Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 02 tháng 04 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Đánh giá việc thay thế cây xanh không nhận được sự đồng tình của dư luận, gây bức xúc, Thủ tướng chỉ đạo Hà Nội khẩn trương thanh tra, kết luận và xử lý nghiêm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân theo quy định.
Bày tỏ quan điểm về việc cải tạo, thay thế cây xanh đô thị tại Hà Nội trong phiên họp báo Chính phủ thường kỳ chiều 1/4, người phát ngôn Chính phủ Nguyễn Văn Nên cho biết việc quản lý cây xanh đô thị được quy định tại Nghị định số 64/2010 của Chính phủ.
Theo đó, UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm quản lý toàn bộ cây xanh trên địa bàn. Nghị định cũng quy định rõ 3 loại cây được chặt hạ, dịch chuyển là: Cây đã chết, đã bị đổ gãy hoặc có nguy cơ gãy đổ gây nguy hiểm; cây bị bệnh hoặc đến tuổi già cỗi không đảm bảo an toàn; cây trong các khu vực thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình.
Theo ông Nên, việc chặt hạ, thay thế cây xanh của Hà Nội vừa qua đã không được dư luận đồng tình và gây bức xúc trong xã hội, thành phố đã có chỉ đạo dừng triển khai và tiến hành thanh tra, kiểm tra làm rõ để có biện pháp xử lý theo quy định. UBND TP Hà Nội cũng đã có báo cáo gửi Thủ tướng về tình hình chặt hạ, thay thế cây xanh và đề xuất các giải pháp xử lý.
Thủ tướng yêu cầu Hà Nội khẩn trương thanh tra, làm rõ, kết luận và xử lý nghiêm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân theo quy định. Bên cạnh đó phải rà soát, đánh giá các biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện để kịp thời điều chỉnh biện pháp, cách làm không phù hợp.
"Thủ tướng cũng yêu cầu TP Hà Nội tăng cường quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn theo đúng quy định và thông tin kịp thời, đầy đủ, công khai, minh bạch và tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, nhân dân, tạo sự đồng thuận trước khi thực hiện", Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên cho hay.
Cùng ngày, Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã có văn bản chỉ đạo xử lý “vụ chặt cây xanh” trên địa bàn theo chỉ đạo của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải. Theo đó, ông Thảo yêu cầu các đơn vị chức năng khẩn trương thanh tra việc cải tạo, thay thế cây xanh trên địa bàn, làm rõ, kết luận và báo cáo đề xuất thành phố xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân theo quy định.
Ông Thảo yêu cầu Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội phải thực hiện các chỉ đạo trước đó gồm: Dừng cải tạo, thay thế cây xanh hai bên tuyến đường; Kiểm tra, rà soát, đánh giá lại tất cả các khâu, các tiêu chí, cũng như biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện việc thay thế cây xanh trong thời gian qua; Điều chỉnh biện pháp, cách làm không phù hợp; Khắc phục những tồn tại trong quá trình tổ chức thực hiện; Đồng thời thông tin đầy đủ, công khai minh bạch và tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội trước khi thực hiện.
Ông Thảo cũng yêu cầu Sở Xây dựng Hà Nội chủ trì phối hợp với các cơ quan đơn vị liên quan và UBND các quận, huyện, thị phải tăng cường quản lý chặt chẽ cây xanh trên địa bàn theo quy định. Tập trung thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông, an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân trước, trong mùa mưa bão và đảm bảo vệ sinh môi trường, cảnh quan đô thị Hà Nội. (Nông Nghiệp VN + An Ninh Thủ Đô + Tiền Phong + Đại Đoàn Kết + Người Lao Động + Thời Báo Kinh tế VN + Công An Nhân Dân + Kinh Tế & Đô Thị + Quân Đội Nhân Dân + Hà Nội Mới + Lao Động + Tin Tức 2/4)đầu trang(
Theo tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, liên tiếp nhiều ngày qua thời tiết trên địa bàn tỉnh luôn có những đợt nắng nóng kéo dài kèm theo gió mạnh đã làm cho gần như toàn bộ diện tích rừng tràm U Minh Hạ và rừng cụm đảo Hòn Khoai bị kiệt nước.
Toàn tỉnh Cà Mau đã có 37.915ha rừng tràm U Minh Hạ và 533ha rừng cụm đảo Hòn Khoai bị kiệt nước hoàn toàn, hiện đang dự báo ở cấp cháy cao, nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm. Trong đó, có hơn 7.000ha rừng dự báo cấp cháy cực kỳ nguy hiểm. Tình hình trên được dự báo sẽ còn kéo dài và tiếp tục gia tăng cấp cháy lên cấp cực kỳ nguy hiểm ở toàn bộ diện tích còn lại của rừng tràm và rừng cụm đảo.
Riêng khu vực rừng tràm U Minh Hạ vẫn còn gần 1.500 ha rừng dự báo cháy cấp thấp, độ ẩm dưới chân rừng còn cao. Tuy nhiên, tình trạng kiệt nước đang diễn ra rất nhanh chóng, chỉ tính riêng trong tháng 3 vừa qua, diện tích rừng U Minh Hạ bị kiệt nước đã tăng lên thêm 16.000ha.
Để chủ động phòng cháy rừng theo phương châm “bốn tại chỗ”, các chủ rừng hiện đã và đang tập trung cao độ cho công tác này. Đồng thời, thường xuyên trực 24/24 giờ tại những điểm có nguy cơ cháy cao, thực hiện tốt chế độ báo cáo thông tin và dự báo cấp cháy rừng.
Bên cạnh đó, tỉnh Cà Mau đã tổ chức nhiều đợt diễn tập chữa cháy rừng, đồng thời chuẩn bị công tác hậu cần phục vụ chữa cháy. Bằng các giải pháp đồng bộ, tỉnh Cà Mau phấn đấu mùa khô năm nay không để rừng cháy, trường hợp xảy ra cháy dập tắt ngay, không để lây lan. (Quân Đội Nhân Dân 2/4)đầu trang(
Bất thường việc đốn hạ cây lim xanh ở Khu bảo tồn rừng sến Tam Quy?
“Chúng tôi không được đơn vị khai thác thông báo, nên hoàn toàn bất ngờ trước thông tin về những cây gỗ lim xanh trong Khu Bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy bị đốn hạ”, lãnh đạo chi cục kiểm lâm tỉnh cho hay.
Theo phản ánh của người dân, trong thời gian từ giữa tháng 3/2015 đến nay, tại Khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy, thuộc địa bàn hành chính huyện Hà Trung (Thanh Hóa) đã diễn ra tình trạng nhiều cây lim xanh bị đốn hạ. Vị trí khu vực Lò Đá, là “cửa chính” để những người khai thác gỗ trong Khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy vận chuyển số gỗ lim xanh ra khỏi rừng.
Nhiều gốc lim bị đốn hạ còn tươi nguyên, có những gốc đường kính lên đến 90cm nằm trơ trọi dưới tán rừng xanh. Nhiều người dân địa phương cho biết: Trong khoảng thời gian từ 15 ngày trở lại đây, nhiều cây lim xanh có tuổi đời hàng trăm năm, sống trong Khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy bị đốn hạ giữa thanh thiên bạch nhật. Sau khi bị đốn hạ, số gỗ lim xanh ấy được chuyển về đâu thì người dân hoàn toàn không biết.
Vì chưa thể liên hệ được với Khu Bảo tồn nên phóng viên báo ĐS&PL đã liên hệ làm việc với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa. Ông Lê Quốc Việt, Phó Chi cục trưởng khẳng định: “Đơn vị chúng hoàn toàn không biết việc những cây lim trong Khu Bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy bị đốn hạ. Chúng tôi cũng không được cơ quan nào thông báo về vấn đề được phép khai thác gỗ trong khu rừng đặc dụng ấy”.
Lãnh đạo chi cục đã hỏi Phòng Quản lý bảo vệ rừng trong đơn vị để nắm thông tin. Nhưng phòng này cũng không hề hay biết việc Khu Bảo tồn Tam Quy. “Nghe thông tin phong phanh là họ được phép khai thác gỗ trong Khu bảo tôn thiên nhiên rừng sến Tam Quy, nhưng vì không được thông báo nên đơn vị chúng tôi không biết. Việc khai thác gỗ trong rừng thường phải có bộ 3 tiến hành thực hiện, đó là: Đơn vị được phép khai thác, Kiểm lâm và chính quyền địa phương”, ông Việt giải thích thêm.
Tuy nhiên, sau đó ông Việt lại cho rằng, Hạt kiểm lâm huyện Hà Trung báo cáo sơ bộ là đốn hạ lim xanh trên là để phục vụ đề án nghiên cứu khoa học của Sở NN&PTNT(!?).
Được bết, Khu Bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy trải dài trên địa bàn hành chính các xã Hà Lĩnh, Hà Tân, Hà Đông của huyện Hà Trung (Thanh Hóa), cách QL1A khoảng 4km. Năm 1986, Khu Bảo tồn Tam Quy được đưa vào hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, với diện tích 360ha. Năm 2001, Dự án Khu Bảo tồn thiên thiên rừng sến Tam Quy được phê duyệt, với diện tích 518,5ha. Đây là khu rừng thuộc loại rừng xanh đất thấp, đặc trưng bởi sự ưu thế của loài sến mật và lim xanh đã được xếp vào sách đỏ.
Việc đốn hạ những cây lim trăm tuổi ở đây đã khiến nhiều người dân đặt nghi vấn về sự thiếu minh bạch. Phóng viên ĐSPL tiếp tục liên hệ với các cơ quan chức năng địa phương để làm rõ. (Đời Sống & Pháp Luật 1.4)đầu trang(
Vĩnh Quang có tổng diện tích tự nhiên trên 2.511 ha, trong đó diện tích đất có rừng trên 608 ha. Trong thời gian qua, xã Vĩnh Quang luôn coi trọng công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.
Ngay từ đầu năm 2015, xã Vĩnh Quang đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng năm 2014 để đánh giá rút kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo, quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong năm 2015.
Xác định công tác tuyên truyền, vận động là nhiệm vụ hàng đầu và rất quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, ngay từ đầu năm, UBND xã Vĩnh Quang đã chủ động phối hợp với các hội đoàn thể tăng cường tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản dưới luật liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng đến nhân dân.
Trong năm qua, xã đã tổ chức được 5 đợt tuyên truyền thu hút trên 410 lượt người tham dự. Để chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng, ngay từ đầu năm, xã đã xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể triển khai đến từng thôn. Vào mùa hanh khô, nắng nóng, tổ chức lực lượng thường xuyên tuần tra, canh gác để kịp thời phát hiện, huy động lực lượng chữa cháy theo phương châm “4 tại chỗ”. Nhờ đó, trong năm qua trên địa bàn xã không có xảy ra cháy rừng.
Bên cạnh đó, công tác tuần tra, truy quét bảo vệ rừng cũng được chú trọng. Trong năm xã đã thường xuyên tổ chức các đợt tuần tra, kiểm tra, truy quét kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm, có biện pháp ngăn chặn, xử lý theo quy định. Trong năm qua, lực lượng chức năng của xã đã phát hiện và lập biên bản xử lý 7 vụ vi phạm về cất giấu, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Các vụ vi phạm đều không có chủ nhận. Lực lượng chức năng đã tịch thu trên 1,2 m3  gỗ các loại, 350 kg cành nhánh, gốc rễ gỗ trắc, 75 kg quả ươi, thu giữ 8 xe mô tô. Các vụ vi phạm đã được xử lý theo quy định của pháp luật.
Để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong năm 2015, xã Vĩnh Quang đã kiện toàn lại Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng gồm 21 thành viên, kiện toàn tổ liên ngành của xã gồm 12 thành viên, thành lập 5 tổ xung kích tại 5 thôn gồm 40 người, mỗi tổ có 8 người phụ trách tại các thôn. Đồng thời Ban chỉ huy đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong Ban chỉ huy, phân công đứng chân từng địa bàn thôn để nắm bắt tình hình, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Bên cạnh đó, xã đã xây dựng và triển khai kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng đến các thôn, tăng cường tuyên truyền các văn bản pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng đến với nhân dân bằng nhiều hình thức góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành của nhân dân. Xây dựng và kiểm tra phương án “4 tại chỗ” trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng, thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng, tổ chức lực lượng canh phòng trực nhất là vào mùa hanh khô, nắng nóng kéo dài, không để xảy ra cháy rừng. (UBND H.Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 31/3) đầu trang(
Hậu Giang: Tập trung phòng, chống cháy rừng trong mùa khô
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hậu Giang, hiện đang là cao điểm mùa khô năm 2015, chính vì vậy, toàn bộ diện tích rừng của tỉnh Hậu Giang đang được đặt trong tình trạng báo động, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đang được ngành chức năng và các chủ rừng trên địa bàn tỉnh đặc biệt quan tâm.
Ông Nguyễn Vĩnh Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Hậu Giang cho biết, mùa khô năm nay vào cao điểm bắt từ đầu tháng 3 và kéo dài đến hết tháng 5. Nắng nóng, ít mưa trái mùa, nhiệt độ tăng cao, nước bốc hơi nhanh, làm cho nước rút nhanh từ các diện tích rừng xuống lòng kênh, rạch.
Tại một số điểm có diện tích rừng lớn như Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân và Khu Hòa An, nước đã khô hạn cục bộ. Trước tình hình thời tiết diễn biến khó lường như hiện nay, ngay từ giữa tháng 3/2015, Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Hậu Giang đã nâng cấp dự báo cháy rừng toàn tỉnh lên cấp 3 và trong tháng 4/2015, khả năng sẽ nâng lên cấp 4, đây là cấp nguy hiểm.
Để tập trung cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Hậu Giang đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm ở các địa phương phối hợp với các chủ rừng tổ chức họp dân để tuyên truyền về công tác này. Ngoài ra, các chủ rừng đã chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện và khởi động các dụng cụ chữa cháy, 100% các điểm ứng trực ở các khu rừng hiện nay đều có lực lượng canh gác từ 9 giờ sáng đến 17 giờ chiều.
Đồng thời, tổ chức xây dựng một số chốt bảo vệ ở những điểm nóng giáp ranh rừng nhằm hạn chế tối đa người ra vào rừng trong thời điểm này. Lực lượng kiểm lâm ở các địa phương cũng chủ động nạo vét hệ thống kênh mương, cống, đập trữ nước giữ ẩm chân rừng, xây dựng các đường băng xanh cản lửa. Một số chủ rừng như Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng cũng đã tổ chức thực tập trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Do đang vào cao điểm mùa khô nên từ đầu tháng 4/2015, lực lượng kiểm lâm của tỉnh Hậu Giang tăng cường xuống cơ sở để cùng với các chủ rừng tuần tra bảo vệ rừng.
Về lâu dài, tỉnh Hậu Giang tiếp tục bảo vệ rừng theo phương châm "phòng cháy là chính, chủ động ngăn ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất xảy ra cháy rừng," với các giải pháp trọng tâm như đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ, phòng chống cháy rừng cho cộng đồng dân cư ở những nơi có rừng, vận động mọi người hưởng ứng, tích cực tham gia phòng chống cháy rừng.
