Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 02 tháng 07 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
1-7, ông Trương Quang Lan, viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Di Linh (tỉnh Lâm Đồng), cho biết đã khởi tố và tạm giam ba tháng đối với ba cán bộ lâm nghiệp của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Tam Hiệp (huyện Di Linh) vì vi phạm các quy định về bảo vệ rừng và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Ba cán bộ bị khởi tố, tạm giam gồm Nguyễn Tiến Anh (sinh năm 1978, tổ trưởng tổ bảo vệ rừng), Nguyễn Tiến Hưởng (sinh năm 1968, nhân viên quản lý bảo vệ rừng) và Nguyễn Hữu Dũng (nhân viên quản lý bảo vệ rừng), cùng thường trú tại huyện Di Linh.
Ba cán bộ này được phân công giám sát, bảo vệ rừng tại tiểu khu 703 và 704 thuộc lâm phần Công ty Tam Hiệp.
Theo thông tin từ Viện Kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, từ đầu năm 2015 đến tháng 4-2015, các cán bộ này đã vi phạm các quy định bảo vệ rừng và thiếu trách nhiệm để lâm tặc chặt hạ 139 cây gỗ dầu (thuộc nhóm IV), ước khoảng 200m3 gỗ, định giá khoảng 700 triệu đồng.
Khi cơ quan điều tra kiểm tra hiện trường thì 2/3 số gỗ bị chặt hạ đã bị lâm tặc di chuyển đi tiêu thụ. (Tuổi Trẻ 2/7) đầu trang(
Chính quyền xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cho biết, với sự nỗ lực, khẩn trương, đám cháy rừng xảy ra trên địa bàn xã vào đêm 1/7 đã được khống chế.
Theo một số người dân ở xã Công Thành, đám cháy bắt đầu bùng phát vào lúc 20h30 đêm 1/7 tại khu vực động Tù Và thuộc địa phận xóm Tân Long và xóm Ngọc Sơn (xã Công Thành). Sau khi phát hiện đám cháy, hàng trăm người gồm các lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm và nhân dân xã Công Thành cùng một số xã lân cận nỗ lực dập lửa trong đêm.
Do thời tiết nắng nóng, gió thổi mạnh, khu vực xảy ra đám cháy lại xa nguồn nước nên việc dập lửa gặp rất nhiều khó khăn. Để ngăn chặn đám cháy không lan sang khu vực rừng xã Mỹ Thành (huyện Yên Thành) và xã Thượng Sơn ( huyện Đô Lương), các lực lượng chữa cháy đã tiến hành thiết lập vành đai cản lửa. Đến khoảng 3 giờ ngày 2/7, đám cháy đã cơ bản được khống chế.
Diện tích rừng bị cháy chủ yếu là rừng thông và rừng phòng hộ. Hiện, chính quyền xã Công Thành đang phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra nguyên nhân xảy cháy và thống kê thiệt hại do đám cháy gây ra. (Tin Tức + Thanh Niên 2/7) đầu trang(
1/7, bà Sally Jewell, Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ đã đến thăm Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Binh, nhằm chia sẻ cách thức bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (gọi tắt là các loài sách đỏ) đang có nguy cơ đứng trước bờ vực tuyệt chủng.
Tại đây, bà Sally Jewell và các cộng sự đã thăm Trung tâm bảo tồn rùa, Chương trình bảo tồn tê tê và Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp. Đây là Ba khu vực đang chăm sóc hàng trăm cá thể linh trưởng, tê tê và rùa vốn được giải cứu từ các vụ săn bắt, buôn bán trái phép trên khắp cả nước.
Chia sẻ về ý nghĩa của chuyến thăm, bà Sally Jewell, cho biết những năm qua, tình hình buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang đang diễn biến rất phức tạp tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam.
Việc buôn bán động vật hoang dã trái phép đã tạo ra nguồn lợi hàng tỉ USD cho các tổ chức tội phạm, đe dọa ​gây tuyệt chủng của nhiều động vật từ voi, tê giác đến rùa biển, hổ, tê tê.
“Trong bối cảnh như vậy, tôi quyết định đến thăm Cúc Phương, vì đây là khu rừng có thảm thực vật rất phong phú đồng thời cũng là ‘ngôi nhà’ cư trú an toàn của nhiều loài động vật hoang dã quý, hiếm cần được bảo tồn,” ​Bộ trưởng Sally Jewell chia sẻ.
Bà Sally Jewell cũng khẳng định, công tác chăm sóc, bảo tồn các cá thể tê tê, rùa và linh trưởng ở Vườn quốc gia Cúc Phương rất tốt. “Vì thế, trở về nước, tôi sẽ chia sẻ với bạn bè của tôi, cũng như kiến nghị xây dựng các chương trình hợp tác toàn diện giữa hai nước về bảo tồn động vật hoang dã giữa các bên," bà Sally Jewell nói.
Trước đó, trong hai ngày (29 và 30/6), bà Sally Jewell cũng đã có chuyến thăm và làm việc với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các Bộ trưởng Tài nguyên - Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công an nhằm khuyến khích hợp tác quốc tế trong cuộc chiến chống buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.
"Chúng tôi đã có các cuộc họp hiệu quả và lãnh đạo của hai quốc gia nhận ra rằng cần phải hành động nhanh chóng, hiệu quả nếu chúng ta chuẩn bị chấm dứt việc buôn bán, cũng như hoạt động đã đe d​ọa và tiêu diệt các loài động vật hoang dã quý hiếm trên thế giới," bà Sally Jewell chia sẻ.
Bà Sally Jewell cũng nhấn mạnh, cả Việt Nam và Hoa Kỳ có vai trò trong việc chấm dứt buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã. "Việc hai bên cộng tác trong nỗ lực chung để trừng trị nghiêm khắc việc săn bắt trộm và buôn bán bất hợp pháp của các tổ chức tội phạm quốc tế là rất quan trọng," bà Sally Jewell nói. (Vietnam+ 1/7) đầu trang(
Cơ quan chức năng phát hiện gia đình ông Quảng đang nuôi nhốt 2 con khỉ loại khỉ đuôi dài có tên khoa học là Macaca fascicularis thuộc loài động vật rừng nguy cấp quý hiếm nhóm IIB. Tại thời điểm kiểm tra ông Quảng không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ hợp pháp nào về 2 con khỉ trên.
Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh vừa phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra khu vườn của gia đình ông Vũ Kim Quảng, trú tại khu 6, phường Hà Khẩu, TP Hạ Long.
Tại đây, cơ quan chức năng phát hiện gia đình ông Quảng đang nuôi nhốt 2 con khỉ (khoảng 5kg) loại khỉ đuôi dài có tên khoa học là Macaca fascicularis thuộc loài động vật rừng nguy cấp quý hiếm nhóm IIB.
Tại thời điểm kiểm tra ông Quảng không xuất trình được bất kỳ loại giấy tờ hợp pháp nào về 2 con khỉ trên.
Hiện đơn vị đã xử phạt hành chính ông Quảng 5.250.000 đồng về hành vi nuôi động vật rừng trái phép; tạm giữ 2 con khỉ để xử lý theo quy định pháp luật. (Công An Nhân Dân 2/7) đầu trang(
1.7, ông Nguyễn Văn Đồng – Giám đốc Sở NNPTNT Hậu Giang cho biết: Chi cục Kiểm lâm vừa có công văn gửi Phòng Kinh tế, Phòng NNPTNT các huyện, thị xã, thành phố về việc đề nghị tuyên truyền, nhắc nhở người dân phòng ngừa rắn lục đuôi đỏ để đảm bảo an toàn trong lao động sản xuất.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ từ các địa phương, từ năm 2014 đến nay đã có gần 300 trường hợp bị rắn cắn, trong đó có đến 70% là rắn lục đuôi đỏ. (Dân Việt 2/7) đầu trang(
Thanh Hóa có 5 huyện giáp ranh với 3 huyện của tỉnh Hủa Phăn (Lào). Thực hiện chương trình phối hợp về việc tăng cường công tác bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) giữa 2 bên, từ tháng 6-2014 đến tháng 6-2015, hai bên đã trao đổi 36 thông tin qua điện thoại, 16 văn bản về tình hình an ninh rừng khu vực biên giới.
Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã chỉ đạo hạt kiểm lâm các huyện tham mưu cho UBND 5 huyện vùng biên rà soát, bổ sung 54 quy ước bảo vệ và phát triển rừng ở 54 thôn, bản; xây dựng các bảng tuyên truyền kiên cố được viết bằng hai thứ tiếng Việt Nam - Lào; in 800 tờ rơi, tổ chức cho gần 1.200 hộ gia đình hai bên biên giới ký cam kết thực hiện nghiêm việc BVR, PCCCR; tổ chức 80 cuộc họp thôn, bản cho gần 3.000 người tham dự; kiện toàn và duy trì 54 tổ đội quần chúng BVR, PCCCR, 16 trung đội dân quân tự vệ phối hợp với cụm bản 3 huyện Viêng Xay, Xốp Bâu, Xăm Tày (tỉnh Hủa Phăn) để tuần tra, kiểm tra rừng.
Kết quả, đã phối hợp kiểm tra 126 lần, phát hiện, xử lý 7 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép, nộp ngân sách Nhà nước hơn 50 triệu đồng, qua đó góp phần tăng cường an ninh rừng ở khu vực biên giới. (Báo Thanh Hóa 2/7) đầu trang(
Theo tuần dự báo khí tượng bảo vệ rừng và sản xuất lâm nghiệp của cơ quan Kiểm lâm vùng 1 và dự báo khí tượng của Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên và diễn biến thời tiết trong 05 ngày từ ngày 27/6 đến ngày 30/6/2015 đã nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, độ ẩm không khí thấp, cấp cháy rừng ở tất cả các khu vực trong Tỉnh đang ở cấp báo động IV - Cấp nguy hiểm và cấp V - Cấp cực kỳ nguy hiểm, có nguy cơ xảy ra cháy rừng lớn ở tất cả các loại rừng, tốc độ lửa lan nhanh.
Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thái Nguyên yêu cầu:
Ban Chỉ đạo các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo các Ban Chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng các xã, thị trấn, Hạt Kiểm lâm kiểm tra, đôn đốc công tác phòng cháy chữa cháy của các chủ rừng. Yêu cầu các chủ rừng phải thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, cấm đốt nương rẫy, chấp hành nghiêm nội quy dùng lửa trong rừng và ven rừng, chú ý phát dọn sạch đường băng cản lửa ở các khu vực rừng dễ cháy.
Các lực lượng liên ngành (Kiểm lâm, Công an, Quân đội) thực hiện quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, chính quyền cấp xã tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra, sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng.
Lực lượng Kiểm lâm, Ban Chỉ đạo PCCCR cấp xã, Tổ quản lý bảo vệ rừng và PCCCR thôn bản tổ chức trực cháy rừng 24/24 giờ trong những ngày cao điểm thời tiết hanh khô, nắng nóng, cấp độ cháy rừng cao. Thường xuyên tuần tra rừng, phát hiện và kiểm soát lửa rừng tránh để cháy lan trên diện rộng khi có cháy rừng xảy ra.
Khi xảy ra cháy triển khai huy động lực lượng, phương tiện theo phương án PCCCR 4 tại chỗ, dập tắt ngay, tiến hành điều tra xác minh xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. (Đài PTTH Thái Nguyên 1/7) đầu trang(
Những năm qua, lực lượng kiểm lâm Thanh Hóa đã khẳng định được vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR). Tình hình an ninh rừng ổn định theo hướng bền vững, không có “tụ điểm”, “điểm nóng” về phá rừng, khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép...
Để đạt được kết quả trên, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm xác định: Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BV&PTR sẽ làm thay đổi nhận thức của cấp ủy, chính quyền cơ sở, chủ rừng cũng như người dân về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi trong công tác BV&PTR.
Vì vậy, Chi cục Kiểm lâm đã bám vào những quy định của Luật BV&PTR để biên soạn các tài liệu tuyên truyền phù hợp với phong tục tập quán, nhận thức của người dân, qua đó vận động nhân dân tham gia BV&PTR, nhân rộng mô hình tuyên truyền tại các thôn, bản, xã điểm; xây dựng khu dân cư “3 không” trong bảo vệ rừng (BVR). Đồng thời, thông qua cấp ủy, chính quyền cơ sở phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội..., những người tiêu biểu, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, dòng họ, cùng tham gia trong công tác tuyên truyền BV&PTR.
