thụ. Nhiều năm qua, tình trạng khai thác và sử dụng tài nguyên chưa hợp lý đã dẫn đến diện tích rừng ngập mặn (RNM) trên địa bàn Khánh Hòa ngày càng bị thu hẹp. Trước năm 1990, toàn tỉnh có khoảng gần 2.500ha RNM thì trong 2 năm 1990 - 2000, nhiều khu RNM đã bị người dân tàn phá nặng nề để lấy đất xây dựng ao, đìa nuôi trồng thủy sản.
Theo thống kê, thời điểm năm 2000, toàn tỉnh chỉ còn 25ha RNM tập trung, và RNM đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. Tình trạng này không những gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, mà còn hủy diệt các loại động, thực vật ven biển, làm cạn kiệt nguồn nước ngọt, tăng khả năng xâm nhập mặn…
Bà Ngô Thị Thu - một người dân sống ven đầm Nha Phu (Ninh Ích) kể rằng: “Thấy người ta ồ ạt phá rừng làm đìa nuôi tôm, tôi cũng làm theo. Năm đầu, con tôm trúng mùa, thu được vài chục triệu đồng. Sau đó, các đìa tôm bắt đầu nhiễm phèn, nuôi con gì chết con nấy…”
Cũng tương tự, đầm Thủy Triều nằm trong vịnh Cam Ranh vốn là nơi có hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cỏ biển quan trọng ở tầm cỡ quốc gia. Tuy nhiên, do phong trào nuôi trồng thủy sản tự phát và khai thác thủy sản bừa bãi nên hiện nay diện tích rừng ngập mặt ở đầm Thủy Triều chỉ còn khoảng 14,3ha và diện tích thảm cỏ biển còn khoảng 547ha.
Trước tình hình đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa đã xây dựng Dự án Phục hồi và phát triển RNM ven biển giai đoạn 2011 - 2015. Theo đó, giai đoạn này toàn tỉnh sẽ trồng mới 600ha RNM, nâng tổng diện tích RNM tập trung lên 625ha. Tuy nhiên, diện tích RNM được khôi phục xem ra còn quá ít so với thực trạng rừng ban đầu.
Vừa qua, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành thử nghiệm và triển khai thành công 2 mô hình phục hồi rừng ngập mặn với đa loài cây ngập mặn tại đầm Thủy Triều gồm: Mô hình phục hồi rừng ngập mặn với sự tham gia của chính quyền, cộng đồng; mô hình phục hồi rừng ngập mặn với sự tham gia của doanh nghiệp. Sau 20 tháng trồng, đước đôi có tỷ lệ sống từ 80,33 - 88% (tại Cam Hòa, Cam Hải và Cam Thành Bắc) và mắm trắng (tại Cam Thành Bắc) có tỷ lệ sống 96% sau 7 tháng trồng. Đây là lần đầu tiên tại Khánh Hòa đã thử nghiệm thành công mô hình phục hồi rừng ngập mặn đa loài ở bãi triều được cải tạo với sự tham gia của doanh nghiệp.
Ông Dương Công Tiễn - Phó Tổng Giám đốc Công ty Đường Khánh Hòa cho biết: “Sau khi Viện Hải dương học triển khai đề tài, Công ty tham gia ngay. Chúng tôi đã tiến hành san ủi, cải tạo mặt bằng cho khu vực trồng đước với diện tích 0,8ha. Tuy nhiên, việc bảo vệ RNM không đơn giản bởi ý thức của người dân chưa cao, việc đánh bắt hải sản trong đầm có thể phá hỏng cây non… Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn quyết tâm vượt qua khi hình dung màu xanh của đầm được tái tạo”.
Thành công từ dự án đã mở ra hướng mới trong việc tái sinh RNM ở Khánh Hòa. Hiện Viện Hải dương học đề xuất nhân rộng mô hình này tại RNM tự nhiên và 30 ha thảm cỏ biển ở Cam Hải Đông; ưu tiên phục hồi, quản lý hệ sinh thái RNM, thảm cỏ biển tại một số vùng của Khánh Hòa (gồm Khu bảo vệ hệ sinh thái biển Mỹ Ca, vùng phục hồi và quản lý rừng ngập mặn Tân Đảo - Ninh Ích, Khu phục hồi và quản lý hệ sinh thái biển Xuân Tự - Xuân Hà (Vạn Hưng), Khu phục hồi và quản lý hệ sinh thái biển Tuần Lễ - Vạn Hưng….