Được biết, tỉnh Hậu Giang hiện có hơn 2.580 ha rừng, tập trung ở Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Trung tâm nông nghiệp Mùa Xuân, Khu lâm ngư - Casuco, Khu Hòa An - trường Đại học Cần Thơ, rừng trồng phân tán của các hộ gia đình, khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ... (Đảng Cộng Sản 31/3)đầu trang(
Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) khi nghiên cứu về Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) đã thừa nhận: Mức độ đa dạng sinh học của vườn này thuộc hàng cao nhất hành tinh.
Theo khảo sát của giới địa lý, khối núi đá vôi Phong Nha rộng lớn đến 200.000ha là khối núi đá vôi khổng lồ nhất bán đảo Đông Dương với độ cao trung bình 800m. Sừng sững nhất là “ngọn tháp cổ” - đỉnh Cotatun (1.624m), sinh cảnh đặc thù của Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng (PN-KB) được hình thành qua hàng trăm triệu năm biến đổi địa chất.
Qua hàng trăm triệu năm, vỏ trái đất đẩy những lớp trầm tích này nhô lên từ đáy biển và tạo thành những núi đá vôi sừng sững tại Phong Nha. Nước mưa thấm vào những kẽ nứt, khe hở của đá vôi, theo trọng lực chảy xuống cho đến khi gặp tầng phân lớp trầm tích thấp hơn.
Quá trình này tiếp diễn không ngưng nghỉ, lâu dài đã tạo nên những khối thạch nhũ lớn nhỏ với đủ hình hài, làm nên những kỳ quan tráng lệ như hang Sơn Đoòng, động ướt Phong Nha, động khô Thiên Đường…
Riêng động Thiên Đường dài 31,4km, rộng từ 30 - 150m, cao 60m, sâu 255m và nằm ở độ cao 360m so với mặt biển với kết cấu địa tầng rất độc đáo, hệ thống thạch nhũ tráng lệ, là chứng nhân kỳ vĩ của 400 triệu năm biến đổi địa chất.
PN-KB có khoảng hàng trăm hang động lớn nhỏ, làm say đắm những ai muốn khám phá địa mạo, địa chất… Đến nay, 203 hang động ở Vườn quốc gia (VQG) này đã được khảo sát với chiều dài khoảng 200km.
Khi đoàn thám hiểm của Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh trở lại với Quảng Bình vào đầu tháng 3/2012, Trưởng đoàn - nhà thám hiểm Howard Limbert phát biểu trước báo giới rằng: “Chúng tôi tin chắc mình sẽ khám phá thêm hang động mới, khám phá cho địa phương này những tài sản danh giá của khoa học địa mạo địa chất mà không nơi nào có được”.
Tất cả hang động ở PN-KB đều lộng lẫy, kỳ vĩ như những tác phẩm điêu khắc bằng nhũ đá. Nổi bật là hang Sơn Đoòng, được hình thành khoảng 2 - 5 triệu năm trước, khi nước sông chảy ngang qua vùng đá vôi đã bị vùi lấp dọc theo một đường đứt gãy.
Nước làm xói mòn và tạo ra một đường hầm khổng lồ trong lòng núi. Hang có chiều cao hơn 200m, rộng hơn 150m và dài ít nhất 8.950m. Trong hang, các nhà nghiên cứu còn tìm thấy một dòng sông ngầm dài 2,5km và có cả những cột nhũ đá cao tới 70m.
Các nhà thám hiểm cho rằng, có những nơi trong hang Sơn Đoòng đủ sức chứa một tòa nhà cao 40 tầng ở New York (Mỹ). Một bức ảnh lộng lẫy do nhiếp ảnh gia Carsten Peter chụp vào tháng 5/2010 ghi nhận một đoạn có vòm hang cao đến 243,84m.
Sơn Đoòng đã vượt qua hang Deer ở VQG Gunung Mulu (Malaysia) với chiều cao 100m, rộng 90m, dài 2km để trở thành hang động tự nhiên lớn nhất thế giới.
Sơn Đoòng hiện là viên ngọc vô giá của Du lịch Quảng Bình và được các tạp chí du lịch nổi tiếng thế giới xếp hạng top 10 điểm đến hấp dẫn nhất hành tinh.
Trong cuốn Bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn (do Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam biên soạn) khẳng định: VQG PN-KB có hệ tự nhiên đa dạng nhất trong tất cả các VQG và khu dự trữ sinh quyển trên thế giới.
Thực vật trên núi đá vôi là dạng thực vật điển hình của PN-KB. Rừng nhiệt đới ở đây thường xanh, ẩm, rậm, cao 800m so với mặt biển, tỷ lệ che phủ đến 96,2%, rừng nguyên sinh chiếm đến 92,2%.
Cho đến nay, giới nghiên cứu đã xác định sự có mặt của 2.935 loài thực vật, bao gồm 201 họ, 972 chi, 6 ngành. Trong đó có 39 loài được đưa vào Nghị định 32 của Chính phủ (cấm khai thác, sử dụng và buôn bán), 112 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và 121 loài trong Sách Đỏ IUCN-2011 của thế giới.
Theo thống kê của Ban Quản lý VQG PN-KB, về hệ động vật, VQG là nơi cư trú của 138 loài thú (bao gồm cả dơi) thuộc 32 họ và 11 bộ. Có ít nhất 43 trong tổng số 140 loài được liệt kê vào Sách Đỏ Việt Nam với cụ thể có bốn loài nguy cấp cao, 18 loài nguy cấp, 16 loài sắp nguy cấp, 4 loài bị đe dọa.
Nổi bật nhất là hổ và bò tót (loài bò rừng lớn nhất thế giới). Cộng đồng linh trưởng ở đây phong phú bậc nhất Đông Nam Á với 10 loài (7 loài trong Sách Đỏ Việt Nam, đặc biệt là Voọc Hà Tĩnh).
VQG cũng sở hữu 161 loài lưỡng cư – bò sát thuộc 24 họ, trong đó có 30 loài bị đe doạ gồm 24 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 15 loài ghi trong Sách Đỏ IUCN (2011), 14 loài ghi trong Nghị định 32 của Chính phủ (2006) và 14 loài ghi trong các Phụ lục CITES (2011).
Giới nghiên cứu cũng đã xác định được 212 loài cá, thuộc 107 giống, 38 họ và 10 bộ; trong đó có 34 loài có giá trị kinh tế cao, 6 loài được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam, 1 loài nguy cấp, 4 loài cần được bảo vệ, 33 loài là đặc hữu của VQG PN-KB.
Nơi đây cũng tồn tại 460 loài động vật không xương sống thuộc 7 lớp, 22 bộ. Núi rừng PN-KB hiện là sinh cảnh của 303 loài chim. Trong đó, 20 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và 17 loài được ghi trong Sách Đỏ IUCN-2006.
Đối với động vật không xương sống trong hang động, phải kể đến 2 phát hiện mới rất quan trọng vừa qua là: Bọ cạp sống trong động Thiên Đường và bọ cạp trong động Tiên Sơn thuộc họ Pseudochactidae, được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới khi thích nghi được với điều kiện sống trong hang động không ánh sáng.
Tiếp đến là 10 loài cá mới, 1 loài cá lạ có thể bơi ngược thác mạnh, 4 loài bò sát (tắc kè Phong Nha, rắn mai gầm Thành, rắn lục Trường Sơn, thằn lằn tai); tái phát hiện sau 50 năm loài rắn lục sừng.
Kỳ diệu nhất, chuột đá Lào, được khẳng định là đã tuyệt chủng 11 triệu năm trước, nhưng Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) và một nhóm điều tra Việt Nam đã phát hiện chúng vẫn sống tại PN-KB. (Pháp Luật VN 2/4)đầu trang(
Giới khoa học nghiên cứu về dãy Trường Sơn đều  khẳng định như vậy, bởi dãy núi này hùng vĩ nhất Đông Dương về tầm vóc cũng như sự đa dạng sinh học vốn có.
Tính chiều dài từ sông Cả đến giáp miền Đông Nam bộ, dãy Trường Sơn dài 1.100 km với tổng diện tích tầm 22 triệu hécta, từ lâu được xem là “xương sống” của bán đảo Đông Dương, nằm giữa ba quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia với hai vùng chính Bắc và Nam Trường Sơn. Ở Việt Nam, Trường Sơn có trong địa đồ của 21 tỉnh thành.
Tô điểm cho sự hùng vĩ của Trường Sơn là những khối núi lớn thuộc hàng bậc nhất Đông Dương như: Hoành Sơn, Bạch Mã, Giăng Màn, Kẻ Bàng, An Khê, Ngọc Linh, Chư Yang Sin… Với những ngọn núi cao ngất trời như: Pu Xai Lai Leng (nằm trên biên giới Việt – Lào, thuộc địa phận tỉnh Nghệ An), Rào Cỏ (biên giới Việt – Lào, Hà Tĩnh), Động Ngài, Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Ngọc Linh (Quảng Nam)…
Bạch Mã là một dãy núi đẹp, là phần ăn ngang của Trường Sơn, chạy cắt ra sát biển. Nơi đây có đèo Hải Vân nổi tiếng, có lưu lượng mưa lớn nhất Việt Nam. Dãy này có đỉnh cao nhất là 1.444m, là nơi quy tụ nhiều loài động, thực vật quý hiếm ở miền nhiệt đới. Bạch Mã chỉ cách biển 18km nên có dáng dấp sinh cảnh, sự đa dạng sinh học khá riêng biệt ở Trường Sơn.
“Nóc nhà” của Trường Sơn là dãy Ngọc Linh với đỉnh cao nhất 2.598m, đứng thứ 2 ở Việt Nam sau đỉnh Phan-xi-păng. Dãy núi này là một phần lớn của Trường Sơn Nam, nằm trên cao nguyên phía Bắc Tây Nguyên, thuộc địa phận các tỉnh: Kon Tum, Quảng Nam, Quãng Ngãi và Gia Lai. Dãy này là đường phân thủy của hai hệ thống: sông Sê San chảy sang phía Tây, góp nước cho dòng Mê Kông và hệ thống khác chảy sang phía Đông, đổ ra biển Đông gồm sông Cái, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Ba.
Theo báo cáo từ một cuộc thống kê rốt ráo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, rừng Trường Sơn chiếm hơn một nửa diện tích rừng của Việt Nam. Tỷ lệ che phủ của rừng cũng lớn nhất với con số trung bình là 47,53% (con số này của cả nước là 39,1%). Nước ta có 4 tỉnh sở hữu độ che phủ rừng trên 60%, 3 tỉnh đã thuộc dãy Trường Sơn là Kon Tum (66,7%), Quảng Bình (gần 68%) và Lâm Đồng (61%).
Từ số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, dãy Trường Sơn cũng chiếm đến gần 50% diện tích cả nước. Diện tích các loại đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dụng và đất ở cũng cao nhất so với các khu vực khác ở Việt Nam. Nhưng hiện tại, dân số ở Trường Sơn chỉ chiếm hơn 1/4 dân số cả nước với mật độ chỉ 145,5 người/km2.
Các cuộc nghiên cứu về đa dạng sinh học đều kết luận rằng, thiên nhiên dãy Trường Sơn có tính đa dạng và phong phú bậc nhất. Về mặt lịch sử địa chất, quần sơn này đã thiết lập chế độ lục địa từ đầu nguyên đại Cổ sinh (khoảng 550 triệu năm trước), minh chứng là sự hình thành tầng đá trầm tích vụ lục địa màu đỏ còn thấy rất rõ trên nhiều nơi ở Tây Nguyên. Vào cuối kỷ Devon (khoảng 350 triệu năm trước), các hóa thạch thực vật cây vảy (Lepidophyta) – nhóm thực vật cạn nguyên thủy – được phát hiện nhiều ở trong các tầng đá cát kết ở Quảng Bình. Vào cuối kỷ Trias (khoảng 250 triệu năm trước), những thảm rừng lớn đã tạo ra bể than đá Nông Sơn (Quảng Nam). Từ kỷ Bò sát (khoảng 200 triệu năm trước), những khu rừng lá kim đã xuất hiện tại Trường Sơn.
Qua 550 triệu năm biến đổi địa chất, địa mạo, cổ lục địa Trường Sơn xứng danh là nơi sinh cư của nhiều taxon (đơn vị phân loại sinh vật) của cả ngoại lai lẫn bản địa. Tất cả diễn ra trong một tiến trình lịch sử của sự sống chưa bao giờ ngắt quãng. Việc phát hiện nhiều loài đặc hữu trong thế giới sinh vật hiện đại ở quần sơn này như: Sao la, ếch Gai hàm Ngọc Linh, mang Trường Sơn… cùng nhiều loài bò sát, côn trùng và thực vật đặc hữu khác là minh chứng cho sự tiếp nối liên tục của lịch sử sự sống và nhiều taxon đặc hữu khác sẽ còn được phát hiện trong thời gian tới…
Với 1.100km dài theo kinh tuyến, đi dọc Trường Sơn sẽ được “hưởng thụ” các chế độ chuyển mùa liên tục theo chiều dài dãy núi. Khi chân núi là mùa hè nóng bức thì trên các cao nguyên và đỉnh núi là kiểu cận nhiệt hay ôn đới. Những vùng cao mát lạnh là những vườn dược liệu tự nhiên phong phú với rất nhiều loài bản địa.
Sườn Đông Trường Sơn  là các dải đồng bằng hẹp, các nhánh núi ăn ngang ra biển. Biển miền Trung có nhiều vũng vịnh, chế độ thủy triều rất đa dạng. Dãy Trường Sơn không chỉ là nguồn dự trữ gen và nguồn thiên địch của các sinh cảnh đồng bằng ven biển mà còn là nơi tiếp nhận các loài sinh vật lạ xâm nhập, các nguồn gen ngoại lai.
Chướng ngại khó vượt của con người ở Trường Sơn là do độ phân cắt chiều sâu và chiều ngang khá lớn. Nhưng nhờ thế lại thuận lợi cho sự di chuyển và cư trú  của sinh vật bởi có ít sự quấy nhiễu. Ngoài thực vật bản địa, Trường Sơn là nơi đón nhận các luồng di cư từ Vân Nam, Tây Tạng, Thái Lan và cả các đảo trên biển Đông bao la. Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa xanh tốt quanh năm trên địa hình đá vôi karst ở Trường Sơn Bắc, rừng khộp ở Trường Sơn Nam là những hệ sinh thái đặc thù mà trên thế giới ít nơi nào có được.
Đa dạng sinh học dãy Trường Sơn đến nay vẫn làm giới khoa học toàn cầu ngạc nhiên. Nhưng đó mới chỉ là một phần của kho báu lớn về đa dạng sinh học… (Pháp Luật VN 1.4)đầu trang(
Mùa xuân về mang theo những cơn mưa phùn và tiết xuân thuận lợi cho rừng dẻ rộng hơn 200 ha tại vùng bán sơn địa xã Hà Long (Hà Trung) đâm chồi nảy lộc. Thời tiết ấm dần, cũng là lúc cây dẻ cổ thụ trên dãy núi Răng Cưa trùng điệp giáp tỉnh Ninh Bình bung nở hoa phủ trắng núi đồi.
Nếu không trực tiếp đến đây, nhiều người không thể tưởng tượng rằng, ngay tại huyện đồng bằng Hà Trung, vẫn còn một khu rừng gỗ quý giàu tiềm năng đến vậy. Cách xa gần cây số, chúng tôi đã thấy rõ màu trắng đặc trưng của hoa dẻ. Men theo những con đường mòn trên núi, thấy rừng dẻ nhiều năm tuổi  trải dài ngút ngàn. Riêng ngọn đồi có tên Đồi 390, diện tích khoảng 20 ha là rừng thuần dẻ. Phần lớn các cây dẻ trên rừng có đường kính vài ba gang tay, gốc sần sùi thể hiện sức sống bất tận. Khắp núi ngàn như được dát bằng một tấm thảm xanh ngồn ngộn sắc xuân trải ra trước mắt chúng tôi.