Đến nay, toàn tỉnh đã thành lập 1.797 tổ tuyên truyền BV&PTR ở thôn, bản; xây dựng 1.447 bản quy chế hoạt động của tổ tuyên truyền; xây dựng 124 khu dân cư “3 không” trong BVR ở 118 xã thuộc 23 huyện; phối hợp tổ chức 2.500 hội nghị tuyên truyền tại thôn, bản với trên 125.800 lượt người tham gia. Thông qua công tác tuyên truyền đã vận động quản lý tập trung 1.369 cưa xăng ở 47 xã thuộc 6 huyện trọng điểm an ninh rừng, như: Quan Sơn, Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân.
Chủ tịch UBND các xã cấp 1.369 giấy chứng nhận sử dụng cưa xăng để tăng cường công tác quản lý; ở các huyện còn lại vận động chủ cưa xăng ký cam kết với chính quyền không sử dụng cưa xăng để khai thác gỗ rừng tự nhiên trái phép và được quản lý chặt chẽ tại cộng đồng.
Với cách làm trên, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BV&PTR đã được cả hệ thống chính trị cùng chung tay thực hiện, góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về công tác BV&PTR. Tình trạng phá rừng làm rẫy, khai thác trái phép lâm sản từ rừng tự nhiên giảm, nhiều mô hình trang trại lâm nghiệp ra đời cho thu nhập cao, góp phần cải thiện đời sống của người dân miền núi, mọi người yên tâm BV&PTR, góp phần giữ vững an ninh rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Thanh Hóa 1/7) đầu trang(
Thực hiện phương án xây dựng thí điểm quản lý rừng bền vững, bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng hiện có, phát triển dịch vụ, du lịch, hỗ trợ kỹ thuật cho đồng bào, tạo việc làm thu hút lao động địa phương tham gia các hoạt động trồng rừng, bảo vệ rừng, làm giàu cho rừng, trong thời gian qua, Công đoàn cơ sở Lâm trường Trường Sơn đã tích cực phối hợp với Ban Giám đốc tổ chức nhiều phong trào thi đua sôi nổi thiết thực, được đoàn viên, công nhân lao động tích cực hưởng ứng, đem lại hiệu quả thiết thực.
Công đoàn cơ sở Lâm trường Trường Sơn trực thuộc Công đoàn Công ty TNHH MTV LCN Long Đại có tổng số đoàn đoàn viên gần 90 người, đảm nhiệm việc bảo vệ và chăm sóc trên 35.000ha rừng thuộc địa phận 3 xã Trường Sơn (Quảng Ninh), Phú Định, thị trấn Nông trường Việt Trung (Bố Trạch).
Để công tác chăm sóc và bảo vệ rừng có hiệu quả, Công đoàn cơ sở Lâm trường Trường Sơn đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động trong cán bộ, đoàn viên, lao động và nhân dân trên địa bàn tham gia quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng một cách có hiệu quả. Vì thế ý thức của người dân được nâng lên đáng kể, họ đã chủ động phát hiện và thông báo kịp thời các hành vi xâm hại rừng tới các cơ quan chức năng, góp phần quan trọng ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn.
Cùng với công tác tuyên truyền, các phong trào thi đua như “An toàn vệ sinh lao động“, “Xanh-Sạch-Đẹp“, “Bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước”... đã được Công đoàn phát động thường xuyên đến người lao động. Từ các phong trào này đã xuất hiện nhiều cá nhân tiêu biểu, tận tình, có trách nhiệm với công việc được giao.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, đoàn viên luôn có ý thức trách nhiệm trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng và vận động các hộ gia đình được giao đất phải tuân thủ quy trình kỹ thuật về chăm sóc rừng đã được dự án tập huấn, làm tốt công tác bảo vệ, phòng chống và ngăn ngừa cháy rừng. Đồng thời tổ chức tuần tra kiểm soát, xử lý các vụ việc xâm hại rừng, thực hiện đúng quy chế, quy ước thôn bản và quy ước về rừng do cộng đồng quản lý.
Phương án thí điểm quản lý rừng bền vững đã được Lâm trường thực hiện bảo đảm đúng theo các nguyên tắc như: Tuân thủ pháp luật của nhà nước và những thoả thuận quốc tế mà nhà nước đã ký kết; bảo đảm quyền sử dụng lâu dài về đất và tài nguyên rừng; tôn trọng quyền lợi hợp pháp và theo phong tục của người dân địa phương về quản lý, sử dụng và hưởng lợi từ rừng và đất rừng của họ; thực hiện các hoạt động quản lý kinh doanh rừng, bảo đảm lợi ích kinh tế - xã hội lâu dài của người lao động và các cộng đồng địa phương; thực hiện những hoạt động quản lý kinh doanh rừng, khuyến khích sử dụng có hiệu quả các sản phẩm và dịch vụ đa dạng của rừng nhằm bảo đảm tính bền vững kinh tế và tính đa dạng của những lợi ích môi trường và xã hội; chú trọng thực hiện bảo tồn những giá trị đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, đất đai, hệ sinh thái và sinh cảnh đặc thù dễ bị tổn thương; duy trì các chức năng sinh thái và toàn vẹn của rừng...
Song song với công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, các hoạt động từ thiện nhân đạo, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho đoàn viên, người lao động cũng đã được Công đoàn hết sức quan tâm như động viên thăm hỏi đoàn viên lúc ốm đau, đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn nhân các dịp lễ, Tết. Các chế độ chính sách đối với người lao động như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động... được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định của pháp luật. Chính nhờ việc bảo đảm tốt quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động nên vai trò, vị thế của tổ chức Công đoàn cơ sở Lâm trường Trường Sơn không ngừng được củng cố, thu nhập bình quân của người lao động tại đơn vị đạt 4,3 triệu đồng/người/tháng.
Nhìn chung, việc thực hiện phương án thí điểm quản lý rừng bền vững của Lâm trường Trường Sơn trong thời gian qua đã duy trì ổn định diện tích rừng trên các lâm phần được giao khoán, hạn chế tối đa nạn chặt phá rừng trái phép. Vì vậy đời sống, việc làm của cán bộ công nhân lao động và các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng từng bước được nâng cao, tạo động lực khuyến khích bảo vệ rừng có hiệu quả, bảo đảm độ che phủ rừng đạt 79%. (Báo Quảng Bình 30/6) đầu trang(
Gỗ sau khi khai thác, chuyển ra khỏi rừng, không chỉ chất đầy sàn nhà mà còn được các đầu nậu thu gom, “làm luật” với chính quyền sở tại và cơ quan chức năng chuyên trách. Tiếp đó, họ ngang nhiên tập kết, mua bán, vận chuyển ra khỏi địa bàn tỉnh trước sự ngỡ ngàng của người dân địa phương. Để tìm hiểu về tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển gỗ lậu trái phép ở Cao Bằng, phóng viên Báo LĐ&XH đã dành nhiều thời gian thâm nhập vào đường dây này.
Dọc tuyến đường liên các xã: Nam Quang, Tân Việt, Nam Cao (thuộc huyện Bảo Lâm, Cao Bằng) hầu hết là những ngôi nhà sàn 3 gian, 2 trái được dựng bằng gỗ nghiến, sấu…Những ngồi nhà này không chỉ được xây dựng gần như 100% bằng gỗ, mà dưới gầm mỗi nhà lúc nào cũng có hàng chục, hàng trăm khối gỗ đã  xẻ, chất thành từng đống chờ “ngày đẹp” lên đường. Đặc biệt, trong thời gian đi thực tế ở xã Nam Cao, chúng tôi được biết, mỗi tuần đều có vài xe gỗ lậu được chở ra thị trấn Pác Miầu, để từ đó được chuyển đi tiêu thụ ở những địa bàn khác...
Trong vai một khách du lịch muốn tìm hiểu về văn hóa nhà sàn tại các bản làng ở Cao Bằng, chúng tôi đã phần nào hiểu lý do rừng càng cấm khai thác thì càng cạn kiệt nguồn tài nguyên gỗ. Nhiều bà con vùng cao ở các xã Nam Cao, Nam Quang cho biết, hầu hết nhà dân ở đây làm theo kiểu nhà sàn, được dựng lên từ khoảng 5 năm về trước, bởi hồi đó gỗ rất nhiều, giờ đây do tình trạng lợi dụng lấy gỗ làm nhà biến hóa đem đi bán, cứ như vậy những cánh rừng già biến mất, tài nguyên gỗ giảm đi đáng kể.
Ông Ma Văn Túc, người dân xã Nam Quang cho biết: “Bây giờ bà con làm nhà chủ yếu là gỗ thường, còn các loại gỗ quý như nghiến, táu, sến… để dành bán. Những loại gỗ này trong rừng sâu cũng không còn nhiều vì bị khai thác hết. Các loại gỗ khác quý hơn như kháo đá, dạ hương, thậm chí cả gốc rễ cũng trở nên hiếm do các thương lái bên Trung Quốc thu mua nhiều trong những năm qua”.
Ông Túc dẫn chúng tôi về ngôi nhà được dựng toàn bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương. Quan sát kỹ ngôi nhà, chúng tôi hỏi: “Nếu có người mua nhà thì ông có bán không?”. Chẳng ngần ngại, ông Túc bảo: “Mua nhà à, được giá bán luôn. Có người trả 200 triệu rồi nhưng tôi không bán, bây giờ hiếm gỗ nên giá đó chưa bán được”. Dứt lời, ông Túc giải thích thêm để chúng tôi hiểu rằng, hiện nay khách chỉ mua nhà cũ thì mới vận chuyển được, khi cơ quan chức năng kiểm tra thấy có mạng nhện bám vào, hoặc những mảng đen ám khói thì họ mới cho chuyển.
“Những nhà mới sau khi đục, đẽo rồi lắp thành khung, sau đó vận chuyển đi nơi khác bán là kiểm lâm bắt ngay. Ở mấy xã gần đây người ta đang dự trữ rất nhiều gỗ để làm nhà, tất nhiên là sẽ làm cho nó cũ đi, nếu được giá là họ bán đó”, ông Túc bày cách mua bán nhà.  Từ thông tin từ ông Túc cung cấp, chúng tôi được biết tại các xã Nam Cao, Nam Quang, Tân Việt, hầu như gia đìnhnào cũng để gỗ tại nhà, chủ yếu là gỗ nghiến, sấu, khi có người mua họ sẵn sàng bán ngay. Gỗ được xẻ thành cột nhà, xà, kèo, và rất nhiều ván.
Quan sát ven con đường liên xã của 3 xã nêu trên, hâu như nhà nào cũng có gỗ, nhà ít thì vài thanh, nhà nhiều lên đến cả chục mét khối. Không chỉ ở nhà dân mà ngay trước cửa trụ sở UBND xã Nam Quang, hàng trăm tấm ván gỗ thành phẩm cũng được xếp chồng lên nhau, phủ bạt kín để chờ “giờ đẹp” lên đường?
Từ thông tin mà chúng tôi có được, đi qua các xã Nam Quang, Tân Việt là xã Nam Cao, nơi đây được coi là “thủ phủ” nghiến của tỉnh Cao Bằng. Được biết tại xã này tình trạng phá rừng lấy gỗ vẫn thưởng xuyên diễn ra.
Cách thị trấn Pác Miầu khoảng 30km, dọc con đường vào xã Nam Cao, chúng tôi bắt gặp cảnh gỗ dạng ván, cột vuông được bày bán công khai ven đường hoặc chất đống để bán như người dân bày bán mớ rau ở chợ.