Bên cạnh đó, do nhận thức được giá trị của RNM, thời gian qua, người dân ở một số địa phương ở Khánh Hoà như thôn Tân Đảo (xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa), thôn Tuần Lễ (xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh)… cũng đã trồng và phục hồi một số diện tích cây ngập mặn ở các vùng ven bờ, đầm phá.
Theo đánh giá của ngành tài nguyên môi trường (TNMT), việc khôi phục, trồng mới RNM những năm gần đây có tín hiệu đáng mừng, thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức trong và ngoài nước, các địa phương và hộ dân ven biển. 10 năm, toàn tỉnh đã phục hồi gần 80ha diện tích RNM. Tuy nhiên, hiện nay việc phục hồi RNM còn nhiều khó khăn do các hoạt động của con người như phá RNM, mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, xây dựng các công trình dân sinh; mô hình trồng, quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng còn ít; năng suất, lợi nhuận từ RNM còn thấp; thiếu quy trình, biện pháp, nguồn giống; chưa tạo được động lực cho người dân đầu tư...
Để tăng cường quản lý và sử dụng bền vững hệ sinh thái RNM trên địa bàn tỉnh, các địa phương, ngành chức năng cần tăng cường công tác tuyên truyền, huy động cộng đồng cùng trồng và chăm sóc RNM. Bên cạnh đó, có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích giúp người dân chuyển đổi ngành nghề, tạo được sự đồng thuận để cùng bảo tồn và phát triển hệ sinh thái RNM. Mặt khác, cần thí điểm mô hình giao rừng cho cộng đồng, cụm dân cư để người dân trực tiếp chăm sóc và hưởng lợi ích từ những khu RNM. (Tài Nguyên & Môi Trường 2/4)đầu trang(
Đến thời điểm hiện tại, hai dây chuyền sản xuất gỗ của Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF ở huyện Nghĩa Đàn cơ bản đã được xây dựng, lắp ghép hoàn thành, dự kiến vào tháng 5 sẽ vận hành, sản xuất.
Vì vậy, việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu, phục vụ sản xuất đang được huyện Nghĩa Đàn khẩn trương thi công, hoàn thành đúng tiến độ của UBND tỉnh đề ra.
Dự án Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF thuộc Công ty cổ phần lâm nghiệp tháng 5 được xây dựng với tổng vốn đầu tư 500 triệu USD. Khi nhà máy đi vào hoạt động, người dân trồng rừng nguyên liệu sẽ có đầu ra ổn định và lâu dài. Đồng thời thu hút một lượng lớn lao động, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động ở địa phương.
Theo ông Lê Hồng Sơn - Chủ tịch UBND huyện Nghĩa Đàn: Việc sử dụng lao động có lợi cho rất nhiều người. Thứ nhất là lao động trồng rừng, thứ hai là lao động trong nhà máy lên đến 100- 130 lao động, trong đó số gia đình bị thu hồi đất xây dựng nhà máy sẽ được ưu tiên trước nhất.
Để tạo thuận lợi cho nhà máy đi vào sản xuất đúng kế hoạch, thì việc đầu tư xây dựng tuyến đường nhánh từ tỉnh lộ 534 vào nhà máy đã được UBND tỉnh phê duyệt, giao cho UBND huyện Nghĩa Đàn làm chủ đầu tư với 2 tuyến. Tuyến 1 nối từ xã Nghĩa Trung đến đường Hoàng Mai đi Thái Hòa, có chiều dài hơn 1,4km, quy mô đường cấp 5 miền núi; Tuyến số 2, nối từ đường Hoàng Mai - Thái Hòa đến nhà máy gỗ MDF Nghĩa Đàn, có chiều dài 2,8km, quy mô đường cấp 3. Và cả 2 tuyến đường này đang được đơn vị thi công gấp rút hoàn thành đúng với kế hoạch đề ra.