Nhiều đời nay, “lá phổi xanh” phía đông bắc huyện Hà Trung này đã che chở, “ôm ấp”, ngăn bão tố phong ba cho người dân quanh vùng. Những cây dẻ cành nối cành, lá xanh ngút ngàn “đan” vào nhau tầng tầng lớp lớp với độ che phủ cao, bộ rễ dài cũng đang góp phần giữ lượng nước ngưng tụ đầu nguồn cho hồ Bến Quân -  hồ thủy lợi lớn và hệ thống nước ngầm cho nhiều xã của huyện Hà Trung. Rừng cây phân bố và trải dài trên 5 triền núi nối tiếp nhau, còn có vai trò chống xói mòn cho một khu vực núi đồi rộng lớn.
Hiện tại, khoảng 80 chủ rừng của xã Hà Long đang bảo vệ rừng, tận dụng tiềm năng rừng để phát triển kinh tế hộ. Hàng chục hộ dân của các thôn: Đồng Toàn, Đồng Hậu, Khắc Dũng, Đông Bình, Nghĩa Đụng và Đồng Quảng của xã Hà Long đang phát triển kinh tế nông - lâm kết hợp. Dưới tán rừng già, việc đầu tư chăn nuôi dê,  gà,  bò... đang góp phần làm giàu cho các hộ dân ven rừng.
Có nhiều hộ dân như Nguyễn Khắc Lượng, Nguyễn Văn Hùng, Trần Văn Việt... ở thôn Đồng Toàn, hay Bùi Văn Quyền, ở  thôn Nghĩa Đụng phát triển từ hàng chục đến hơn trăm đàn ong, đem lại thu nhập khá. Từ việc chăn nuôi nhờ vào rừng, mỗi gia đình ở đây có thu nhập hàng chục, thậm chí cả trăm triệu đồng mỗi tháng. Nhiều khoảng đất trống ven rừng cũng được bà con tận dụng trồng cây theo mô hình rừng kinh tế, thu hoạch theo chu kỳ.
Ông Nguyễn Văn Lợi - một chủ rừng ở đây chia sẻ: Thấy được vai trò to lớn của rừng, trong nhiều năm nay, ở đây không có hiện tượng phá rừng. Không những thế, đến tháng 9 âm lịch hằng năm, khi những cơn gió hanh heo thổi về, cây dẻ tự tách vỏ và rụng hạt xuống đất. Các chủ rừng cùng người dân địa phương tiến hành nhặt hạt dẻ để bán.
Có thể thấy rằng, khi nhận thức rõ vai trò của rừng, tập trung bảo vệ thì rừng chính là điều kiện tác động trở lại để xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu cho các hộ dân nơi đây. Trái lại, ở đâu đó, người dân vẫn khai thác rừng kiểu tận diệt mà không chú trọng tái tạo, bảo vệ, chính họ lại là nạn nhân của lũ ống, lũ quét, thiên tai. (Báo Thanh Hóa 1.4)đầu trang(
Vùng U Minh Thượng (Kiên Giang) hiện có tổng diện tích đất lâm nghiệp hơn 14.420 ha, trong đó diện tích rừng tràm khoảng 4.200 ha. Theo Hạt Kiểm lâm liên huyện Vĩnh Thuận-U Minh Thượng, hiện có hơn 1.400 ha rừng tràm tại đây đang dự báo cháy cấp 4-5 (cấp cực kỳ nguy hiểm), tập trung trên lâm phần Vườn quốc gia U Minh Thượng và Công ty CP Du lịch U Minh.
Hiện nay, trên lâm phần của Công ty CP Du lịch U Minh có tổng diện tích 1.200 ha rừng cảnh báo nguy cơ cháy cấp 4-5, có thể xảy ra cháy ở mọi thời điểm. Các dòng kênh trục chính ở đây đã cạn nước, phương tiện đi lại khó khăn, không đảm bảo vận chuyển máy bơm nước, thiết bị dập lửa khi xảy ra cháy. Mặt khác, do thiếu nước, cây cỏ và lá tràm bắt đầu khô héo, tạo nên lớp thực bì rất dễ bắt lửa. Trong khi đó, nước bên ngoài lâm phần cũng đang cạn dần không đủ bơm vào nhằm bổ sung nguồn nước, tăng độ ẩm cho rừng tràm để giảm áp lực cháy.
Ông Lâm Quốc Ninh, Phó giám đốc Công ty CP Du lịch U Minh, cho biết đơn vị đã chủ động xây dựng phương án, thành lập Ban chỉ huy phòng chống cháy rừng ngay từ đầu mùa khô. Do nắng hạn gay gắt kéo dài nên đơn vị đã tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, trực canh lửa 24/24 giờ, kết hợp với kiểm lâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân trong vùng tham gia bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Điều bất lợi và nguy hiểm hiện nay là mực nước ở bên ngoài và bên trong lâm phần đều cạn kiệt, thiếu nước bơm vào rừng. Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài trong tháng 4 thì các tuyến kênh trục chính trong lâm phần phơi đáy và khi cháy xảy ra sẽ không có nước dập lửa.
Trong khi đó, phần diện tích rừng 8.525 ha tại Vườn quốc gia U Minh Thượng đang có nguy cơ cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm. Phương án phòng chống cháy theo phương châm 4 tại chỗ đang được chủ rừng triển khai quyết liệt, tổ chức trực canh 24/24 giờ, các khu vực trọng yếu kết hợp tuần tra, kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm mọi đối tượng ra vào những nơi dễ cháy. Bên cạnh đó, trạm bơm điện U Minh Thượng hoạt động liên tục, bơm nước vào rừng chống khô hạn. Các vỏ máy, máy bơm nước, ống nước, dụng cụ chữa cháy tập trung xuống các chốt, trạm trực canh, sẵn sàng làm nhiệm vụ dập tắt lửa khi phát hiện cháy xảy ra.
Ông Nguyễn Văn Cường, Phó giám đốc Vườn quốc gia U Minh Thượng, cho biết đơn vị đã chủ động nhiều biện pháp phòng chống cháy rừng như: sửa chữa 14 máy bơm, chuẩn bị 10 km ống dẫn nước; dọn dẹp cỏ, khơi thông những đường kênh trục chính để khi có cháy xảy ra thì đảm bảo cho vỏ máy vận chuyển người và phương tiện nhanh, dập lửa kịp thời, không để xảy ra cháy lớn.
Theo ông Cường, hiện những khu vực nóng trên lâm phần U Minh Thượng đã xây dựng, nâng cấp, sửa chữa hàng chục chòi canh lửa, chốt trực canh và chuẩn bị lực lượng khoảng 1.000 người sẵn sàng tham gia phòng cháy chữa cháy rừng bất kể ngày hay đêm. Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm liên huyện Vĩnh Thuận-U Minh Thượng cập nhật, theo dõi diễn biến tình hình khô hạn, kịp thời thông báo cấp dự báo cháy rừng đến các địa phương, chủ rừng và người dân biết để chủ động triển khai đồng bộ những giải pháp phòng chống cháy rừng. Phối hợp với các đơn vị lâm nghiệp, chủ rừng thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, kiểm tra, sửa chữa các công trình, phương tiện, trang thiết bị phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng; tuần tra, kiểm soát, trực 24/24 giờ ở các vùng trọng yếu, dễ xảy ra cháy; quản lý chặt chẽ người ra vào rừng và cấm sử dụng lửa.
Ông Trần Thành Được, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên huyện Vĩnh Thuận-U Minh Thượng, cho biết đơn vị đã phân công cán bộ trực tại văn phòng, chốt, trạm, các vùng trọng điểm. Ngoài ra, các chủ rừng cũng trực ở những khu vực trọng điểm, các chòi canh, bố trí phương tiện, trang thiết bị sẵn sàng, tăng cường kiểm tra, giám sát; tuyên truyền liên tục bằng loa phóng thanh, họp tổ nhân dân tự quản kết hợp lồng ghép nội dung phòng chống cháy rừng để mọi người nâng cao ý thức phòng chống. Thường xuyên kết hợp kiểm tra, kiên quyết xử lý nghiêm những chủ rừng, cá nhân không chấp hành các quy định về phòng cháy chữa cháy rừng. (Thanh Niên 1.4)đầu trang(
Hồi 4h ngày 30 tháng 3, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh Bắc Kạn nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc xe ô tô tải BKS 29S – 6377 vận chuyển lâm sản trái phép từ Bản Lù, xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới về tỉnh Thái Nguyên.
Ngay lập tức Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế  và chức vụ và Chức vụ Công an tỉnh đã huy động lực lượng xác minh, chốt chặn và kiểm tra xe ô tô BKS 29S – 6377 do Nông Văn Hướng sinh năm 1983, trú tại Khuổi Nhuần, xã Thanh Bình, huyện Chợ Mới điểu khiển. Qua kiểm tra lực lượng chức năng phát hiện thùng xe ô tô tải BKS 29S - 6377 đã được chế tạo thành 2 ngăn, ngăn bên dưới có chiều cao 9cm dài 3m có chở 0,9 thanh gỗ nghiến không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc.
Tại thời điểm kiểm tra, Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1965, trú tại tổ 36, phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, người đi cùng xe nhận số gỗ trên là của mình vừa mua ở xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới, xe ô tô chở gỗ là do Oanh thuê ở thành phố Thái Nguyên.
Đây là thủ đoạn mới của các đối tượng chuyên vận chuyện lâm sản trái phép bằng xe ô tô tải thùng đã được chế tạo thành 02 ngăn để qua mắt lực lượng chức năng. Hiện vụ việc đã bàn giao cho lực lượng Kiểm lâm tiến hành điều tra, xử lý theo thẩm quyền. (Đài PTTH Bắc Cạn 31/3)đầu trang(
Sáng ngày 31/3, UBND huyện Diễn Châu đã tiến hành triển khai công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2015.
Diễn Châu có diện tích rừng gần 7000 héc ta, tập trung ở 9 xã. Năm 2014 công tác phòng chống cháy rừng trên địa bàn huyện đạt được nhiều kết quả rất tích cực, không để xảy ra cháy rừng, ngăn chặn được nạn sâu róm phá hại thông, bên cạnh đó còn trồng mới được 380 héc ta rừng. Tại hội nghị, Ban chỉ đạo BVR&PCCCR huyện cũng như các đại biểu đã đưa ra nhiều biện pháp thiết thực và chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Cụ thể, ngay từ đầu mùa nắng nóng phải hoàn thành kiện toàn ban chỉ đạo BVR&PCCCR, xây dựng lực lượng PCCCR từ huyện, xã, đến tận thôn xóm; xây dựng phương án PCCCR chi tiết cho từng cấp liên quan và các chủ rừng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền  vận động nhân dân tích cực tham gia PCCCR, tổ chức ký cam kết PCCCR ở tất cả thôn xóm và trong  hộ dân ở địa bàn có rừng, đưa nội dung PCCCR vào  giáo dục trong trường học; chuẩn bị tốt phương châm 4 tại chỗ....phấn đấu không để xảy ra cháy rừng trên địa bàn huyện trong năm 2015.
Tại hội nghị, UBND huyện đã tổ chức ký cam kết PCCR giữa huyện và 9 xã có rừng trong mùa cháy 2015. Đồng thời trao thưởng 3 tập thể, 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác PCCCR năm 2014. (Báo Nghệ An 31/3)đầu trang(
Để có được kết quả 4 năm liền (từ năm 2011-2014) trên địa bàn tỉnh không để xảy ra vụ cháy rừng nào, thời gian qua, ngoài việc các ngành chức năng và chủ rừng triển khai tốt các giải pháp trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) thì Chi cục Kiểm lâm tỉnh còn đưa vào sử dụng phần mềm viễn thám.
Với phần mềm này, đã góp phần tích cực trong việc giải tỏa nỗi lo về cháy rừng mỗi khi vào mùa khô.
Hiện Hậu Giang có diện tích đất lâm nghiệp hơn 5.500ha, trong đó, đất có rừng là 2.584ha. Tuy diện tích đất rừng không lớn, thế nhưng, cứ mỗi lần mùa khô đến thì lại trở thành nỗi lo đối với lực lượng kiểm lâm địa phương cũng như các chủ rừng. Bởi vì, nguy cơ cháy nổ luôn tiềm ẩn khi mức nhiệt tăng cao, nước trên rừng khô cạn, nhất là vào mùa nắng nóng như hiện nay.
Chính vì vậy, để đảm bảo công tác PCCCR, bảo vệ tài nguyên quốc gia, hàng năm, ngành chức năng của tỉnh và chủ rừng đều thực hiện nhiều giải pháp, nhất là vào cao điểm từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 5. Mặc dù có triển khai nhiều giải pháp, nhưng nỗi lo về cháy rừng chỉ thật sự được giải tỏa phần nào khi Chi cục Kiểm lâm tỉnh sử dụng phần mềm viễn thám vào PCCCR.
Phần mềm có tên là Form Eosdis Data, còn gọi là dữ liệu về quản lý tài nguyên lửa do Nasa phối hợp với Đại học Maryland của Mỹ cung cấp. Đây là phần mềm được sử dụng hoàn Phần mềm viễn thám hay còn gọi là “Dữ liệu về quản lý tài nguyên lửa” được ông Nguyễn Vĩnh Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiên phong áp dụng thí điểm trong công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh từ năm 2012.
Theo đó, hàng ngày, có 2 vệ tinh quay quanh trái đất. Đó là vệ tinh Terra và Aqua có chức năng xác định nơi có khói, các điểm nóng, nền nhiệt chung, rừng phát sinh hỏa hoạn và thông báo về các đơn vị có đăng ký email tại Form Eosdis Data. Để sử dụng, người dùng tải công cụ Google Earth về máy tính để xác định vị trí đã khoanh vùng khi xảy ra cháy và có thể xác định chính xác địa điểm gây ra cháy. Khi biết vị trí cháy, cũng trên bản đồ này, người chỉ huy sẽ xác định được hướng gió, nơi nào có nước, có kênh và đường vận chuyển nước ngắn nhất đến với điểm cháy. Từ đó, dễ dàng điều động lực lượng, phương tiện đến phía trước, phía sau đám cháy để chữa cháy một cách nhanh và hiệu quả nhất.
Ngoài những ưu điểm trên, người sử dụng phần mềm viễn thám còn có những lợi khác như: sẽ tính được nền nhiệt ở những khu vực mà chúng ta quan tâm, từ đó, đưa ra các cấp dự báo cháy rừng ở từng khu vực để chủ rừng biết và có sự cảnh giác, chuẩn bị PCCCR; đồng thời, đối với những khu vực để xảy ra cháy rừng mà đơn vị cố tình giấu giếm thì chúng ta cũng phát hiện và có hướng xử lý…
Nói về nguyên nhân được tiếp cận phần mềm này, ông Nguyễn Vĩnh Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: “Trong một lần đi tập huấn ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi cùng nhiều anh em đồng nghiệp được kiểm lâm vùng 3 giới thiệu, thấy đây là phần mềm có nhiều tiện ích nhưng không tốn tiền nên tôi đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu và đưa vào ứng dụng có hiệu quả từ năm 2013”.