Theo giới thiệu của người dân địa phương, chúng tôi vào khu chợ của gia đình ông Đặng Văn Nam ở thôn Tông Phượng, xã Nam Cao. Ông Nam và vợ (bà Đặng Thị Diệt) có con trai tên Tá, là trưởng thôn. Qua tìm hiểu được biết, ông Nam là một trong những đối tượng thu mua, buôn bán gỗ khét tiếng ở xã Nam Cao này. Chẳng thế mà trong ngôi nhà gỗ của ông Nam, rộng 4 gian, gỗ được bày khắp trong nhà, ngoài hiên, thậm chí là ngoài sân đâu cũng là gỗ nghiến, gỗ đã được xẻ thành ván, cột nhà, sập, và khuôn bao cửa. Ước tính số lượng gỗ tại nhà ông Nam lên đến cả trăm mét khối.
Chúng tôi vừa quan sát, vừa ghi hình hai gian nhà làm kho chứa gỗ, một gian để gỗ dạng sập, một gian để khuôn bao cửa với số lượng lên đến vài trăm thanh, nhìn bên ngoài không thể biết được bên trong nhà là một kho gỗ lớn, chỉ khi đưa máy quay qua khe cửa thì những gì bên trong mới hiển hiện qua màn hình.
Trước cửa nhà ông Nam là một khu chợ được dựng toàn bằng gỗ, qua trao đổi với bà Diệt, chúng tôi được biết, gia đình bà đã xây dựng khu chợ này với diện tích hàng nghìn mét vuông bằng gỗ, gồm khoảng 30 gian bán hàng cho những người buôn bán thuê đều được làm bằng gỗ, ván lát cũng bằng gỗ, dưới những tấm ván đó rất nhiều thanh gỗ dạng khuôn cửa, xiên nhà được xếp chồng chất lên nhau. Được biết, toàn bộ số gỗ khổng lồ trên đều thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Nam.
Những ngày ở xã Nam Cao, chúng tôi còn nắm bắt thông tin, hầu như tối thứ bảy, chủ nhật nào cũng có vài xe gỗ chở từ đây ra thị trấn Pác Miầu và việc vận chuyển gỗ lậu ra khỏi địa bàn… không hề khó.
Được biết, để qua mặt cơ quan chức năng, vào buổi chiều, các xe tải từ thị trấn Pác Miầu sẽ di chuyển vào xã Nam Cao chở gỗ ra thị trấn vào ban đêm. Con đường độc đạo để ra Pác Miầu phải qua cây cầu treo bắc qua sông Gâm ở đầu thị trấn.
Biết được thông tin đêm 31/5 sẽ có xe chở gỗ nhưng không biết họ chở ra vào thời gian nào, cả nhóm chúng tôi đã chia ra mỗi điểm một người để nắm tình hình, người thì ở trước Hạt kiểm lâm, người ở đầu cầu treo bắc qua sông Gâm, người thì ẩn mình trong nương ngô xanh tốt ven đường, mọi thông tin được chúng tôi liên hệ qua điện thoại.
Sau gần 4 giờ đồng hồ mai phục, đến khoảng 21 giờ, khi chúng tôi rủ nhau đi ăn tối thì bất ngờ phát hiện một xe tải 2,5 tấn chở gỗ dạng ván xuất hiện, quan sát từ xa trên xe có rất nhiều gỗ. Đến đầu cầu chiếc xe này dừng lại, ngay lập tức, 3 xe tải khác đã chờ sẵn trên quốc lộ 34 ở đầu cầu bên thị trấn. Tức thì, hàng chục thanh niên đã chờ sẵn ở quán nước đầu cầu nhanh chóng lên xe san gỗ sang các xe khác, vì cầu chỉ có thiết kế trọng tải 1,5 tấn.
Chứng kiến cảnh này, chúng tôi ngay lập tức báo cho ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm bằng điện thoại, ông này nghe máy và nói “sẽ cho người đến kiểm tra, xử lý ngay”. Tuy nhiên, khoảng 30 phút sau đó không hề có bóng dáng kiểm lâm đến kiểm tra, dù trụ sở Hạt cách đó chỉ khoảng 1km.
Sau khi san hạ tải xong số gỗ trên, hai xe tải leo dốc và quay trở lại xã Nam Cao, còn hai xe khác chất đầu gỗ qua cầu về thị trấn Pác Miầu. Điều đáng nói, xe gỗ qua cửa Hạt kiểm lâm nhưng không hề thấy ai kiểm tra, dù trước đó chúng tôi đã báo với lực lượng này.
Theo dõi hai xe tải, chúng tôi thấy gỗ được chở qua con đường dẫn thẳng lên UBND huyện Bảo Lâm rồi mất hút... Sáng hôm sau, chúng tôi quay trở lại nơi hai chiếc xe tải chở gỗ lên thị trấn thì chỉ con lại dấu vết của những bánh xe qua lại làm dập nát cỏ. Và, chiếc xe tải được chúng tôi ghi hình tối hôm trước đang đỗ tại một quán ăn gần đó, gỗ đã được chuyển ra khỏi xe.
Mất khá nhiều thời gian ở thị trấn Pác Miầu, chúng tôi biết thêm được thông tin từ một số người bán hàng cho biết, ở khu chợ hải sản tươi sống tại trung tâm Pác Miầu có một số đối tượng đang cất giấu gỗ ở đó.
Theo quan sát, trong khu chợ rộng hàng nghìn mét vuông với hàng trăm gian hàng nhưng số người bán hàng rất ít. Tại một góc chợ có một xưởng xẻ với rất nhiều gỗ nghiến dạng tròn và hộp, được cất giấu tại một trạm điện gần đó.
Không chỉ vậy, bên trong góc chợ còn nhiều tấm gỗ dạng sập dày khoảng 10cm, rộng 90cm, dài khoảng 2m đã được phủ bạt cẩn thận, quanh đó là nhiều ván gỗ và các thanh xếp chồng lên nhau.
Cách chợ hải sản tươi sống Pác Miầu không xa còn một xưởng đóng đồ gỗ mộc khác cũng đang cất giấu hàng chục mét khối gỗ dạng thớt và lục bình, ván gỗ cũng được che bạt xanh phủ kín cẩn thận. (Dân Sinh 30/6) đầu trang(
Trong vai khách tìm mua gỗ quý, PV Báo Giao thông được giới thiệu đến gặp “trùm” Dũng “viễn thông” ở huyện Bảo Lạc. “Trùm” Dũng khẳng định, muốn mua bao nhiêu, chủng loại gỗ gì cũng có và gỗ lậu được “bảo lãnh” an toàn.
Qua thông tin của V., chúng tôi về thôn Nà Đoỏng (xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc) tìm gặp Nông Văn Thông, một đầu nậu gỗ. Dẫn chúng tôi xuống dưới sàn nhà, Thông chỉ vào ba tấm gỗ gù hương lớn (rộng khoảng 60 cm, dài khoảng 90 cm), cho hay: “Mấy tấm này có người đặt mua rồi, hàng chưa bán anh để trong rừng”.
Đến thôn Cà Rằm, chúng tôi vượt qua nương ngô xanh rì, sau đó vượt tiếp khoảng 1 km đường rừng với những vách núi đá tai mèo sắc nhọn để vào được nơi có gốc cây gù hương mà Thông giới thiệu. Dọc đường đi, chúng tôi phát hiện khá nhiều gốc cây cổ thụ đã bị đốn hạ, cả cũ lẫn mới. Thông khoe, trước kia anh là một đầu nậu bán gỗ lớn ở Xuân Trường, nhưng cuối năm 2014, trong một lần “đánh quả lớn” đưa gỗ qua huyện Thông Nông để bán sang Trung Quốc, thì bị lực lượng kiểm lâm bắt toàn bộ lô hàng. “Bây giờ không có vốn nữa nên ai muốn mua thì phải đặt cọc tiền trước tôi mới gom được hàng”, Thông nói.
Gần một tiếng đồng hồ trong rừng, cuối cùng chúng tôi cũng tới nơi có gốc cây gù hương khổng lồ với đường kính lên tới gần 2 m đã bị chặt hạ từ rất lâu. Phần gốc cây nhô ra những mảng bừu lớn trông không khác gì một tảng đá, nhưng khi Thông vừa dùng dao chặt vào, phần bên trong hiện ra đỏ tươi, toát ra mùi thơm ngào ngạt.
Thông phát giá: “Trọn gói gốc này với giá 10 triệu. Các chú tự vào xẻ và mang đi. Còn nếu ngại xẻ thì trả thêm tiền tôi sẽ lo việc đó”.
Ra khỏi rừng, Thông mới thú nhận, anh ta chỉ đơn thuần là một “kênh” cung cấp gỗ cho một “trùm” đích thực, tên là Tô Chí Dũng, SN 1983, trú tại tổ dân phố số 7, thị trấn Bảo Lạc. Từ số điện thoại Thông cung cấp, chúng tôi liên lạc được với Dũng và có một cái hẹn tại một quán ăn trưa ở thị trấn Bảo Lạc.
Dũng giới thiệu hiện đang làm cán bộ kĩ thuật tại Đài TT-TH huyện Bảo Lạc và buôn gỗ chỉ là nghề “tay trái”. Dũng khẳng định, có thể cung cấp các loại gỗ quý như: Thông đỏ, nghiến, kháo, gù hương… với số lượng lớn và sẵn sàng “bao” luôn cả việc “làm luật” để xe gỗ an toàn đi ra khỏi địa bàn huyện. “Năm ngoái tôi chuyển cho khách ở TP Cao Bằng hai chuyến gỗ, mỗi chuyến hết 30 triệu đồng tiền làm luật. Số tiền này chia đều cho 5 cửa là 5 lực lượng khác nhau”, Dũng bật mí.
Theo lời Dũng, nếu vận chuyển gỗ về xuôi thì có một con đường khác là đi từ Bảo Lạc ra huyện Nguyên Bình, đến đoạn nhà nghỉ Phia Boóc rẽ phải sang thị trấn Nà Phặc (huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn) rồi cứ thế đi thẳng về xuôi, không cần qua TP Cao Bằng. Ngoài ra còn một con đường khác là qua huyện Bảo Lâm rồi rẽ sang huyện Bắc Mê (tỉnh Hà Giang) và đi tiếp. Trường hợp muốn đưa gỗ sang biên giới bán cho các đầu nậu ở Trung Quốc, xe gỗ bắt buộc phải đi theo các con đường mòn đến các cửa khẩu nhỏ.
Quảng bá xong món “luật lá”, Dũng đưa chúng tôi đến nhà một người quen tại xóm Thua Tổng, xã Xuân Trường, cách trung tâm huyện Bảo Lạc chừng 20 km để xem hàng. Dưới sàn nhà này có khoảng hơn 50 tấm gỗ kháo lớn được xẻ vuông vức, có tấm dày đến cả gang tay xếp chồng lên nhau. Tổng trọng lượng lô gỗ này khoảng gần 2 tấn. Cách đó không xa, một kho gỗ kháo, thông đỏ được Dũng cất giấu trong nhà một người dân. Tổng số kho gỗ này khoảng hơn một tấn.
Chúng tôi ngỏ ý muốn mua thêm các loại gỗ khác như: Nghiến, thông đỏ, gù hương…, Dũng nhận lời ngay và hứa sẽ đi gom khi nào đủ hàng thì sẽ liên hệ lại. (Giao Thông 30/6) đầu trang(
Hàng đêm, đặc biệt vào dịp cuối tuần, những chiếc ô tô tải chở gỗ lậu từ các xã đều đặn chạy qua thị trấn Pác Miầu để về các nơi tập kết. Chúng thản nhiên đi qua cổng trụ sở của lực lượng kiểm lâm huyện như qua chốn không người.
Nhận được nguồn tin sắp có ôtô chở gỗ lậu ra thị trấn Pác Miầu, chúng tôi lập tức lên phương án mật phục tại một quán nước ngay đầu cầu treo bắc qua sông Gâm nối liền thị trấn Pác Miầu và các xã bên kia sông. Chắc chắn những chiếc xe chở gỗ muốn vào thị trấn Pác Miầu đều phải qua cây cầu này.
Khoảng hơn 21h, từ phía đầu cầu bên này sông, một người phụ nữ đi xe máy xuất hiện tháo thanh sắt hạn chế chiều cao phương tiện chắn ngang thành cầu để ô tô đi qua. Vài phút sau, ôtô tải loại 2,5 tấn mang BKS: 11C - xxx.77 chậm rãi bò qua cầu. Trên thùng xe chứa đầy những hộp gỗ đã được xẻ vuông vức, dài gần hết chiều dài thùng xe. Chiếc ôtô thản nhiên chạy qua trước cổng trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm về hướng trung tâm thị trấn.