Ông Đàm Mạnh Chiến - Tư vấn giám sát công trình cho biết: Đơn vị thi công đã tăng cường làm cả 3 ca để đạt tiến độ, trước mắt phần nền phải làm xong, còn các phần đảm bảo giao thông trong năm nay sẽ hoàn thành và bàn giao.
Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi MDF được đầu tư, xây dựng tại Nghĩa Đàn với công nghệ hiện đại khi đi vào hoạt động sẽ đóng góp vào ngân sách tỉnh nhà. Quan trọng hơn, việc vận hành dây chuyền có công suất lớn, tận dụng tối đa các phụ liệu sẽ có tác động tích cực đến cuộc sống của người dân vùng cao, để bà con mạnh dạn đầu tư, phát triển kinh tế rừng cho thu nhập cao. (Đài PTTH Nghệ An 1.4)đầu trang(
Năm nay, huyện Định Hóa được giao chỉ tiêu trồng 820ha rừng sản xuất, 30ha rừng thay thế, 10ha rừng đặc dụng, 160ha rừng phòng hộ. Các hộ đăng ký trồng rừng sản xuất ở những xã đặc biệt khó khăn được hưởng mức hỗ trợ 3 triệu đồng/ha.
Các ở những xã không phải xã đặc biệt khó khăn thì được hỗ trợ 2,25 triệu đồng/ha. Các hộ tham gia trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được đầu tư 15 triệu đồng/ha trong 4 năm đầu, trong đó năm đầu tiên được 10 triệu đồng/ha (bao gồm tiền mua giống cây, phân bón, ngày công lao động).
Ngay sau khi nhận được chỉ tiêu của tỉnh giao, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa đã triển khai kế hoạch trồng rừng đến các xã để người dân đăng ký trồng rừng. Tiếp đó, đơn vị đã tổ chức khảo sát, thiết kế các diện tích trồng rừng. Theo đó, toàn huyện đã khảo sát, thiết kế xong 168,85ha rừng phòng hộ, trên 870ha rừng sản xuất, 32,8ha rừng thay thế và 11,3ha rừng đặc dụng (đều vượt chỉ tiêu kế hoạch giao). Cùng với đó, đơn vị cũng tổ chức được 18 lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây rừng cho khoảng 1.000 lượt người dân tham gia trồng rừng.
Hiện nay, đơn vị đang chỉ đạo các hộ dân xử lý thực bì, cuốc - lấp hố được để trồng rừng. Ngoài ra, đơn vị chỉ đạo các vườn ươm tập trung chăm sóc cây giống để đảm bảo đủ số lượng, chất lượng cung ứng cây cho các hộ dân. Dự kiến đến cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa sẽ thực hiện cấp giống cây, phân bón cho các hộ trồng rừng. (Báo Thái Nguyên 1.4)đầu trang(
Cây tràm, cây keo lai với người dân Cà Mau là rất quen thuộc. Tuy nhiên, việc trồng những loại cây này vẫn mang tính tự phát.
Nhằm phát huy thế mạnh của địa phương, giúp bà con thoát nghèo phát triển kinh tế gia đình ổn định, Cà Mau đã triển khai nhiều chương trình, dự án để vực dậy kinh tế rừng một cách bền vững. Bên cạnh đó, công tác thủy lợi được chú trọng đầu tư cũng đã mang lại lợi ích kép cho người dân lẫn địa phương.
Tại Cà Mau, sản lượng và giá trị lợi nhuận mang về từ rừng đều tăng qua từng năm. Năm 2014, có những hộ nhận khoán đất rừng khi khai thác cho thu nhập đến 300 triệu đồng, người dân rất phấn khởi.
Trong lâm phần U Minh Hạ, kể từ năm 2009 khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chấp thuận cho trồng cây keo lai trong đất rừng, lợi thế đã được phát huy. Bà con gọi đó là "lợi ích kép”, thu nhập của người dân dưới tán rừng tăng lên rõ rệt. Với diện tích rộng lớn (khoảng 50.000 hecta) rừng U Minh Hạ từ khi được giao cho người dân trồng thâm canh cây keo lai và cây tràm đã cho năng suất, lợi nhuận cao.