Với những hiệu quả bước đầu, từ năm 2013, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã triển khai đồng bộ công nghệ này đến các hạt kiểm lâm và chủ rừng. Các hạt trưởng hạt kiểm lâm đều được trang bị laptop với cấu hình mạnh để cập nhật thường xuyên tình hình PCCCR. Nhờ phần mềm này đã giúp cho cán bộ kiểm lâm địa bàn phối hợp nhịp nhàng với cán bộ tại văn phòng, đỡ tốn thời gian, công sức.
Ông Trần Thanh Phong, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phụng Hiệp, thông tin: “Từ khi được Chi cục Kiểm lâm tỉnh giới thiệu và hướng dẫn sử dụng phần mềm viễn thám trong PCCCR thì công tác chỉ huy chữa cháy cũng phát huy hiệu quả cao nhất. Người chỉ huy sẽ thường xuyên cập nhật thông tin và khi phát hiện xảy ra những sự cố bất thường thì kịp thời chỉ đạo lực lượng đến hiện trường bằng những con đường, phương tiện nhanh nhất. Với việc áp dụng tốt các giải pháp cho công tác PCCCR hàng năm, cộng với phần mềm viễn thám đã giúp cho công tác PCCCR của lực lượng kiểm lâm, chủ rừng phần nào được an tâm hơn. Nhiều năm liền, trên địa bàn huyện không để xảy ra vụ cháy rừng nào”.
Với sự mạnh dạn, tiên phong trong việc sử dụng công nghệ vào quản lý rừng đã giúp cho tỉnh khắc phục được khó khăn trong điều kiện lực lượng túc trực mỏng, kinh phí đầu tư còn hạn hẹp. Với cách làm hay mà Hậu Giang đang áp dụng, hoàn toàn có thể giúp cho các địa phương. (Báo Hậu Giang 1.4)đầu trang(
Nhiều năm qua voi nhà không sinh sản được, môi trường sống biến đổi, nguồn thức ăn khan hiếm đang đẩy voi nhà đến bên bờ tuyệt chủng
Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2015, Đăk Lăk có 3 cá thể voi nhà bị chết khiến cho số lượng voi nhà sụt giảm nghiêm trọng, chỉ còn 45 con.
Mới đây nhất, vào ngày 7/3, voi Khăm Thưng, giống đực, 30 tuổi, là voi trẻ đang ở giai đoạn sung sức cũng chết một cách bất thường. Voi Khăm Thưng được ông Y Ka Tứk, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk nuôi dưỡng để phục vụ du lịch. Theo ông Y Ka Tứk, con voi này có trị giá khoảng 700 triệu đồng.
Mặc dù, chưa tìm được nguyên nhân dẫn đến cái chết của Khăm Thưng nhưng để đảm bảo môi trường, cơ quan chức năng và chủ voi đã thống nhất chôn cất con voi theo phong tục truyền thống.
Cũng trong tháng 3, thêm một con voi đực đang ở tuổi sung mãn, được đặt nhiều kỳ vọng trong việc thúc đẩy sinh sản, tăng đàn voi nhà cũng bất ngờ gục chết. Ông Y Dhiu – chủ của chú voi này cho biết, hàng ngày, gia đình thả voi ở khu rừng cách buôn khoảng 3km để voi tự kiếm ăn. Đến chiều tối ngày 16/3/2015, ông ra rừng để đưa voi về. Trên đường về còn cách nhà khoảng 200m, voi Khăm Phu bất ngờ khụy xuống và chết.
Theo kết quả khám nghiệm từ Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk, voi Khăm Phu bị tiêu chảy từ ngày 13/3 - 16/3/2015 nhưng gia đình tự chữa trị, không thông báo với trung tâm để thực hiện việc chăm sóc, điều trị đúng cách dẫn đến điều đáng tiếc này.
Voi được xem là biểu tượng gắn liền với đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá và tinh thần của người dân Tây Nguyên. Song qua nghiên cứu, đánh giá tình trạng sức khỏe thực tế cho thấy, trong 30 năm trở lại đây khả năng sinh sản của voi nhà gần như bằng không vì môi trường sinh sống không thuận lợi.
Bên cạnh đó, lượng thức ăn thiếu thốn, nghèo nàn, việc quản lý voi theo hộ cá thể như hiện nay khiến cho tình trạng sức khỏe và tuổi thọ của voi giảm sút. Và với tốc độ chết như những năm gần đây thì chỉ chục năm nữa, nguy cơ đàn voi nhà ở Đăk Lăk bị xóa sổ là điều khó tránh khỏi.
Trước nguy cơ tuyệt chủng của voi nhà, năm 2011, Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoài Dương, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Lăk, trung tâm tuy đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận trong vấn đề bảo tồn voi nhưng thực tế, vẫn còn nhiều nguyên nhân khiến cho công tác này gặp không ít khó khăn.
Theo ông Dương, số lượng voi nhà chết ngày một tăng bởi voi ngày càng lớn tuổi nhưng chưa được chăm sóc một cách bài bản, trong khi tình trạng lạm dụng voi trong các hoạt động du lịch đang rất khó kiểm soát. Trung tâm Bảo tồn voi ra đời nhưng nguồn kinh phí quá eo hẹp khiến việc hoạt động còn chậm trễ. Năm 2014, để có chi phí triển khai một số vấn đề cấp bách, trung tâm đã phải ứng 14 tỷ đồng kinh phí của năm 2015, trong đó nổi bật là đầu tư xây dựng Trung tâm Bảo tồn voi tập trung.
Trao đổi với phóng viên, PGS.TS Bảo Huy, Trưởng nhóm lập Đề án Bảo tồn voi Đăk Lăk cho biết, trong Đề án này đã xác định việc thành lập một khu chăn thả tập trung ở khu vực Vườn Quốc gia Yók Đôn (huyện Buôn Đôn) là điều cấp bách. Tại đây, voi được chăn thả trong môi trường tự nhiên sẽ có đầy đủ thức ăn, nước uống, cây thuốc nhằm tăng cường sức khỏe cho voi.
Bên cạnh đó, việc chăn thả tập trung sẽ làm cho voi có điều kiện gặp gỡ, giao phối, tạo cơ hội sinh sản. Tuy nhiên, do không thống nhất được giữa các cơ quan quản lý Nhà nước nên đến nay vị trí dự kiến nơi chăn thả không được đưa vào quy hoạch, còn vị trí mới thì chưa có kinh phí thực hiện. Việc chậm trễ này ảnh hưởng lớn đến công tác bảo tồn, trong khi tình trạng sức khỏe của voi nhà đang rất đáng báo động.
Được biết, Trung tâm Bảo tồn voi tập trung được đầu tư xây dựng với diện tích 200ha, quy hoạch tại rừng sinh thái huyện Buôn Đôn, tổng số vốn trên 40 tỷ đồng. Dự kiến trung tâm sẽ hoàn thành vào cuối năm 2015. “Sau khi khảo sát ý kiến một số chủ voi, đa số mọi người đều đồng ý đưa voi về khu trung tâm bảo tồn để chăn thả, chăm sóc tập trung.
Điều này sẽ giúp giải quyết các vấn đề cấp bách khiến đàn voi nhà đang dần chết mòn như thức ăn, chăm sóc, thuốc men… Ngoài ra, hàng tháng, các chủ voi vẫn được hưởng phụ cấp sau khi đưa voi vào trung tâm”, ông Dương cho biết.
Song song với việc thành lập Trung tâm Bảo tồn voi tập trung, tỉnh cũng đang hết sức chú trọng vào việc đào tạo, nâng cao tay nghề của các chuyên gia chăm sóc voi. Theo ông Dương, vừa qua, tỉnh đã cử một cán bộ chuyên về thú y qua Sri Lanka để đào tạo chuyên ngành về voi. “Có như vậy, chúng ta mới mong gìn giữ và phát triển được đàn voi nhà”, ông Dương nói. (Thời Báo Ngân Hàng 1.4)đầu trang(
Nghi Xuân, Hà Tĩnh: Triển khai công tác phòng cháy chữa cháy rừng 2015
Chiều ngày 31/3 huyện Nghi Xuân đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác bảo vệ rừng và PCCCR năm 2014, triển khai nhiệm vụ 2015. Dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị có đồng chí Trương Quốc Long, Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 2014, mặc dù thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài nhưng nhờ làm tốt công tác phòng chống cháy nên trên địa bàn Nghi Xuân không xẩy ra vụ cháy rừng lớn nào. Năm 2014 toàn huyện có 6 điểm phát lửa nhưng đã được dập tắt kịp thời, diện tích rừng thiệt hại chỉ khoảng 0,7ha. Trong năm toàn huyện cũng đã trồng mới được 2 vạn cây phân tán, công tác giao đất, giao rừng được triển khai có hiệu quả, tổng diện tích đất rừng được giao 756ha cho trên 5.600 hộ dân.
Năm 2015 được dự báo là thời tiết có nhiều diễn biến bất thường, các đợt nắng nóng sẽ kéo dài, nguy cơ cháy rừng là rất cao. Để hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra, huyện Nghi Xuân đã chủ động thành lập và kiện toàn ban chỉ đạo PCCCR do đồng chí Phó chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban, trong đó phương án 4 tại chỗ được chú trọng quan tâm. Ngoài lực lượng chữa cháy xung kích của huyện, các xã có rừng đều thành lập đội xung kích chữa cháy rừng từ 10 đến 25 người, được trang bị đầy đủ các dụng cụ chữa cháy và bố trí trực 24/24 giờ.
Hạt kiểm lâm huyện cũng đang chỉ đạo làm mới và tu bổ 11km đường băng cản lửa, xây mới và tu bổ 19 biển tường.  Phối hợp các chủ rừng triển khai làm các đường băng cả lửa, đường đi chữa cháy rừng tại khu vực xung quanh hồ Xuân Hoa, Cồn Tranh, vận động nhân dân không đốt đồi trọc để lấy cỏ non. Bên cạnh đó Nghi Xuân cũng tăng cường công tác tuyên truyền và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về Lâm luật.
Tại hội nghị đã có 4 tập thể và 4 cá nhân được UBND huyện tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác BVR- PCCCR năm 2014. (Nghixuan.gov.vn 31/3)đầu trang(
Thực hiện chủ trương giao rừng cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc để trồng rừng, quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, sau một thời gian những cánh rừng ở đây không cánh mà bay hoặc sử dụng sai mục đích.
Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Đắc Lắc cho biết: Chủ trương giao rừng cho các doanh nghiệp để trồng rừng, quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng được thực hiện từ năm 2009. Hiện nay diện tích rừng giao cho các doanh nghiệp là 39.308.000 ha, số doanh nghiệp được giao rừng là 52 doanh nghiệp. Ban đầu các doanh nghiệp này đều được đánh giá các chỉ số để so sánh năng lực như: tài chính, nguồn nhân lực, các dự án triển khai khi nhận rừng...
Sau vài năm hoạt động, đến năm 2015 bên cạnh những doanh nghiệp chấp hành nghiêm túc các điều khoản về trồng rừng, quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng thì cũng không ít doanh nghiệp cố tình làm trái quy định, hay thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực dẫn đến tài nguyên rừng bị xâm hại một cách nghiêm trọng. Ông Hưng nói về một trường hợp đặc biệt, đúng ra khi nhận rừng thì công ty này phải thực hiện theo dự án đã đề ra là trồng rừng, cải tạo và bảo vệ rừng mà cây được chọn là keo (tràm), nhưng khi kiểm tra thì phát hiện lại trồng sắn.
Đó là trường hợp Công ty Cổ phần Địa ốc Thái Bình Phát, lập đề án cải tạo, bảo vệ rừng tại xã Ea Bung (H. Ea Súp) nhưng khi đến thì phát hiện trồng 40 ha sắn, chỉ 10 ha rừng (keo) nhưng còi cọc, chậm phát triển. Đối với trường hợp này, Chi cục Lâm nghiệp đã có kế hoạch thu hồi rừng và đang trình UBND tỉnh phê duyệt.
Cũng trong đợt này, một số doanh nghiệp vi phạm về quản lý, bảo vệ, cải tạo hay chậm tiến độ các dự án (thời hạn 24 tháng) cũng nằm trong đề xuất thu hồi rừng như: Cty TNHH Anh Quốc, Cty TNHH Hoàng Nguyễn, Cty CP Địa Ốc Thái Bình Phát, Cty CP ĐTXD Tân Phú Hưng, Cty TNHH Hữu Bích...
Đáng kể hơn, sau khi tận thu gỗ rừng, nhiều công ty, doanh nghiệp còn biến dự án trồng rừng bằng keo lai thành những vùng trồng cà-phê, cao su hay điều. Cty TNHH 27/7 khi “bứng” hết gỗ rừng 38 ha (xã Ea Bung, H. Ea Súp) đã trồng vào đây cao su và điều, đáng ra theo dự án thì phải trồng keo. Một số công ty còn tự tiện san lấp mặt bằng để đưa rừng vào mục đích sử dụng khác như vụ việc Cty CP Bảo Ngọc san ủi trái phép hơn 7 ha và theo đoàn thanh tra liên ngành Đắc Lắc phát hiện dấu hiệu Cty này hợp thức hóa gỗ lậu đưa từ nơi khác đến.
Hiện vụ việc đang trong quá trình điều tra của cơ quan chức năng tỉnh Đắc Lắc. Một số khác cũng trồng rừng theo đúng dự án đề ra nhưng chỉ trồng một cách đối phó như Cty CPĐTXD Tân Phú Hưng chỉ trồng được 26 ha cao su (7%) mà trong thực tế diện tích này phải là 372 ha (xã Ea Sol, H. Ea H’leo) phần lớn diện tích còn lại là cỏ dại và dây leo.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Hoài Dương cho biết: “Trong thời gian qua, một số doanh nghiệp, công ty thực hiện tốt nhưng cũng khá nhiều nơi sai phạm. Về nguyên nhân chủ quan là do năng lực của công ty, doanh nghiệp chưa đủ, buông lỏng trong công tác quản lý, thiếu trách nhiệm với tài nguyên rừng... Về khách quan do chưa có những quy định cụ thể trong việc này, ví dụ như quyền hạn của doanh nghiệp, công ty để xử lý những trường hợp xâm phạm rừng, vấn đề di dân tự do làm rừng bị xâm lấn nghiêm trọng. Như vậy, phải nói một điều rằng chủ rừng là các công ty, doanh nghiệp cũng bị áp lực từ vô số vấn đề bên ngoài”.
Ông Dương cũng bày tỏ rằng vấn đề cấp bách là phải có cơ chế, chế tài phù hợp để xử lý những trường hợp cố tình vi phạm, hay sơ suất dẫn đến tài nguyên rừng bị xâm phạm nghiêm trọng mà ở đây chủ rừng là các doanh nghiệp, công ty. Cũng có thể đưa ra truy tố hình sự đối với những trường hợp để rừng bị tàn phá nhằm răn đe, quy trách nhiệm rõ ràng. Một thực trạng rõ mồn một tại các dự án giao rừng cho các Cty, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc mà ai cũng thấy là đến kiểm tra nơi đâu, xuất hiện sai phạm nơi đó. Cá biệt nhiều nơi còn sai phạm nghiêm trọng, cố tình làm sai lệch dự án mà mình đã đề ra trước đó.