21h40, từ phía thị trấn, ba chiếc ôtô tải loại 2,5 tấn từ từ bò qua rồi tập kết ngay đầu cầu. Khoảng 10 phút sau, một chiếc ôtô tải chất đầy gỗ chậm rãi đi tới, chuyển gỗ sang xe tải nhỏ. Dưới ánh đèn pin sáng loáng, gần chục người đàn ông miệt mài bốc chuyển gỗ, tiếng nói chuyện và tiếng những thanh gỗ va vào thùng xe sôi động không khác gì một công trường.
Chúng tôi vội cầm điện thoại gọi cho ông Đặng Văn Cận, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm thông báo về việc có các đối tượng chở gỗ lậu đang
một người đàn ông nghe máy, khẳng định sẽ cho người sang kiểm tra ngay. Tuy nhiên, gần một giờ đồng hồ chờ đợi, chúng tôi vẫn không thấy bóng dáng của bất cứ cán bộ kiểm lâm nào.
Đến 22h40, khi đã chuyển gỗ xong, hai chiếc ô tô tải loại 2,5 tấn mang BKS: 11C - xxx.83 và 11K - xx50 rồ ga bò qua cầu, trên hai thùng xe chở đầy những hộp gỗ và miếng gỗ dạng thớt. Hai xe thản nhiên đi qua cổng trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm, rẽ vào đường đi lên trụ sở UBND huyện Bảo Lâm rồi mất hút trong màn đêm.
Để làm rõ động thái bất thường của lực lượng kiểm lâm vào đêm hôm trước, PV Báo Giao thông có buổi làm việc với ông Đặng Văn Cận. Ông Cận thừa nhận, đêm hôm trước có nhận được điện thoại báo về xe chở gỗ lậu, nhưng cứ nghĩ là tin giả mạo. “Nhiều người dùng số sim rác để “làm khổ” lực lượng kiểm lâm rồi”, ông Cận nói.
Khi chúng tôi cho xem số điện thoại và lịch sử cuộc gọi từ điện thoại của chúng tôi, ông Cận lại nói rằng, có cho anh em đi kiểm tra nhưng không thấy gì (?!).
Đến khi chúng tôi đưa ra bằng chứng được ghi lại đầy đủ bằng hình ảnh, vị Hạt trưởng lúng túng lý giải, sở dĩ biết mà không xử lý được, vì xe gỗ đó là của một số cán bộ lấy về làm nhà, họ đã “có lời” trước. “Đây là vấn đề tế nhị, ở miền núi trên này, các cán bộ, công chức lấy gỗ về làm nhà không cần giấy tờ”, ông Cận nói.
Về tình trạng chặt phá rừng trái phép trên địa bàn, ông Cận thừa nhận vẫn liên tục xảy ra, nhưng đối tượng phá rừng chủ yếu là người địa phương. Trong khi đó, việc phối hợp của chính quyền các xã với lực lượng kiểm lâm hiện vẫn chưa đạt. “Nhiều lần chúng tôi đề nghị xã phối hợp nhưng họ không thực hiện. Có lần tại xã Vĩnh Long, chúng tôi nhận được tin báo có xe vận chuyển 20 khúc gỗ thông trắng, tôi gọi cho Chủ tịch UBND huyện, Công an huyện cử người hỗ trợ nhưng không có ai ra hỗ trợ”, ông Cận cho hay. (Giao Thông 1/7) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm nay, huyện Ba Bể đã xảy ra 7 vụ cháy rừng, tăng 5 vụ so với năm 2014.
Trong 6 tháng đầu năm, huyện Ba Bể xảy ra 07 vụ cháy trên đất lâm nghiệp với diện tích gần 17 ha.  Riêng các tháng mùa khô, trên địa bàn huyện xảy ra 02 vụ cháy rừng trên đất lâm nghiệp và đất có rừng, diện tích bị cháy 6,4ha; cháy trên diện tích đất  quy hoạch cho lâm nghiệp rừng trồng xảy ra 3 vụ , diện tích là 6ha. Ngay khi phát hiện đám cháy,  người dân đã kịp thời thông tin, huy động lực lượng chữa cháy kịp thời nên không xảy ra thiệt hại về rừng, diện tích cháy chủ yếu là cây lau lách. (Đài PTTH Bắc Cạn 1/7) đầu trang(
Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà-Núi Chúa (thành phố Đà Nẵng) nằm giữa 2 miền Bắc - Nam (qua đèo Hải Vân), cùng với rừng Quảng Nam tạo thành dãy rừng xanh độc nhất trải từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào; đồng thời là nơi giao lưu giữa hai khu hệ động vật Bắc và Nam Trường Sơn. Tổng diện 8.838 ha, trong đó có 5.936 ha rừng tự nhiên, 966 ha rừng trồng. Nhiệt độ trung bình năm 18,30 C.
Từ trước 1943 R.Bourret, người Pháp đã nghiên cứu về Lưỡng cư, Bò sát (LCBS) ở Bà Nà-Núi Chúa (BNNC); tới năm 2000 được các nhà khoa học Việt Nam như Lê Vũ Khôi, Nguyễn Văn Sáng, Đinh Thị Phương Anh… tiếp tục thực hiện. Năm 2009 thống kê được 92 loài, gồm 31 loài Lưỡng cư và 61 loài Bò sát. Cuối năm 2014 dựa vào kết quả điều tra khảo sát tại hiện trường, phân tích số mẫu thu được ở BNNC và tổng quan tài liệu, Phạm Hồng Thái đã xác định được 157 loài thuộc 25 họ, 4 bộ.
Về độ đa dạng: Có 52 loài lưỡng cư thuộc 27 giống, 8 họ, 2 bộ và 105 loài bò sát thuộc 67 giống, 17 họ, 2 bộ; tổng số loài chiếm 25% số loài LCBS đã biết của cả nước. Bộ Có vảy với 13 họ, họ Rắn nước với 26 giống, giống Ếch cây với 6 loài đa dạng hơn các bộ, các họ và các giống khác. Đã bổ sung cho danh lục trước đó 65 loài, gồm 19 loài ếch nhái, 28 loài thằn lằn, 13 loài rắn và 5 loài rùa.
Tuy nhiên đây chưa phải là số liệu đầy đủ, vì nhiều loài LCBS có kích thước nhỏ, lẩn tránh nhanh; chúng thường ở trong hang hốc, hoặc trong nước hay trên tán cây; một số loài phân bố hẹp, hoạt động đêm… rất khó phát hiện; ngay cả khi nhìn thấy chúng cũng không dễ xác định được tên loài hoặc thu được mẫu.
So với các khu Bảo tồn thiên nhiên lân cận như Sơn Trà, Sông Thanh, Ngọc Linh, Kon Ka Kinh và các vườn Quốc gia: Ba Vì, Cúc Phương, Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Bạch Mã thì số loài ở BNNC nhiều hơn; chỉ kém vườn Quốc gia Tam Đảo.
Phân bố: Ở sinh cảnh rừng kín thường xanh ít bị tác động có số loài nhiều nhất, tiếp đến là sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi, gồm rừng cây gỗ xen lẫn tre nứa đã bị khai thác một phần; rồi đến sinh cảnh cây bụi - trảng cỏ còn mang yếu tố tự nhiên, tuy chịu tác động của con người nhiều hơn 2 sinh cảnh trên. Ít loài nhất là khu dân cư - đất nông nghiệp do hoạt động canh tác thường xuyên của người dân địa phương, gồm cả rừng trồng bạch đàn, keo tai tượng, keo lá tràm và đất trồng cây ăn quả, cây lương thực - thực phẩm.
Số loài gặp ở độ cao từ 300 đến 1000m nhiều hơn số loài gặp ở dưới 300m hoặc ở trên 1000m; số loài gặp ở mặt đất nhiều hơn gặp ở trên cây hoặc ở trong nước. Một số loài gặp ở 2 hoặc nhiều loại sinh cảnh như: ếch cây mi-an-ma, nhông xanh, rắn roi, rắn rào đốm; ở cả 3 độ cao: ếch suối, ếch cây mi-an-ma, rắn roi, rắn lục mép trắng. Số loài gặp cả dưới nước và trên mặt đất: ngóe, ếch đồng, rắn nước, rắn bồng chì, rắn cạp nong; ở cả mặt đất và trên cây: chẫu, ếch cây ki-ô, ô rô vảy, nhông xanh, liu điu chỉ, thằn lằn bóng, rắn roi, rắn leo.
Về giá trị bảo tồn: Có 33 loài, trong đó 19 loài theo Sách Đỏ Việt Nam, 2007 ở những cấp độ khác nhau, ví dụ: rất nguy cấp (cóc mày gai mí, trăn, rắn hổ chúa), nguy cấp (ếch gai, kỳ đà hoa, rắn ráo, rắn hổ mang, rùa đầu to), sẽ nguy cấp (tắc kè, rồng đất, rắn sọc dưa). Trong Nghị định 32/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có 9 loài; thuộc nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) có rắn hổ chúa; nhóm IIB: kỳ đà hoa, trăn đất, trăn gấm, rắn sọc dưa, rắn cạp nia nam, rắn cạp nong, rùa đầu to, rùa núi viền. Trong Danh lục Đỏ thế giới (IUCN), 2014 có 20 loài, gồm: cóc màng nhĩ ẩn, ếch gai, ếch cây hê-len, ếch cây trung bộ, trăn đất, rùa sa nhân, rùa cổ sọc, rùa hộp lưng đen, rùa núi viền, ba ba gai…
Ngoài sự phong phú về số loài, BNNC có 19 loài (12,10%) chưa gặp ở các nước khác trên thế giới, thường được coi là loài đặc hữu của Việt Nam như: cóc mày đốm, cóc mày bi-đúp, ếch bám đá gai ngực, ếch cây hê-len, liu điu xanh, thằn lằn bóng sa pa, thằn lằn chân ngắn bô-me, rắn khiếm cát tiên…; trong đó có 1 loài mới được phát hiện cho Việt Nam và cho khoa học năm 2014: loài thạch sùng nửa lá bà nà (Hemiphyllodactylus banaensis) và 1 loài thuộc giống Cyrtodactylus chưa xác định được tên khoa học.
Ngoài tự nhiên, LCBS là một thành phần trong các hệ sinh thái, nhất là ở các nước nhiệt đới như nước ta. Một mặt chúng là con mồi của nhiều loài thú, chim, cá, nhiều động vật khác và ngay cả các loài LCBS. Mặt khác chúng lại ăn những động vật, chủ yếu là côn trùng, kể cả những loài gây hại cho người như chuột, ruồi, muỗi, rầy, rệp…Trong tương quan đó, chúng đã góp phần tạo nên thế cân bằng sinh học, làm cho môi trường ổn định, trong lành; giúp người tiêu diệt một phần sâu hại cây trồng, hạn chế bệnh tật.
LCBS là động vật có xương sống bậc thấp, biến nhiệt; sống phụ thuộc nhiều vào các yếu tố của môi trường như nhiệt độ, độ ẩm. Đa số các loài ếch nhái không sống được những nơi khô nóng, nhưng lại có trứng và nòng nọc phát triển từ 50 đến 70 ngày tùy từng loài trong nước các ao hồ, sông suối; chúng rất mẫn cảm và phản ứng rõ rệt với sự thay đổi chất lượng của nguồn nước, nên được coi là vật chỉ thị của môi trường.
Nhiều loài được dùng làm thực phẩm: ếch đồng, ngóe, ếch nhẽo, ếch gai, ếch gai sần, chẫu, chàng an-đec-sơn; được dùng để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe: tắc kè, trăn và một số loài rắn (hổ mang, cạp nong, cạp nia, rắn ráo, rắn săn chuột), cóc nhà làm thuốc chữa còi xương; ếch đồng được sử dụng trong phòng thí nghiệm; vài loài nhái bầu, ếch cây có màu sắc, hình dáng đẹp có thể nuôi làm cảnh.