Hai loại cây này chu kỳ khai thác ngắn, không tạo ra lớp thực bì ít nên công tác phòng chống cháy rừng vào mùa khô cũng đỡ vất vả. Người dân ấp 14, xã Nguyễn Phích cho biết, ví dụ với 5 ha tràm thâm canh, sau khi trừ hết chi phí và nghĩa vụ với công ty lâm nghiệp, có thể thu lợi khoảng 250 triệu đồng. Như vậy, trồng rừng thâm canh mang về lợi nhuận gấp đôi, gấp ba so với trồng theo kiểu truyền thống. Với chu kỳ ngắn có thể trồng được nhiều đợt, nên hiệu quả kinh tế cao.
Thực tế cho thấy,bình quân mỗi hecta tràm trồng thâm canh, sau khi trừ đi tất cả các khoản chi phí và nghĩa vụ sẽ thu về 50 triệu đồng. Do lợi nhuận cao nên phong trào trồng rừng phát triển mạnh, tới nay toàn lâm phần có khoảng 9.000 hecta tràm và keo lai trồng theo hình thức thâm canh. Tuy nhiên, có thể nói lợi thế vẫn chưa phát huy hết bởi toàn vùng có tới trên 32.000 hecta rừng sản xuất. Cái khó của bà con chính là nguồn vốn, nếu được cho vay với lãi suất ưu đãi thì việc trồng rừng thâm canh ở đây sẽ còn phát triển mạnh hơn.
Được biết, tỉnh Cà Mau đang xây dựng U Minh Hạ thành vùng nguyên liệu gỗ tập trung, thâm canh, chuyển đổi giống cây trồng gắn với chế biến lâm sản; Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất- chế biến- tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Hiện người dân bán gỗ băm dăm với giá khoảng 800.000-900.000 đồng/mét khối, nếu các khâu hoàn tất có thể bán được giá khoảng 3,6 triệu đồng/mét khối thì giá trị còn tăng lên nhiều lần.
Cũng tại U Minh, còn có một "lợi ích kép” nữa, đó là lợi ích thu về từ những công trình thuỷ lợi: Ngoài việc tháo úng xổ phèn, các công trình thuỷ lợi còn phục vụ giao thông đường thuỷ lẫn đường bộ, tạo nền móng cho xây dựng đường nông thôn.
U Minh có hàng trăm cây số kênh rạch, phục vụ cho hàng chục ngàn hecta nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất lúa. Tại thời điểm này, diện tích sản xuất kết hợp tôm - lúa khoảng 12.000 hecta, diện tích lúa 2 vụ khoảng 4.000 hecta, còn lại là diện tích sản xuất vụ lúa mùa kết hợp nuôi cá đồng. Chính vì sự phát triển nuôi tôm như vậy, nên hệ thống kênh rạch tại đây luôn được ưu tiên nạo vét, nhằm tạo nguồn nước ổn định và đầy đủ. Nguồn vốn đầu tư cho công việc này được chính quyền ưu tiên.
Từ năm 2012 đến nay, huyện U Minh thực hiện được 62 công trình thuỷ lợi, tổng mức vốn đầu tư gần 100 tỷ đồng. Riêng năm 2014, đã đưa vào thi công 42 công trình, với tổng chiều dài 182,5 km, vốn đầu tư 54,650 tỷ đồng. Đây là năm mà số công trình thuỷ lợi đưa vào sử dụng cao nhất từ trước cho đến thời điểm này. Các công trình đều phát huy tác dụng trong sản xuất, tạo thuận lợi trong giao thông, tạo nguồn nước ổn định cho người dân nuôi tôm, cá, trồng lúa.
"Lợi ích kép” là điều người dân U Minh mong đợi từ lâu nay đã thành hiện thực. Từ chủ trương đúng, bà con phấn khởi cùng chính quyền làm việc, đem lại lợi ích cho cả hai bên. Điều rất đáng chú ý là từ đây bộ mặt nông thôn đổi mới, đời sống vật chất lẫn tinh thần của bà con nâng lên, và đây cũng là cách phát triển bền vững rất đáng hoan nghênh. (Đại Đoàn Kết 2/4)đầu trang(./.
Biên tập: Diệu Huyền
|
|||