Thiết nghĩ các cơ quan chức năng, ban ngành tỉnh Đắc Lắc nên vào cuộc mạnh tay để giao rừng... khỏi phải mất rừng. (Công An Đà Nẵng 2/4)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Phạm Hồng Lượng - Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã cho biết như vậy khi trao đổi với chúng tôi về tình hình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trong năm 2015.
Nhìn lại sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR (2011 - 2014), xin ông cho biết tình hình thực hiện thu, chi của quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) đến thời điểm hiện nay như thế nào?
Đến thời điểm hiện nay, quỹ Trung ương đã thu 998,9 tỷ đồng; điều phối và giải ngân cho các quỹ tỉnh là 1.107,4 tỷ đồng.
Quỹ tỉnh thu từ các nguồn thu DVMTR nội tỉnh là 334,2 tỷ đồng và đến 25/3/2015, các Quỹ tỉnh đã giải ngân 770,3 tỷ đồng đến các chủ rừng và tổ chức không phải chủ rừng (cho khoảng 5,78 triệu ha rừng).
Thưa ông, có ý kiến cho rằng, việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) ở một số địa phương còn những hạn chế, Vậy, đâu là là khó khăn vướng mắc lớn nhất trong quá trình thu chi quỹ DVMTR?
Đúng là thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở một số địa phương còn hạn chế, nhất là tình trạng nợ đọng tiền DVMTR vẫn tiếp tục. Trong đó, vướng mắc lớn nhất là các nhà máy thủy điện, chủ yếu là thủy điện tư nhân dưới 30MW chậm trả tiền DVMTR.
Cụ thể, một số địa phương như Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình…các nhà máy thủy điện tiếp tục tìm nhiều lý do để thoái thác việc ký hợp đồng và thực hiện thanh toán tiền DVMTR cho các quỹ tỉnh.
Bên cạnh đó, một số quỹ tỉnh, tiền DVMTR vẫn còn tồn đọng, không có đối tượng chi. Vẫn có sự chênh lệch lớn về nguồn thu giữa các tỉnh và chênh lệch về mức chi trả bình quân/ha giữa các lưu vực.Ví dụ đơn giá chi trả khác nhau đã dẫn đến thực sự không công bằng giữa các tỉnh cùng lưu vực sông chính như: Điện Biện, đơn giá chi trả cao nhất là 260.000 đồng/ha, thấp là 826 đồng/ha; Lào Cai, đơn giá chi trả cao nhất là 307.000 đồng/ha, thấp nhất là 38.000 đồng/ha…
Hơn nữa, một số quỹ tỉnh có nguồn thu tiền trồng bù rừng nhưng chưa có quy định cụ thể về quản lý, sử dụng nguồn tiền này. Một số quy định còn chưa cụ thể (DVMTR đối với cơ sở du lịch, cơ sở công nghiệp, hấp thụ các bon, nuôi trồng thủy sản)… khó thực hiện
Thậm chí, một số tỉnh chưa tăng cường công tác chỉ đạo như Cao Bằng, Bắc Kạn, Thanh Hóa…), kiểm tra, giám sát và giải thích quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR đảm bảo việc sử dụng kinh phí minh bạch, đúng mục đích, đối tượng và kịp thời, dẫn tới vẫn còn hiện tượng hiểu sai chính sách, phản ánh không đúng chính sách, khiếu nại như Điện Biên, Kon Tum…
Theo ông, để thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả DVMTR trong thời gian tới, tránh tình trạng nợ đọng, cơ quan chức năng cần có giải pháp căn cơ gì?
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Bộ Công thương và Tập đoàn điện lực Việt Nam tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các cơ sở sản xuất thủy điện thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả DVMTR, kê khai, ký kết hợp đồng và chi trả đầy đủ cho các Quỹ BV&PTR các cấp.
Bộ NN&PTNT cũng nghiên cứu, ban hành quy định về quản lý, sử dụng khoản nộp tiền trồng bù rừng. Đồng thời, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ cho phép các tỉnh sử dụng tiền chưa có đối tượng chi vào mục đích bảo vệ và phát triển rừng, cũng như nghiên cứu, sửa đổi quy định tịa Thông tư số 20/2012/TT-BNNPTNT về nghiệm thu, thanh toán tiền DVMTR.
Đối với các tỉnh, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách ở các địa phương. Trong đó, trọng tâm là đôn đốc công tác thu nộp đầy đủ và giải ngân tiền DVMTR kịp thời cho chủ rừng. Chỉ đạo các địa phương tích cực giải ngân tiền DVMTR cho chủ rừng năm 2014 theo đúng quy định và trình tự thủ tục, phấn đấu hết 30/4/2015 đạt tỷ lệ giải ngân trên 80%.
Song song đó, phối hợp với Bộ Tài chính, cơ quan chức năng, tổ chức công tác kiểm tra, giám sát thực thi chính sách chi trả DVMTR tại các vùng trọng điểm (Tây Bắc, Tây Nguyên, Duyên Hải miền Trung), đảm bảo ít nhất một vùng có ít nhất từ 1 – 2 tỉnh được tiến hành kiểm tra, đánh giá thực thi chính sách. (Tạp Chí Tài Chính 1.4)đầu trang(
Tuy cây mắc ca được dự đoán là cây “tỷ đô” nhưng người nông dân vẫn còn băn khoăn vì lo ngại đầu ra cho sản phẩm này.
Cây mắc ca được đưa vào trồng tại Tây Nguyên cách đây khoảng 10 năm, trong đó chủ yếu là 2 tỉnh Đăk Lăk và Lâm Đồng. Tuy nhiên, cơn “sốt” trồng loại cây này chỉ mới bắt đầu từ cuối năm ngoái đến nay với câu chuyện đây sẽ là cây “tỷ đô”.
Chưa biết tương lai cây mắc ca có mang lại lợi nhuận lớn cho người nông dân hay không nhưng hiện nay, những lo lắng, băn khoăn về chất lượng cây giống cũng như đầu ra cho sản phẩm sau này có “thuận buồn xuôi gió" hay không đang là điều được quan tâm vì hiện tại Việt Nam chưa có nhà máy chế biến hạt mắc ca. (Đài Truyền Hình VN 1.4)đầu trang(
Theo Sở TN - MT, thời gian qua, trong lĩnh vực khai thác, chế biến titan trên địa bàn tỉnh nói chung và huyện Phù Mỹ nói riêng, vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đúng quy trình khai thác, sau khi khai thác xong lại không chịu hoàn thổ, không tuân thủ quy định về điều kiện khai thác, khiến môi trường bị hủy hoại.
rước thực trạng này, mới đây, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo, giao Sở TN-MT phối hợp với các ngành chức năng và địa phương lập hồ sơ vi phạm hành chính đối với 2 Công ty cổ phần (CP) Kim Triều và Công ty CP An Trường An về hành vi không hoàn thổ, phục hồi môi trường theo đề án cải tạo, phục hồi môi trường mà UBND tỉnh đã phê duyệt. Ngoài việc xử lý hành chính, hai Công ty này cũng phải hoàn thành việc hoàn thổ trước ngày 31.5.2015 và trồng cây phục hồi môi trường theo quy định trước ngày 30.8.2015.
Nhiều công ty, doanh nghiệp khác cũng được UBND tỉnh nhắc nhở như: Công ty CP Thời Thuận, Công ty CP Khoáng sản Mỹ Đức, Công ty TNHH Vạn Đại, Công ty CP Thanh Niên, Công ty TNHH Tấn Phát, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Ban Mai. Các công ty này phải có trách nhiệm trồng cây phục hồi môi trường trên toàn bộ diện tích đã khai thác trước ngày 30.8.2015, lập hồ sơ trả mỏ theo quy định.
Ông Đặng Trung Thành, Giám đốc Sở TN-MT, cho biết: Sở đã nhiều lần phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra, yêu cầu doanh nghiệp phải tiến hành ngay công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường, trồng lại rừng ngay sau khi khai thác. Tuy nhiên, việc hoàn thổ, trồng rừng sau khi khai thác titan diễn ra khá chậm so với cam kết của các doanh nghiệp trước khi khai thác. Thậm chí, có doanh nghiệp khắc phục theo hình thức đối phó.
Hy vọng rằng, ý kiến chỉ đạo kiểm tra và xử lý của UBND tỉnh sẽ là “liều thuốc đặc trị” hữu hiệu để chấn chỉnh, khắc phục kịp thời những tồn tại trong hoạt động khai thác titan trên địa bàn huyện Phù Mỹ hiện nay. (Báo Bình Định 30/3)đầu trang(
Sáng 31.3, Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2015 tổ chức họp trực tuyến với các huyện, thành phố. Đồng chí Đàm Văn Bông, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh dự và chủ trì cuộc họp.
Dự tại điểm cầu tỉnh có lãnh đạo các sở, ngành thành viên Ban chỉ đạo. Tại điểm cầu các huyện, thành phố có Thường trực Huyện ủy, Thành ủy, UBND, Phòng nông nghiệp và PTNT, lãnh đạo các xã, thị trấn và các công ty lâm nghiệp trên địa bàn.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, tính đến ngày 25.3, toàn tỉnh đã trồng được 2.207,7ha/40.565 ha, đạt 5,4% kế hoạch. Trong đó, Tết trồng cây trồng được 2,050 triệu cây tương đương 1.367 ha; trồng rừng tập trung được 815,1 ha; trồng thay thế 25,7 ha. Các địa phương đã chuẩn bị được hơn 17.500 ha đất trồng; chuẩn bị được trên 30 triệu cây con, đạt 46,5% kế hoạch. UBND tỉnh đã ban hành quyết định giao vốn trồng rừng cho các huyện, thành phố với tổng nguồn vốn trên 59 tỷ đồng…
Báo cáo cũng chỉ rõ, chương trình trồng rừng năm 2015 còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế, cụ thể: Kết quả thực hiện Tết trồng cây Xuân Ất Mùi đến thời điểm báo cáo mới đạt 50,5%; công tác chuẩn bị cây giống còn chậm; công tác tuyên truyền vận động nhân dân đăng ký tham gia trồng rừng ở một số huyện còn yếu như: Đồng Văn chưa có diện tích đăng ký trồng rừng; công tác chăm sóc cây sau trồng, nhất là cây hộ lan chưa tốt, nhiều diện tích cây bị gia súc phá hoại, tỷ lệ cây sống thấp, bình quân đạt khoảng 50%...
Sau khi nghe các địa phương, các ngành thành viên báo cáo chi tiết tiến độ trồng rừng và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, Chủ tịch UBND tỉnh Đàm Văn Bông kết luận: Trong 3 tháng qua, dù kết quả thực hiện trồng rừng chưa cao, nhưng các huyện, thành phố đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong triển khai kế hoạch trồng rừng, nghiêm túc trong công tác tổ chức, huy động thực hiện tốt Tết trồng cây; nhiều địa phương đã xây dựng kế hoạch chi tiết triển khai thực hiện.
Tuy công tác thực hiện  vẫn còn tồn tại như: Một số địa phương còn lúng túng, chưa quyết liệt, sâu sát trong công tác chỉ đạo; công tác tuyên truyền vận động nhân dân đăng ký trồng rừng còn là khâu yếu; công tác thông tin báo cáo còn chậm, chưa kịp thời; phương án bố trí cây giống còn chậm…
Để khắc phục những vấn đề này, Chủ tịch UBND tỉnh Đàm Văn Bông đề nghị: Đối với các huyện, thành phố, cần quyết liệt hơn nữa trong tổ chức thực hiện, đưa vào nội dung báo cáo trong các cuộc họp BTV Huyện ủy, Thành ủy hàng tháng, quý; chủ động phối hợp với các ngành chuyên môn để giải quyết những khó khăn, vướng mắc; lưu ý công tác tuyên truyền, có kế hoạch cụ thể, sâu, sát; nhanh chóng tổng kết Tết trồng cây và rà soát lại công tác chuẩn bị giống, khâu nào còn yếu phải chấn chỉnh ngay.
Tháng 4 là tháng trọng điểm trồng rừng vụ Xuân vì vậy Ban chỉ đạo các huyện, thành phố cần chỉ đạo quyết liệt xuống các xã, thị trấn, phấn đấu trong tháng, toàn tỉnh trồng được 2.500 ha trở lên. Cùng với đó, rà soát lại diện tích cây hộ lan năm 2014, tiến hành trồng dặm, thay thế các cây bị chết và có hướng bảo vệ, chăm sóc; trước ngày 10.4, các huyện phải có báo cáo cụ thể phương án chuẩn bị cây giống, nguồn cung ứng giống trồng rừng năm 2015, không để xảy ra tình trạng thiếu cây giống và chủ động trong khâu hỗ trợ cây giống cho nhân dân…
Đối với các ngành, Sở Tài chính hoàn thành công tác hướng dẫn thanh, quyết toán các nguồn hỗ trợ trồng rừng; Sở Nông nghiệp và PTNT đôn đốc các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo trồng rừng và thường xuyên kiểm tra, giám sát, phối hợp giải quyết các vướng mắc; UBMTTQ tỉnh phối hợp với các hội, đoàn thể tích cực tuyên truyền sâu rộng công tác trồng rừng và thực hiện chiến dịch tuyên truyền trồng rừng năm 2015; Báo Hà Giang, Đài PT – TH tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tuyên truyền, phản ánh kịp thời các địa phương, cá nhân có cách làm hay, thực hiện tốt công tác trồng rừng năm 2015…(Báo Hà Giang 31/3)đầu trang(
Chục năm trước đây, cây bạch đàn vốn là cây lâm nghiệp chủ đạo bám rễ khắp các đồi rừng của huyện Đoan Hùng. Tuy nhiên, giống cây này lại bộc lộ nhiều hạn chế như làm đất đai bị xói mòn, cạn kiệt, gỗ bạch đàn tái sinh chất lượng kém, chỉ có thể bán làm nguyên liệu giấy, hiệu quả kinh tế không cao.
Sau khi khảo sát tình hình thực tế tại địa phương và tham quan các mô hình rừng thâm canh hiệu quả kinh tế cao, huyện Đoan Hùng đã chủ trương chuyển đổi toàn bộ diện tích rừng bạch đàn sang trồng keo lai. Cũng từ đây, đất lâm nghiệp toàn huyện dần chuyển màu xanh của loại cây trồng mới, thay thế cho bạch đàn.
Chúng tôi đến thăm cơ ngơi gia đình ông Vũ Hải Hội ở thôn 9 xã Minh Phú. Người dân nơi đây coi ông Hội như “chủ rừng” bởi đây là hộ có diện tích đồi rừng lớn nhất xã với trên 10ha. Với gần 20 năm gắn bó, ăn ngủ với rừng, ông Hội khẳng định: Những năm trước đây, cũng như bà con trong thôn, toàn bộ đất rừng của gia đình tôi đều trồng bạch đàn lá liễu. Tuy nhiên, giống bạch đàn này đưa lại hiệu quả kinh tế không cao, mỗi hecta chỉ cho thu nhập bình quân từ 4 - 5 triệu đồng/năm. Sau khi nhận được chủ trương của huyện chuyển đổi trồng keo, gia đình tôi đã thuê máy múc, bỏ đi toàn bộ gốc bạch đàn tái sinh và tiến hành trồng keo thay thế.