Cũng như ở các khu rừng khác trong nước, LCBS ở đây đang suy giảm về số lượng cá thể do nhiều nguyên nhân. Trước hết là các loài có giá trị vẫn bị săn bắt để sử dụng trong gia đình, trong cộng đồng hoặc bán ra nước ngoài như: tắc kè, rồng đất, kỳ đà, trăn, rắn hổ mang, rắn cạp nong, rùa núi viền, rùa đầu to. Diện tích rừng tự nhiên ngày càng hẹp do chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển khu du lịch, nhà nghỉ, làm đường, mở rộng đất nông nghiệp, khu dân cư. Môi trường ngày càng bất lợi cho động vật do rác thải, nước thải chưa được xử lý, việc sử dụng thuốc trừ sâu. Thói quen từ lâu sống dựa vào tài nguyên rừng của người địa phương. Việc quản lý động vật rừng chưa được như mong muốn…
Để bảo vệ nguồn tài nguyên động vật hoang dã nói chung, chúng ta đã thực hiện nhiều giải pháp như: giao đất giao rừng nhằm ổn định đời sống lâu dài; nâng cao nhận thức cho người dân; mở các lớp tập huấn cho cơ quan chức năng và lực lượng kiểm lâm, đưa vào chương trình giảng dạy cho học sinh các cấp; tăng cường quản lý động vật hoang dã với sự tham gia của cộng đồng; xử lý những người vi phạm tài nguyên rừng.
Với LCBS cần chú ý đến những nơi chúng sống, sinh sản như các khu vực còn rừng tự nhiên, rừng kín thường xanh, đặc biệt là rừng nguyên sinh ít bị tác động nằm trong các thung lũng, dọc theo các sườn dốc hiểm trở, các khe suối, các vực nước; tuy nhiên không nhất thiết chỉ là nơi có diện tích rộng lớn, vì cự ly hoạt động của nhiều loài LCBS không xa như chim, thú. Ưu tiên bảo vệ, không săn bắt những loài đang bị suy giảm nhanh như: rắn hổ chúa, trăn, kỳ đà, rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn ráo, ba ba gai và các loài rùa. (Đảng Cộng Sản VN 1/7) đầu trang(
Phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ để đồng bào dân tộc ít người tham gia là một trong những biện pháp giúp ổn định cuộc sống cho người dân và bảo vệ rừng một cách bền vững. Biện pháp này đã được triển khai từ nhiều năm qua đưa lại thu nhập đáng kể cho đồng bào nhờ thực hiện được sinh kế bền vững. Trồng mây là một trong những lâm sản ngoài gỗ được đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi quan tâm thực hiện và đã mang lại hiệu quả khá.
Để đảm bảo cho người dân có thể sống dựa vào rừng mà không phá rừng, từng bước thay đổi tập quán canh tác của đồng bào dân tộc trước đây, gần 10 năm qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị vừa triển khai khoán rừng cho người dân bảo vệ, chăm sóc, vừa tổ chức, hướng dẫn cho người dân sản xuất dưới tán rừng bằng các loài cây phù hợp như mây, các cây dược liệu... giúp người dân tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống và bảo vệ rừng.
Nhờ đó, các cánh rừng trước đây từng bị tàn phá nay đã được hồi sinh. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động được chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm thường xuyên thực hiện, người dân đã thực sự hiểu rõ những lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của việc bảo vệ rừng nên họ rất tích cực giữ rừng và phát triển kinh tế gắn với rừng.
Thôn Hà Vụng, xã Ba Lòng và bản Cợp, xã Húc Nghì, huyện Đakrông được Chi cục Kiểm lâm tỉnh chọn triển khai dự án trồng mây dưới tán rừng với tổng cộng 13 hộ tham gia trồng 21 ha mây, trong đó thôn Hà Vụng có 5 hộ trồng 5 ha và thôn Cợp có 8 hộ trồng 16 ha. Dự án trồng mây được triển khai khá bài bản từ việc cho người dân tham quan mô hình học tập kinh nghiệm ở tỉnh bạn đến hướng dẫn kỹ thuật canh tác mây như ươm giống, làm đất, trồng, chăm sóc... Giống mây được trồng là mây nếp.
Đối với đồng bào dân tộc, hình thức cầm tay chỉ việc là biện pháp tốt nhất để người dân hiểu được cách trồng cây mây như thế nào nên cán bộ kiểm lâm đã phối hợp với cán bộ nông nghiệp huyện Đakrông bám sát địa bàn, hướng dẫn tận tình cho người dân. Đồng bào càng hăng hái tham gia khi có dự án hỗ trợ phân bón, cây giống, dụng cụ sản xuất.
Nhờ canh tác dưới tán rừng là vùng có điều kiện sống phù hợp với cây mây nên chỉ sau khi trồng một thời gian ngắn, mây phát triển nhanh, ít tốn công chăm sóc và chi phí đầu tư thấp, khoảng 0,7 triệu đồng/ha (chỉ đầu tư vào lúc trồng). Sau 4 năm, cây mây bắt đầu cho thu hoạch. Hiện nay trên thị trường, sản phẩm mây bán được giá và lượng tiêu thụ tương đối nhiều nên bình quân 1 ha mây cho thu nhập 13- 16 triệu đồng/năm. Đây là khoản thu nhập không nhỏ đối với đồng bào dân tộc bởi trồng mây ít rủi ro hơn nhiều so với trồng lúa rẫy. Không những thế, cây mây còn tạo nhiều tầng tán trong rừng tạo nên quần thể cây sống cùng nhau hỗ trợ nhau phát triển, nâng cao độ che phủ rừng.  Từ hiệu quả của dự án trồng mây dưới tán rừng năm 2008, đến năm 2012 cho thu hoạch, nhiều hộ đồng bào dân tộc tại các thôn có dự án và các thôn không có dự án ở trong xã và các xã Hướng Hiệp, Ba Nang, A Ngo... cũng nhân rộng mô hình trồng mây. Đến nay, bản Cợp đã có 51 hộ dân tham gia trồng được 66 ha mây đang phát triển xanh tốt.
Gia đình anh Hồ Văn Thông ở bản Cợp, xã Húc Nghì trồng hơn 1 ha mây đã được 3 năm nay, anh cùng với tổ bảo vệ rừng của thôn kết hợp tuần tra bảo vệ rừng với chăm sóc rừng mây. Dưới tán rừng già, rừng mây của gia đình anh lên xanh tốt, không lâu nữa sẽ mang lại cho gia đình anh một nguồn thu khá. Đối với gia đình anh Thông cũng như bà con nơi đây đã hiểu được rất rõ lợi ích từ việc trồng mây dưới tán rừng để cùng chăm sóc và bảo vệ rừng. Nơi đây đã không còn cảnh phá rừng làm rẫy, không còn khai thác rừng bừa bãi.
Mô hình trồng mây dưới tán rừng đã mang lại lợi ích thiết thực cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nguồn thu nhập từ mây không chỉ giúp người dân nâng cao đời sống mà còn làm thay đổi cơ bản nhận thức của họ về trách nhiệm phải giữ rừng, sống dựa vào rừng mới phát triển bền vững. (Báo Quảng Trị 2/7) đầu trang(
Tin từ Đội CSGT số 15, Phòng CSGT Công an TP Hà Nội cho biết, đơn vị đã bắt giữ một ô tô chở gỗ lậu mang BKS công vụ màu xanh, 34B - 0729, nghi là biển giả.
Cụ thể, vào khoảng 2h30 sáng 30/6, tổ công tác do Trung tá Trịnh Khắc Lưỡng chỉ huy cùng Thượng úy Mai Hùng Anh, Thiếu úy Nguyễn Văn Tài làm nhiệm vụ tuần tra trên tuyến QL18, phát hiện chiếc xe nói trên có dấu hiệu nghi vấn nên ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra. Tuy nhiên, tài xế đã không chấp hành mà tăng ga bỏ chạy.
Tổ công tác đã tổ chức truy đuổi chiếc xe. Sau khi bỏ chạy khoảng 1 km, xe ô tô 12 chỗ này bất ngờ quay đầu, lưu thông theo chiều ngược lại để bỏ trốn. Đồng thời, một phụ nữ trên xe xuống đường cản trở tổ công tác. Trước tình hình trên, tổ công tác đã khống chế người phụ nữ và tiếp tục truy đuổi chiếc xe vi phạm. Khi chạy đến gần ngã tư Võ Văn Kiệt - QL2, địa phận huyện Sóc Sơn, tài xế bỏ xe lại bên lề đường và chạy trốn. Ngay sau đó, tổ công tác đã đưa chiếc xe và người phụ nữ nói trên về Công an huyện Sóc Sơn để làm rõ.
Qua kiểm tra, cảnh sát phát hiện trên xe có hơn 3 m3 gỗ chưa rõ nguồn gốc, chủng loại. Ngoài ra, trên xe còn có một đèn báo tín hiệu dành cho xe ưu tiên và một BKS 29V - 8127. Tại cơ quan công an, bước đầu, người phụ nữ khai tên là Hoàng Thị Thúy (SN 1963, ở Nam Định). (Giao Thông 1/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong sáu tháng đầu năm 2015, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 85,3 nghìn ha, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 2,4 ngàn ha, giảm 47,4% so với cùng kỳ năm trước (do mức khoán thấp đã gây khó khăn trong công tác triển khai 8 trồng rừng phòng hộ, đặc dụng).
Trồng mới rừng sản xuất đạt 82,9 ngàn ha, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt 4.810,2 ngàn ha, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng gỗ khai thác: Ước đạt 3.470 nghìn m3 , tăng 32,6% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, tại các tỉnh miền Bắc có mưa khá và nhu cầu gỗ tăng đã thúc đẩy người dân trồng rừng mới. Các địa phương đã bước vào giai đoạn trồng rừng chính vụ. Đến ngày 20/6, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 85.200 ha rừng, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Đồng bằng sông Hồng có tiến độ trồng rừng nhanh nhất đạt 11.526 ha ( tăng 40,9%), Trung du và miền núi phía Bắc trồng đạt 62.394 ha, tăng 36,1%, Bắc Trung Bộ trồng đạt 11.281ha, giảm 13,2% so với cùng kỳ năm trước. Những tỉnh có diện tích trồng rừng nhiều và tiến độ nhanh hơn so với cùng kỳ năm trước là Hà Giang đạt 14.605,2 ha (tăng 724,2%), Quảng Ninh đạt 10.720 ha (tăng 41,5%), Tuyên Quang đạt 10.496 ha (tăng 55,6%).
Bên cạnh công tác trồng rừng tập trung, các địa phương tiếp tục gieo ươm và chăm sóc cây giống, trồng cây phân tán, giao khoán bảo vệ và tiến hành chăm sóc diện tích rừng trồng các năm trước.
Còn các tỉnh miền Nam bắt đầu triển khai công tác trồng rừng. Đến ngày 20/6, các địa phương trồng đạt 146,9 ha.Trong đó Đồng Nai trồng đạt 145 ha, Tây Ninh trồng đạt 1,9 ha. Bên cạnh công việc trồng rừng, các địa phương tiếp tục chuẩn bị hiện trường, thiết kế kỹ thuật trồng rừng năm 2015. Bên cạnh đó các địa phương tiếp tục thực hiện giao khoán bảo vệ rừng, thực hiện khoanh nuôi tái sinh và chăm sóc rừng trồng 2014 và thực hiện gieo ươm và chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng và trồng cây phân tán năm 2015. (Đảng Cộng Sản VN 1/7) đầu trang(
Trả lời chất vấn tại diễn đàn Quốc hội mới đây, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát quan ngại, làm mắc-ca nhưng có bán được không, nên phải thận trọng.
Quan ngại đó đặt ra sau khi bộ chuyên trách đã mất tới gần 20 năm nghiên cứu mà chưa rõ về đầu ra của mắc-ca, trong bối cảnh hành tím, hành tây, dưa hấu, cao su... vẫn đang ế ẩm.
Cũng tại phiên chất vấn trên, Bộ trưởng Phát tiếp tục kêu gọi và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, lý do là lực lượng này còn quá mỏng...