Xã Minh Phú là một trong các xã đi đầu trong việc chuyển đổi từ trồng bạch đàn sang trồng keo. Đất lâm nghiệp chiếm phần lớn tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Ông Nguyễn Phúc Vinh - Phó Chủ tịch UBND xã Minh Phú cho biết: Trước đây, người dân Minh Phú có tập quán trồng rừng hỗn hợp, trong đó tỷ lệ cây bạch đàn chiếm tới 80% diện tích. Thực hiện chủ trương của huyện Đoan Hùng, xã Minh Phú đã chỉ đạo, định hướng cho người dân trong xã chuyển đổi rừng trồng bạch đàn sang trồng keo. Đến nay, gần 100% diện tích đất lâm nghiệp của xã đã phủ kín cây keo lai.
Để khuyến khích người dân tích cực tham gia chương trình, Hạt Kiểm lâm Đoan Hùng đã tổ chức tập huấn đồng thời cử cán bộ xuống tận địa bàn để hướng dẫn kỹ thuật trồng, thâm canh cây keo lai, tiến hành hỗ trợ giống cho nông dân trồng keo trong huyện. Huyện Đoan Hùng có diện tích đất lâm nghiệp gần 13.000ha, chiếm 42,5% tổng diện tích đất tự nhiên, độ che phủ rừng toàn huyện đạt 45%. Qua các lớp tập huấn và qua thực tế, thấy được lợi ích và hiệu quả của cây keo lai, cộng thêm sự khuyến khích hỗ trợ của Nhà nước về cây giống và phân bón, đa số người trồng rừng ở Đoan Hùng đã đồng thuận với chủ trương chuyển đổi rừng bạch đàn, nhất là bạch đàn tái sinh sang trồng keo. Qua 3 năm thực hiện, những rừng keo trên 2 năm tuổi đã phát triển tốt. Toàn huyện đã chuyển đổi từ bạch đàn sang trồng keo đạt trên 3.300ha, chủ yếu là ở các xã phía Nam của huyện.
Năm 2015, huyện Đoan Hùng sẽ tiếp tục thay thế cây keo vào diện tích bạch đàn đã và sẽ thu hoạch để khắc phục những tác động không tốt đến sinh thái, đất đai đồng thời giúp tăng thu nhập cho người trồng rừng vì cùng một chu kỳ sản xuất, nếu trồng keo có thể cho năng suất gấp đôi, gấp ba so với trồng bạch đàn. Toàn huyện đã có trên 300 hộ cam kết sẽ xóa bỏ bạch đàn, những “chủ rừng” bạch đàn còn lại đều có mong muốn sẽ chuyển sang trồng keo sau khi khai thác. Trồng keo lai, người trồng rừng đã có thể làm giàu ngay trên chính mảnh đất rừng của mình.   (Báo Phú Thọ 31/3)đầu trang(
Đã hơn 1 năm nay, bà Lã Thị Mai (dân tộc Tày, trú tại thôn Nà Phai, xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn) đã gửi đơn kêu cứu đến các cơ quan chức năng, báo chí cũng đã vào cuộc để điều tra về sự tắc trách của chính quyền. Tuy nhiên, vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Trong khi đó, bao nhiêu công sức, của cải của người dân cứ bị thiệt hại nặng nề theo thời gian.
Theo hồ sơ, bà Lã Thị Mai đã gửi đơn kêu cứu khắp nơi về việc cán bộ địa phương "bỗng nhiên" đình chỉ việc chăm sóc và phát triển rừng của gia đình tại thửa đất số 83 (thuộc tiểu khu I, Khe Ma, thôn Nà Phai, xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, Lạng Sơn). Gia đình bà Mai có 4 thửa đất số 83, 88, 90 và 986. Trước đó, các thửa đất trên đã được khoanh nuôi, bảo vệ và sử dụng từ khi nhà nước giao sổ xanh. Năm 1996, gia đình bà Mai đã trồng những loại cây như cây trám, bạch đàn... trên các thửa đất đó (Thực tế trên thửa đất số 83 đã có diện tích trồng keo khá lớn). Năm 2006, Nhà nước đã chính thức giao đất cho hộ gia đình bà tại biên bản Giao nhận đất lâm nghiệp ngày 26/9/2006. Kể từ khi được giao đất, gia đình bà Mai đã tiếp tục đầu tư nhiều công sức, tiền bạc để khoanh nuôi và bảo vệ.
Tuy nhiên, trong quá trình làm thủ tục, gia đình đã sơ xuất chưa kê thửa đất số 83 vào "Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất". UBND xã đã có công văn số 68/UBND về việc “Đình chỉ phát và đốt rừng tự nhiên tại thửa đất số 83, tiểu khu I, Khe Ma, thôn Nà Phai”, với lý do: “Ngày 12/6/2014, UBND xã có nhận được đơn đề nghị của tập thể thôn Nà Phai, xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn về việc bà Lã Thị Mai đã thuê người từ nơi khác đến khai thác, chặt tre và các loại cây gỗ mọc tự nhiên tại thửa đất số 83, tiểu khu I, tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp năm 2007, mục đích là phá hết cây tự nhiên để trồng cây”
Theo luật sư Nguyễn Anh Tuấn – GĐ công ty luật Đại Nam (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội): Căn cứ theo hồ sơ, gia đình bà Mai đã được giao đất có biên bản và từ đó, gia đình bà Mai sử dụng ổn định, liên tục, không vi phạm các quy định của luật đất đai. Xét theo luật đất đai thì gia đình bà Lã Thị Mai đủ điều kiện để cấp GCNSDĐ. Trong sổ xanh ghi rõ là rừng vầu non, không có rừng tự nhiên thì không thể quy tội bà Mai phá rừng tự nhiên. Đây rõ ràng là nhà nước giao đất một đằng, chính quyền địa phương xử lý một nẻo.
Theo hồ sơ, từ khi được nhà nước bàn giao đất từ năm 1993, gia đình bà Lã Thị Mai đã bảo vệ, chăm sóc và sử dụng liên tục, không tranh chấp. Đặc biệt, quá trình này vẫn có sự tương tác, chứng nhận của chính quyền địa phương.
Cụ thể, ngày 25/8/2006, bà Mai có viết "Đơn xin giao đất Nông nghiệp" (dùng cho hộ gia đình, cá nhân), với diện tích 281.500 m2 đất rừng, bao gồm 4 thửa, trong đó có thửa đất số 83 để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp và đã được chính quyền địa phương giao đất tại Biên bản giao, nhận đất lâm nghiệp tại thực địa ngày 26/9/2006. UBND xã đã xác nhận thửa đất số 83 là loại đất lâm nghiệp có ranh giới, diện tích đúng như trong bản đồ giao đất lâm nghiệp và bản đồ địa chính. Riêng thửa đất số 83, gia đình bà Mai đã đầu tư nhiều lần và đã nhiều lần khai thác.
Trước khi khai thác, gia đình bà Mai đều viết đơn Đăng ký khai thác lâm sản, có Bảng dự kiến sản phẩm khai thác do ông Đàm Văn Thành, Chủ tịch UBND xã xác nhận và kèm theo Biên lai thu thuế tài nguyên xác nhận bà Mai có nộp thuế đầy đủ cho nhà nước.
Theo hồ sơ, trong biên bản giao nhận đất không có rừng tự nhiên mà chỉ là rừng vầu non. "Thế nhưng trong khi tôi đang chuẩn bị phát rừng để trồng keo nhằm mục đích trồng rừng và bảo vệ rừng thì bị chính quyền đình chỉ. Việc cán bộ vu cho gia đình tôi phá rừng tự nhiên là hết sức phi lý", bà Mai nói.
"Tôi rất bức xúc trước sự tắc trách của chính quyền. Tại sao trong khoảng thời gian gần chục năm, cán bộ địa phương, đặc biệt là cán bộ địa chính trực tiếp quản lý đất đai mà không phát hiện lô đất của người dân chưa có sổ đỏ để giúp đỡ người dân. Chúng tôi là dân đen, có hiểu quy định của pháp luật đâu. Nhà nước giao đất thì tôi trồng rừng, có cán bộ nào hướng dẫn tôi phải làm sổ đỏ đâu mà tôi biết. Bao năm qua, chính quyền địa phương vẫn cấp giấy cho tôi khai thác”, bà Mai bức xúc nói.
Như vậy, cách xử lý của địa phương lại phản lại chính văn bản mà chính quyền đã ký trước đó.
Theo gia đình bà Mai, chính quyền chưa có quyết định nào thu hồi sổ xanh. Được biết, Trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (CIRUM) đã kết hợp với chính quyền địa phương để làm lại sổ đỏ cho địa phương xã Bắc Lãng. Tuy nhiên, quá trình làm sổ đỏ vẫn chưa thấy thu hồi sổ xanh. Do đó, không thể nói rằng sổ xanh không còn hiệu lực.
Cũng theo bà Mai, diện tích rừng đã phát rừng mà chính quyền quy cho gia đình bà là vô lý. “Theo đó, việc đo đạc của chính quyền tính hết cả diện tích chỗ phát. Trong khi đó, diện tích đó nằm sang cả những ô khác, trên thực tế, diện tích thửa đất số 83 đã trồng rất nhiều keo. Vì vậy, việc đo đạc của chính quyền địa phương là không chuẩn xác, nhằm vu khống gia đình tôi. Gia đình rất mong cơ quan điều tra vào cuộc để làm rõ vấn đề này”, bà Mai bức xúc nói.
Trước sự chậm trễ của chính quyền địa phương, ngày 27/11/2014, bà Lã Thị Mai đã gửi đơn khiếu nại về việc "Chậm giải quyết vụ việc liên quan đến thửa đất số 83" đến cơ quan chức năng. Thế nhưng, tính từ ngày cán bộ xã ra công văn đình chỉ, vụ việc đã kéo dài hơn 1 năm nay, nhưng các cấp, nghành liên quan vẫn chưa thật sự ráo riết để giải quyết vụ việc.
"Không biết bao giờ chính quyền địa phương mới giải quyết dứt điểm vụ việc, trả lại công bằng cho gia đình tôi", bà Mai bức xúc nói. (Tin Mới 30/3)đầu trang(
Đà Bắc đã tích cực tuyên truyền phát động phong trào tết trồng cây và kế hoạch trồng rừng năm 2015 trên toàn huyện. Tính đến cuối tháng 4, thực hiện kế hoạch tổ chức "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ" nhân dịp xuân Ất Mùi 2015, các xã, thị trấn trong huyện đã trồng mới được hàng chục nghìn cây phân tán.
Theo đồng chí Phạm Minh Sơn, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Đà Bắc, trong kế hoạch triển khai trồng cây sau Tết Nguyên đán 2015 của huyện đã được các cấp chính quyền và đông đảo nhân dân trên địa bàn tích cực tham gia. Có thể nói, hưởng ứng trong phong trào trồng cây "Đời đời nhớ ơn Bác Hồ"  tại các địa bàn, nhân dân đã danh nhiều thời gian, công sức đảm bảo hiện trường, các cây giống cũng được chuẩn bị đầy đủ nên đảm bảo kế hoạch đề ra.
Không những vậy, để đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu cho người dân, ngoài những cây do các xã, thị trấn tự chuẩn bị, huyện Đà Bắc còn hỗ trợ thêm cho 18 điểm tổ chức phát động tết trồng cây khoảng 900 cây sấu và cây lát hoa. Nhờ sự chỉ đạo, động viên kịp thời từ các cấp, người dân tại các xã, thị trấn đã hoàn thành trồng cây đạt chỉ tiêu đề ra với trên 50.000 cây các loại. Các loại cây chủ yếu được trồng sau Tết Nguyên đán như xoan, bồ đề, keo, sấu và trám...
Ngoài trồng cây hưởng ứng phong trào tết trồng cây trong năm 2015, huyện có kế hoạch trồng mới trên 800 ha rừng, trong đó, rừng phòng hộ vào khoảng 150 ha, trên 650 ha rừng sản xuất. Tiếp tục thực hiện kế hoạch trồng rừng mới này, đến nay, nhân dân đã cơ bản chuẩn bị đủ giống, hiện trường để khi thời tiết thuận lợi sẽ tiến hành ngay trồng rừng.
Để đảm bảo nguồn cây giống cho trồng rừng, hàng năm, huyện đã chỉ đạo Lâm trường đáp ứng hàng chục vạn cây giống cho người dân có nhu cầu trên địa bàn. Đến thời điểm này, Lâm trường Tu Lý đã chuẩn bị được 44 vạn cây lâm nghiệp, trong đó có 30 vạn cây mỡ, 8 vạn cây keo và 6 vạn cây bồ đề. Ngoài ra, giống từ các hộ dân tự ươm cũng chuẩn bị được trên 5 vạn cây, trong đó có 3 vạn cây mỡ và khoảng 2 vạn cây xoan.
Tính đến thời điểm hiện nay, hiện trường và cây giống phục vụ kế hoạch trồng rừng sản xuất và rừng phòng hộ hiện đã được người dân, các đơn vị chức năng sẵn sàng. Đến đầu tháng 6, khi đó, thời tiết thuận lợi nhất, huyện Đà Bắc sẽ tổng lực cho công tác trồng rừng trên toàn địa bàn và dự kiến đến cuối tháng 8, toàn huyện sẽ triển khai xong kế hoạch trồng rừng như đã đề ra trong kế hoạch.
Cũng theo đồng chí Phạm Minh Sơn, kế hoạch trồng rừng năm 2015 của huyện Đà Bắc đã được chuẩn bị chu đáo, đồng thời có một số doanh nghiệp, dự án đang có kế hoạch triển khai trồng rừng trên địa bàn. Cụ thể như Công ty Phú Thịnh đã được UBND huyện Đà Bắc phê duyệt trồng mới trong năm 2015 khoảng 350 ha rừng. Ngoài ra, thực hiện theo Đề án 1558, huyện Đà Bắc trồng thêm khoảng 500 ha rừng tại những khu vực ven hồ sông Đà, trong đó có vài trăm ha gối từ năm 2014 sang sẽ đảm bảo cho huyện hoàn thành vượt chỉ tiêu trồng rừng trong năm nay.  (Báo Hòa Bình 31/3)đầu trang(
Chiều 31/3, Ban dự án phát triển ngành lâm nghiệp Nghi Lộc đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác trồng rừng theo dự án WB3.
Dự án phát triển ngành lâm nghiệp Nghi Lộc triển khai trên địa bàn 5 xã với diện tích trồng dự kiến 680 ha. Dự án WB3 đã thành lập được 5 nhóm nông dân trồng rừng.  Theo báo cáo của BQL dự án WB3 huyện, sau 3 năm triển khai Dự án đã tiến hành đo đạc, cấp giấy quyền sử dụng đất gồm 301 bìa đỏ với diện tích trên 611 ha, có 230 lượt hộ vay hơn 6,7 tỷ đồng, nhờ đó đã trồng mới được 512  ha rừng. Ngoài ra, Dự án còn hỗ trợ xây dựng hệ thống vườn ươm kiên cố  nâng cấp gần 5,5 km đường lâm sinh, đầu tư mua sắm nhiều thiết bị phục vụ phát triển lâm nghiệp.
Dự án đã nâng cao nhận thức cho người dân trong phát triển và bảo vệ rừng, đồng thời giúp nông dân mạnh dạn vay vốn đầu tư để trồng rừng, yên tâm gắn bó với nghề.