Trong khi đó, về phía doanh nghiệp, dù đến giờ vẫn chưa được bộ chuyên trách “trải thảm đỏ” khi đầu tư vào nông nghiệp, cụ thể là cây mắc-ca, nhưng họ đang tiếp tục tự làm các bước chuẩn bị cho đề án phát triển mắc-ca của mình.
Họ tự đi tìm câu hỏi thị trường đang ở đâu. Kết quả cuộc khảo sát thực tế của hai nhà đầu tư Him Lam và LienVietPostBank vừa thực hiện giúp định hình câu trả lời từ Úc, quê hương và quốc gia phát triển mạnh nhất về mắc-ca.
Ở Úc, du khách dễ dàng bắt gặp các sản phẩm chế biến từ mắc-ca trong giỏ tiện dụng phòng khách sạn, trên kệ quầy hàng tại sân bay, trong khay suất ăn nhanh điểm dừng chân ven đường, trong tủ lạnh siêu thị, cửa hàng mỹ phẩm…
Nhưng lại rất khó để tìm những sản phẩm dầu ăn và tinh dầu cao cấp, hoặc nhân mắc-ca “cỡ bự” vì giá quá cao và các nhà sản xuất chỉ tập trung xuất khẩu sang thị trường Mỹ và Trung Đông.
Trong tổng sản lượng gần 45.000 tấn những năm gần đây, lượng chế biến để tiêu thụ nội địa chỉ chiếm 35%, còn lại chủ yếu xuất khẩu sang châu Á với 40%, Mỹ 10% và châu Âu 14%, theo thống kê của Hiệp hội Mắc-ca Úc.
Cũng theo hiệp hội này, thống kê những năm gần đây cho thấy, chỉ riêng 5 thị trường lớn là Úc, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã tiêu thụ tới khoảng 75% tổng sản lượng mắc-ca toàn thế giới. Còn lại hơn 190 quốc gia vẫn là những thị trường chưa thực sự được khai phá.
Theo lý giải của các nhà sản xuất tại Úc mà VnEconomy tìm hiểu, hiện họ không có đủ hàng để bán tới hơn 190 quốc gia còn lại đó.
Cũng có một lý do khác khiến sản phẩm mắc-ca chưa phủ đến khoảng trống rộng lớn, đó là yếu tố vênh giá với sức mua. Như hiện nay các sản phẩm của Úc chưa thực sự đến với người tiêu dùng đại chúng tại Việt Nam, bởi lẽ không nhiều người sẵn sàng thường xuyên trả khoảng 350.000 đồng (giá gốc) cho một chai dầu ăn chỉ 250 ml loại cao cấp, hay khoảng 20.000 đồng cho một hộp sữa mắc-ca nhỏ…
Còn giá nguyên liệu, theo thống kê của Hiệp hội Mắc-ca Úc, trong 5 năm trở lại đây giá giữ mức tăng, hiện ở mức 3,5 AUD/kg quả mắc-ca tươi (một AUD - tức đô la Úc - tương đương 17.000 đồng Việt Nam).
Riêng một số loại có tỷ lệ nhân lớn (lên tới 43-45%), chất lượng cao, nhà sản xuất sẵn sàng trả tới 7 AUD/kg quả mắc-ca tươi, mà sản phẩm hạt sau khi tách vỏ và qua chế biến sẽ chủ yếu dành riêng cho thị trường Trung Đông.
Có một điểm tưởng như mâu thuẫn: vì sao Úc gần như không tăng được sản lượng trong suốt 10 năm qua, không mở rộng nhanh diện tích trồng mắc-ca, sau khi đã phát triển sản phẩm đa dạng và không đủ hàng để bán, hơn 190 quốc gia còn chưa phủ đến? Ông Jolyon Burnett, Chủ tịch Hiệp hội Mắc-ca Úc đưa ra nhiều lý giải, tựu trung 6 nguyên do chính.
Thứ nhất, trong quá khứ, khi mắc-ca vẫn còn khá lạ với chính người Úc, giá bán thấp khiến các chủ vườn không đủ sức hoặc hạn chế tái đầu tư cho vườn nguyên liệu để tăng sản lượng. Điểm này được ông Jolyon Burnett so sánh với thực tế đang lặp lại trong khó khăn tái canh cây cà phê tại Việt Nam.
Thứ hai, phải sau vài chục năm nhiều chủ vườn mới nhận ra, khi cây mắc-ca nhiều tuổi và vươn rộng tán, việc quản lý trở nên khó khăn hơn. Ví như, khi cây quá lớn, tán che kín, ánh sáng bị hạn chế đã ảnh hưởng đến sản lượng; tương tự là tình trạng xói mòn đất, biến đổi khí hậu dẫn đến mưa bão nhiều tại một số vùng.
Thứ ba, là cây bản địa nhưng mắc-ca chỉ phù hợp ở một số vùng của Úc, theo đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng. Ông Jolyon cho biết thêm, cũng có những vùng có thể trồng, nhưng hiện không thể mở rộng do hạn chế về hạ tầng, khiến việc đầu tư khó khăn hoặc phải đội chi phí rất cao.
Thứ tư, như tại Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Mắc-ca Úc cho hay, Úc cũng gặp phải khó khăn khi lực lượng doanh nghiệp, nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế. “Chúng tôi gặp vấn đề mang tính thế hệ. Càng về sau, giới trẻ, doanh nhân trẻ không có nhiều ham muốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có mắc-ca”, ông cho biết, khi dẫn nhiều lĩnh vực thương mại, đầu tư khác hấp dẫn họ hơn.
Thứ năm, chi phí để làm mắc-ca tại Úc quá tốn kém trong khi thời gian thu hồi vốn có thể lên tới 30 năm, chủ yếu do giá nhân công tại quốc gia phát triển này rất cao. Điều này, cùng với nguyên nhân thứ tư, khiến dòng vốn vào đây hạn chế.
Khảo sát tại các nhà máy vùng Queensland, New South Wales, chi phí nhân công bình quân cho một lao động trong xưởng có từ 4.000 - 6.000 AUD/tháng; 12 - 15 AUD/giờ cho một lao động mùa vụ. Hay tại Pacific Gold Macadamia, nhà máy chế biến mắc-ca có tổng đầu tư khoảng 12 triệu AUD, thì riêng chi phí đất đai đã chiếm tới khoảng 8 triệu AUD…
So sánh 5 nguyên nhân trên, có những điểm Việt Nam có lợi thế lớn để phát triển mắc-ca. Đặc biệt, chi phí đất đai và nhân công thấp hơn rất nhiều là lợi thế lớn để Việt Nam cạnh tranh giá sản phẩm, mở thị trường và tạo thị phần.
Qua chuyến khảo sát trên và sau khi chính thức trở thành hội viên Hiệp hội Mắc-ca Úc, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng LienVietPostBank đánh giá rằng, việc đầu tư công nghệ chế biến hiện đại như các nhà máy điển hình tại Úc là hoàn toàn nằm trong tầm tay.
“Chắc chắn chúng tôi sẽ đầu tư xây dựng được những hệ thống như vậy để tạo sản phẩm nhiều giá trị gia tăng, chứ không xuất thô. Thậm chí tôi tin sắp tới sẽ có các liên doanh với đối tác Úc để đầu tư và trực tiếp làm mắc-ca tại Việt Nam. Về chất lượng sản phẩm, chúng ta sẽ cạnh tranh được, thậm chí thuận lợi hơn về chi phí đầu tư và lao động”, ông Hưởng dự tính.
Tuy nhiên, tiến độ triển khai đề án phát triển mắc-ca tại Tây Nguyên của công ty Him Lam và LienVietPostBank còn nhiều trở ngại. Như ở điểm khởi đầu cốt lõi, nhiều khả năng việc nhập khẩu giống về để chuẩn hóa gốc của dự án khó thực hiện được trong năm nay, do sẽ phải qua được “cửa” Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét… Về tiến độ đó, Phó chủ tịch LienVietPostBank giải thích rằng: “Chúng tôi muốn đầu tư vào nông nghiệp, chủ động nguồn vốn, có cơ chế bảo đảm bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm rủi ro cho các hộ dân tham gia, hỗ trợ lãi suất và chi phí giống, chủ động xây dựng nhà máy và công nghệ chế biến, tự làm công tác thị trường và tự chịu mọi trách nhiệm… Nhưng có nhiều trở ngại, thậm chí cản trở không hẳn nằm ở vấn đề thị trường, chứ chưa nói đến việc có “thảm đỏ” hay không”. (VnEconomy 28/6) đầu trang(
Chiều ngày 30.6, huyện Yên Minh tổ chức Hội nghị tổng kết Dự án bảo vệ và phát triển rừng, giai đoạn 2008 – 2015. Dự Hội nghị lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT.
Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng được triển khai thực hiện trên địa bàn toàn huyện Yên Minh với tổng diện tích tự nhiên 78.365,2 ha. Trong đó, diện tích quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp là 53.655,9 ha. Từ năm 2008 – 2015, huyện đã tiến hành giao khoán quản lý, bảo vệ rừng được 22.186,8 ha; diện tích giao khoán khoanh nuôi phục hồi là 8.618 ha; chỉ đạo nhân dân trồng được 6.707,3 ha rừng, đạt 179,1 % KH của dự án; nâng độ che phủ rừng của toàn huyện từ 31,2 % (năm 2008) lên 35,1 % (năm 2014).
Đối với chương trình bếp đun cải tiến; huyện đã thực hiện được 8.134 bếp, đạt 101,9 % KH. Tổ chức cấp phát gạo cho các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng sản xuất là 3.293,379 tấn gạo. Quá trình triển khai thực hiện dự án đã thu hút trên 13.000 hộ gia đình tham gia vào thực hiện các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, góp phần tạo thêm việc làm, có thu nhập cho trên 11.000 lao động. Bình quân mỗi hộ gia đình tham gia thực hiện dự án nhận được 511.500 đồng/hộ/năm…
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Dự án vẫn còn tồn tại một số hạn chế; một số chỉ tiêu của Dự án chưa được triển khai thực hiện như: Làm bể nước cho hộ dân, đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ; việc xác định cơ cấu loài cây trồng phục cho việc trồng rừng sản xuất chưa hợp lý; việc giao chỉ tiêu trồng rừng sản xuất không theo kế hoạch của Dự án đề ra; giao kế hoạch tập trung vào những năm đầu của Dự án, khối lượng thực hiện nhiều nên đã làm ảnh hưởng đến quá trình gieo ươm, chuẩn bị cây giống; 1 số diện tích rừng trồng không đảm bảo, đạt yêu cầu; tiến độ trồng rừng còn chậm so với quy định...
Nhân dịp này, UBND huyện đã tặng Giấy khen cho 5 tập thể và 18 cá nhân có nhiều thành tích trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng, giai đoạn 2008 – 2015. (Báo Hà Giang 1/7) đầu trang(
Huyện đảo Phú Quý – tỉnh Bình Thuận nằm giữa biển Đông, có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh nên việc phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ, yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay…
Trong các năm qua được sự quan tâm của Trung ương, của Tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng kè chống xâm thực bờ biển, bảo vệ diện tích hiện có của huyện đảo. Cùng với việc xây dựng kè chắn sóng thì việc trồng rừng chắn sóng bảo vệ bờ biển cũng đã được triển khai từ năm 2010 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trồng rừng ngập mặn để tạo các băng rừng trên các bãi đá ven bờ biển, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo chức năng phòng hộ, phòng, chống biến đổi khí hậu là một việc làm rất cần thiết đối với huyện đảo Phú Quý.
Xuất phát từ thực tiễn trên, năm 2013, Trạm nông Lâm nghiệp huyện Phú Quý đã đề xuất và được Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt triển khai thực hiện đề tài “Thử nghiệm trồng rừng ngập mặn trong các điều kiện khác nhau trên địa bàn huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận”. Đây là nhiệm vụ khoa học và công nghệ mang ý nghĩa rất thiết thực với mục tiêu nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo chức năng phòng hộ và phòng, chống biến đổi khí hậu tại huyện Phú Quý.