Tại hội nghị, có 3 tập thể và 7 cá nhân đã được UBND huyện, Ban QLDA WB3 tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện dự án phát triển lâm nghiệp. Bbáo Nghệ An 31/3)đầu trang(
Một trong những mô hình tích cực giảm thiểu các thảm hoạ thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra là trồng rừng ngập mặn ven biển do Hội Chữ thập đỏ (CTÐ) Việt Nam tiến hành từ năm 1993 với sự tài trợ của Hội CTĐ Nhật Bản thông qua Hiệp hội CTĐ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Dự án được thực hiện tại 10 tỉnh, thành phố trong cả nước có rừng ngập mặn (RNM), trong đó có Quảng Ninh.
Ðến khu vực phường Yên Giang bám theo tuyến đê cửa sông Bạch Đằng, TX Quảng Yên hay xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên hiện nay không khỏi choáng ngợp bởi màu xanh ngút ngàn của rừng ngập mặn với cây sú, đước. Cây cao nhất dễ phải đến 12m, cây thấp cũng phải từ 5 đến 7m... Những năm qua, rừng phát triển xanh tốt đã tạo thành một “bức tường xanh” vững chắc, góp phần tích cực chắn sóng bảo vệ đê biển, cải thiện đời sống nhân dân.
Thực hiện dự án, pha 1 và 2 được Hội CTĐ tỉnh triển khai từ năm 1997 đến 2007 tại 22 xã thuộc 8 huyện, thị xã và thành phố có diện tích đất, bãi bồi ven sông, biển của tỉnh. Dự án đã trồng 1.670ha RNM và phi lao với tỷ lệ cây trồng phát triển thành rừng đạt 58%. Từ năm 2008-2013, pha 3 của Dự án đã trồng được 665ha rừng tại các xã Vĩnh Trung, Hải Tiến, Hải Đông (TP Móng Cái); phường Yên Thanh (TP Uông Bí); xã Đồng Rui (huyện Tiên Yên); phường Hà An (TX Quảng Yên). Hội CTĐ Quảng Ninh thường xuyên kiểm tra việc bảo vệ chăm sóc rừng ngập mặn.
Qua đó cho thấy, diện tích RNM tại các địa phương phát triển tương đối tốt, tỷ lệ cây sống đạt cao. Năm 2014 đến nay đang triển khai pha 4 với việc xây dựng 2 tiểu dự án: Xây dựng hệ thống thoát nước thải tại xã Bình Dương (Đông Triều) và xây dựng hệ thống nước sạch tại phường Hải Đông (Móng Cái). Đồng thời thành lập mới 2 đội ứng phó cấp cộng đồng và hỗ trợ tập huấn 2 lớp cộng đồng ứng phó với thảm hoạ cho đội thanh niên xung kích phường Hải Yên (TP Móng Cái) và phường Tuần Châu (TP Hạ Long).
Hiện toàn tỉnh đã thành lập được 6 đội tình nguyện viên (10 người/đội) bảo vệ RNM tại phường Hà An, xã Hoàng Tân (Quảng Yên); các xã Quảng Thắng, Quảng Phong, Quảng Minh (Hải Hà); phường Hải Yên (Móng Cái). Các tình nguyện viên được tập huấn kỹ năng quản lý và bảo vệ rừng, các hoạt động ứng phó với thiên tai, thảm hoạ, cách sơ cấp cứu ban đầu, cứu hộ, cứu nạn v.v..
Đi đôi với việc thành lập, tập huấn các kiến thức kỹ năng về trồng, bảo vệ rừng, các thành viên của đội cũng được các cấp Hội lập danh sách quản lý theo hướng dẫn của T.Ư Hội. Nhờ có các đội bảo vệ rừng được thành lập, thường xuyên kiểm tra, tuần tra, tuyên truyền, vận động nên ý thức người dân tại các địa phương có Dự án đã được nâng cao. Thông qua các lớp tập huấn góp phần làm thay đổi, nâng cao nhận thức, ý thức trong việc bảo vệ rừng ngập mặn.
Đơn cử như việc được tuyên truyền, người dân xã Đông Hải (huyện Tiên Yên) đã hiểu và có nhiều hoạt động hưởng ứng tích cực. Nhiều ngư dân sẵn sàng tham gia các hoạt động tình nguyện, giúp đỡ phương tiện tàu thuyền, đồng thời phát hiện, ngăn chặn kịp thời các đối tượng đánh bắt hải sản mang tính huỷ diệt như bằng kích điện, lưới sai quy cách ảnh hưởng đến hệ sinh thái RNM.
Có thể nói, Chương trình rừng ngập mặn phòng ngừa thảm hoạ do Hội CTÐ Quảng Ninh tiến hành đã góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại về người và vật chất do thảm hoạ gây ra. Trồng và bảo vệ rừng ngập mặn ven biển là việc làm rất có hiệu quả của Hội nhằm hưởng ứng chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai quốc gia, trong đó lấy phòng ngừa thảm hoạ là mục tiêu cơ bản, thay đổi trọng tâm từ ứng phó thảm hoạ sang giảm nhẹ thảm hoạ. (Báo Quảng Ninh 1.4)đầu trang(
Về du lịch ở huyện Gia Viễn, người bạn tôi rất ấn tượng về hàng cây keo xanh mướt, thẳng tắp bên đường ĐT477 từ ngã ba Gián Khẩu đến thị trấn Me. Chẳng là hơn 6-7 năm trước, đã có lần hai chúng tôi phải dắt xe trên quãng đường gần 3km, giữa trời nắng chang chang mà không một bóng cây.
Đồng chí Đinh Anh Tuấn, Trưởng phòng Nông nghiệp & PTNT huyện cho biết: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xác định diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong năm 2014 đã cấp được 268,8 ha diện tích rừng phòng hộ cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện và 1.900 ha diện tích rừng đặc dụng. Hàng năm, cùng với việc phát động phong trào trồng cây, huyện luôn chú ý gắn với công tác bảo vệ môi trường, phát triển tài nguyên thiên nhiên và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới.
Được biết, năm 2015, huyện Gia Viễn phấn đấu trồng 300.000 cây phân tán. Riêng trong dịp Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ vừa qua, toàn huyện đã trồng 10.000 cây xanh các loại (cây keo, cây sấu, bạch đàn…) ở  sân vận động, khuôn viên các nhà trường, trạm y tế và công sở xã, thị trấn.
Anh Đinh Khắc Thủy ở xã Gia Hưng - một điển hình về tận dụng đất trống trồng gần 1 ha keo. Anh cho biết: Diện tích keo này đang vào năm tuổi, sắp cho thu hoạch với số lượng gần 500 cây. Theo thời giá hiện nay, mỗi cây keo có giá từ 100-170 nghìn đồng sẽ đem lại giá trị khoảng 60-80 triệu đồng cho gia đình anh. Anh Thủy cho biết, keo cho thu hoạch già có thể lấy gỗ làm nhà, cửa tốt chẳng kém gì các loại gỗ khác.
Ông Phạm Văn Dũng, Phó Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long cho biết: Ban quản lý với vai trò là chủ rừng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng gặp nhiều khó khăn vì địa bàn của hai khu rừng đặc dụng do đơn vị quản lý nằm cách xa nhau, 1 khu thuộc huyện Hoa Lư và 1 khu thuộc huyện Gia Viễn. Thêm nữa, rừng nằm xen kẽ với các khu dân cư nên việc tuần tra bảo vệ trên địa bàn còn nhiều bất cập... Sau khi thành lập khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, sở, ngành đã tham mưu cho tỉnh thu hồi diện tích rừng và mặt nước được các hộ nhân dân khai hoang phục hóa và sử dụng canh tác nông nghiệp.
Theo đó, đề nghị tỉnh cấp kinh phí đền bù và giải phóng mặt bằng, bàn giao diện tích ở các xã Gia Hòa, Liên Sơn và Gia Hưng giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư-Vân Long quản lý, bảo vệ trên 300 ha. Nhìn chung, tài nguyên rừng thuộc 2 khu rừng đặc dụng do đơn vị quản lý vẫn được duy trì, đảm bảo tốt. Cán bộ địa bàn của Ban quản lý phối hợp với lực lượng kiểm lâm liên huyện Hoa Lư - Gia Viễn cùng các Ban lâm nghiệp xã và nhân viên bảo vệ Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long thường xuyên kiểm tra phát hiện những hành vi xâm phạm đến khu rừng đặc dụng này…
Kỹ sư lâm nghiệp Bùi Trung Kiên, hiện là cán bộ phụ trách quản lý, bảo vệ rừng ở Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư-Vân Long cho biết: Trồng thêm một cây xanh là thêm một hành động bảo vệ môi trường. Sự chung tay của mọi người trong việc trồng, chăm sóc, bảo vệ, phát triển nhiều cây xanh nơi mình sinh sống, ở các cơ quan, tổ chức để phong trào này lan rộng và phát triển rộng khắp. Đối với huyện Gia Viễn, địa phương có nhiều khu, điểm du lịch và khu bảo tồn sinh thái thì trồng cây, gây rừng mang lại màu xanh là việc làm càng thêm ý nghĩa, thiết thực. (Báo Ninh Bình 31/3) đầu trang(
Với quyết định đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp gỗ đang lâm vào “thế khó”. Làm thế nào để mở hướng đi mới cho doanh nghiệp gỗ đang là vấn đề khó giải quyết trong tình trạng thắt chặt đầu vào của nguồn nguyên liệu phụ thuộc vào rừng.
Theo thông tin từ Chi cục Phát triển Nông thôn, cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp gỗ, toàn tỉnh hiện có 59 doanh nghiệp chế biến gỗ bao gồm cả các công ty TNHH MTV Lâm nghiệp. Trước kia, khi rừng tự nhiên còn được phép khai thác theo kế hoạch, các công ty này chủ yếu làm việc đơn giản là cưa, xẻ và cung cấp gỗ nguyên liệu cho thị trường. Cùng với sự đóng cửa rừng tự nhiên, các công ty chế biến gỗ bắt đầu lao đao do nguồn nguyên liệu đầu vào bị bó hẹp. Những công ty chuyên cắt, xẻ đơn giản chỉ hoạt động cầm chừng, chỉ những công ty có nhà máy chế biến những sản phẩm gỗ tinh phục vụ thị trường mới có việc làm thường xuyên.
Ông Hà Văn Chấn, cán bộ quản lý Công ty Hà Gia Phát, doanh nghiệp chuyên sản xuất ván ghép thanh tại KCN Phú Hội cho biết, một vài năm nay, nguồn nguyên liệu của công ty gặp khó khăn và đó cũng là khó khăn chủ yếu. Riêng năm 2014, công ty phải mua 5 ngàn m3 gỗ từ các công ty khác để duy trì sản xuất.
Ông Chấn nói: “Chúng tôi đầu tư nhà xưởng, hệ thống máy móc với kinh phí khoảng 30 tỷ đồng, nếu không có gỗ thì công ty thua lỗ. Máy móc, nhất là hệ thống sấy phải được hoạt động thường xuyên, nếu không hỏng hóc rất nhanh. Bởi vậy, công ty phải mua gỗ của Tập đoàn Tân Mai để duy trì sản xuất mặc dù mua lại như vậy, lợi nhuận giảm rất nhiều”. Ông Chấn cũng nhắc lại, năm 2013 công ty được mua nguồn gỗ từ kế hoạch của UBND tỉnh khai thác rừng sản xuất và đây là điều công ty đang mong mỏi.
Tình trạng của Công ty Hà Gia Phát cũng là tình trạng chung của hầu hết những công ty chế biến gỗ khác. Anh Hoàng Văn Hải, cán bộ Chi cục PTNT cho biết, hiện rừng tự nhiên đã đóng cửa hoàn toàn, Lâm Đồng chỉ có 50 ngàn ha rừng trồng chủ yếu là cây thông và một vài nhóm cây khác. Lượng gỗ khai thác, tỉa thưa rừng trồng theo kế hoạch của UBND tỉnh được cung cấp cho các công ty chế biến gỗ nhưng số lượng rất hạn chế. Năm 2014, số gỗ nguyên liệu từ rừng sản xuất là 24 ngàn m3 giao cho 9 doanh nghiệp. Những doanh nghiệp khác buộc phải tự tìm nguồn gỗ sản xuất.    Việc giao nguồn gỗ khai thác rừng trồng, UBND tỉnh cũng tính mức độ ưu tiên cho những doanh nghiệp đạt các tiêu chí như doanh nghiệp nằm trong khu, cụm công nghiệp, có đủ hồ sơ cần thiết, máy móc công nghệ hiện đại, sản xuất sản phẩm tinh chế và chấp hành tốt những chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, với việc chỉ được khai thác gỗ từ cấp tuổi 5 trở lên (rừng trồng trên 25 năm), lượng gỗ khai thác được sẽ là rất hạn chế.
Chính bởi vậy, từ sản lượng chế biến 200 ngàn m3/năm của những năm trước, hiện tại tổng sản lượng của các doanh nghiệp gỗ Lâm Đồng giảm xuống còn 100 ngàn m3/năm. Ông Nguyễn Trọng Nhã, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công Lâm Đồng cho biết, không ít doanh nghiệp chế biến gỗ mua những dàn máy ghép thanh công nghệ lạc hậu về nằm đắp chiếu, gây lãng phí rất lớn.
Theo ông Hoàng Văn Hải, ngoài khó khăn về nguồn nguyên liệu, doanh nghiệp sản xuất gỗ Lâm Đồng còn rất yếu về công nghệ và dây chuyền sản xuất. Gỗ đã thiếu, dây chuyền sản xuất yếu kém nên doanh nghiệp thua lỗ là bình thường. Hiện chỉ có từ 5 - 10 doanh nghiệp đã chế biến sản phẩm từ gỗ nguyên liệu tới sản phẩm hoàn chỉnh, trong đó có Công ty TNHH gỗ Bình Thuận đóng trên địa bàn huyện Lạc Dương hay Công ty Khai thác chế biến lâm sản Đà Lạt.
Các công ty này đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại đồng bộ, sử dụng phụ liệu như keo, vải, đinh... chất lượng tốt. Bởi vậy, sản phẩm đồ mộc của họ được thị trường chấp nhận, công nhân có việc làm thường xuyên, doanh nghiệp có lợi nhuận. Thay đổi công nghệ, chi phí đầu tư tăng cao là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tận dụng được hết nguồn nguyên liệu hạn chế.
Lâm Đồng có một thế mạnh nhưng chưa tận dụng được, đó là nguồn gỗ thông. Hàng mộc làm từ gỗ thông là sản phẩm được thị trường quốc tế đặc biệt ưa chuộng. Nhưng rừng Lâm Đồng chưa xây dựng được các chứng chỉ rừng (CoC), chứng chỉ quản lý truy xuất nguồn gốc gỗ (FSC) là những yêu cầu bắt buộc khi xuất khẩu sản phẩm. Bởi vậy, gỗ thông Lâm Đồng chưa phát huy được lợi thế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chế biến gỗ công suất còn hạn chế, chưa đủ khả năng đáp ứng những đơn hàng của đối tác.
Kế hoạch hỗ trợ ngành chế biến gỗ phát triển, đẩy mạnh hoạt động dự báo nguồn nguyên liệu để doanh nghiệp chủ động trong sản xuất, UBND tỉnh chấp thuận chủ trương giao rừng trồng cho doanh nghiệp chế biến để họ khai thác, trồng mới và quản lý rừng, chủ động nguồn nguyên liệu cho doanh nghiệp. Năm 2014, đã có 3 doanh nghiệp được giao thử nghiệm và kế hoạch năm 2015 sẽ tiếp tục có thêm những doanh nghiệp gỗ khác được giao rừng. Hỗ trợ doanh nghiệp về chính sách, cùng với cố gắng của bản thân doanh nghiệp, hi vọng trong tương lai, những phiến gỗ thông cao nguyên sẽ theo tàu đi tới những thị trường xa xôi. (Báo Lâm Đồng 30/3)đầu trang(
Toàn tỉnh hiện có gần 2.400 hécta đất rừng đang có tranh chấp giữa người dân địa phương với các công ty, lâm trường sử dụng đất lâm nghiệp. Tình trạng này đã diễn ra nhiều năm nhưng vẫn chưa được xử lý dứt điểm.
Đồng Nai hiện có gần 164 ngàn hécta đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng đặc dụng khoảng gần 102 ngàn hécta, rừng phòng hộ gần 31.300 hécta và rừng sản xuất hơn 29.800 hécta. Dù được đánh giá là địa phương quản lý giữ rừng tương đối tốt, nhưng ở các công ty, lâm trường vẫn còn xảy ra tình trạng đất lâm nghiệp bị lấn chiếm.
Có nhiều lý do dẫn đến tranh chấp đất lâm nghiệp tại Đồng Nai, song chủ yếu là do các nguyên nhân khi thành lập lâm trường không xác định rõ ranh giới giao đất; cư dân sinh sống sử dụng đất trước khi thành lập lâm trường; các lâm trường cho hộ dân mượn đất canh tác dưới tán rừng… Hiện những diện tích đất lâm nghiệp này đã không còn rừng và người dân đang sản xuất nông nghiệp.
Liên quan đến vấn đề này, có đơn vị đề nghị giao về cho địa phương xử lý dứt điểm các trường hợp tranh chấp, tùy theo các trường hợp cụ thể để xử lý. Đất lâm nghiệp bị tranh chấp nhiều tại Đồng Nai hiện thuộc về các đơn vị: Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp La Ngà (huyện Định Quán), Vườn quốc gia Cát Tiên, Xí nghiệp nguyên liệu giấy Đông Nam bộ...
Ông Trương Hữu Thế, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, cho biết: “Chúng tôi hiện có trên 1 ngàn héc ta đất rừng đang bị người dân tranh chấp. Trên diện tích đất đang tranh chấp có những hộ sinh sống từ lâu, song cũng có những hộ trước đây được nhà nước giao khoán đất rừng để quản lý sản xuất. Thực tế, các diện tích đất trên hiện không còn rừng”. Ông Thế cho biết thêm, vì tranh chấp nên những diện tích đất trên chưa thể ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú.
Bà Nguyễn Thị Gái, Tổng giám đốc Tổng công ty cao su Đồng Nai, cho hay: “Công ty cũng có một số diện tích đất bị người dân lấn chiếm và hiện họ đang đòi cấp giấy chứng quyền sử dụng đất nhưng công ty không đồng ý. Diện tích đất tranh chấp hầu hết ở những khu vực gần sông, suối không thể trồng cây cao su, công ty đành bỏ trống nên nhiều hộ dân đã vào đó lấn chiếm sản xuất”.
Có không ít ý kiến cho rằng, diện tích đất lâm nghiệp bị tranh chấp so với rừng hiện có không đáng kể, do đó nên cắt hẳn, giao cho địa phương hợp thức hóa cho người dân bằng cách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng cũng có nhiều ý kiến trái ngược cho là nếu hợp thức hóa diện tích đất rừng bị tranh chấp, sẽ tạo tiền lệ xấu dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất rừng ngày một nhiều hơn.
“Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn đang yêu cầu các chủ rừng rà soát lại toàn bộ diện tích đất bị tranh chấp, xem nguyên nhân từ đâu để có biện pháp xử lý thích hợp. Với những diện tích đất giao khoán từ trước, sau đó được sang nhượng bằng giấy tay nếu các hộ có nhu cầu sẽ tiếp tục hợp đồng giao khoán đất rừng. Còn những trường hợp lấn chiếm, tỉnh sẽ thu hồi lại” - Phó giám đốc Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn Đặng Hồng Tăng cho hay.
Mới đây, trong đợt giám sát về quản lý, sử dụng đất nông lâm trường tại Đồng Nai, ông Mã Điền Cư, Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, khẳng định: “Với đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, tỉnh phải cương quyết thu hồi lại hết. Còn những hộ đã sống lâu trên đất lâm nghiệp từ trước khi có các nông, lâm trường thì nên xem xét có thể ký hợp đồng giao khoán để họ vẫn có thể sinh sống và sản xuất”.
Tuy nhiên, ở một số địa phương có rừng, như: Xuân Lộc, Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu vẫn xảy ra nhiều trường hợp những hộ dân nhận hợp đồng giao khoán đất rừng, sau một thời gian sử dụng đã chuyển nhượng cho những hộ khác sản xuất. Chưa kể, không ít hợp đồng giao khoán đất rừng bị chia nhỏ, chuyển nhượng qua tay nhiều người. (Báo Đồng Nai 29/3)đầu trang(
31/3, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đưa ra xét xử vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Các bị cáo đưa ra mức trích thưởng 500.000 - 1 triệu đồng với 1 héc-ta rừng để dụ nhiều cá nhân đưa tiền tỷ mua đất trồng rừng.
Nghe được “tiếng gió” về việc cho chủ rừng vay để chạy vốn hỗ trợ trồng rừng từ dự án viện trợ nước ngoài thu được lợi nhuận cao, chị Trần Thị Kim Khánh (trú tại số 8, phường Giếng Đáy TP. Hạ Long, Quảng Ninh) lặn lội lên tận Hà Nội, tìm gặp Tú, Bình, Thịnh để tìm hiểu dự án.
3 bị cáo gồm Nguyễn Thị Ngọc Thịnh (SN 1956, trú tại Hưng Nguyễn, Nghệ An), Nguyễn Mậu Tú (SN 1954, trú tại Đông Anh, Hà Nội), Nguyễn Thủy Bình (SN 1968, trú tại Lập Thạch, Vĩnh Phúc) đều khẳng định với chị Khánh là dự án có thật. Đây là dự án trồng rừng chống biến đổi khí hậu toàn cầu, nguồn vốn nước ngoài không hoàn lại viện trợ cho Việt Nam khoảng 7 - 8 tỷ USD. Mỗi héc-ta rừng sẽ được giải ngân từ 25 - 30 triệu đồng.
Do đó, Tú, Bình, Thịnh tìm nguồn vốn để mua đất trồng rừng có sổ đỏ. Nếu ai có nhu cầu mua đất trồng rừng, sau khi dự án giải ngân sẽ được trích thưởng từ 500.000 - 1.000.000 đồng/ha.
Để chị Khánh tin tưởng, 3 bị cáo này đã giới thiệu với chị Khánh gặp Nguyễn Văn Hưng (tức Hùng, SN 1974, trú tại Nga Sơn, Thanh Hóa), là cán bộ cấp cao trong ngành an ninh sẽ giúp chạy dự án. Sau đó, chị Khánh đã gom tiền của một số người cùng với tiền của gia đình được 2,45 tỷ đồng và giao toàn bộ cho các bị cáo.Sau này, khi cơ quan điều tra vào cuộc, chị Khánh mới biết hóa ra mình bị lừa.
Nhóm bị cáo này tính toán đưa ra mồi câu là khoản trích thưởng hấp dẫn để dụ nhiều người bỏ tiền mua đất trồng rừng. Số tiền thu được, một phần các bị cáo tiêu xài cá nhân và một phần dùng để mua đất rừng đã được cấp sổ đỏ nhằm tạo sự tin tưởng cho các bị hại. Diện tích đất rừng này, các bị cáo dự định lập dự án, xin vay vốn, hoặc kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước hợp tác hòng thu được lợi nhuận từ nguồn tiền đã lừa đảo được.
Để tạo thêm niềm tin, các bị cáo bịa ra rằng Thịnh có người nhà làm trong Ban quản lý dự án có quyền xét duyệt hồ sơ để giải ngân, làm cho những người mua đất trồng rừng tin chắc là sẽ thu được tiền trích thưởng.
Từ tháng 9/2011 đến tháng 8/2012, đã có 6 người nộp tiền mua đất rừng cho nhóm bị cáo này.
Ngoài ra, các bị cáo này còn hứa hẹn sẽ giúp anh Nguyễn Mậu Luân (Đông Anh, Hà Nội) được nhận thi công công trình có tổng trị giá trên 100 tỷ đồng. Các bị cáo này yêu cầu anh Luân nộp trước 500 triệu đồng rồi chiếm đoạt. Tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt là hơn 4,2 tỷ đồng.
Với hành vi này, Nguyễn Thị Ngọc Thịnh nhận án phạt 16 năm tù giam cộng với án cũ 13 năm tù giam, tổng cộng Thịnh bị tuyên phạt 29 năm tù giam. Nguyễn Văn Hưng bị tuyên phạt 12 năm tù giam, Nguyễn Mậu Tú  bị tuyên phạt 16 năm, Nguyễn Thủy Bình bị tuyên phạt 14 năm tù giam. (Tin Nhanh Chứng Khoán 1.4)đầu trang(
HĐQT CTCP Tập đoàn Đức Long Gia Lai thống nhất chuyển nhượng toàn bộ vốn góp tại CTCP Khoáng sản & Luyện kim Đức Long Gia Lai và CTCP Chế biến gỗ Đức Long Gia Lai cho Bamboo Capital với tổng giá trị chuyển nhượng hơn 100 tỷ đồng.
Cụ thể, DLG sẽ chuyển nhượng 3.2 triệu cổ phần (chiếm 91.71% vốn điều lệ) của CTCP Chế biến gỗ Đức Long Gia và hơn 4.6 triệu cổ phần (chiếm 19.5% vốn điều lệ ) của CTCP Khoáng sản & Luyện kim Đức Long Gia Lai cho CTCP Bamboo Capital với giá chuyển nhượng 13,000 đồng/cp. (VietStock 2/4)đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Những ngày này, cả đất nước Singapore đang chìm trong nỗi niềm tiếc thương vô hạn khi vị Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore Lý Quang Diệu qua đời. Sự cảm phục và biết ơn của người dân nơi đây về những đóng góp lớn lao mà ông Lý Quang Diệu đã gây dựng trong suốt quãng đường lập nước nhằm tạo nên một quốc gia Singapore lớn mạnh không chỉ về kinh tế, mà còn là một xã hội văn minh, trong sạch; một không gian xanh đáng mơ ước đối với bất kỳ người dân nào trên thế giới.
Hơn 50 năm về trước, vào ngày 16/6/1963, ông Lý Quang Diệu, lúc đó đang là Thủ tướng của Singapore, đã trồng cây thành ngạnh đầu tiên ở Farrer Circus để bắt đầu hành trình phủ xanh Singapore nhằm tạo ra môi trường sạch và xanh, giảm tình trạng đô thị bê tông đầy khắc nghiệt.
Sự kiện ông Lý Quang Diệu trồng cây xanh đầu tiên vào năm 1963 đã khơi nguồn cảm hứng cho một chiến dịch trồng 1.963 cây được nhiều người hưởng ứng ngay sau đó. Quỹ cây xanh thành phố đóng góp 470.000 USD vào chi phí trồng cây để phủ xanh Singapore. 1.963 cây xanh đã được trồng tại Đảo quốc Sư tử do các cá nhân và tổ chức thực hiện.
Thông qua chiến dịch xanh, với sự quyết liệt của người đứng đầu chính phủ là ông Lý Quang Diệu cùng các cộng sự và đặc biệt là sự hưởng ứng, cam kết của các thế hệ người dân, thành phố nhỏ bé với diện tích hơn 700 kilômét vuông ngày nào nay được phủ đầy một sắc xanh, đem lại một diện mạo mới đầy tươi mát và trong lành.
Điều đáng nói là mặc dù Singapore có mật độ dân cư vào loại cao nhất trên thế giới, với hơn 90% dân số sống trong các khu chung cư, nhưng cây xanh vẫn luôn hiện diện ở khắp mọi nơi. Màu xanh không chỉ hút mắt tại hơn 300 công viên lớn, nhỏ nằm rải rác khắp Đảo quốc, mà nó còn xuất hiện xen giữa những tòa nhà cao tầng hay thậm chí là ở trên nóc những khu thương mại, các khách sạn, bãi giữ xe ô tô... Nhờ vậy, độ phủ cây xanh của Singapore từ chỗ chiếm 1/3 đã tăng lên đạt gần nửa tổng diện tích đất nước.
Những năm gần đây, kế hoạch trồng cây xanh ở Singapore bước vào giai đoạn mới - hướng tới bảo tồn sinh học đa dạng. Nếu trước kia, quốc gia này phát triển theo mô hình “vườn trong thành phố,” thì hiện tại Singapore đang hướng tới “thành phố trong vườn” vào năm 2016.
Năm 2006, chính phủ đã ban hành kế hoạch tổng thể xây dựng xanh lần thứ nhất, trong đó yêu cầu tất cả các tòa nhà mới xây ở Singapore đều phải đạt chứng chỉ xanh. Chứng chỉ này được cụ thể hóa bằng các yêu cầu như: Tòa nhà phải sử dụng hiệu quả năng lượng, tiết kiệm triệt để nước và đảm bảo chất lượng tốt của không khí trong tòa nhà. Ba năm sau đó, trong kế hoạch tổng thể lần hai, Singapore đưa chứng chỉ xanh áp dụng vào các tòa nhà hiện có, với mục tiêu hàng đầu là tiết kiệm càng nhiều năng lượng càng tốt.
Đến đầu năm 2014, Singapore triển khai kế hoạch tổng thể lần ba, tập trung vào việc thay đổi hành vi con người để cùng thực hiện chiến lược xanh theo hướng "thành phố trong vườn", có nghĩa cả đất nước sẽ là một khu vườn khổng lồ. Để thực hiện kế hoạch này, những người dân sinh sống tại Singapore sẽ nhận được trợ giúp từ quỹ Green Mark trị giá 50 triệu SGD (khoảng trên 40 triệu USD) để có thể bổ sung, lắp đặt mới các thiết bị tiết kiệm điện, nước tại nơi ở. Hình thức hỗ trợ là người dân bỏ một đồng mua thiết bị, Chính phủ cũng sẽ hỗ trợ một đồng.
Với những biện pháp như xây dựng Quỹ vườn thành phố, Chương trình tình nguyện xanh, các nhóm cộng đồng, trường học, doanh nghiệp và các công ty gắn kết chặt chẽ với các trung tâm sinh thái, Chính phủ Singapore hy vọng sẽ "kích hoạt" sự yêu thích sở hữu, đam mê màu xanh của đông đảo người dân sinh sống tại Đảo quốc Sư tử.
Bên cạnh đó, nhà chức trách Singapore cũng cẩn trọng hơn với kế hoạch trồng cây, bảo tồn di sản thiên nhiên để nhận được sự đồng tâm, hỗ trợ của mọi tầng lớp nhân dân. Theo đó, Singapore quy định với các cây di sản - cây trưởng thành trong và ngoài các khu vực bảo tồn được pháp luật bảo vệ. Những cây này được ghi nhận có giá trị lịch sử và đóng góp cho cảnh quan của Singapore... (Tin Tức 31/3)đầu trang(./.
Biên tập: Diệu Huyền