Từ khi đề tài được phê duyệt, đơn vị đã chủ động và tích cực triển khai thực hiện các công việc theo đề cương ban đầu như: chuẩn bị mầm giống, hạt giống đảm bảo kịp thời mùa vụ thu hái giống vào tháng 8/2013; tổ chức gieo ươm cây giống tại vườn ươm; trồng tại 4 vị trí đã khảo sát, thiết kế ban đầu được phê duyệt.
Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu trồng thử nghiệm và chăm sóc bảo vệ các diện tích trồng gặp rất nhiều khó khăn, gian nan. Lâu nay, các nghiên cứu về thành phần loài, cấu trúc rừng ngập mặn trên dạng đất ngập nước trên nền cát sỏi, rạn san hô; cơ chế hình thành, phát triển và tồn tại trong môi trường cát, sỏi, rạn san hô và trong điều kiện tác động mạnh của sóng, gió biển (như điều kiện của huyện đảo Phú Quý) gần như chưa được đề cập đến hoặc chỉ có một vài nhận xét còn sơ lược.
Đặc biệt kỹ thuật chọn giống, gieo ươm và gây trồng rừng ngập mặn trên nền cát, đá, rạn san hô và tác động mạnh của sóng biển, gió bão tại huyện đảo Phú Quý là thử thách khó và đôi khi phải chấp nhận rủi ro. Quá trình thi công trồng rừng mất nhiều thời gian và công sức. Để có thể trồng cây tại các vị trí đã khảo sát trong điều kiện của huyện đảo, chị Nguyễn Thị Mai – Trưởng Trạm Nông Lâm nghiệp huyện Phú Quý cho biết:
“Khi thi công, đơn vị phải tạo các hố sâu 30 cm, rộng 30 cm, dài 30 cm. Sau đó đặt cây giống ươm trong bầu (mầm) vào giữa hố, lấp kín cát, sỏi, vụn san hô hết chiều cao của bầu 13 x18 cm, sau đó cắm cọc (cắm trước luồng gió và sóng biển) và cột dây  để cố định cây không bị sóng biển cuốn trôi và cuối cùng dùng đá đè lên các gốc cây. Thời gian tổ chức trồng cây phải là lúc nước cạn mới thuận tiện cho việc tạo hố, cắm cọc, cột dây cố định cây; các dụng cụ dùng để thi công đều là xà beng, búa… Đơn vị cũng đã bố trí lực lượng thường xuyên chăm sóc, bảo vệ cây như: gia cố các cọc chống đỡ, kè đá, buộc dây, tháo gỡ các rác, bụi bặm bám vào thân cây ít nhất 1 lần/tuần”.
Qua gần hai năm triển khai thực hiện, Trạm nông Lâm nghiệp đã trồng theo thiết kế và tiến hành trồng dặm tổng cộng 15.000 cây (bao gồm 3 loại cây: đước, đưng và mắm biển) tại các vị trí đã khảo sát ban đầu và tiến hành chăm sóc, theo dõi. Quá trình thi công trồng, chăm sóc bảo vệ được đơn vị chủ trì thực hiện tích cực.
Tuy nhiên, trong điều kiện thời tiết khí hậu của đảo Phú Quý vào những tháng gió bấc (tháng 10 âm lịch đến tháng giêng năm sau) gió thổi mạnh, sóng lớn nên ảnh hưởng đến cây trồng làm một lượng cây không nhỏ tại một số vị trí bị gãy ngọn, khô đọt, rụng lá… ảnh hưởng đến quá trình sống và sinh trưởng của cây. Có nơi vừa qua do sóng lớn, triều cường dâng cao đã gây sạt lở hết toàn bộ mặt bằng, cuốn theo cả đất đá, cây trồng làm cây thiệt hại đáng kể. Đơn vị này phải thu nhặt lượng cây bị trốc gốc và sóng cuốn trôi về chăm sóc, tiếp tục trồng dặm ở vị trí khác và bước đầu cho kết quả khả quan.
Gian nan, vất vả là thế nhưng thời gian qua, dưới sự chỉ đạo của chị Nguyễn Thị Mai (Trưởng Trạm), tập thể Trạm nông Lâm nghiệp huyện Phú Quý đã quyết tâm, đồng lòng triển khai nhiệm vụ với mục tiêu hình thành nên những diện tích rừng ngập mặn cho huyện đảo Phú Quý. Hiện nay, đơn vị đang tiếp tục duy trì công tác chăm sóc bảo vệ cây và theo dõi, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và thích ứng của các loại cây này.
Đề tài triển khai nếu thành công sẽ mang tầm quan trọng đặc biệt đối với huyện đảo, nhằm tăng độ tán che phủ, đảm bảo chức năng phòng hộ, chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng biển, điều hòa khí hậu, lưu giữ nguồn nước ngọt ngầm quý hiếm của Đảo và đặc biệt trồng rừng ngập mặn còn là nơi trú ngụ, sinh sản của các loài hải sản, góp phần phòng, chống biến đổi khí hậu. (Báo Bình Thuận 1/7) đầu trang(
Thành phố Hà Nội vừa tổ chức cuộc họp trong phạm vi hẹp với một số tổ chức và nhà khoa học để lấy ý kiến cho việc trồng lại cây xanh trên đường Nguyễn Chí Thanh.  Tại cuộc họp, mặc dù còn có ý kiến khác nhau về chọn loại cây nhưng các đại biểu cùng thống nhất, đường Nguyễn Chí Thanh là con đường đẹp, trục trung tâm, dải phân cách giữa và vỉa hè hai bên rộng, do đó cần chọn loại cây phù hợp với các điều kiện trên. Một cán bộ tham dự cuộc họp chia sẻ với PV, việc trồng thay thế sẽ được tiến hành khi đủ nguồn giống cây và điều kiện thời tiết cho phép. Cây được trồng sẽ theo kích thước quy định, không trồng cây to theo kiểu “ăn xổi” và có thể trồng xen kẽ một số loại cây chứ không trồng một loại cây duy nhất.
Thông tin tìm loại cây phù hợp trồng thay thế cây mỡ trên một số tuyến phố, trong đó có đường Nguyễn Chí Thanh cũng được Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Võ Nguyên Phong xác nhận tại buổi giao ban báo chí thành ủy sau trận mưa giông chiều 13/6 làm hàng nghìn cây xanh bị đổ.
Phó giám đốc Sở Xây dựng cho rằng: "Dông lốc đi qua đã đặt ra nhiều vấn đề cho việc quy hoạch lại hệ thống cây xanh, chiếu sáng của thành phố. Những hậu quả của cơn dông vừa qua cũng còn có những vấn đề của lịch sử, cũng như nhiều yếu tố khác cộng lại. Sắp tới thành phố sẽ có hội thảo để tiếp thu ý kiến các nhà khoa học, người dân về việc trồng cây mới trên địa bàn thành phố.". (VTC 2/7) đầu trang(
Từ 1/1/2011 đến hết quý I/2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên đã đàm phán, ký kết hợp đồng nhận uỷ thác với các đơn vị có sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) nằm trong địa giới hành chính của tỉnh và nhận điều phối từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam thu được trên 300 tỷ đồng.
Toàn tỉnh hiện có hơn 311.241ha rừng nằm trong diện cung ứng dịch vụ môi trường rừng; 9 nhà máy thuỷ điện đang hoạt động, 6 nhà máy nước thuộc Công ty TNHH cấp nước Điện Biên sử dụng DVMTR. Trong số 5 loại DVMTR, hiện Điện Biên mới thực hiện 2 loại dịch vụ là thuỷ điện và nước sạch. Ban điều hành Quỹ đã thường xuyên phối hợp với Sở Công Thương tham mưu giúp Hội đồng quản lý Quỹ, UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo các đơn vị sử dụng DVMTR thực hiện nghiêm túc quy định của Nhà nước.  (Báo Điện Biên Phủ 1/7) đầu trang(
Sinh viên RMIT Việt Nam cùng nhà hoạt động môi trường Yuji Miyata vừa trồng cây vì hòa bình trong khuôn viên trường, sau khi nghe ông chia sẻ về hành trình đi bộ vòng quanh thế giới vì môi trường của mình.
Ông Yuji Miyata, nhà sáng lập Tuần lễ Hòa bình đồng thời là sứ giả hòa bình đại diện cho Liên Hiệp Quốc, đã chia sẻ về hành trình đi bộ qua 20 quốc gia trong vòng bảy năm, nhằm truyền tải thông điệp về hòa bình và kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng địa phương nơi ông đi qua.
Từ năm 2007, ông Miyata đã đi bộ được hơn 13.000 km, trồng hơn 5.000  cây xanh, thăm 800 trường học và 250 trại mồ côi tại Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và nhiều quốc gia khác.
Tại buổi nói chuyện với sinh viên RMIT Việt Nam, ông Miyata đã chia sẻ câu chuyện truyền cảm hứng của bản thân, đồng thời khuyến khích các bạn trẻ bắt đầu hành động vì hòa bình và môi trường.
Ông cho biết: “Từ năm sáu tuổi, tôi đã mơ ước trở thành một sứ giả hòa bình. Mỗi ngày tôi đều cố gắng và hiện đã đạt được giấc mơ từ thời thơ ấu. Nếu bạn có hoài bão, đừng bao giờ từ bỏ. Nếu bạn có đam mê hay sở thích, hãy cố gắng hết sức mình và quyết tâm thực hiện bằng cả trái tim. Trong bản thân mỗi chúng ta đều sở hữu sức mạnh và những hành động nhỏ nhất vì hòa bình, có thể giúp thế giới trở nên tốt đẹp hơn”.
Đây là lần thứ 2 ông Miyata đến Việt Nam kêu gọi các bạn trẻ hành động vì hòa bình và môi trường, nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, cũng như kỷ niệm 70 năm kết thúc chiến tranh Thế giới thứ 2. Trước đó, ông Miyata đã cùng sinh viên RMIT Việt Nam trồng cây vì hòa bình và hoàn thành hành trình 6 km đi bộ từ Quận 1 đến trường trước  sự kiện Ngày Trái đất năm 2010. (Tài Nguyên & Môi Trường 30/6) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2015, ngay từ đầu năm, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo, đôn đốc các địa phương rà soát quy hoạch đất lâm nghiệp, chủ động phát thực bì, đào hố... để trồng rừng.
6 tháng đầu năm 2015, toàn tỉnh trồng được 4.476,9 ha, đạt 37,3% kế hoạch năm (trong đó trồng rừng thay thế được 1.106 ha). Đi đôi với công tác trồng rừng, các đơn vị sản xuất và cung ứng giống cũng đã chuẩn bị được 22,5 triệu cây giống các loại, bảo đảm 100% kế hoạch trồng rừng toàn tỉnh.
Từ nay đến cuối năm, các ngành có liên quan của tỉnh  tích cực đôn đốc các đơn vị, địa phương đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành kế hoạch trồng 12.000 ha rừng. Đồng thời, thành lập đoàn kiểm soát chất lượng giống cây lâm nghiệp trước khi xuất vườn, khuyến khích nhân dân đưa loài cây gỗ lớn đa mục đích vào trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp. (Báo Thanh Hóa 1/7) đầu trang(
Là xã vùng thấp của huyện Vị Xuyên, Phú Linh có nhiều điều kiện về khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp. Năm 2015, xã Phú Linh được huyện giao chỉ tiêu trồng mới 185,9 ha rừng. Đến hết tháng 5, xã đã trồng được 54 ha. Cấp ủy, chính quyền địa phương vẫn đang tích cực chỉ đạo bà con nhân dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, phấn đấu thực hiện chỉ tiêu kế hoạch giao.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nông Trọng Quang, Chủ tịch UBND xã cho biết: “Đối với công tác trồng rừng, xã luôn chú trọng đẩy mạnh bởi rừng đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho đời sống nhân dân. Xã phân công cán bộ phụ trách thường xuyên xuống thôn, bản để đôn đốc, tuyên truyền, từ đó người dân nhận thấy lợi ích của việc trồng rừng, tự đăng ký diện tích trồng mới với xã. Năm 2015, các hộ đăng ký trồng mới gần 300 ha, gần gấp đôi so với kế hoạch huyện giao. Trong tháng 5, xã được cung ứng hơn 20 vạn cây giống, nếu trồng hết thì sẽ đạt khoảng 120 ha. Như vậy, chỉ đến khoảng tháng 8 là Phú Linh sẽ đạt chỉ tiêu kế hoạch. Ước tính đến cuối năm diện tích trồng rừng của xã sẽ vượt so với kế hoạch giao”.
Trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua, xã đã tổ chức thành công lễ phát động Tết trồng cây được bà con nhân dân đồng tình hưởng ứng, trồng mới được 48.000 cây; trồng cây chào mừng Đại hội Đảng các cấp được 4.000 cây. Ngay từ đầu năm, do cung ứng giống chưa kịp thời nên xã gặp khó khăn trong công tác triển khai; thời tiết khô hạn kéo dài dẫn đến khi triển khai trồng một số ít cây giống bị chết. Hiện nhân dân đang phát dọn thực bì và tiếp tục trồng mới ở các diện tích đất trống, đồi trọc và vườn rừng hộ gia đình.
Nhờ xã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động đến từng thôn, bản, hộ gia đình nên nhận thức của người dân về công tác trồng và bảo vệ rừng đã được nâng lên đáng kể. Các hộ tự nguyện đăng ký diện tích trồng rừng với xã, từ đầu năm, bà con đã tự mua giống về trồng tại vườn rừng của hộ gia đình được khoảng 10 ha.
Bác Nguyễn Văn Chuyên, thôn Bản Tha cho biết: “Gia đình tôi đăng ký trồng mới 1,5 ha rừng. Vừa rồi được xã cấp đủ cây giống, gia đình tôi đã trồng xong. Đợi cây lớn thêm chút nữa rồi làm cỏ, bón phân để cây phát triển nhanh, sớm đem lại hiệu quả kinh tế cho gia đình. Chúng tôi đã nhận ra lợi ích từ việc trồng rừng nên bà con tự bảo nhau không chặt phá rừng làm nương, rẫy; tự nguyện đăng ký trồng rừng để phủ xanh đất trống, đồi trọc”. Bên cạnh đó, Ban Lâm nghiệp của xã thường xuyên trực, tuần tra ngăn chặn việc khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản. Từ đầu năm đến nay không phát hiện trường hợp khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn xã.
Với những diện tích rừng mới trồng, xã khuyến khích bà con nhân dân trồng xen canh sắn, ngô, lúa nương để có thêm nguồn lương thực và thức ăn cho gia súc, gia cầm. Nhìn những vạt ngô, sắn xanh mướt xen lẫn với cây keo, cây mỡ đang phát triển rất tốt, anh Nguyễn Văn Chuyên, Phó chủ tịch UBND xã phấn khởi nói với chúng tôi: “Nhờ trồng xen canh thêm những loại cây hoa màu nên bà con rất có ý thức trong việc làm cỏ, bón phân và bảo vệ đàn gia súc, không để gia súc phá hoại cây con mới trồng. Vì vậy với những diện tích trồng xen canh, tỷ lệ cây sống cao hơn và phát triển nhanh hơn”. (Báo Hà Giang 1/7) đầu trang(
Là huyện vùng cao có diện tích tự nhiên và đất rừng lớn nhất tỉnh. Chính vì vậy việc phát triển kinh tế lâm nghiệp được Đà Bắc xác định là hướng đi XĐ -GN quan trọng.
Qua 8 năm thực hiện Nghị quyết số 03 của Huyện ủy về phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2007 - 2015 đã đạt được một số kết quả nhất định, song còn nhiều khó khăn. Giai đoạn 2007 - 2010, bình quân mỗi năm huyện trồng được 1.644 ha /2.500 ha chỉ tiêu NQ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp năm 2008 là 56, 3 tỷ đồng, năm 2009 là 76, 1 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế lâm nghiệp chiếm 40% tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và chiếm 16% cơ cấu kinh tế của huyện.
Giai đoạn 2010 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 19%/năm, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt gần 119 tỷ đồng (năm 2014). Thực hiện Nghị quyết, toàn huyện đã trồng được 9.400, 7 ha. Trong đó, nhân dân tự trồng 4.085,7 ha; doanh nghiệp, dự án trồng được 5.315,0 ha. Cơ cấu kinh tế lâm nghiệp năm 2014 chiếm 45% tỷ trọng cơ cấu ngành nông, lâm - ngư nghiệp và chiếm 14% cơ cấu kinh tế chung của huyện, không đạt chỉ tiêu NQ.
Huyện ủy đánh giá: Đây là nghị quyết đúng hướng, đã có bước phát triển mới, bước đầu khai thác được tiềm năng đất đai, XĐ-GN. Kinh tế lâm nghiệp đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể, nhiều hộ dân có thu nhập cao từ trồng rừng. Diện tích rừng trồng do nhân dân tự bỏ vốn đầu tư có chiều hướng tăng lên theo từng năm.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện chưa có bước đột phá lớn, chỉ tiêu về kế hoạch trồng rừng hàng năm huyện giao không đạt, tỷ lệ đạt thấp, tiềm năng đất đai chưa được khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả, môi trường sinh thái cũng bị suy giảm. Năng lực tham mưu của cán bộ cơ sở triển khai các kế hoạch trồng rừng còn hạn chế. Đất quy hoạch lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình, cá nhân diện tích manh mún, nhỏ lẻ, khó khăn trong công tác trồng rừng bằng nguồn vốn của Nhà nước. Một số doanh nghiệp được giao đất nhưng chưa đầu tư trồng rừng hoặc có ít doanh nghiệp đầu tư nhưng chưa trồng hết diện tích được giao.
Việc lựa chọn loại cây trồng rừng của một số doanh nghiệp đưa vào trồng trên địa bàn chưa phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu gây thiệt hại lớn, tạo tâm lý tiêu cực, ảnh hưởng xấu trong nhân dân. Công tác giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình còn trên sổ sách, chồng chéo, không sát thực tế ngoài hiện trường; giao đất chưa gắn liền với giao quyền sử dụng rừng, chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giao đất, giao rừng...
Huyện Đà Bắc đang tập trung lãnh đạo thực hiện tốt nghị quyết về phát triển kinh tế lâm nghiệp trong những năm tới. Trong đó đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế rừng để hộ gia đình, cá nhân được giao đất tự mình lựa chọn các hình thức đầu tư, liên doanh, liên kết; huy động vốn, vay vốn, tự bỏ vốn đầu tư sản xuất, đặc biệt là việc đầu tư trồng rừng. Trước mắt, trong năm 2015 tập trung hoàn thành công tác kiểm kê rừng để xác định đúng chất lượng rừng, diện tích rừng để phục vụ công tác quản lý rừng ở các cấp, nâng cao hiệu quả sử dụng rừng của các tổ chức, cá nhân. Tập trung các nguồn lực về tài chính, vốn, con người, khoa học kỹ thuật để tổ chức có hiệu quả các dự án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2015 - 2020. (Báo Hòa Bình 1/7) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nữ diễn viên Lupita Nyong’o, còn gọi là “viên ngọc đen”, từng chiến thắng giải Oscar nhờ vai diễn trong phim “12 năm nô lệ”, trở thành đại sứ toàn cầu chống nạn tàn sát voi lấy ngà.
30-6 (giờ địa phương), Lupita xuất hiện lần đầu tiên tại quê hương Kenya kể từ khi đoạt giải Oscar, với tư cách là một đại sứ của WildAid (tổ chức cứu trợ động vật hoang dã) và tập trung vào chiến dịch chống việc tàn sát đàn voi lấy ngà bán.
Tại cuộc họp báo diễn ra ở Villa Rosa Kempinski, Lupita gặp gỡ các nhà bảo tồn, doanh nghiệp và báo chí. Cô có bài diễn thuyết ấn tượng kêu gọi mọi người chung tay chống săn trộm, tàn sát voi. Lupita chia sẻ cô tự hào là người Kenya, tự hào trở thành đại sứ toàn cầu bảo vệ voi. “Chúng ta hãy bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn, biết nhiều hơn và hành động nhiều hơn để cứu lấy đàn voi” – Lupita kêu gọi.
Nữ diễn viên này chia sẻ chuyến thăm tổ chức phi lợi nhuận nghiên cứu về voi Amboseli Trust for Elephants và Trung tâm David Sheldrick, nơi duy nhất ở Kenya nhận chăm sóc voi con từ khắp nơi trên đất nước, nằm trong Công viên quốc gia Nairobi. Cô xúc động kêu gọi mọi người đến thăm những nơi này để hiểu thêm về voi, trải nghiệm cảm giác thân thiết, gần gũi với loài động vật này. (Người Lao Động 1/7) đầu trang(
Theo MNN, môi trường sống ban đầu của gấu trúc Bắc Mỹ là rừng rụng lá và rừng hỗn hợp Bắc Mỹ, nhưng do khả năng thích nghi đặc biệt, chúng có thể sống ở nhiều nơi như miền núi, đầm lầy ven biển, cả ở khu vực đô thị, trên các nóc nhà.
Chân tay nhanh nhẹn, khéo léo giúp chúng leo trèo dễ dàng. Tuy nhiên, gấu con khá vụng về và phụ thuộc nhiều vào sự hướng dẫn của mẹ để học những kỹ năng quan trọng trong những tháng đầu tiên chào đời.
Theo Cục quản lý cá và động vật hoang dã Washington (WDFW), gấu trúc con thường đi ra ngoài cùng mẹ trong khoảng 8 tới 10 tuần tuổi, từ 12 tuần tuổi chúng thường lang thang một mình vài đêm trước khi về nhà.
Gấu trúc con ở Washington, Mỹ thường ở với mẹ qua mùa đông đầu tiên trước khi tìm lãnh thổ riêng vào mùa xuân tiếp theo. (VnExpress 1/7) đầu trang(
Telegraph hôm 25/6 đăng đoạn video hiếm hoi về khoảnh khắc một con hổ khỏe mạnh được thả về rừng do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) quay.
Camera đặt sẵn trước cửa chuồng ghi lại những phản ứng của con hổ khi trở về rừng. Lúc cửa chuồng mới mở, con hổ tỏ ra khá phòng vệ, nó nhìn quanh và gầm gừ. Song chỉ một lúc sau, nó ngồi dậy trên bốn chân, lấy đà rồi lao nhanh ra khỏi chuồng không ngoảnh đầu lại.
Trước đó, nó được kiểm tra sức khỏe tổng thể, khám răng và tiêm văcxin phòng bệnh. Các chuyên gia cũng đánh giá kỹ năng săn mồi và sinh tồn của nó trong tự nhiên.
Con hổ có tên Uporny trong đoạn phim là một cá thể đực ba tuổi thuộc giống hổ Amur. Năm 2014, con hổ này sinh sống ở khu vực tỉnh Khabarovsky. Vì khan hiếm thức ăn, nó đã ăn cả chó nhà. Cơ quan chức năng Nga phải bắt con hổ về nuôi nhốt để tránh nguy cơ nó tấn công người dân vùng này.
Tháng 6 năm nay, phối hợp cùng WWF Nga, Trung tâm bảo tồn Hổ Amur, cơ quan Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên tỉnh Khabarovsky quyết định thả Uporny về tự nhiên.
Con hổ được đưa đến một vùng núi dân cư thưa thớt giáp ranh Vườn Quốc gia Anyuisky, một trong những khu bảo tồn hổ tại Nga và có nguồn thức ăn dồi dào. Các chuyên gia cũng phát hiện một con hổ Amur cái tại đây, là cơ hội tốt cho Uporny thực hiện sinh sản tự nhiên để duy trì nòi giống. Uporny sẽ tiếp tục được giám sát chặt nhờ thiết bị theo dõi GPS đeo quanh cổ cho tới khi nó thích nghi hoàn toàn với môi trường hoang dã.
Hổ Amur còn được gọi là hổ Siberia hay hổ Mãn Châu, là một trong những loài hổ quý hiếm nhất trên thế giới và đang đối mặt nguy cơ tuyệt chủng cao. Thống kê cho thấy chỉ còn khoảng 450 cá thể hổ Amur sống trong tự nhiên tại các tỉnh Primorski và Khabarovsky của Nga, vùng giáp biên giới giữa Nga với Trung Quốc và Triều Tiên. (VnExpress 1/7)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang