|
Ngày 31 tháng 12 năm 2016
CHÍNH SÁCH MỚI
TIÊU ĐIỂM
PHÁT NGÔN NÓNG
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
SAI PHẠM
TRÁI KHOÁY
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH MỚI
Hỗ trợ khẩn cấp 2.000 tấn gạo cho người dân Bình Định. Thủ tướng Chính phủ vừa có Công điện 2306/CĐ-TTg về hỗ trợ khẩn cấp gạo cho tỉnh Bình Định.
Theo Công điện, vừa qua, mưa lũ đã gây ngập lụt nghiêm trọng, thiệt hại nặng nề về người và tài sản của Nhà nước và nhân dân tại các tỉnh miền Trung, nhất là trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Để bảo đảm ổn định đời sống, kịp thời hỗ trợ nhân dân vùng ngập lũ khắc phục khó khăn, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
1. Bộ Tài chính xuất cấp ngay 2.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Bình Định để hỗ trợ cứu đói cho người dân vùng ngập lũ.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định chịu trách nhiệm tổ chức cấp phát kịp thời, đúng đối tượng, không để người dân nào bị thiếu đói.
Giá dịch vụ kiểm định chất lượng phương tiện thuỷ nội địa. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 237/2016/TT-BTC quy định về giá dịch vụ kiểm định an toàn kỹ thuật và chất lượng phương tiện thuỷ nội địa.
Thông tư này quy định về giá kiểm định an toàn kỹ thuật và chất lượng phương tiện thủy nội địa áp dụng đối với tất cả các phương tiện phải kiểm định an toàn kỹ thuật và chất lượng theo quy định trong Luật Giao thông đường thuỷ nội địa.
Quy định về giá dịch vụ kiểm định an toàn kỹ thuật, chất lượng phương tiện đóng mới, Thông tư nêu rõ: Giá dịch vụ kiểm định đóng mới phương tiện được tính trên cơ sở giá kiểm định hàng năm đối với phương tiện đó và nhân với hệ số 12. Mức giá tối thiểu không thấp hơn 1.000.000 đồng/1 phương tiện.
Giá dịch vụ kiểm định trên chưa bao gồm giá kiểm định chất lượng sản phẩm công nghiệp sử dụng cho phương tiện thủy nội địa.
Về giá dịch vụ thẩm định thiết kế phương tiện, Thông tư quy định, giá dịch vụ thẩm định thiết kế đóng mới được tính bằng 10% mức giá kiểm định đóng mới phương tiện tương ứng. Mức giá thẩm định thiết kế thấp nhất là 200.000 đồng/1 bộ hồ sơ thiết kế.
Giá dịch vụ thẩm định thiết kế lập hồ sơ được tính bằng mức giá thẩm định thiết kế đóng mới.
Giá dịch vụ thẩm định thiết kế thi công được tính bằng 30% giá thẩm định thiết kế đóng mới.
Giá dịch vụ thẩm định thiết kế hoàn công tính bằng 20% giá thẩm định thiết kế đóng mới.
Giá dịch vụ thẩm định thiết kế mẫu định hình được tính bằng giá thẩm định thiết kế đóng mới của phương tiện đó. Mức giá thẩm định thiết kế mẫu định hình thấp nhất là 200.000 đồng/1 bộ hồ sơ thiết kế.
Giá dịch vụ sao và thẩm định mẫu của phương tiện được tính bằng 30% mức giá thẩm định thiết kế của phương tiện đó nhưng không thấp hơn 200.000 đồng/1 bộ hồ sơ sao và thẩm định.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
Phương thức giao dịch điện tử trong BHXH. Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Trong đó, Nghị định quy định rõ điều kiện, phương thức và nguyên tắc thực hiện giao dịch.
Theo quy định, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội phải bảo đảm các điều kiện sau: 1- Có chứng thư số còn hiệu lực do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp theo quy định của pháp luật. Trường hợp cá nhân thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội nhưng chưa được cấp chứng thư số thì được sử dụng mã xác thực giao dịch điện tử do Bảo hiểm xã hội Việt Nam cấp; 2- Có khả năng truy cập, sử dụng mạng Internet; có địa chỉ thư điện tử liên lạc ổn định và đăng ký với Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội được lựa chọn thực hiện giao dịch điện tử trực tiếp qua Cổng thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoặc thông qua Tổ chức I-VAN theo quy định.
Chứng từ bảo hiểm xã hội điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ, chứng từ, thông báo và các văn bản bằng giấy theo quy định của pháp luật. Chứng từ bảo hiểm xã hội điện tử bao gồm: Hồ sơ bảo hiểm xã hội điện tử; chứng từ kế toán theo quy định về chế độ kế toán của Bảo hiểm xã hội Việt Nam bằng phương tiện điện tử; các văn bản, thông báo khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch bảo hiểm xã hội bằng phương tiện điện tử.
Các chứng từ bảo hiểm xã hội điện tử trên phải có đủ chữ ký số của những người có trách nhiệm ký chứng từ bảo hiểm xã hội điện tử theo quy định của pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân nộp chứng từ bảo hiểm xã hội điện tử được thực hiện các giao dịch điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoặc Tổ chức I-VAN 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần.
Nghị định quy định rõ các đơn vị sử dụng giao dịch điện tử phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật có liên quan.
Việc thực hiện các giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội phải bảo đảm rõ ràng, bình đẳng, trung thực, an toàn, hiệu quả, tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo mật và toàn vẹn thông tin.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền lựa chọn giao dịch bằng phương tiện điện tử hoặc giao dịch bằng phương thức truyền thống trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
Đồng bộ giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 34/CT-TTg về tăng cường thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH).
BHXH là chính sách quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm chỉ đạo, được các bộ, ngành và địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện. Chính sách BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đã từng bước được hoàn thiện, góp phần ổn định việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế. Nhiều kết quả quan trọng đã đạt được như số người tham gia BHXH hàng năm đều tăng; các chế độ BHXH được bổ sung, hoàn thiện theo hướng bảo đảm hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động...
Tuy nhiên, công tác BHXH cũng bộc lộ một số hạn chế như đối tượng tham gia BHXH có tăng nhưng tỷ lệ bao phủ còn thấp, mới chỉ đạt khoảng 23% lực lượng lao động, đối tượng tham gia BHTN chỉ đạt gần 20%; nhận thức của một số người sử dụng lao động, người lao động về lĩnh vực BHXH còn hạn chế...
Để khắc phục những hạn chế trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt, triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, nhóm giải pháp tại Nghị quyết số 15-NQ/TW và Nghị quyết số 21-NQ/TW; nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BHTN vào năm 2020 theo yêu cầu Nghị quyết số 15-NQ/TW và Nghị quyết số 21-NQ/TW.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chấn chỉnh công tác khai trình lao động của các doanh nghiệp; yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện khai trình việc sử dụng lao động theo đúng quy định.
Bên cạnh đó, xây dựng phần mềm quản lý lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc khai trình, cập nhật tình hình biến động lao động trong doanh nghiệp và kết nối với cơ sở dữ liệu của cơ quan BHXH để thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH, BHTN.
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách BHXH, trong đó có cơ chế, chính sách khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đóng BHXH, hạn chế nhận BHXH một lần; tạo điều kiện cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện.
Các Bộ, ngành liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện chi sẻ, kết nối thông tin, dữ liệu liên quan cần thiết với cơ quan BHXH để quản lý lao động, đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu BHXH Việt Nam chỉ đạo cơ quan BHXH các địa phương phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chức năng xác định số lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHTN để đôn đốc, yêu cầu đơn vị, doanh nghiệp tham gia BHXH bắt buộc đầy đủ cho người lao động.
Kết nối thông tin, dữ liệu với các bộ, ngành liên quan để quản lý được đơn vị, doanh nghiệp đang hoạt động, thành lập mới; người lao động đang làm việc, thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông trên phạm vi cả nước, tiến tới thực hiện giao dịch điện tử đối với tất cả các hoạt động trong lĩnh vực BHXH, BHYT và BHTN.
BHXH Việt Nam thực hiện thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, trong đó tập trung thanh tra các đơn vị, doanh nghiệp đang cố tình trốn đóng, nợ đóng BHXH, chưa tham gia đầy đủ cho số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc, BHTN.
BHXH Việt Nam cũng cần đổi mới cơ chế tổ chức thực hiện, chuyển đổi tác phong phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa hệ thống quản lý BHXH; cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ đảm bảo việc giải quyết các chế độ BHXH đầy đủ, kịp thời, đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời, mở rộng mạng lưới đại lý thu BHXH tự nguyện; có giải pháp khuyến khích các địa phương vận động, phát triển đối tượng tham gia BHXH, đặc biệt là BHXH tự nguyện.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của địa phương, trình HĐND quyết định; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm đạt được chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH đã đặt ra.
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí, có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng và dành thời lượng phù hợp để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH, nhất là về trách nhiệm và quyền lợi của người sử dụng lao động, người lao động khi tham gia BHXH.
Gia hạn thỏa thuận về thương mại gạo với Philippines. Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết gia hạn Bản thỏa thuận về thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Philippines bằng hình thức công hàm trao đổi.
Cụ thể, Chính phủ đồng ý gia hạn bản thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Philippines về việc Việt Nam cung cấp gạo cho Philippines bằng hình thức công hàm trao đổi và phê duyệt nội dung của các công hàm trao đổi.
Chính phủ ủy quyền cho Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Công Thương hoàn thiện, gửi công hàm trao đổi cho phía Philippines để gia hạn Bản Thỏa thuận nêu trên và thực hiện các thủ tục đối ngoại liên quan.
Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định về Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước.
Theo Quyết định, mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước được thiết lập và duy trì hoạt động để chấp nhận, vận chuyển, phát các bưu gửi bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tài liệu mang bí mật nhà nước, theo các nguyên tắc: Bảo đảm bí mật nhà nước; bảo đảm bí mật, an ninh, an toàn, nhanh chóng, chính xác, kịp thời trong mọi tình huống; thống nhất trong tổ chức, quản lý, vận hành và khai thác; không vì mục đích kinh doanh.
Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước là mạng bưu chính do Nhà nước giao cho Cục Bưu điện Trung ương xây dựng, quản lý, khai thác được kết nối với mạng bưu chính công cộng tại các địa phương mà Cục Bưu điện Trung ương chưa có cơ sở khai thác, điểm phục vụ bưu chính để bảo đảm cung cấp dịch vụ bưu chính cho các đối tượng phục vụ.
Đối tượng phục vụ của Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương bao gồm: Các cơ quan Đảng; các cơ quan Nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác.
Dịch vụ bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước (dịch vụ bưu chính KT1) là dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát các bưu gửi KT1 bao gồm: Thư, gói, kiện tài liệu trên Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước.
Dịch vụ bưu chính KT1 gồm: Dịch vụ KT1; Dịch vụ KT1 theo độ khẩn: Hỏa tốc, Hẹn giờ; Dịch vụ KT1 theo độ mật: A, B, C.
Quyết định nêu rõ, bưu gửi KT1 được đóng dấu KT1, gắn mã vạch, định vị và quản lý chặt chẽ trong quá trình cung cấp dịch vụ; được khai thác, vận chuyển và phát bằng các trang thiết bị chuyên dùng.
Dịch vụ bưu chính KT1 phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và thời gian phát bưu gửi KT1 theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Mạng bưu chính phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước phải bảo đảm cung cấp dịch vụ liên tục 24 giờ trong một ngày và 7 ngày trong một tuần, kể cả ngày nghỉ lễ, Tết.
Quy định mới về mua, bán, đóng mới tàu biển. Nghị định về đăng ký, xóa đăng ký và mua, bán, đóng mới tàu biển vừa được Chính phủ ban hành.
Nghị định này quy định về đăng ký, xóa đăng ký tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam; mua, bán, đóng mới, xuất khẩu, nhập khẩu tàu biển và đăng ký mang cờ quốc tịch nước ngoài đối với tàu biển thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Các quy định về đăng ký, xóa đăng ký tàu biển tại Nghị định này cũng áp dụng đối với việc đăng ký, xóa đăng ký tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn, kho chứa nổi, giàn di động.
Trong đó, việc mua, bán, đóng mới tàu biển là hoạt động đầu tư đặc thù; quy trình, thủ tục mua, bán, đóng mới tàu biển được thực hiện theo quy định tại Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Tàu biển được mua, bán, đóng mới phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, bảo đảm lao động hàng hải và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên.
Hình thức mua tàu biển sử dụng vốn nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Trường hợp đã áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật về đấu thầu mà vẫn không lựa chọn được tàu biển thì thực hiện bằng hình thức chào hàng cạnh tranh theo thông lệ quốc tế với ít nhất 03 người chào hàng là người trực tiếp bán tàu hoặc người môi giới.
Hình thức bán tàu biển sử dụng vốn nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá. Trường hợp đã áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật về đấu giá mà vẫn không lựa chọn được người mua thì thực hiện bằng hình thức chào giá cạnh tranh theo thông lệ quốc tế với ít nhất 3 người chào giá là người mua trực tiếp hoặc người môi giới.
Đối với dự án đóng mới tàu biển sử dụng vốn nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Trường hợp đã áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật về đấu thầu mà vẫn không lựa chọn được cơ sở hoặc nhà máy đóng tàu thì thực hiện bằng hình thức chào hàng cạnh tranh với ít nhất 3 cơ sở hoặc nhà máy đóng tàu hoặc đại diện nhà máy đóng tàu.
Hình thức mua, bán, đóng mới tàu biển sử dụng vốn khác do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tự quyết định.
Nghị định quy định cụ thể tuổi của tàu biển, tàu ngầm, tàu lặn, kho chứa nổi, giàn di động mang cờ quốc tịch nước ngoài đã qua sử dụng đăng ký lần đầu tại Việt Nam thực hiện theo quy định sau: Tàu khách, tàu ngầm, tàu lặn không quá 10 năm; các loại tàu biển khác, kho chứa nổi, giàn di động không quá 15 năm; trường hợp đặc biệt do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định nhưng không quá 20 năm và chỉ áp dụng đối với các loại tàu: Chở hóa chất, chở khí hóa lỏng, chở dầu hoặc kho chứa nổi.
Giới hạn về tuổi tàu biển quy định nêu trên không áp dụng đối với tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài, thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài được bán đấu giá tại Việt Nam theo quyết định cưỡng chế của cơ quan có thẩm quyền.
Giới hạn về tuổi tàu biển quy định nêu trên không áp dụng trong trường hợp tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam và thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân Việt Nam đã xóa đăng ký quốc tịch Việt Nam để đăng ký mang cờ quốc tịch nước ngoài theo hình thức cho thuê tàu trần.
Tàu biển mang cờ quốc tịch nước ngoài do tổ chức, cá nhân Việt Nam mua theo phương thức vay mua hoặc thuê mua thì sau thời hạn đăng ký mang cờ quốc tịch nước ngoài được đăng ký mang cờ quốc tịch Việt Nam nếu tại thời điểm ký kết hợp đồng vay mua, thuê mua có tuổi tàu phù hợp với quy định.
Quy định mới về lệ phí trong lĩnh vực chứng khoán. Từ ngày 1/1/2017, mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực chứng khoán được thực hiện theo quy định tại Thông tư 272/2016/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành.
Thông tư quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí quản lý và giám sát hoạt động chứng khoán; lệ phí cấp giấy phép, giấy chứng nhận hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán áp dụng tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Thông tư quy định rõ về lệ phí cấp giấy phép, giấy chứng nhận hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và Lệ phí cấp phép đặt chi nhánh, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.
Theo đó, Lệ phí cấp Giấy phép hoạt động công ty chứng khoán: Môi giới là 20 triệu đồng/giấy phép; tự doanh là 60 triệu đồng/giấy phép; bảo lãnh phát hành là 100 triệu đồng/giấy phép.
Lệ phí cấp Giấy phép hoạt động công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán được quy định ở mức 30 triệu đồng/giấy phép.
Lệ phí cấp Giấy chứng nhận hoạt động chi nhánh công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán trong nước; Giấy chứng nhận thành lập chi nhánh tại nước ngoài; Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài là 10 triệu đồng/giấy chứng nhận...
Phí quản lý công ty đại chúng chưa niêm yết và chưa đăng ký giao dịch; phí quản lý quỹ mở là 10 triệu đồng/năm/công ty, quỹ...
Tổ chức thu phí, lệ phí là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Người nộp phí, lệ phí là các tổ chức, cá nhân có các hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán được quy định trong Biểu mức thu phí, lệ phí ban hành kèm theo Thông tư này. Riêng hoạt động phân phối chứng chỉ quỹ, người nộp lệ phí là ngân hàng thương mại và doanh nghiệp bảo hiểm đăng ký hoạt động phân phối chứng chỉ quỹ.
Tổ chức thu phí, lệ phí được để lại 95% số tiền phí thu được, để sử dụng theo quy định tại Quyết định số 29/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.
Thẩm định quảng cáo thuốc, mỹ phẩm mức phí 1,8 triệu đồng/hồ sơ. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 277/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực dược, mỹ phẩm.
Thông tư quy định, tổ chức, cá nhân khi được cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các công việc liên quan đến lĩnh vực dược, mỹ phẩm quy định thì phải nộp phí. Cục Quản lý dược; Cục Quản lý y, dược cổ truyền (Bộ Y tế) và Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện các công việc quy định thu phí là tổ chức thu phí.
Thông tư nêu rõ mức phí thẩm định cấp phép lưu hành, nhập khẩu, xác nhận, công bố trong lĩnh vực dược phẩm, mỹ phẩm. Theo đó, thẩm định xác nhận nội dung thông tin, quảng cáo thuốc, mỹ phẩm là 1,8 triệu đồng/ hồ sơ.
Thẩm định cấp phép lưu hành thuốc và nguyên liệu làm thuốc đối với đăng ký lần đầu, đăng ký lại là 5,5 triệu đồng/ hồ sơ; Thẩm định cấp phép lưu hành thuốc và nguyên liệu làm thuốc đối với đăng ký gia hạn là 3 triệu đồng/ hồ sơ.
Thẩm định cấp giấy phép nhập khẩu dược liệu, vị thuốc cổ truyền là 200.000 đồng/ mặt hàng. Thẩm định công bố sản phẩm mỹ phẩm, công bố tiêu chuẩn dược liệu là 500.000 đồng/ mặt hàng.
Đối với phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, kinh doanh thuộc lĩnh vực dược, mỹ phẩm, Thông tư quy định: Thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất mỹ phẩm cấp Giấy chứng nhận GMP mỹ phẩm tuân thủ CGMP- ASEAN; thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất thuốc, dược liệu (GMP); thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất bao bì dược phẩm đều có mức phí 20 triệu đồng/ cơ sở.
Tổ chức thu phí nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước. Nguồn chi phí trang trải cho việc thực hiện công việc và thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước.
Trường hợp tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí theo quy định của Chính phủ thì được trích lại 70% số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho các nội dung chi theo quy định, nộp 30% tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.
Quy định mới về lệ phí môn bài áp dụng từ 2017. Từ 1/1/2017, các quy định về lệ phí môn bài được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 302/2016/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành.
Theo đó, mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như sau: Tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng mức thu 3 triệu đồng/năm; tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư từ 10 tỷ đồng trở xuống, mức thu là 2 triệu đồng/năm.
Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế khác, mức thu 1 triệu đồng/năm.
Mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức hướng dẫn nêu trên căn cứ vào vốn điều lệ ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc ghi trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc ghi trong điều lệ hợp tác xã. Trường hợp không có vốn điều lệ thì căn cứ vào vốn đầu tư ghi trong giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản quyết định chủ trương đầu tư.
Thông tư cũng nêu rõ mức thu lệ phí môn bài đối với cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Cụ thể, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm, mức thu là 1 triệu đồng/năm; trường hợp có doanh thu trên 300 đến 500 triệu đồng/năm, mức thu 500.000 đồng/năm; trường hợp có doanh thu trên 100 đến 300 triệu đồng/năm, mức thu 300.000 đồng/năm.
Doanh thu để làm căn cứ xác định mức thu lệ phí môn bài đối với cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình là tổng doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh hoặc mới thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian của 6 tháng đầu năm thì nộp mức lệ phí môn bài cả năm; nếu thành lập, được cấp đăng ký thuế và mã số thuế, mã số doanh nghiệp trong thời gian 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức lệ phí môn bài cả năm.
Các trường hợp được miễn lệ phí môn bài thực hiện theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 139/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài.
Riêng các trường hợp miễn lệ phí môn bài quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Nghị định số 139/2016/NĐ-CP xác định như sau: Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống. Mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình được miễn lệ phí môn bài là tổng doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh không thường xuyên; không có địa điểm kinh doanh cố định: Kinh doanh không thường xuyên; không có địa điểm kinh doanh cố định thực hiện theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 3 Thông tư 92/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình không có địa điểm kinh doanh cố định theo hướng dẫn này bao gồm cả trường hợp cá nhân là xã viên hợp tác xã và hợp tác xã đã nộp lệ phí môn bài theo quy định đối với hợp tác xã; cá nhân trực tiếp ký hợp đồng làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, đại lý bán đúng giá thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn; cá nhân hợp tác kinh doanh với tổ chức theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
Thông tư 302 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
Thẩm định cấp phép sản xuất chất phóng xạ mức phí 60 triệu đồng. Bộ Tài chính ban hành Thông tư 287/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Thông tư này quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử bao gồm: Phí thẩm định an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân; phí thẩm định điều kiện để cấp giấy đăng ký dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử; phí thẩm định kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân; lệ phí cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ; lệ phí cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Thông tư quy định rõ mức phí thẩm định an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân.
Theo đó, đối với thẩm định cấp giấy phép sử dụng thiết bị bức xạ sử dụng trong y tế: Thiết bị X-quang chụp răng, thiết bị X-quang chụp vú mức phí 2 triệu đồng/thiết bị; thiết bị đo mật độ xương mức phí 3 triệu đồng/thiết bị; thiết bị X-quang chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) phí 8 triệu đồng/thiết bị.
Đối với thẩm định cấp giấy phép sản xuất, chế biến, lưu giữ, sử dụng chất phóng xạ: Thẩm định cấp giấy phép sản xuất chất phóng xạ, mức phí 60 triệu đồng/cơ sở; thẩm định cấp giấy phép chế biến chất phóng xạ, mức phí 26 triệu đồng/cơ sở.
Phí thẩm định kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp tỉnh là 15 triệu đồng/bản kế hoạch.
Lệ phí cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ; cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử được quy định ở mức 200.000 đồng/chứng chỉ…
Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ Khoa học và Công nghệ) và Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là tổ chức thu phí, lệ phí theo quy định tại Thông tư này.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.
Thẩm định quảng cáo thuốc, mỹ phẩm mức phí 1,8 triệu đồng/hồ sơ. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 277/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực dược, mỹ phẩm.
Thông tư quy định, tổ chức, cá nhân khi được cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các công việc liên quan đến lĩnh vực dược, mỹ phẩm quy định thì phải nộp phí. Cục Quản lý dược; Cục Quản lý y, dược cổ truyền (Bộ Y tế) và Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện các công việc quy định thu phí là tổ chức thu phí.
Thông tư nêu rõ mức phí thẩm định cấp phép lưu hành, nhập khẩu, xác nhận, công bố trong lĩnh vực dược phẩm, mỹ phẩm. Theo đó, thẩm định xác nhận nội dung thông tin, quảng cáo thuốc, mỹ phẩm là 1,8 triệu đồng/ hồ sơ.
Thẩm định cấp phép lưu hành thuốc và nguyên liệu làm thuốc đối với đăng ký lần đầu, đăng ký lại là 5,5 triệu đồng/ hồ sơ; Thẩm định cấp phép lưu hành thuốc và nguyên liệu làm thuốc đối với đăng ký gia hạn là 3 triệu đồng/ hồ sơ.
Thẩm định cấp giấy phép nhập khẩu dược liệu, vị thuốc cổ truyền là 200.000 đồng/ mặt hàng. Thẩm định công bố sản phẩm mỹ phẩm, công bố tiêu chuẩn dược liệu là 500.000 đồng/ mặt hàng.
Đối với phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, kinh doanh thuộc lĩnh vực dược, mỹ phẩm, Thông tư quy định: Thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất mỹ phẩm cấp Giấy chứng nhận GMP mỹ phẩm tuân thủ CGMP- ASEAN; thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất thuốc, dược liệu (GMP); thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện sản xuất bao bì dược phẩm đều có mức phí 20 triệu đồng/ cơ sở.
Tổ chức thu phí nộp toàn bộ số tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước. Nguồn chi phí trang trải cho việc thực hiện công việc và thu phí do ngân sách nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách nhà nước.
Trường hợp tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí theo quy định của Chính phủ thì được trích lại 70% số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho các nội dung chi theo quy định, nộp 30% tiền phí thu được vào ngân sách nhà nước.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017. đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Ban cán sự đảng Bộ Công Thương mới báo cáo Ban Tổ chức Trung ương đưa 3 trường hợp khỏi quy hoạch Thứ trưởng và yêu cầu Bộ trưởng Bộ Công Thương thu hồi Quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm, điều động 6 cán bộ không đúng quy định.
Theo đó, nhằm thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư và chỉ đạo của Thủ tướng về việc xử lý một số trường hợp được bổ nhiệm không đúng quy định; căn cứ Thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về kết luận kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng Bộ Công Thương và ông Vũ Huy Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương, Ban cán sự đảng Bộ Công Thương báo cáo Ban Tổ chức Trung ương đưa 3 trường hợp là ông Trịnh Xuân Thanh, ông Nguyễn Xuân Sơn và ông Võ Thanh Hà ra khỏi Quy hoạch chức danh Thứ trưởng Bộ Công Thương giai đoạn 2016-2021.
Ban cán sự Đảng Bộ Công Thương cũng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Công Thương thu hồi các Quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm, điều động cán bộ không đúng quy định đối với ông Trịnh Xuân Thanh, ông Vũ Quang Hải, ông Vũ Đình Duy, bà Vũ Thúy Huệ, ông Võ Thanh Hà và ông Vũ Hùng Sơn.
Cụ thể, với ông Trịnh Xuân Thanh: Thu hồi Quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm chức vụ Phó Chánh Văn phòng Bộ Công Thương, Trưởng đại diện Văn phòng Bộ tại thành phố Đà Nẵng; Quyết định bổ nhiệm chức vụ Vụ trưởng, Chánh Văn phòng Ban cán sự đảng, Thường trực Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Bộ Công Thương.
Với ông Vũ Quang Hải: Thu hồi Quyết định bổ nhiệm Kiểm soát viên kiêm nhiệm tại Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam; Quyết định bổ nhiệm Hàm Phó Vụ trưởng; Quyết định đồng ý điều động ông Vũ Quang Hải đến nhận công tác tại Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO) và đề cử tham gia Hội đồng quản trị SABECO. Đồng thời, giao Bộ phận đại diện phần vốn nhà nước tại SABECO báo cáo Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông SABECO xem xét miễn nhiệm theo trình tự luật định các chức danh Ủy viên Hội đồng quản trị, Phó Tổng giám đốc SABECO của ông Vũ Quang Hải.
Với ông Vũ Đình Duy: Thu hồi Quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp đối với ông Vũ Đình Duy.
Với bà Vũ Thúy Huệ: Thu hồi Quyết định điều động và bổ nhiệm bà Vũ Thúy Huệ giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Bộ Công Thương, đại diện Tổng cục Năng lượng tại thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, đồng ý để bà Vũ Thúy Huệ được thôi việc theo nguyện vọng cá nhân.
Với ông Võ Thanh Hà: Thu hồi Quyết định bổ nhiệm chức vụ Chánh Văn phòng Bộ Công Thương đối với ông Võ Thanh Hà.
Ban cán sự đảng cũng đã ra Nghị quyết hủy bỏ mục 3, phần III, Thông báo số 619-TB-BCSĐ ngày 26 tháng 9 năm 2015 của Ban cán sự đảng Bộ Công Thương về việc điều động ông Vũ Hùng Sơn, Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại giữ chức Chánh Văn phòng kiêm thư ký Bộ trưởng. (Pháp Luật Việt Nam 29/12) đầu trang(
PHÁT NGÔN NÓNG
Bồi thường sự cố môi trường biển: Đợt I phải xong trước Tết
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về các giải pháp ổn định đời sống và sản xuất, kinh doanh cho nhân dân 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường.
Trong đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành và địa phương liên quan quán triệt đến mọi cán bộ, công chức, người dân, các đơn vị, tổ chức liên quan, khẳng định Quyết định số 1880/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã cơ bản bao quát được các đối tượng bị thiệt hại trực tiếp do sự cố môi trường biển.
Do vậy, cần tập trung cao độ, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, hệ thống cơ quan hành chính triển khai nghiêm, đúng, đầy đủ nội dung của Quyết định số 1880/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn liên quan. Không xem xét, kiến nghị mở rộng phạm vi, đối tượng của Quyết định số 1880/QĐ-TTg cho đến khi có chỉ đạo mới của Thủ tướng Chính phủ.
Phó Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế tập trung khắc phục các khó khăn, đẩy nhanh tiến độ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đợt I cho các đối tượng, chậm nhất trước Tết âm lịch để người dân bước đầu ổn định đời sống. Khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở kinh nghiệm triển khai đợt I, khẩn trương triển khai chi trả đợt II đảm bảo người dân nhận được tiền bồi thường, hỗ trợ để ổn định đời sống và sản xuất kinh doanh.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xác định thiệt hại để bồi thường; hỗ trợ khôi phục sản xuất và đảm bảo an sinh xã hội cho người dân bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, căn cứ các nhiệm vụ được giao tại Đề án, các Bộ, ngành, địa phương liên quan tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ này, nhất là các chính sách về an sinh xã hội (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), các nhiệm vụ về quan trắc môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tổ chức Hội nghị triển khai Quyết định phê duyệt Đề án để sớm đưa các nội dung Quyết định vào thực hiện có hiệu quả.
Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính và Ủy ban nhân dân 4 tỉnh khẩn trương sớm xây dựng bổ sung định mức cho các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Quyết định số 1880/QĐ-TTg, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục tuyên truyền rộng rãi về việc môi trường biển đã an toàn như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 373/TB-VPCP ngày 16/11/2016; đồng thời phối hợp với Bộ Y tế và các địa phương, cơ quan liên quan chuẩn bị công bố biển an toàn, biển sạch toàn diện khi có đủ điều kiện.
Giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam triển khai ngay việc nghiên cứu và đánh giá khoa học về chất lượng hải sản tầng đáy tại vùng biển từ 20 km trở vào của 4 tỉnh miền Trung, đề xuất Thủ tướng Chính phủ thời điểm công bố khi đủ điều kiện.
Đối với đối tượng là cửa hàng ăn uống (phục vụ khách du lịch) ven biển thuộc đối tượng của Quyết định số 1880/QĐ-TTg theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng tại Thông báo số 380/TB-VPCP ngày 28/11/2016, Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương xác định rõ các tiêu chí; chủ trì đề xuất định mức hỗ trợ, gửi các Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước 15/1/2017.
Về xử lý số lượng hàng hải sản tồn kho, đối với lượng hải sản tồn kho không đảm bảo an toàn thực phẩm (bị nhiễm độc) đã được tiêu hủy, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND 4 tỉnh khẩn trương chi trả tiền hỗ trợ cho người dân theo đơn giá, định mức, khối lượng đã được phê duyệt, hoàn thành trước ngày 25/12/2016.
Đối với lượng hải sản tồn kho đảm bảo an toàn thực phẩm (không nhiễm độc), yêu cầu UBND 4 tỉnh tiến hành phân loại rõ theo chất lượng: loại hải sản đảm bảo chất lượng, đủ điều kiện để làm thực phẩm cho người và loại hải sản không đảm bảo chất lượng, không đủ điều kiện để làm thực phẩm cho người (chỉ có thể dùng vào các mục đích khác như thức ăn chăn nuôi…, hoặc tiêu hủy); thống kê, chốt số lượng của từng loại và chịu trách nhiệm về kết quả thống kê này. Đề xuất giải pháp xử lý, định mức hỗ trợ, báo cáo tổ công tác liên ngành do Bộ Công Thương làm tổ trưởng.
Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì thành lập tổ công tác liên ngành do 1 đồng chí lãnh đạo Bộ làm Tổ trưởng, thành viên là lãnh đạo cấp Vụ của các Bộ, cơ quan: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường (có thể mời đại diện Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia) với nhiệm vụ là đánh giá, xác nhận kết quả phân loại của 4 tỉnh. Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ này đồng thời với các tỉnh phân loại, thống kê để bảo đảm nhiệm vụ đánh giá, xác nhận được kịp thời.
Riêng đối với số lượng phát sinh thêm (như báo cáo của Quảng Bình tại cuộc họp), yêu cầu tỉnh Quảng Bình có giải trình, chứng minh nguồn gốc cụ thể (hóa đơn chứng từ, ngày tháng, đơn vị cung ứng…) với Tổ công tác liên ngành và phải được Bộ Y tế kiểm nghiệm. Trên cơ sở đó Tổ công tác liên ngành báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có phương án đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đối với các sản phẩm là 150 tấn sứa, sản phẩm khô… như báo cáo của tỉnh Hà Tĩnh tại cuộc họp, cũng phải chứng minh nguồn gốc như trường hợp báo cáo của tỉnh Quảng Bình. Nếu xác thực, giao Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát đối tượng tại Quyết định số 1880/QĐ-TTg và văn bản hướng dẫn liên quan, trường hợp chưa có định mức đề nghị đề xuất bổ sung định mức, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án xử lý. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phải chịu trách nhiệm trực tiếp về các đề nghị bổ sung này.
Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình rà soát, làm rõ kinh phí hỗ trợ chênh lệch giá bán cho các chủ tàu cá khai thác xa bờ trong thời gian từ ngày 30/4/2016 đến ngày 15/5/2016 đảm bảo không trùng lặp với tiền bồi thường, hỗ trợ cho người dân theo Quyết định số 1880/QĐ-TTg, báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chỉ đạo tại Công văn số 9942/VPCP-KTTH ngày 17/11/2016.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí, truyền thông tập trung tuyên truyền để tạo sự thống nhất, đồng thuận trong dư luận, xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền về kết quả công tác triển khai bồi thường, khắc phục hậu quả sự cố môi trường, về môi trường biển đã an toàn, về kết quả xử lý hành chính, công tác giám sát hoạt động sản xuất của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa. Tăng cường các bài báo đấu tranh, vạch mặt các đối tượng phản động, lợi dụng tuyên truyền, kích động, lôi kéo người dân vi phạm pháp luật, chống phá chính quyền, các chính sách của Đảng, Nhà nước.
Phó Thủ tướng đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các cơ quan tòa án, kiểm sát địa phương xử lý các khiếu nại, kiện cáo người dân theo đúng quy định của pháp luật và sẵn sàng phối hợp khi có nhiệm vụ phát sinh.
Cấp nước ổn định cho các đô thị, khu công nghiệp
Đến năm 2020, tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung tại các đô thị từ loại IV trở lên đạt 95%, các đô thị loại V đạt 80% với tiêu chuẩn cấp nước 120 lít/người/ngày đêm, chất lượng nước đạt quy chuẩn kỹ thuật theo quy định; các khu công nghiệp được cấp nước đầy đủ theo yêu cầu áp lực và lưu lượng.
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Điều chỉnh Định hướng phát triển cấp nước đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.
Mục tiêu đến năm 2025, tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung tại các đô thị đạt 100%, với tiêu chuẩn cấp nước bình quân đạt 120 lít/người/ngày đêm, chất lượng nước đạt quy chuẩn quy định; các khu công nghiệp được cấp nước đầy đủ theo yêu cầu áp lực và lưu lượng.
Tỷ lệ hệ thống cấp nước khu vực đô thị lập và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn đạt 75%; tỷ lệ thất thoát thất thu nước sạch tại các đô thị dưới 15%; dịch vụ cấp nước liên tục, đủ áp lực 24 giờ trong ngày.
Một trong các giải pháp thực hiện là quy hoạch, đầu tư phát triển và quản lý vận hành hệ thống cấp nước. Cụ thể, tổ chức lập hoặc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cấp nước quy mô vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm cấp nước an toàn; phát triển cấp nước đô thị kết hợp cấp nước cho khu dân cư nông thôn tập trung và khu công nghiệp trên địa bàn; ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình cấp nước quy mô vùng liên tỉnh.
Bên cạnh đó, đầu tư xây dựng đồng bộ các hạng mục công trình từ nguồn nước, xử lý nước đến mạng lưới đường ống cấp nước với các trang thiết bị tiên tiến, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát hoạt động công trình; từng bước đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, tự động hóa hệ thống cấp nước và bảo đảm cấp nước an toàn.
Đồng thời, thúc đẩy triển khai đầu tư xây dựng các dự án cấp nước theo hình thức đối tác công tư (PPP) và các hình thức đầu tư khác phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương; tập trung đầu tư mở rộng và cải tạo mạng đường ống cấp nước tăng tỷ lệ bao phủ và nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước; ưu tiên đầu tư các dự án bảo đảm cấp nước an toàn và chống thất thoát nước sạch; khuyến khích sử dụng vật tư, thiết bị có chất lượng cao được sản xuất trong nước khi đầu tư xây dựng và cải tạo công trình cấp nước.
Giải pháp khác là quản lý, sử dụng nguồn nước thích ứng với biến đổi khí hậu. Cụ thể, đẩy mạnh công tác lập quy hoạch tài nguyên nước; tăng cường công tác quản lý, giám sát, bảo vệ nguồn nước; kiểm soát chặt chẽ việc xả thải vào nguồn nước; xây dựng hệ thống hồ trữ nước mưa, nước mặt và các công trình ngăn mặn, xả lũ có tính đến biến đổi khí hậu; lập kế hoạch khai thác, sử dụng hồ trữ nước đa mục đích, ưu tiên cho khai thác cung cấp nước sinh hoạt.
Khai thác sử dụng nguồn nước ngầm hợp lý và từng bước giảm lưu lượng khai thác nước ngầm tại các đô thị lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long,…; nghiên cứu các giải pháp bổ cập nước ngầm hướng tới tạo nguồn nước dự phòng chiến lược trong trường hợp xảy ra các sự cố về nguồn nước mặt, hệ thống cấp nước và biến đổi khí hậu; thiết lập hệ thống kiểm soát, cảnh báo chất lượng, trữ lượng nguồn nước; nghiên cứu giải pháp dự phòng nguồn nước bảo đảm an toàn nguồn nước cho nhà máy nước.
Ứng dụng công nghệ thông tin, thiết bị thông minh trong quản lý, vận hành hệ thống cấp nước; lựa chọn công nghệ và thiết bị tiên tiến, có chế độ tự động hóa cao, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, thân thiện môi trường và bảo đảm cấp nước an toàn; nghiên cứu, tổ chức sản xuất vật tư, thiết bị trong nước có chất lượng cao, đến năm 2025 có khả năng cung cấp đầy đủ các chủng loại vật tư, thiết bị ngành nước.
Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong việc xử lý nước mặn, nước lợ cho các vùng bị xâm nhập mặn và khó khăn về nguồn nước; nghiên cứu công nghệ tái sử dụng nước mưa hỗ trợ nước sinh hoạt và các nhu cầu khác.
Danh mục dịch vụ sự nghiệp công của Bộ TT&TT
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Theo đó, danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông gồm dịch vụ của 6 lĩnh vực: 1- Lĩnh vực báo chí, xuất bản và thông tin cơ sở; 2- Lĩnh vực viễn thông, Internet; 3- Lĩnh vực bưu chính; 4- Lĩnh vực công nghệ thông tin; 5- Đào tạo chuyên ngành thông tin và truyền thông; 6- Nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Trong đó, lĩnh vực báo chí, xuất bản và thông tin cơ sở gồm các dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước như: Thông tin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị; thông tin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ đảm bảo an ninh - quốc phòng; thông tin tuyên truyền đối ngoại và phục vụ hội nhập quốc tế; thông tin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội: Phát triển nông nghiệp - nông thôn; phòng chống thiên tai, hiểm họa phục vụ cộng đồng; phục vụ thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội khác.
Với lĩnh vực công nghệ thông tin, các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước gồm: Điều phối hoạt động ứng cứu sự cố an toàn mạng và an toàn thông tin mạng; thu thập, phân tích, cảnh báo nguy cơ, sự cố, tấn công mạng; ứng cứu, ngăn chặn, xử lý, khắc phục và diễn tập phòng chống tấn công mạng; hỗ trợ phòng, chống, ngăn chặn thư rác, tin nhắn rác; giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin thuộc hệ thống Chính phủ điện tử; kiểm định, đánh giá an toàn thông tin mạng trong cơ quan nhà nước; cấp chứng thư số cho các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thư số công cộng.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Quyết định này; ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật trong lĩnh vực thông tin và truyền thông để quản lý cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật; phối hợp với Bộ Tài chính ban hành đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực thông tin và truyền thông sử dụng ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, quyết định việc đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng dịch vụ theo quy định pháp luật; đề xuất, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung danh mục dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước khi cần thiết.
Hoàn thiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự phát triển bền vững
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam tại cuộc họp Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh.
Về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, Phó Thủ tướng nhấn mạnh việc ban hành Kế hoạch là thể hiện việc triển khai đầy đủ, toàn diện các cam kết quốc tế của Việt Nam vì sự phát triển bền vững.
Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, tiếp tục hoàn chỉnh Dự thảo Kế hoạch để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, trong đó tập trung đề cập đầy đủ các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của Chương trình nghị sự 2030, kể cả các mục tiêu có tính đương nhiên, thể hiện việc Việt Nam tham gia toàn diện các mục tiêu phát triển bền vững Liên hợp quốc đã đề ra.
Có mục tiêu, chủ trương, chính sách và giải pháp phát triển cho từng giai đoạn gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội định kỳ 5 năm, có đánh giá định kỳ hàng năm, kết hợp với đánh giá kết quả thực hiện Báo cáo Việt Nam 2035.
Về các giải pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần làm rõ thêm các yêu cầu về công khai, minh bạch, chống tham nhũng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương; nhấn mạnh nhận thức về sự phát triển bền vững phải được thể hiện thành các giải pháp cụ thể và đặc biệt là trong phân bổ nguồn lực (gồm nguồn lực là tài nguyên thiên nhiên, tài chính và cả chỉ đạo, điều hành). Đồng thời, nghiên cứu xây dựng việc đánh giá có tính định lượng để đánh giá kết quả thực hiện đối với tối đa các mục tiêu cụ thể.
Hội đồng quốc gia phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh phải đảm nhiệm vai trò trung tâm trong tham mưu, tư vấn giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành và đánh giá việc thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia này.
Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Hội đồng Quốc gia về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm hoạt động thiết thực, hiệu quả.
Về vấn đề cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh theo Nghị quyết 19, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam giao các bộ, ngành khẩn trương có ý kiến về Dự thảo Nghị quyết 19 năm 2017, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để hoàn chỉnh, trình Chính phủ, trong đó xác định rõ và tăng cường trách nhiệm của từng bộ, cơ quan, địa phương trong việc cải thiện từng chỉ tiêu cụ thể trong các bộ chỉ số về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam theo công bố của Ngân hàng Thế giới (WB) và Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) và chỉ số năng lực sáng tạo theo công bố của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO).
Cùng với việc chuẩn bị Nghị quyết 19 năm 2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ biên soạn sổ tay với các nội dung cụ thể như cách thức thu thập, cung cấp số liệu, đánh giá đối với từng chỉ tiêu cụ thể để hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thực hiện.
Phó Thủ tướng giao Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chủ trì cùng Cổng Thông tin điện tử Chính phủ nghiên cứu việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế thu nhận, xử lý thông tin, phản ánh, kiến nghị của các doanh nghiệp theo hướng có sự phối hợp, huy động sự tham gia của một số cơ quan truyền thông, báo chí.
Yêu cầu Chủ tịch 2 tỉnh nghiêm túc kiểm điểm
Vừa qua, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ thứ 9. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.
Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, kết luận 7 nội dung sau.
Thứ nhất, thông qua Kế hoạch của UBKT Trung ương về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; trong đó, xác định rõ trách nhiệm và đề ra các nhiệm vụ cần thực hiện ngay, những nhiệm vụ thường xuyên và các giải pháp trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát nhằm góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Đã cho ý kiến vào dự thảo một số văn bản trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, gồm: Quy định về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; sửa đổi, bổ sung Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30/3/2013 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Quy chế giám sát trong Đảng và Chương trình kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2017.
Thứ hai, kết luận kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban cán sự đảng UBND tỉnh Bắc Ninh, nhiệm kỳ 2011-2016 và đồng chí Nguyễn Tử Quỳnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh.
Theo đó, Ban cán sự đảng UBND tỉnh Bắc Ninh chưa lãnh đạo, chỉ đạo UBND Tỉnh quy định cụ thể việc hỗ trợ giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp; chưa báo cáo xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền trước khi UBND Tỉnh ban hành các văn bản, quyết định về việc giao đất nêu trên. Thiếu kiểm tra, đôn đốc, dẫn đến việc giao đất ở một số địa phương thực hiện không thống nhất, không đúng quy trình, thủ tục.
Đối với đồng chí Nguyễn Tử Quỳnh, với cương vị Ủy viên Ban cán sự đảng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh nhiệm kỳ 2011-2016 và Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND Tỉnh, đồng chí có trách nhiệm đối với các khuyết điểm, vi phạm của Ban cán sự đảng UBND Tỉnh.
UBKT Trung ương yêu cầu Ban cán sự đảng UBND tỉnh Bắc Ninh và đồng chí Nguyễn Tử Quỳnh nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm sâu sắc; đồng thời, có biện pháp khắc phục trong thời gian tới.
Thứ ba, kết luận giải quyết tố cáo đồng chí Cầm Ngọc Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La.
Đồng chí Cầm Ngọc Minh đã có khuyết điểm, vi phạm trong việc chỉ đạo giao cho 01 doanh nghiệp thăm dò, khai thác cát trên sông Mã không đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Khuyết điểm, vi phạm của đồng chí Cầm Ngọc Minh đã được khắc phục kịp thời và chưa gây hậu quả. UBKT Trung ương yêu cầu đồng chí Cầm Ngọc Minh và các tổ chức, cá nhân có liên quan nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
Thứ tư, xem xét thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước và đồng chí Lê Dân, nguyên Bí thư Đảng ủy Ngoài nước.
Thời gian qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước đã để xảy ra tình trạng nội bộ mất đoàn kết; thực hiện không nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; trong công tác cán bộ và giải quyết tố cáo có vi phạm, khuyết điểm.
Với cương vị là người đứng đầu, đồng chí Lê Dân chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của tập thể Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010-2015. Đồng chí Lê Dân chưa thực hiện tốt việc giữ gìn đoàn kết nội bộ; chưa thực hiện đúng quy định của Đảng, Nhà nước trong việc bổ nhiệm, xử lý kỷ luật cán bộ và giải quyết tố cáo; chưa lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm Quy chế làm việc của Đảng ủy và cơ quan Đảng ủy Ngoài nước; phương pháp, tác phong công tác còn hạn chế; chưa thực sự nghiêm túc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm đã được chỉ ra sau khi kiểm tra.
Vi phạm, khuyết điểm nêu trên đã ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo và uy tín của Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước và cá nhân đồng chí Lê Dân, tạo dư luận không tốt trong Cơ quan.
Xét nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; căn cứ quy định của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với đồng chí Lê Dân; đồng thời, đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật khiển trách đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Ngoài nước nhiệm kỳ 2010-2015.
Thứ năm, xem xét báo cáo kết quả kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng đối với: Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBKT Tỉnh ủy các tỉnh Hưng Yên, Bình Thuận, Ban Thường vụ Quân ủy và UBKT Quân ủy Trung ương, Ban Thường vụ Đảng ủy và UBKT Đảng ủy Công an Trung ương; kiểm tra tài chính đảng đối với Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng và Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ; kiểm tra việc tiếp nhận, xử lý đơn thư, tiếp đảng viên và công dân đối với UBKT Tỉnh ủy Thái Nguyên và Bình Dương.
Qua kiểm tra, UBKT Trung ương đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng nêu trên rút kinh nghiệm, sớm có biện pháp khắc phục, sửa chữa trong thời gian tới.
Thứ sáu, xem xét báo cáo kết quả giám sát đối với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội; Ban Thường vụ Tỉnh ủy và một số đồng chí Thường trực Tỉnh uỷ các tỉnh Kon Tum, Bình Dương, Bạc Liêu. Qua giám sát, UBKT Trung ương đã chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và yêu cầu các tập thể, cá nhân có biện pháp khắc phục, sửa chữa kịp thời.
Thứ bẩy, cũng trong kỳ họp này, UBKT Trung ương đã xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng theo thẩm quyền đối với 05 trường hợp; tham gia ý kiến về việc giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với 02 trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Nâng cao hiệu quả công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung
Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ thị về việc tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng bền vững công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung.
Công trình nước sạch nông thôn là hạ tầng quan trọng, cung cấp nước sinh hoạt, góp phần cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe người dân, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn. Thời gian qua, Chính phủ đã tập trung nhiều nguồn lực để phát triển mạng lưới cấp nước sạch nông thôn, nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Việc bảo vệ, sử dụng, khai thác hiệu quả, bền vững, gắn với huy động các nguồn lực ngoài ngân sách cùng Nhà nước đầu tư phát triển, khai thác công trình nước sạch là rất cần thiết.
Công tác quản lý, sử dụng, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, Nhà nước từng bước nắm được số lượng, chất lượng, hiện trạng sử dụng, tình hình biến động của công trình để phục vụ công tác đầu tư, quản lý, khai thác, xác lập hồ sơ công trình và chủ thể được giao quản lý công trình, bước đầu xã hội hóa việc đầu tư, vận hành công trình nước sạch nông thôn.
Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện còn một số hạn chế như: một số công trình chưa được quyết toán hoặc hồ sơ quyết toán chưa đảm bảo yêu cầu, nguồn vốn đầu tư đa dạng từ nhiều chương trình, chia thành nhiều giai đoạn nên việc thiết lập hồ sơ ban đầu ở một số địa phương khó khăn; việc xác định giá trị công trình khi giao cho doanh nghiệp chưa được tính toán, giao theo giá trị còn lại thực tế, cơ chế cho doanh nghiệp nhận nợ chưa rõ ràng nên chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp trong việc nhận chuyển giao công trình...
Để tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng bền vững công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Sở, ngành liên quan, UBND các cấp rà soát, đánh giá việc thực hiện giao công trình nước sạch nông thôn tập trung, cơ chế hỗ trợ bù giá nước sạch nông thôn theo quy định.
Các công trình đã giao đang hoạt động có hiệu quả, tiếp tục giao cho đối tượng quản lý, sử dụng khai thác; các công trình chưa được giao cho đối tượng quản lý hoặc giao quản lý, vận hành chưa hiệu quả, tổ chức thực hiện đánh giá, xác định giá trị còn lại thực tế của từng công trình gắn với thời gian sử dụng thực tế; thời hạn đánh giá giá trị còn lại thực tế của từng công trình và giao cho đơn vị quản lý, vận hành chậm nhất đến 30/6/2017.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các bộ, ngành có liên quan và UBND cấp tỉnh điều chỉnh chính sách bàn giao công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung theo hướng các công trình sau khi rà soát, đánh giá xác định tại điểm b Mục 1 của Chỉ thị này được giao cho đơn vị có đủ năng lực quản lý, vận hành công trình theo quy định; thực hiện giao theo nhóm công trình trong một vùng, khu vực (xã, liên xã, huyện) theo quy hoạch, không giao riêng lẻ công trình thuận lợi có ưu thế khai thác. Thứ tự ưu tiên giao quản lý, vận hành công trình như sau: Giao cho doanh nghiệp; giao cho đơn vị sự nghiệp công lập; giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã.
Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, đối tượng giao quản lý, khả năng hỗ trợ của ngân sách nhà nước về cấp bù giá nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phương thức giao công trình, cụ thể: việc giao công trình cho đơn vị sự nghiệp công lập, cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện theo hình thức thỏa thuận hoặc đặt hàng.
Việc giao công trình cho doanh nghiệp được thực hiện theo phương thức đấu thầu để lựa chọn doanh nghiệp quản lý, vận hành, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn. Doanh nghiệp trúng thầu sẽ thực hiện thanh toán giá trị công trình quy định tại điểm b Mục 1 Chỉ thị này ngay khi nhận bàn giao hoặc thanh toán dần tương ứng với thời gian sử dụng còn lại thực tế của công trình (các nội dung cụ thể này là điều kiện đưa vào Hồ sơ thầu và Hợp đồng giao công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung).
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế cân đối ngân sách địa phương quyết định cấp bù từ Ngân sách địa phương hoặc nguồn Chương trình mục tiêu (nếu có) trong trường hợp giá bán nước sạch nông thôn do UBND cấp tỉnh quyết định thấp hơn giá thành được tính đúng, tính đủ theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp cấp nước (thông qua số lượng m3 nước sạch tiêu thụ của doanh nghiệp).
Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, sử dụng, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn theo phạm vi trách nhiệm của mình, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng và trường học tổ chức phổ biến, giáo dục, hướng dẫn nhân dân, học sinh tham gia bảo vệ công trình cấp nước, sử dụng nước tiết kiệm và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về cấp nước.
Chấm dứt ngay tình trạng chè chén, xa hoa, lãng phí
Chấm dứt ngay tình trạng ăn uống, chè chén, liên hoan, gặp mặt khi hội họp, được đề bạt, thuyên chuyển công tác và việc tổ chức cưới hỏi, ma chay, giỗ, tết... xa hoa, lãng phí, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây phản cảm trong dư luận xã hội.
Đây là một trong những nội dung nổi bật được nêu trong dự thảo Nghị quyết ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân trình bày tại Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương, ngày 28/12.
Dự thảo đề ra 8 nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung thực hiện, đồng thời lưu ý các bộ ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý, điều hành, kiểm soát việc thực thi quyền lực bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ tiêu cực trong cơ chế "xin - cho", "duyệt - cấp"; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, "lợi ích nhóm", "sân sau", trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, quản lý và sử dụng biên chế; tăng cường hiệu quả công tác phòng chống rửa tiền.
Kiên quyết sắp xếp lại bộ máy, đẩy mạnh xã hội hóa, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với cải cách chế độ công vụ; thực hiện đồng bộ cải cách hành chính nhà nước, tập trung rà soát, loại bỏ thủ tục hành chính phiền hà, không còn phù hợp, gây khó khăn, cản trở liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước...
Sửa đổi và bổ sung quy định để tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong xử lý cán bộ, công chức, viên chức dưới quyền bằng biện pháp tạm đình chỉ công tác khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; các quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức kể cả khi đã thôi việc, nghỉ hưu, chuyển công tác bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.
Khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ như phân công, phân cấp quản lý, quy trình bổ nhiệm... tình trạng kén chọn vị trí, chức danh.
Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ quản lý và người đứng đầu các cấp.
Tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở đối với cán bộ, công chức.
Thực hiện nghiêm Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Chỉ thị 11-CT/TW của Ban Bí thư về tổ chức Tết năm 2017; Chỉ thị số 26/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính các cấp.
Chấm dứt ngay tình trạng ăn uống, chè chén, liên hoan, gặp mặt khi hội họp, được đề bạt, thuyên chuyển công tác và việc tổ chức cưới hỏi, ma chay, giỗ, tết... xa hoa, lãng phí, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây phản cảm trong dư luận xã hội.
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức đoàn công tác của lãnh đạo Chính phủ, bộ, ngành đi địa phương.
Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các quy định, quy chế về trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, phong cách lối sống, quy tắc ứng xử của cơ quan nhà nước, của đơn vị sự nghiệp công lập, của cán bộ, công chức, viên chức.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Trước mắt, tập trung xử lý ngay, dứt điểm đối với các dự án thất thoát, thua lỗ lớn, lãng phí, những vụ việc tham nhũng, tội phạm kinh tế và tội phạm về chức vụ nghiêm trọng, phức tạp... được dư luận xã hội, nhân dân quan tâm. Xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, công chức, viên chức sai phạm theo quy định của pháp luật.
Xây dựng quy định khung về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp; có hình thức xử lý phù hợp, kịp thời đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp.
Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hỗ trợ Bình Định khắc phục hậu quả mưa lũ
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu lãnh đạo các Bộ, ngành phối hợp với các địa phương tập trung chỉ đạo khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ, giúp nhân dân tỉnh Bình Định ổn định lại đời sống.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bình Định phải rà soát các hộ có nguy cơ thiếu đói, kịp thời cứu trợ lương thực, nhu yếu phẩm cho người dân, không để người dân bị đói, khát. UBND tỉnh chủ động sử dụng nguồn ngân sách của địa phương và các nguồn kinh phí hợp pháp khác thực hiện ngay các chính sách hỗ trợ, nhất là các hỗ trợ gia đình có người chết, người bị thương, gia đình bị mất nhà cửa, mức hỗ trợ cụ thể tuỳ điều kiện của các địa phương; ngân sách trung ương sẽ cân đối, hỗ trợ các địa phương khó khăn theo đúng quy định.
Bí thư Tỉnh uỷ phải yêu cầu cấp uỷ các cơ quan, đơn vị huy động lực lượng quân đội, công an, thanh niên, phụ nữ,… tham gia dọn vệ sinh môi trường, sớm đưa học sinh trở lại trường, tổ chức khám, chữa bệnh cho người dân vùng bị ngập lũ; đặc biệt hỗ trợ sửa chữa, dựng ngay nhà cửa bị đổ trôi, chủ động bố trí chỗ ở tạm, không để người dân sống cảnh “màn trời chiếu đất”.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương chỉ đạo các chủ đập kiểm tra, khắc phục kịp thời các sự cố đê điều, hồ đập để chủ động ứng phó với diễn biến thời tiết thời gian tới, nhất là bảo đảm an toàn các hồ chứa nước, đồng thời bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt trong mùa khô tới.
Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý hỗ trợ bổ sung 2.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Bình Định để cứu trợ cho Nhân dân bị thiệt hại do lũ lụt; bổ sung trước 80 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương cho tỉnh Bình Định để kịp thời thực hiện chính sách hỗ trợ dân sinh, khẩn trương khắc phục hậu quả lũ lụt theo quy định.
Thủ tướng Chính phủ cũng đồng ý về chủ trương hỗ trợ bằng tiền để tỉnh Bình Định tự mua giống lúa phù hợp với mùa vụ; không thu học phí học kỳ II năm học 2016-2017 đối với học sinh là con các gia đình bị thiệt hại nặng do lũ lụt vừa qua trên địa bàn tỉnh Bình Định theo quy định tại Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015.
Để phòng, chống mưa lũ trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Chương trình tổng thể phòng chống thiên tai cho khu vực miền Trung; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức nghiên cứu, đánh giá toàn diện, cụ thể về thực trạng thiên tai (mưa lũ, ngập lụt, hạn hán) ở miền Trung và Tây Nguyên, xác định rõ nguyên nhân, đề xuất các giải pháp xử lý tổng thể, căn cơ chủ động ứng phó, thích nghi.
Bộ Giao thông vận tải kiểm tra, xử lý công trình giao thông chưa phù hợp, cản trở thoát lũ, ảnh hưởng an toàn khu dân cư, chủ động mở rộng khẩu độ đối với các cầu, cống gây cản lũ để đảm bảo thoát lũ, không để tình trạng ngập lụt ngày càng nghiêm trọng do ảnh hưởng của công trình giao thông...
Từ tháng 10 đến nay, khu vực miền Trung, Tây Nguyên liên tiếp xảy ra 5 đợt mưa lũ lớn, riêng tỉnh Bình Định hơn 1 tháng qua 4 lần bị ngập lụt. Đây là đợt lũ muộn, bất thường, đỉnh lũ một số nơi xấp xỉ mức lũ lịch sử, gây ngập lụt trên diện rộng, nhiều khu dân cư bị ngập sâu, cô lập, chia cắt dài ngày, sản xuất bị đình trệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sinh hoạt của hàng chục ngàn hộ dân, thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của Nhân dân, hàng loạt công trình cơ sở hạ tầng, nhất là về dân sinh, giao thông, thủy lợi, thủy sản bị tàn phá...
Tăng cường nguồn lực cho công tác dân tộc
Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu Ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, với tinh thần đổi mới, sáng tạo Nghị định 5/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc và các chương trình hành động về công tác dân tộc...
Vùng dân tộc và miền núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, là địa bàn sinh sống chủ yếu của 53 dân tộc thiểu số với gần 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước. Đây là vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái của cả nước... Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm phát triển vùng dân tộc và miền núi.
Nghị định số 5/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc là văn bản chuyên ngành có giá trị pháp lý cao nhất, có tính đột phá, tạo khuôn khổ pháp luật để thống nhất nhận thức và hành động trong công tác dân tộc. Tuy nhiên qua quá trình triển khai, các quy định trong Nghị định 5/2011/NĐ-CP còn bộc lộ nhiều hạn chế như các quy định còn chung, chưa có cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả các nhóm chính sách.
Bên cạnh đó, việc ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện ở một số bộ, ngành chưa kịp thời, còn hạn chế, nhất là cơ chế, chính sách thu hút đầu tư; hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chính sách tạo việc làm tuy đã được lồng ghép với chính sách giảm nghèo nhưng trong thực hiện còn nhiều bất cập; việc phân cấp đối với các địa phương triển khai chậm, hiệu quả chưa cao...
Công tác dân tộc trong thời gian tới rất nặng nề, có ý nghĩa quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, Phó Thủ tướng đã yêu cầu Ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành, địa phương cần quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác này; nhận rõ trách nhiệm và đề cao quyết tâm, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc; trong đó, tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, với tinh thần đổi mới, sáng tạo Nghị định 5/2011/NĐ-CP, Chiến lược và Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, Chỉ thị số 28 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
Cụ thể, về Nghị định 5/2011/NĐ-CP, Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật cho giai đoạn 2016 - 2021; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai hiệu quả Chương trình 135 giai đoạn 2016 - 2020.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tăng cường nguồn lực nhà nước, đề xuất chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có nguồn lực của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc và miền núi.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành ban hành văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới; xây dựng cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, sử dụng, bổ nhiệm nhằm nâng cao số lượng, chất lượng cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số.
Các địa phương có vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị định 5/2011/NĐ-CP và các chính sách dân tộc hiện hành; chủ động ưu tiên nguồn lực, lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn với chính sách dân tộc, tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải. Khuyến khích các địa phương ban hành các chính sách đặc thù, bố trí thêm nguồn lực để tổ chức thực hiện tốt các chính sách dân tộc; quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới.
Điều chuyển vốn cho Dự án cấp điện nông thôn tỉnh Đắk Lắk
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đồng ý điều chuyển 15,066 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương kế hoạch năm 2015 đã bố trí cho Dự án san nền tổng thể khu trung tâm đô thị cơ quan hành chính huyện Krông giai đoạn 1 sang thực hiện Dự án cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia tỉnh Đắk Lắk.
Thời gian thực hiện và giải ngân hết ngày 31/01/2017. Phó Thủ tướng giao các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính xử lý cụ thể theo quy định.
Phó Thủ tướng giao UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành Dự án để kịp phục vụ điện cho nhân dân đón Tết Nguyên đán năm 2017; quản lý, sử dụng số vốn được điều chuyển nêu trên đúng mục đích, đúng quy định; chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nội dung, số liệu đã báo cáo.
Chỉ đạo của Thủ tướng về công trình cao tầng trong nội đô Hà Nội
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc đầu tư xây dựng công trình cao tầng trong khu vực nội đô lịch sử thành phố Hà Nội.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng công trình cao tầng theo Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc công trình cao tầng trong khu vực nội đô lịch sử thành phố Hà Nội; xử lý đúng thẩm quyền, theo đúng quy định của pháp luật.
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo việc sửa đổi Quyết định số 11/2016/QĐ-UBND ngày 4/4/2016 của UBND thành phố Hà Nội, không được quy định trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ trong quyết định của UBND thành phố Hà Nội.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Hà Nội và Văn phòng Chính phủ cần rút kinh nghiệm trong việc trình, xử lý các hồ sơ để xử lý đúng thẩm quyền, không đẩy việc lên Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ thị về việc đẩy mạnh thực hiện hiệu quả, bền vững Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.
Trong 6 năm qua, Chính phủ cùng các Bộ, ngành, cấp ủy, chính quyền các cấp, cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước đã chung sức, đồng lòng tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và đạt được nhiều kết quả quan trọng, thu nhập và đời sống của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bộ mặt nông thôn được đổi mới, cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội được cải thiện và nâng cấp rõ rệt; hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố... Đến nay, cả nước đã có 2.235 xã, 30 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân cả nước đạt 13,45 tiêu chí/xã.
Tuy nhiên, trong triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới, đã có một số khó khăn, bất cập như việc tổ chức sản xuất trong nông nghiệp còn thiếu tính liên kết bền vững; một số địa phương mới chỉ tập trung cho xây dựng cơ sở hạ tầng, nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức tới phát triển sản xuất gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, cũng như xây dựng đời sống văn hóa và bảo vệ môi trường...
Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả, bền vững mục tiêu về xây dựng nông thôn mới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương tập trung chỉ đạo nâng cao hơn nữa nhận thức vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp và cả hệ thống chính trị, nhất là vai trò của người đứng đầu trong xây dựng nông thôn mới, phải xác định nông thôn mới là nông thôn của khát vọng khởi nghiệp, làm giàu, thu hút các nguồn lực phát triển và lan tỏa các giá trị bền vững.
Đồng thời rà soát lại tất cả các cơ chế, chính sách để thực hiện Chương trình một cách hiệu quả; có các cơ chế thích hợp và đủ mạnh để thực sự khuyến khích việc ứng dụng khoa học - công nghệ, huy động nguồn lực, thu hút doanh nghiệp, đào tạo nhân lực đầu tư vào địa bàn nông thôn, phát triển sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chú trọng công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp thu dụng nhiều lao động nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế nông thôn.
Bên cạnh đó chỉ đạo thực hiện phát triển sản xuất nông nghiệp, cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình đô thị hóa một cách hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn từng vùng, miền. Theo đó, tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn, nhất là việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; giải pháp hỗ trợ hình thành liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị bền vững với quy mô sản xuất hàng hóa lớn đối với nhóm sản phẩm chủ lực cấp huyện, tỉnh và cấp quốc gia; tạo môi trường thuận lợi cho các hợp tác xã nông nghiệp phát triển, thúc đẩy các mô hình hợp tác liên doanh, liên kết có hiệu quả.
Đối với việc thực hiện Bộ tiêu chí nông thôn mới, từng địa phương phải xác định rõ tiêu chí trọng tâm để tập trung chỉ đạo, trong đó cần tập trung vào các tiêu chí nhằm khắc phục triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng nguy hại đến đời sống của người nông thôn, nhất là ở các vùng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu; quan tâm đến các tiêu chí về đời sống người dân, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, an toàn vệ sinh thực phẩm, an ninh, an toàn xã hội, nâng cao sức khỏe trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc của các vùng, miền, sự vững mạnh của hệ thống chính trị; xây dựng mô hình nông thôn mới kiểu mẫu gắn liền với đô thị văn minh.
Nghiêm túc công nhận xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới, đảm bảo chất lượng, thực chất, không chạy theo thành tích. Đối với các xã, huyện đã đạt chuẩn nông thôn mới, cần tập trung rà soát, nâng cao chất lượng các tiêu chí để tiếp tục phấn đấu xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Tiếp tục đa dạng hóa các nguồn vốn để thực hiện Chương trình, gắn kết chặt chẽ giữa Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các chương trình mục tiêu, các dự án hỗ trợ khác trên địa bàn; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; tăng cường các hình thức hợp tác công tư và xã hội hóa để thu hút đầu tư vào bảo vệ và xử lý môi trường, giao thông nông thôn, hạ tầng thương mại, cung cấp nước sạch, dịch vụ văn hóa-thể thao; công khai các khoản đóng góp của dân, theo nguyên tắc tự nguyện và do hội đồng nhân dân cấp xã thông qua.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị, nâng cao nhận thức và chất lượng của các cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng nông thôn mới; lưu ý bố trí đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực và tâm huyết để làm chuyên trách về xây dựng nông thôn mới phải đủ để đáp ứng yêu cầu công việc nhưng đảm bảo nguyên tắc không tăng phát sinh biên chế ở từng cấp.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng nông thôn mới. Định kỳ, tổ chức điều tra về sự hài lòng của người dân đối với tiến độ và kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xác định chính xác số nợ đọng xây dựng cơ bản của Chương trình xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên bố trí vốn thanh toán nợ đọng trước khi bố trí vốn cho các dự án khởi công mới; xây dựng kế hoạch, lộ trình xử lý dứt điểm trước năm 2019, không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản mới.
Riêng các địa phương tự cân đối ngân sách phải chủ động sử dụng ngân sách địa phương để cơ bản xử lý dứt điểm số nợ đọng trước tháng 6/2018. Bổ sung tiêu chí về nợ đọng xây dựng cơ bản trong việc thẩm định và xét công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới.
Kiểm điểm, xử lý nghiêm trách nhiệm cá nhân người đứng đầu nếu tiếp tục để xảy ra tình trạng huy động quá sức dân, nợ đọng xây dựng cơ bản sai quy định trong thực hiện Chương trình.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện Nghị quyết số 32/2016/QH14 của Quốc hội khóa XIV về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020; trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 1/2017. đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Bộ Công Thương hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính. Lễ khai trương Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Công Thương và Dịch vụ công mức độ 4 Dán nhãn năng lượng vừa được cơ quan này tổ chức tại Hà Nội.
Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Công Thương tích hợp toàn bộ các dịch vụ công cấp độ 3 và 4 của Bộ tại một cửa duy nhất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc thực hiện các thủ tục hành chính. Thông qua Cổng dịch vụ công trực tuyến này, các thủ tục hành chính của Bộ sẽ được thực hiện trên mạng theo một quy trình thống nhất chung; cho phép người khai có thể thực hiện tất cả các dịch vụ công thông qua một tài khoản duy nhất; giảm thiểu số lượng chứng từ và dữ liệu khai báo, giúp giảm thời gian, số lượng hồ sơ mà DN phải nộp…
Theo đánh giá của ông Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công Thương, đây là bước cải cách lớn, giúp doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công thương có thể giảm thiểu được thời gian xin hồ sơ của thủ tục này, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.
Bộ Nội vụ: Sáp nhập quận, bộ máy chính quyền tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn. Theo Thứ trưởng Trần Anh Tuấn, việc sáp nhập sẽ góp phần tinh gọn bộ máy, đảm bảo tinh giản biên chế tốt hơn, giảm bớt chi tiêu không cần thiết khi bộ máy cồng kềnh để tiết kiệm ngân sách nhà nước.
Đi ngược với xu hướng chia tách với lý do đô thị hóa để tăng thêm bộ máy và biên chế ở một số địa phương thời gian qua, mới đây, Thành phố Hồ Chí Minh lại có đề xuất sáp nhập một số đơn vị hành chính như phường và quận, để giảm biên chế.
Đề xuất này được Phó Giám đốc Sở Nội vụ Đỗ Văn Đạo đưa ra tại buổi làm việc của Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng với Quận ủy Bình Tân, chiều 23/12. Công việc khó khăn, nhạy cảm này có thể động chạm đến lợi ích của một bộ phận cán bộ nhưng lại nhận được sự đồng thuận của nhiều chuyên gia và cơ quan quản lý nhà nước.
Ủng hộ quan điểm sáp nhập, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn cho biết việc sáp nhập sẽ góp phần tinh gọn bộ máy, đảm bảo tinh giản biên chế tốt hơn, giảm bớt chi tiêu không cần thiết khi bộ máy cồng kềnh để tiết kiệm ngân sách nhà nước. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các địa phương đang đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách công vụ, công chức, xây dựng chính quyền điện tử, hình thành những mô hình trung tâm hành chính công thuộc UBND quận (huyện) để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong giải quyết thủ tục hành chính, vì vậy, việc sáp nhập sẽ không ảnh hưởng đến quá trình này.
“Tôi tin việc sáp nhập sẽ đảm bảo hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương hiệu quả hơn, tinh giản biên chế, đưa những người không làm được việc ra để giữ lại những người làm việc tốt”, Thứ trưởng Tuấn nói.
Triển khai Luật chính quyền địa phương, vừa qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1211 về tiêu chuẩn phân loại đơn vị hành chính. Trong đó, quy định rõ các tiêu chí để phân loại các đơn vị hành chính. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo cho việc sáp nhập đơn vị hành chính quận, huyện. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra được dư luận xã hội quan tâm và cũng là nguyên nhân khiến một bộ phận không đồng tình với đề xuất sáp nhập quận, phường này là sắp xếp cán bộ dôi dư.
Nêu quan điểm của mình, Thứ trưởng Trần Anh Tuấn cho rằng số cán bộ dôi dư sẽ được sắp xếp, phân loại theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Theo đó, ai không đáp ứng yêu cầu công việc thì tạo điều kiện để họ tìm công việc mới. Những người đáp ứng yêu cầu công việc được giữ lại và thu hút thêm người có năng lực. Ông cho rằng không nên nghi ngại việc sáp nhập.
Trên cơ sở khi sáp nhập, quận, huyện phải xác định vị trí việc làm cho từng người trong đơn vị, bố trí người vào vị trí phù hợp, phân công nhiệm vụ rõ ràng, rành mạch cùng với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để công việc “chạy” hiệu quả hơn.
Theo Thứ trưởng Trần Anh Tuấn, các đơn vị hành chính, cơ quan sự nghiệp cấp quận huyện, xã phường nói chung, nếu có thể sáp nhập, đảm bảo sự tinh gọn, đảm bảo phục vụ nhân dân tốt hơn, không cần đến bộ máy cồng kềnh, nhiều biên chế thì nên thực hiện. Một số địa phương, một số người vì cục bộ, lợi ích cá nhân thích tách ra để thêm biên chế, vị trí, thêm ghế, nhưng nhìn về yêu cầu xây dựng cơ quan hành chính nhà nước, phục vụ nhân dân tốt hơn thì nên ủng hộ việc sáp nhập, Thứ trưởng Tuấn bày tỏ.
Bộ TT&TT đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cải cách thủ tục hành chính. Theo báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2016 của Bộ TT&TT, trong năm qua, Bộ TT&TT đã thực hiện đầy đủ các nội dung về chỉ đạo điều hành theo Bộ chỉ số cải cách hành chính cấp Bộ.
Sáng 27/12/2016, tại Hà Nội, với vai trò Trưởng Ban, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng đã chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Bộ TT&TT.
Theo báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2016 của Bộ TT&TT, trong năm qua, Bộ TT&TT đã thực hiện đầy đủ các nội dung về chỉ đạo điều hành theo Bộ chỉ số cải cách hành chính cấp Bộ. Các kế hoạch kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, kế hoạch thanh tra đều được hoàn thành 100%.
Đặc biệt, Bộ trưởng Bộ TT&TT đã ký Quyết định số 1243 ban hành Kế hoạch rà soát, đánh giá thủ tục hành chính theo chuyên đề lĩnh vực báo chí thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ TT&TT năm 2016, theo đó, Cục Báo chí chủ trì rà soát, đánh giá, kiến nghị và đề xuất phương án đơn giản hóa 35 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực báo chí.
Về việc công khai thủ tục hành chính, hiện nay, đã có 256 thủ tục hành chính của Bộ T&TT được công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ.
Việc trao đổi văn bản giữa các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ dưới dạng điện tử tiếp tục được tăng cường. Năm 2016, dự kiến đạt tỷ lệ trên 80%. Bộ TT&TT cũng đã hoàn thành việc thiết lập liên thông hệ thống quản lý văn bản điều hành giữa Bộ và Văn phòng Chính phủ qua trục liên thông của Văn phòng Chính phủ.
Theo dự thảo Kế hoạch Cải cách hành chính năm 2017 của Bộ TT&TT, mục tiêu chung là: Đẩy mạnh hoạt động cải cách hành chính của Bộ TT&TT, nâng cao chất lượng cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, tài chính công và hiện đại hóa hành chính; Nâng cao chỉ số cải cách hành chính của Bộ TT&TT năm 2017 và các năm tiếp theo...
Hải quan Quảng Ninh: Cải cách để tạo điều kiện tối đa cho DN. Năm 2016, lưu lượng hàng hóa XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh tiếp tục có sự gia tăng cả về kim ngạch lẫn số lượng DN tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Tính đến hết 25-11, qua địa bàn có 962 DN tham gia thủ tục hải quan, với 54.959 tờ khai, tăng 7,75% so với cùng kỳ năm trước. Sự gia tăng này cũng kéo theo kim ngạch XNK có sụ tịnh tiến, tăng 57,2% (đạt trên 13,3 tỷ USD).
Trong đó, kim ngạch NK đạt 8,3 tỷ USD, tăng 52,5% và kim ngạch XK đạt trên 5 tỷ USD, tăng 65,8%.
Đứng trước yêu cầu vừa tạo thuận lợi, vừa đảm bảo công tác quản lý của mình, Hải quan Quảng Ninh đã cụ thể hóa nội dung kế hoạch, chương trình cải cách hành chính của ngành, của tỉnh.
Đơn cử như đơn vị tiếp tục duy trì và triển khai có hiệu quả Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, rút ngắn thời gian thông quan giảm xuống còn từ 1-3 giây đối với tờ khai luồng Xanh, tỷ lệ tờ khai phân luồng Xanh tăng trên 60%, thời gian thông quan đạt chỉ tiêu mà Bộ Tài chính đề ra (đối với hàng NK không quá 41 giờ, hàng XK khôngquá 39 giờ - PV). Đồng thời, đơn vị còn khai thác triệt để) áp dụng có hiệu quả 29 phần mềm, chương trình nghiệp vụ kết nối mạng LAN, WAN toàn Ngành góp phần nâng cao hiệu qủa quản lý.
Cùng với đó, một số chương trình cải cách đã được đơn vị vận hành thông suốt như Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN; tham mưu đề xuất triển khai 2 địa điếm kiểm tra chuyên ngành tập trung tại khu vực cảng Cái Lân và cửa khẩu Móng Cái.
Sau gần 1 năm triển khai địa điểm kiểm tra chuyên ngành ở 2 địa điểm đã phát huy hiệu quả, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa và tạo thuận lợi cho DN. Tại các diêm kiêm tra chuyên ngành, công tác phối hợp giữa Hải quan với các cơ quan kiểm tra chuyên ngành và DN trong việc kiểm tra, lấy mẫu hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành đã nhanh chóng và thuận lợi hơn; đảm bảo chặt chẽ trong việc quản lý đối với hàng hóa thuộc trường hợp kiểm tra chuyên ngành và xử lý các lô hàng không đạt chất lượng.
Thời gian từ khi đăng ký kiểm tra, lấy mẫu đến khi nhận thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành (Đăng kiểm Việt Nam; Chi nhánh Vinacontrol tại Hải Phòng và Quảng Ninh) giảm trước đây. Đáng kể có mặt hàng vải may mặc thời gian giảm còn 1 ngày so với 5 ngày so với trước đây; mặt hàng ô tô NK là 5,8 ngày, giảm 0,4 ngày.
Bên cạnh đó, Hải quan Quảng Ninh triển khai dịch vụ công trực tuyến theo kế hoạch 1 của Tổng cục Hải quan, với 46 thủ tục mức độ 3 tại cấp Cục và Chi cục. Theo định kỳ 6 tháng tại cấp Cục và 3 tháng tại cấp Chi cục, đơn vị tổ chức các Hội nghị đối thoại Hải quan-Doanh nghiệp để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, cũng như giải đáp kịp thời những thắc mắc mà DN phản ánh.
Đơn vị cũng duy trì thường xuyên các Tổ giải quyết vướng mắc ớ cấp Cục và Chi cục, qua đó kịp thời hỗ trợ, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc của DN trong quá trình làm thủ tục hải quan. Ngay như trong phối hợp thu nộp NSNN bằng phương thức điện tử qua các ngân hàng thương mại chiếm 96% tổng thu; triển khai Quy trình sử dụng Seal định vị GPS trong quản lý, giúp giám sát chặt đối với hàng hóa vận chuyên bằng container...
Năm 2016, Hải quan Quảng Ninh đã sử dụng hiệu quả các phần mềm quản lý như quản lý hàng hóa ra, vào Kho ngoại quan; quản lý hàng cư dân biên giới; thống kê hàng hóa XNK... nhận được sự đồng tình của cộng đồng người dân, DN. Các phần mềm quản lý này còn phát huy tính sáng tạo, sự phối hợp của các đơn vị thuộc và trực thuộc trước những đòi hỏi từ thực tế.
Mới đây nhất, vào cuối tháng 6-2016, 2 đơn vị Chi cục Hải quan Bắc Phong Sinh và Trung tâm dữ liệu và CNTT đã nghiên cứu, xây dụng vận hành thành công phần mềm quản lý hàng hóa tạm nhập, tái xuất, kho ngoại quan từ nơi khác chuyển đến.
Phần mềm được xây dựng trên công nghệ Web và dữ liệu tập trung, đáp ứng các tiện ích và tính năng về Hệ thống cơ sở dữ liệu; tiếp nhận thông tín, phân công công chức thực hiện, hoàn thiện hồ sơ...
Trước đó, cuối năm 2015, đầu năm 2016, để đảm bảo công tác quản lý hàng hóa của cư dân biên giới qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái, phần mềm quản lý cư dân biên giới do Đội Thủ tục hàng hóa XNK II (Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái) và Trung tâm Dữ liệu và CNTT xây dựng đã giúp kiểm soát chặt chẽ, đúng quy định, đối với hàng hóa trao đổi của cư dân biên giói.
Phần mềm này được xây dựng với mục đích kiểm soát chặt chẽ số lượt đi của người XNK, số lần được miễn thuê trong ngày của cư dân khi mang hàng thuộc danh mục miễn thuế. Với việc triển khai phần mềm này, dữ liệu được quản lý tập trung, các bảng kê được nhập máy và lưu giữ cả bằng dữ liệu điện tử đã tạo thuận lợi cho công tác thống kê số lượng, trị giá, số thuế được miễn thuế và thuận tiện, dễ tra cứu.
Loại bỏ việc ghi chép số theo dõi bằng phương pháp thủ công của CBCC Hải quan cũng như công đoạn hàng tháng đều phải in thêm sổ theo dõi hàng hóa cư dân biên giới. Ngoài ra, phần mềm còn có thể hỗ trợ khai báo trên bảng kê cho các đối tượng là cư dân có trình độ thấp; không biết chữ, người cao tuổi, cư dân Trung Quốc không biết tiếng Việt.
Phát huy những kết quả đạt được, năm 2017, Cục Hải quan Quảng Ninh tiếp tục đề ra 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong công tác cải cách hanh chính gồm: Cải cách thể chế; cải cách thủ tục; cải cách tổ chức bộ máy; xây dụng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính.
Trong đó, đơn vị sẽ xây dựng và ban hành Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017, tiếp tục tập trung triển khai, đánh giá, rà soát thủ tục hành chính nhằm kịp thời phát hiện vướng mắc, phát sinh 1 trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đề xuất hủy bỏ hoặc sửa đổi bổ sung thủ tục hành chính không còn phù hợp.
Đồng thời, tiếp tục triêrì khai Hệ thống đánh giá hiệu quà hoạt động hải quan và công tác đo thòi gian giải phóng hàng; tiếp nhận và triêrì khai bộ hệ thống chỉ số đánh giá kết quả công việc theo lĩnh vực nghiệp vụ hải quan...
Ra mắt cổng thông tin điện tử ngành y tế TP.HCM. Sáng 30-12, Sở Y tế TP.HCM chính thức làm Lễ ra mắt Cổng thông tin điện tử ngành y tế TP.HCM, tại địa chỉ http://www.medinet.gov.vn, với hệ thống trang tin chung của Sở và các trang tin con của từng phòng ban chức năng.
Sau 3 năm thành lập, trang thông tin của Sở Y tế TP.HCM bộc lộ nhiều khuyết điểm như khó tìm kiếm, không thuận tiện cho việc tích hợp các ứng dụng trên web và không phù hợp với quy định cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử… Do đó, sau hơn 4 tháng thực hiện, Sở Y tế đã nâng cấp trang thông tin điện tử sẵn có thành Cổng thông tin điện tử với tên miền http://www.medinet.gov.vn.
Hiện tại, trang điện tử http://medinet.hochiminhcity.gov.vn vẫn được vận hành song song với Cổng thông tin điện tử. Đến 1-1-2017, trang điện tử http://medinet.hochiminhcity.gov.vn sẽ chấm dứt vận hành, toàn bộ hoạt động trao đổi thông tin giữa Sở Y tế và các đơn vị trực thuộc, các đơn vị trong ngành y tế thành phố và các cơ quan báo chí, truyền thông sẽ được vận hành qua cổng thông tin điện tử của ngành y tế Thành phố http://www.medinet.gov.vn.
Cụ thể, bắt đầu từ 1-1-2017, tất cả văn bản kết luận - chỉ đạo điều hành quan trọng, thông báo, thư mời của Sở Y tế đều sẽ được đưa lên Cổng thông tin điện tử.
Đồng thời từ 1-1-2017, Sở Y tế cũng sẽ triển khai liên thông văn bản giữa các cơ sở y tế trong toàn ngành. Các cơ sở y tế trong toàn ngành có thể gửi văn bản về Sở Y tế và tiếp nhận văn bản từ Sở Y tế qua môi trường mạng.
Sở Y tế sẽ chấm dứt gửi văn bản, thông báo, thư mời đến các đơn vị. Do vậy, các đơn vị có nhiệm vụ chủ động truy cập trực tiếp vào Cổng thông tin điện tử ngành y tế thành phố để gửi văn bản đi và tiếp nhận văn bản đến, bao gồm thư mời/thông báo của Sở Y tế để kịp thời triển khai công tác hoặc sắp xếp dự họp đầy đủ thành phần.
Việc tích hợp các trang tin điện tử của các đơn vị vào một cổng điện tử chung của ngành sẽ giúp các thông báo, văn bản chỉ đạo điều hành, thư mời khẩn, quan trọng của Sở Y tế xuất hiện kịp thời trên các trang tin điện tử của đơn vị, ngược lại các thông tin quan trọng của đơn vị cũng có thể kịp thời gửi đến toàn ngành qua Cổng thông tin điện tử chung.
Để đảm bảo vận hành cổng thông tin điện tử một cách thông suốt và hiệu quả, Sở Y tế đã và đang triển khai tập huấn cho các đơn vị để thực hiện.
Theo PGS.TS.BS Tăng Chí Thượng – Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cổng thông tin điện tử ngành y tế có nhiều lợi ích, trong đó giúp tập trung thông tin các đơn vị y tế trên TP về một đầu mối, tạo sự tương tác thông tin nhiều chiều và người dân có thể tìm thấy những thứ họ cần tiện lợi hơn. Cổng thông tin cũng đóng vai trò trong việc cải cách hành chính, tiết kiệm nhiều chi phí thời gian.
“Ngoài ra, Sở Y tế TP đang xúc tiến xây dựng đề án trình UBND TP cho phép thành lập Trung tâm CNTT của ngành y tế, để hỗ trợ cho các BV đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các BV, chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của cổng thông tin điện tử” – BS Thượng cho biết.
Qua khảo sát cho thấy đa số đơn vị tuyến quận, huyện đã có trang thông tin, trang web riêng. Khảo sát 30 BV công TP có trang web cho thấy có 18 đơn vị thực hiện tốt, 12 đơn vị sơ sài. Hiện có 17 đơn vị y tế chưa có web riêng cho mình.
Bắt đầu từ 1-4-2017, Sở Y tế sẽ triển khai tích hợp các trang tin điện tử con của các đơn vị của ngành y tế thành phố. Sở Y tế TP.HCM sẽ ban hành chuẩn kỹ thuật để các đơn vị đã có sẵn trang tin điện tử hoặc có điều kiên xây dựng trang tin điện tử có thể tích hợp vàp cổng thông tin điện tử của Sở.
Với các đơn vị có điều kiện đặc biệt khó khăn, Sở Y tế sẽ xây dựng đề án hỗ trợ xây dựng và tích hợp trang tin điện tử. đầu trang(
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
Nông sản an toàn về Hà Nội: Dòng chảy đã được khơi thông. Hàng ngàn dòng nông sản thực phẩm an toàn, có nguồn gốc xuất xứ từ các tỉnh, TP được đưa về phục vụ người tiêu dùng Thủ đô, là kết quả của chương trình hợp tác giữa Hà Nội với các tỉnh, TP sau một năm tất bật triển khai các hoạt động.
Sự hợp tác giữa ngành nông nghiệp Hà Nội và các tỉnh, TP đã được triển khai từ nhiều năm qua, song phải tới năm 2016 mới thực sự để lại nhiều dấu ấn với hàng loạt các chuyến xúc tiến thương mại, ký kết biên bản ghi nhớ. Đặc biệt, đây cũng là năm hoạt động của Ban Điều phối chương trình phát triển chuỗi cung ứng rau, thịt an toàn cho TP Hà Nội dưới vai trò chủ trì của Bộ NN&PTNT được vận hành khá nhịp nhàng.
Sở NN&PTNT các tỉnh, TP thành viên của Ban Điều phối đã tích cực chỉ đạo xây dựng các mô hình chuỗi liên kết sản xuất nông sản an toàn cung cấp cho Hà Nội. Đơn cử như Sơn La hình thành chuỗi liên kết sản xuất rau an toàn VietGAP 154ha, Vĩnh Phúc xây dựng 12 cơ sở chăn nuôi được chứng nhận VietGAP…
Thông qua đó, những nhịp cầu nông sản dần dần được thiết lập, kết nối từ các vùng miền về Thủ đô. Báo cáo của Sở NN&PTNT Hà Nội cho thấy, trong năm 2016, đã có hàng chục nghìn tấn rau, thịt, trứng, sữa, thủy hải sản các loại và nhiều sản phẩm củ, quả khác được đưa từ các tỉnh về tiêu thụ tại thị trường Thủ đô. Trong đó, tiêu biểu như Sơn La đưa về Hà Nội hơn 4.000 tấn nông sản các loại gồm rau an toàn, mận, mật ong, thịt lợn. Hay như tỉnh Tuyên Quang đưa về hơn 100 tấn cam Sành, 1 tấn chè Bát Tiên…
Đáng chú ý, nhờ được kết nối của cơ quan quản lý Nhà nước, có trên 50 hợp đồng liên kết cung cấp sản phẩm và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật giữa DN của Hà Nội và các tỉnh, TP đã được ký kết, tạo tiền đề vững chắc cho chương trình hợp tác. Giám đốc Sở NN&PTNT Sơn La Hà Quyết Nghị đánh giá, hoạt động của Ban Điều phối rất hiệu quả và mang lại lợi ích cho cả các bên liên quan. TP Hà Nội có nguồn cung cấp thực phẩm sạch dồi dào, còn đối với các tỉnh, TP khác thì tiêu thụ được đầu ra cho nông sản. Như Sơn La, trong năm 2014 mới tiêu thụ được 3.000 tấn nông sản vào Hà Nội thì đến nay đã tăng 8.000 tấn.
Có thể nói, việc cơ quan quản lý Nhà nước đứng ra làm “bà mối” kết nối trực tiếp các DN phân phối thực phẩm sạch của Hà Nội với DN, HTX, cơ sở sản xuất của các địa phương là một cách làm đúng đắn và thiết thực. Nhờ cách làm này, hoạt động của Ban Điều phối chương trình phát triển chuỗi cung cấp rau, thịt an toàn cho Hà Nội cũng đạt hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, xét trên bình diện chung, số lượng rau, thịt cung cấp cho Hà Nội được quản lý thông qua thỏa thuận hợp tác còn hạn chế. Hiện nay, Sở NN&PTNT một số tỉnh, TP trong Ban Điều phối vẫn chưa chủ động cung cấp thông tin về các mặt hàng nông sản, sản lượng để phía cơ quan quản lý và DN Hà Nội xây dựng kế hoạch kinh doanh trong năm.
Ông Chu Phú Mỹ - Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội cho biết, trước nhu cầu tiêu dùng sản phẩm ngày càng đa dạng và yêu cầu chất lượng cao của người dân, việc hợp tác, xây dựng chuỗi liên kết nông sản giữa Hà Nội và các tỉnh, thành là rất cần thiết. Hiện nay, ngành nông nghiệp Hà Nội đã xây dựng thành công hệ thống minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc điện tử cho 550 dòng sản phẩm nông sản an toàn, rõ nguồn gốc xuất xứ của TP và các tỉnh, thành.
Ông Mỹ đề nghị Sở NN&PTNT các tỉnh, TP tiếp tục hợp tác chặt chẽ, kết nối mở rộng các dòng nông sản an toàn về cung cấp cho thị trường Thủ đô, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu.
Đánh giá cao kết quả hoạt động của Ban Điều phối chương trình phát triển chuỗi cung cấp rau, thịt cho Hà Nội, ông Phùng Hữu Hào – Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Bộ NN&PTNT), đây là hoạt động có ý nghĩa nhằm mang đến cho người tiêu dùng Thủ đô những sản phẩm an toàn. Chính vì vậy, theo ông Hào, thời gian tới Hà Nội và các tỉnh, TP cần tiếp tục duy trì tốt hoạt động của chương trình này.
Hà Nội: Nhiều giải pháp thiết thực hỗ trợ lao động nữ nhập cư. Sáng 27/12, Hội LHPN Hà Nội phối hợp với Trung tâm nghiên cứu hỗ trợ gia đình và phát triển cộng đồng (CFSCD) tổ chức Hội thảo thực trạng và giải pháp hỗ trợ lao động nữ nhập cư.
Dự án “Cải thiện điệu kiện sống và góp phần nâng cao quyền năng của nữ lao động nhập cư Hà Nội” được Hội LHPN Hà Nội phối hợp cùng Trung tâm CFSCD triển khai từ đầu năm 2016 tại 3 phường Phúc Xá (quận Ba Đình), phường Thịnh Liệt, phường Định Công (quận Hoàng Mai) nhằm hỗ trợ cho nữ lao động nhập cư (lao động nữ nhập cư nghèo, làm nghề tự do, chủ yếu là những người bán hàng rong, thu mua phế liệu, bôc vác tại chợ đầu mối…) được nâng cao năng lực để có cuộc sống chất lượng hơn và sự hòa nhập tốt hơn với cộng đồng.
Thời gian qua, dự án bước đầu đã xây dựng mô hình CLB đi vào hoạt động, nhận được sự hưởng ứng ngày càng tích cực của các thành viên CLB. Tuy nhiên, dự án mới chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn nên tác động còn hạn chế.
Sự tham gia của cán bộ nòng cốt và ban Chủ nhiệm CLB tại các lớp tập huấn chưa đều, năng lực điều hành, tổ chức các hoạt động còn hạn chế. Lao động nữ nhập cư trong CLB chưa thực hiện theo đúng các cam kết: Tham gia sinh hoạt, các hoạt động cộng đồng, đóng lệ phí xây dựng quỹ… Sự biến động của thành viên tham gia CLB tại các địa bàn dự án. Thành viên gia đình hoặc chủ nhà trọ chưa ủng hộ thành viên CLB tham gia sinh hoạt.
Nhận thức và kỹ năng thực hành của thành viên CLB và gia đình về kiến thức Pháp luật về bình bẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình còn hạn chế. Thiếu các cơ sở pháp lý hỗ trợ lao động nữ nhập cư có hoàn cảnh khó khăn. Đăng ký học cho con, mua BHYT, vay vốn… Thiếu sự phối hợp giữa các bên có liên quan để có nguồn lực hỗ trợ lao động nữ nhập cư có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tại hội thảo, các nữ lao động nhập cư mong muốn có được các công việc làm thêm thời gian linh hoạt để cải thiện nhu cầu như: Làm đồ thủ công tại nhà, giúp việc theo giờ. Có chương trình chuyển đổi nghề miễn phí như: Học nấu ăn, kế toán để chị em có cơ hội tiếp cận giáo dục và việc làm tốt hơn. Mong muốn được vay vốn để mở rộng kinh doanh. Cùng với đó, các nữ lao động nhập cư cũng mong muốn giải quyết các nhu cầu an sinh xã hội như: Cải thiện điều kiện sống tại nhà trọ (giá thuê nhà, giá điện nước sinh hoạt hợp lý, phun thuốc diệt muỗi, diệt côn trùng nơi sinh sống). Hỗ trợ, tạo điều kiện mua BHYT cho lao động nữ nhập cư nghèo trên TP. Tạo điều kện cho con của lao động nhập cư được vào học tại các trường công tại nơi tạm trú… Các nhu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng về các lĩnh vực: Chăm sóc sức khỏe, kinh doanh, xây dựng hạnh phúc, hiểu biết luật pháp về bình đẳng giới, quy định về vi phạm trật tự đô thị…
Bên cạnh đó, họ mong muốn chủ nhà trọ hỗ trợ không tăng giá trọ, điện nước, đảm bảo cung cấp nước sạch. Nâng cấp khu nhà trọ, xây dựng nội quy khu nhà trọ, đặt bảng thông tin thông báo các quy định trên địa bàn dân cư. Phối hợp với Hội phụ nữ, chính quyền địa phương tuyên truyền luật pháp, chính sách và các kiến thức chuyên đề. Bản thân nữ lao động nhập cư cam kết trong tham gia dự án, về quyền và trách nhiệm công dân trên địa bàn cư trú.
Thực hiện các quy định về sử dụng lòng đường, vỉa hè, tham gia hoạt động cộng đồng. Nâng cao trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư và sự cam kết của lao động nhập cư tham gia vào các hoạt động dự án. Ngoài ra, chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan tạo điều kiện hỗ trợ lao động nhập cư: Dạy nghề, tạo việc làm, bán hàng bình ổn giá, quà tặng hộ gia đình nhập cư nghèo…
Yên Bái: Hiệu quả từ mô hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Sau 1 năm triển khai, nhận thấy mô hình thực sự hiệu quả và có tác động mạnh mẽ đến trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, tỉnh Yên Bái đã thực hiện nhân rộng các mô hình kết nối dịch vụ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại một số xã trọng điểm.
Năm 2016, Yên Bái tiếp tục duy trì mô hình tại các xã đặc biệt khó khăn của huyện Văn Chấn, Nghĩa Lộ, Trấn Yên, Lục Yên… Mô hình đã mang lại nhiều lợi ích cho trẻ em tại địa phương. Các cộng tác viên kiêm nhiệm, không hề có khoản kinh phí hỗ trợ nhưng hoạt động hiệu quả và bài bản, họ thể hiện rõ trách nhiệm với cộng đồng trong quá trình phối hợp thực hiện mô hình.
Rất nhiều trẻ em được giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần và ổn định cuộc sống, được đến trường, không còn đói ăn, đói mặc. Những địa phương đã thực hiện mô hình không cần chuyển tuyến dịch vụ cho trẻ em lên tuyến huyện, tỉnh nữa mà đã có thể xử lý, kết nối dịch vụ và hỗ trợ trẻ em nhanh gọn ngay tại tuyến cơ sở đảm bảo chính xác, hiệu quả.
Trao đổi với PV, ông Phạm Tuấn Chung, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) Yên Bái cho biết, người dân đã được hỗ trợ kết nối các dịch vụ, chính sách xã hội của Nhà nước, trẻ em được hưởng các quyền lợi cơ bản, đồng đều, tăng đáng kể tỷ lệ trẻ chuyên cần, không phải bỏ học, được khai sinh đúng thời gian quy định, được khám chữa bệnh và cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi và trẻ thuộc hộ nghèo; được các đoàn thể hỗ trợ nhà ở, dinh dưỡng, giáo dục…
Trên địa bàn tỉnh Yên Bái hiện có tổng số 252.700 trẻ em, trong đó có 2.094 trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, 1.586 trẻ khuyết tật và 5.600 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt. Từ năm 2004 đến nay có 1.857 trẻ khuyết tật được phẫu thuật tật vận động, tật mắt, khe hở môi, hàm ếch, tim bẩm sinh miễn phí, phục hồi chức năng hòa nhập cộng đồng, trên 2.300 trẻ được nhận đỡ đầu, được trao học bổng, hỗ trợ phương tiện đi lại, được đưa ra khỏi công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm, hỗ trợ đào tạo nghề, tạo công ăn việc làm.
Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây, các hoạt động phẫu thuật miễn phí cho trẻ tật vận động, hỗ trợ mổ mắt, mổ tim miễn phí được tăng cường đáng kể. Các trường hợp trẻ em lang thang, trẻ em lao động sớm, nặng nhọc đều được giúp đỡ từng bước ra khỏi môi trường không phù hợp, ổn định cuộc sống.
Đến nay, mỗi năm giảm 3% số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt; duy trì tỷ lệ trẻ có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển đạt trên 80% vào năm 2016; mỗi năm giảm 4% trẻ em bị tai nạn thương tích; trẻ em được tham gia diễn đàn tăng 2,5%.
Từ năm 2002 đến nay, tỉnh Yên Bái đã hỗ trợ cho 226 trẻ em phẫu thuật tim bẩm sinh tương đương 13,5 tỷ đồng, hàng năm Sở LĐTB&XH phối hợp với Quỹ Bảo trợ xã hội Việt Nam, Quỹ Vinacapital, Bệnh viện Tim và Bệnh viện E Hà Nội tổ chức khám sàng lọc. Riêng năm 2016 khám sàng lọc cho 616 trẻ em vùng cao của tỉnh và hỗ trợ phẫu thuật cho 15 trẻ, theo dõi thường xuyên 40 trẻ.
Bà Lê Hoàng Anh, Phó trưởng Phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em, Sở LĐTB&XH cho biết, nhóm thiện nguyện Kết nối trẻ do bà thành lập với các thành viên là đoàn viên thanh niên các sở, ban, ngành, đoàn thể đã giúp đỡ trẻ em, người già có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh. Tính đến nay, nhóm đã hỗ trợ cho trên 9.000 lượt đối tượng, hàng tháng bảo trợ dài hạn cho 45 trường hợp, xây 9 nhà và 2 trường học với nguồn kinh phí 1,5 tỷ đồng.
Thanh Hóa thu ngân sách vượt dự toán, đạt 11.300 tỷ đồng. Năm 2016, tổng thu ngân sách của ngành thuế Thanh Hoá đạt 11.300 tỷ đồng, vượt 27% dự toán Bộ Tài chính và tỉnh giao, tăng 1,9% so với năm 2015.
Các lĩnh vực thu đạt tỷ lệ cao so với dự toán pháp lệnh gồm: Tiền thuê đất 525%; thuế thu nhập cá nhân 176,3% thu tiền sử dụng đất 173,3%; lệ phí trước bạ 132%.
Có 12/14 lĩnh vực thu đạt và vượt mức dự toán, 2 lĩnh vực không đạt dự toán là thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do Quốc hội ban hành chính sách miễn thế đối với hộ gia đình, cá nhân có mức thuế phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từ 50.000 đồng trở xuống và nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn các công trình xây lắp đã hoàn thành nên không phát sinh thuế nhà thầu.
Có 9 lĩnh vực vượt thu tăng so với năm 2015 là thuế thu nhập cá nhân; thuế bảo vệ môi trường, tiền thuê đất; lệ phí trước bạ. Có 31/31 đơn vị được giao thu đều hoàn thành vượt mức dự toán kể cả hai chỉ tiêu tổng thu và tổng thu trừ tiền sử dụng đất...
Để đạt được kết quả trên, ngành Thuế Thanh Hóa đã triển khai hiệu quả các giải pháp thu ngân sách. Đặc biệt, các cơ quan thuế đã làm tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ, chuyển tải kịp thời những chính sách, pháp luật của Nhà nước đến doanh nghiệp và thường xuyên tổ chức tập huấn, đối thoại, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện chính sách, pháp luật thuế Nhà nước.
Toàn ngành Thuế Thanh Hóa tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới và hiện đại hóa công tác quản lý thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người nộp thuế.
Ông Vũ Quốc Dũng, Phó Cục trưởng, Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa cho biết, năm 2017, ngành thuế tỉnh Thanh Hóa tiếp tục triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị về thu ngân sách nhà nước được Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, các Nghị quyết của UBND tỉnh giao. Đồng thời tăng cường kiểm soát chặt chẽ và bao quát các nguồn thu; đẩy mạnh công tác thanh kiểm tra chống thất thu, thu hồi số thuế nợ đọng và quản lý công tác hoàn thuế giá trị gia tăng.
Cục Thuế thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các ngành triển khai kịp thời giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô; tham mưu UBND tỉnh tập trung cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và người dân sản xuất kinh doanh, góp phần cải thiện môi trường sản xuất, môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, phát triển kinh tế nhanh và bền vững….
Các đơn vị trực thuộc ngành thuế cũng tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh hiện đại hóa ngành Thuế; phòng chống tham nhũng, lãng phí, hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách nhà nước được giao…
Phát huy tiềm năng thế mạnh, xây dựng Hà Nam phát triển nhanh, bền vững. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX về việc chia tách, điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, ngày 1-1-1997, tỉnh Hà Nam được tái lập sau những lần sáp nhập, chia tách với các tỉnh Nam Ðịnh và Ninh Bình.
Tại thời điểm tái lập, Hà Nam gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất yếu kém, hạ tầng đô thị lạc hậu. Nền kinh tế thuần nông, nhỏ lẻ, manh mún, tỷ trọng kinh tế nông nghiệp chiếm gần 50%. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 2,1 triệu đồng, thu ngân sách đạt 72,4 tỷ đồng, sản xuất, kinh doanh hiệu quả thấp. Ðội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức vừa thiếu về số lượng, vừa mất cân đối về cơ cấu. Ðời sống của cán bộ và nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức, tiềm năng, triển vọng, 20 năm qua, Ðảng bộ, quân và dân tỉnh Hà Nam nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, tập trung trí tuệ, tháo gỡ khó khăn, phát huy lợi thế, huy động nội lực, thu hút đầu tư, tạo nên sự chuyển biến tích cực, toàn diện về kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng đô thị; phúc lợi và an sinh xã hội; diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện về vật chất và tinh thần; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.
Từ một tỉnh nghèo, Hà Nam đã vươn lên trở thành một tỉnh có kinh tế phát triển nhanh, quy mô ngày càng lớn. Trong 20 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12%/năm. Năm 2016: quy mô tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành đạt 38.824,2 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt hơn 48 triệu đồng, tăng 23 lần so với năm 1997; thu ngân sách đạt hơn 4.500 tỷ đồng, gấp hơn 62 lần so với năm 1997; tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn đạt 23.500 tỷ đồng.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ. Từ một tỉnh thuần nông, đến nay, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đã tăng lên 88,3%; tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm xuống còn 11,7%.
Sản xuất công nghiệp được xác định là khâu đột phá để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giá trị sản xuất công nghiệp trong 20 năm liên tục duy trì mức tăng trưởng bình quân hơn 20%/năm. Riêng năm 2016, trong điều kiện khó khăn chung của cả nước, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn tăng 16,4% so với năm 2015.
Từ một địa phương chưa có KCN, chưa có đầu tư nước ngoài, nay toàn tỉnh đã quy hoạch tám KCN tập trung với diện tích hơn 2.000 ha, trong đó có sáu khu đã đi vào hoạt động, giải quyết việc làm ổn định cho 49 nghìn lao động. Với cơ chế thu hút đầu tư thân thiện, môi trường đầu tư hấp dẫn, phương thức xúc tiến đầu tư đổi mới, công tác thu hút đầu tư đã đạt kết quả ấn tượng, năm 2016 tỉnh Hà Nam nằm trong tốp 10 địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thương mại - dịch vụ có bước phát triển. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ năm 2016 đạt 16.500 tỷ đồng, tăng 14,9% so với năm 2015. Nhiều công trình, dự án trọng điểm đang được tập trung triển khai xây dựng, tạo động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp, đô thị và đưa Hà Nam trở thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao cấp vùng về y tế, giáo dục đào tạo, du lịch.
Nông nghiệp được coi là mặt trận quan trọng để giữ vững ổn định an ninh chính trị ở cơ sở, bảo đảm an sinh xã hội, là tiền đề cho phát triển công nghiệp, dịch vụ. Nhiều mô hình tổ chức sản xuất hiệu quả, liên kết chuỗi giá trị được triển khai sâu rộng. Bốn khu nông nghiệp công nghệ cao được quy hoạch với diện tích 500 ha, hiện toàn tỉnh đã tích tụ được xấp xỉ 200 ha đất để bàn giao cho nhà đầu tư triển khai dự án. Bằng nhiều giải pháp tích cực, cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2016 đạt 7.551,6 tỷ đồng, tăng 4% so với năm 2015.
Các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được quan tâm thực hiện, đời sống nhân dân được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 giảm xuống còn 4,51%. Tỷ lệ dân số có BHYT năm 2016 đạt 75,5%, dự kiến đến năm 2020 đạt 90%. Kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống nhân dân và sản xuất, kinh doanh được tập trung đầu tư. Ðến hết năm 2016, toàn tỉnh có 59 trong số 98 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Mạng lưới giao thông nông thôn đã cơ bản được hoàn thiện, tạo thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội trong và ngoài tỉnh. 100% số xã với hơn 2.000 km đường liên thôn được bê-tông hóa, nhựa hóa; đường liên huyện và nhiều cây cầu mới được xây dựng phục vụ cho nhu cầu đi lại của nhân dân. Toàn tỉnh đã có hơn 2.000 phòng học ở các cấp học được nâng cấp và xây mới; hơn 300 nhà văn hóa thôn xóm được xây dựng.
Công tác xây dựng Ðảng luôn được coi trọng; công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Ðảng được tăng cường, hằng năm có hơn 80% số tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh và tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm tỷ lệ cao. Công tác dân vận đã có nhiều đổi mới, quy chế dân chủ được phát huy; hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân đạt nhiều kết quả, củng cố niềm tin của nhân dân đối với tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Ðạt được những thành tựu nêu trên, trước hết là do cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp thu và vận dụng sáng tạo các nghị quyết của Trung ương Ðảng, sự hỗ trợ của Chính phủ, sự giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương, cùng với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của cán bộ, nhân dân, các cấp, ngành và cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh.
Nhìn lại bức tranh toàn cảnh sau 20 năm tái lập, Ðảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Hà Nam tự hào, phấn khởi trước những thành tựu trên các lĩnh vực đã đạt được. Ðây là cơ sở, tiền đề có ý nghĩa hết sức quan trọng để xây dựng Hà Nam trở thành một tỉnh phát triển nhanh, bền vững. Có được những kết quả nêu trên là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ, hỗ trợ của Trung ương Ðảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các ban, bộ, ngành, Trung ương, các tỉnh, thành phố, sự đồng hành của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cùng sự nỗ lực của toàn Ðảng bộ và nhân dân trong tỉnh.
Bước vào thời kỳ phát triển mới, với lợi thế là tỉnh nằm trong vùng quy hoạch Thủ đô, cửa ngõ phía nam Hà Nội, vị trí trung tâm kết nối các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Ðảng bộ, quân và dân tỉnh Hà Nam tiếp tục phát huy sức mạnh đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, xây dựng Ðảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ tỉnh lần thứ 19 đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và các mũi đột phá về thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Ðảng bộ tỉnh Hà Nam luôn quán triệt quan điểm đi đôi với đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải chú trọng, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên; nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của các cấp chính quyền theo hướng tập trung, quyết liệt, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; củng cố quốc phòng - an ninh, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Ðẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Ðảng. Quan tâm hơn nữa công tác dân vận nhằm tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng quản lý, điều hành của UBND, chức năng giám sát của HÐND, hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Chặng đường 20 năm xây dựng và phát triển sau ngày tái lập, thời gian tuy chưa dài so lịch sử của một tỉnh có bề dày truyền thống văn hiến và cách mạng, nhưng những thành quả mà Hà Nam đạt được đã để lại điểm nhấn quan trọng, là niềm vinh dự, tự hào, khẳng định vị thế, bước phát triển lớn mạnh của Ðảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Nam. đầu trang(
SAI PHẠM
Kết luận điều tra vụ sát hại lãnh đạo tỉnh Yên Bái. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Yên Bái nhận định: Do bất mãn bức xúc cá nhân trong bố trí sắp xếp nhân sự khi sáp nhập Chi cục lâm nghiệp vào Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái dẫn đến Đỗ Cường Minh đã dùng súng bắn chết đồng chí Phạm Duy Cường và đồng chí Ngô Ngọc Tuấn.
Sau hơn 4 tháng điều tra, ngày 26/12, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái tổ chức họp báo công bố kết luận điều tra vụ án giết người xảy ra tại Văn phòng Tỉnh ủy và Ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái, ngày 18/8/2016.
Theo đó, khoảng 7h30' ngày 18/8/2016, Công an tỉnh Yên Bái nhận được tin báo đồng chí Ngô Ngọc Tuấn, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái bị bắn tại phòng làm việc ở trụ sở Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Yên Bái (thuộc tổ 23, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái), ngoài ra phát hiện Đỗ Cường Minh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái nằm gục tại phòng làm việc của đồng chí Ngô Ngọc Tuấn.
Trong khi đang cấp cứu đồng chí Ngô Ngọc Tuấn và Đỗ Cường Minh, lực lượng công an ở hiện trường nhận được tin báo đồng chí Phạm Duy Cường, Bí thư Tỉnh uỷ cũng bị bắn tại phòng làm việc của đồng chí Cường ở trụ sở Văn phòng Tỉnh uỷ Yên Bái (thuộc tổ 23, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái).
Mặc dù bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái và kíp bác sỹ của bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Việt Đức tận tình cứu chữa nhưng do vết thương quá nặng nên đồng chí Phạm Duy Cường, đồng chí Ngô Ngọc Tuấn và Đỗ Cường Minh đã tử vong vào chiều cùng ngày 18/8/2016.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Yên Bái đã thành lập hội đồng khám nghiệm tiến hành khám nghiệm hiện trường cho thấy không có có dấu hiệu bị lục soát, cậy phá, các cánh cửa ra vào, cửa sổ ở trạng thái đóng, nguyên vẹn.
Tại phòng làm việc của đồng chí Phạm Duy Cường đã phát hiện và thu giữ 4 vỏ đạn và 2 đầu đạn; tại phòng làm việc của đồng chí Ngô Ngọc Tuấn phát hiện và thu giữ 4 vỏ đạn và 4 đầu đạn; 1 súng quân dụng K59;1 chiếc cặp sách đặt ở giữa phòng sát nơi nằm của Đỗ Cường Minh (bên trong cặp có 1 chai nhựa loại 1,5 lít, có chứa đầy xăng; 1 hộp tiếp đạn súng K59 bên trong có 8 viên đạn; 1 bật lửa ga; 1 áo sơ mi)...
Khám xe ôtô của Đỗ Cường Minh đỗ ở sân Ban tổ chức Tỉnh ủy phát hiện dưới tấm lót sàn trong xe ôtô có 1 con dao nhọn tự chế (chuôi gỗ) dài 35cm.
Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy: Đối với tử thi đồng chí Phạm Duy Cường có 4 vết đạn bắn vào; tử thi đồng chí Ngô Ngọc Tuấn có 3 vết đạn bắn vào; tử thi Đỗ Cường Minh có 1 vết đạn bắn vào tại vùng thái dương đỉnh phải.
Cơ quan Điều tra đã làm việc với Chi cục kiểm lâm và tất cả anh chị em trong gia đình Đỗ Cường Minh nhưng không ai biết về mâu thuẫn và động cơ gây án của Minh là gì. Minh không vay nợ cơ quan và các anh chị em trong gia đình.
Tiến hành điều tra xác minh nhưng không phát hiện có dấu hiệu của động cơ gây án là do ghen tuông tình ái, không có dấu hiệu của việc mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế và không có động cơ mục đích chính trị chống phá Đảng và chính quyền dân chủ nhân dân...
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái nhận định: Do bất mãn, bức xúc cá nhân trong bố trí sắp xếp nhân sự khi sáp nhập Chi cục Lâm nghiệp vào Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái dẫn đến Đỗ Cường Minh đã dùng súng bắn chết đồng chí Phạm Duy Cường và đồng chí Ngô Ngọc Tuấn.
Thời gian tháng 4 và tháng 7/2015, đồng chí Phạm Duy Cường, Bí thư Tỉnh ủy nhận được 2 lá đơn (đơn nặc danh) tố cáo tham nhũng ở Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái và giao cho Công an tỉnh Yên Bái tiến hành xác minh nội dung đơn.
Công an tỉnh Yên Bái đã tổ chức xác minh, đến ngày 10/8/2016 có kết quả như sau: Quá trình thực hiện Dự án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh Yên Bái thì Ban quản lý dự án và Hạt kiểm lâm huyện Văn Chấn để xảy ra sai phạm là đã sử dụng một phần kinh phí dự án để chi vào các việc như chi cho ăn uống, tiếp khách để tổ chức hội nghị tại thôn bản; chi thăm hỏi ốm đau, hiếu hỉ; mua sắm thiết bị, văn phòng phẩm.
Các khoản chi này là ngoài quy định của dự án, tuy nhiên chưa phát hiện dấu hiệu tư lợi cá nhân. Nguyên nhân để xảy ra sai phạm là do công tác quản lý, chỉ đạo chưa sâu sát, cán bộ thực hiện chưa nắm vững các quy định về thanh quyết toán kinh phí dự án.
Trách nhiệm của Đỗ Cường Minh trong sai phạm: Là người quản lý, điều hành chung hoạt động của dự án. Trong quá trình thanh quyết toán đã trực tiếp ký duyệt vào các chứng từ chi ngoài quy định của dự án.
Ngày 17/8/2016 Thường trực tỉnh ủy Yên Bái đã họp và cho ý kiến: Đồng ý để Công an tỉnh Yên Bái chuyển hồ sơ kết quả việc xác minh tố cáo trên cho Đảng ủy, Ban giám đốc Sở NN&PTNT; đồng thời phối hợp với Đảng ủy, Ban giám đốc Sở NN&PTNT chỉ đạo tập thể, cá nhân kiểm điểm các sai phạm trên.
Cuộc sống gia đình giữa chị Hà (vợ Minh) và Đỗ Cường Minh rất vui vẻ và hạnh phúc không có mâu thuẫn ghen tuông gì với nhau. Đỗ Cường Minh được bổ nhiệm chức vụ Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm từ tháng 4/2014 với nhiệm kỳ 5 năm.
Trước ngày 26/7/2016 vài hôm Đỗ Cường Minh có nói với chị Hà là đã lên gặp đồng chí Phạm Duy Cường, Bí thư Tỉnh ủy tại phòng làm việc của đồng chí Cường để đề đạt nguyện vọng muốn làm việc ổn định tại chi cục Kiểm lâm và đồng chí Cường có nói với Minh thích làm ở đâu ổn định thì cứ ở đấy.
Hôm trước khi vụ án xảy ra (17/8) thì Minh vẫn đi làm nhưng buổi tối thì thấy buồn và trằn trọc khó ngủ. Buổi sáng ngày 18/8, Minh dậy dọn dẹp nhà sau đó hai vợ chồng ăn sáng tại nhà. Đến khoảng 06h30’ Minh lái ôtô đưa chị Hà đi làm. Chị Hà cũng khẳng định chồng mình không làm ăn kinh tế gì với đồng chí Phạm Duy Cường và đồng chí Ngô Ngọc Tuấn.
Ngoài các đồ vật nêu trên khi kiểm tra tư trang, đồ vật tại phòng nghỉ và phòng làm việc của đồng chí Phạm Duy Cường có 50.000.000đ (Năm mươi triệu Việt nam đồng) để ở trong cặp tài liệu.
Tại phòng nghỉ của đồng chí Ngô Ngọc Tuấn có 1 két sắt, trong két có 100.000 USD, 1,5 tỷ Việt Nam đồng và 4 chiếc nhẫn màu vàng, mặt đá không xác định trọng lượng và chất lượng. (Theo Công an Yên Bái, số tiền này không phải là tiền cơ quan. Bà Vũ Thị Thu Huyền, là vợ của ông Tuấn cho biết, đây là số tiền của gia đình tích cóp được nhiều năm nay. Do gia đình đi làm cả ngày, chỉ có mẹ già nên gia đình đã mua két sắt, để tiền ở cơ quan...)
Thực hiện đề án kiện toàn, sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy biên chế của Sở NN&PTNT trong đó có nội dung sáp nhập Chi cục Lâm nghiệp vào Chi Cục kiểm lâm.
Ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái đã có công văn thông báo ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy cho chủ trương nhất trí để Sở Nông nghiệp tiến hành làm quy trình kiện toàn chức danh lãnh đạo thuộc các đơn vị trực thuộc.
Sáng ngày 26/7/2016, Sở NN&PTNT Yên Bái đã tổ chức lấy ý kiến về việc giới thiệu nhân sự để bổ nhiệm giữ chức vụ Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm và bỏ phiếu thăm dò chức danh Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho cả 2 người là đồng chí Kiều Tư Giang (Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp) và Đỗ Cường Minh.
Ngày 7/8/2016, Ban Giám đốc và Ban Chấp hành Đảng ủy Sở NN& PTNT đã họp, ra nghị quyết và làm tờ trình báo cáo Tỉnh ủy và UBND tỉnh xem xét quyết định đồng chí Mai Mộng Tuân, Phó Giám đốc sở kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, các đồng chí Kiều Tư Giang, Nguyễn Đức Thiện, Đào Đình Khoa và Đỗ Cường Minh làm phó Chi cục trưởng.
Căn cứ vào kết quả điều tra và các tài liệu chứng cứ thu thập được, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Đỗ Cường Minh là thủ phạm duy nhất đã dùng súng K59 (số KL1844 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái trang bị cho Đỗ Cường Minh, giấy phép sử dụng số 06000018 do Công an tỉnh Yên Bái cấp) bắn chết đồng chí Phạm Duy Cường và đồng chí Ngô Ngọc Tuấn sau đó tự sát.
Với những tài liệu chứng cứ thu thập được, căn cứ khoản 7 điều 107 và khoản 2 điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Yên Bái kết luận điều tra và ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án theo quy định của pháp luật.
Lý do đình chỉ: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là Đỗ Cường Minh đã chết. đầu trang(
TRÁI KHOÁY
Công ty TNHH Du lịch Sơn Lâm và các đơn vị chức năng của Hải Phòng đã triển khai phá dỡ công trình nhạc nước 200 tỷ sau vỏn vẹn 2 năm tồn tại.
Lý do công trình nhạc nước bị phá dỡ, theo UBND TP Hải Phòng là do công trình nhạc nước đặt ở vị trí chưa phù hợp, không đảm bảo mỹ quan đô thị, hiệu quả khai thác thấp, chưa thu hút được đông đảo người dân. Trước đó người dân kiến nghị về việc dự án nhạc nước thường xuyên gây ô nhiễm môi trường (ô nhiễm về tiếng ồn, ánh sáng) ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân khu vực và chi phí vận hành lớn.
Sáng ngày 26.12, PV Dân Việt có mặt tại hồ Tam Bạc nơi có công trình nhạc nước trăm tỷ đình đám, chứng kiến các công nhân đang tháo dỡ các thiết bị của công trình nhạc nước ra khỏi hồ Tam Bạc theo quyết định của HĐND TP Hải Phòng.
Theo một cán bộ vận hành công trình nhạc nước thì việc tháo dỡ sẽ diễn ra trong khoảng 10 ngày, toàn bộ thiết bị tháo dỡ sẽ đưa về kho của Công ty TNHH Du lịch Sơn Lâm để bảo quản. Bước đầu các công nhân sẽ tháo các thiết bị trên phao nổi trước (như vòi phun nước, bơm cao áp….), sau đó sẽ cẩu phao nổi lên bờ. Phao nổi này làm bằng thép nặng 500 tấn.
Theo người một người dân Hải Phòng, việc phá bỏ công trình nhạc nước là một sự lãng phí quá lớn. Công trình chưa được nghiệm thu, vừa mới hình thành được 2 năm đã bị dỡ bỏ, gần trăm tỷ đồng bị lãng phí.
Cũng theo người vận hành công trình nhạc nước tiết lộ, mỗi năm chi phí cho hoạt động và bảo dưỡng công trình nhạc nước cũng mất khoảng 200 -300 triệu đồng. (Dân Việt 26/12) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Cựu Tổng thống Argentina bị phong tỏa 880 triệu USD. Bà Cristina Fernandez de Kirchner, cựu Tổng thống Argentina, vừa bị cáo buộc tội tham nhũng và bị phong tỏa số tài sản trị giá 880 triệu USD.
Theo báo Australian Financial Review, bà Cristina Fernandez de Kirchner bị cáo buộc đã ngầm hỗ trợ để một doanh nhân có quan hệ gần gũi với gia đình bà có thể nhận được các hợp đồng của chính phủ. Trước đó, bà Cristina đã bác bỏ những cáo buộc đó.
Bà Cristina Fernandez de Kirchner là nhà lãnh đạo của Argentina - nền kinh tế lớn thứ hai khu vực châu Mỹ La tinh - giai đoạn 2007-2015, kế nhiệm chồng bà là ông Nestor Kirchner.
Trước các cáo buộc tham nhũng, bà Cristina cho rằng đó là "âm mưu có động cơ chính trị". Bà cũng buộc tội Tổng thống đương nhiệm, ông Mauricio Macri đã lập mưu chống lại bà.
Thẩm phán Julian Ercolini cũng nhất trí với các cáo buộc tham nhũng liên quan tới 2 cựu trợ lý của cựu Tổng thống Cristina Fernandez de Kirchner. Đó là cựu Bộ trưởng Kế hoạch Julio de Vido và Thứ trưởng Bộ Công trình Công cộng Jose Lopez. Doanh nhân Lazaro Baez, chủ công ty xây dựng Austral Construcciones, cũng bị truy tố.
Tất cả những người này hiện đã bị bắt giam. Ông Jose Lopez bị bắt hồi tháng 6 khi đang tìm cách giấu 8,5 triệu USD tại một tu viện ở ngoại ô Buenos Aires.
Doanh nhân Baez là người có quan hệ mật thiết với gia đình bà Fernandez, đã bị bắt giam để điều tra với cáo buộc tham ô hàng triệu USD từ các dự án mà công ty này thắng thầu tại Santa Cruz. Trong quá trình điều tra, cảnh sát cũng đào được hàng triệu USD được chôn dưới đất tại một trong những nơi ông này sinh sống.
Bà Cristina Fernandez de Kirchner bị buộc tội đã chống lưng cho công ty xây dựng Austral của ông Baez khi giúp công ty này nhận được các hợp đồng của chính phủ. Trong hai nhiệm kỳ tại nhiệm của bà Cristina Fernandez de Kirchner, công ty Austral đã giành được hơn 50 hợp đồng trong các dự án của chính phủ.
Bà Cristina Fernandez, người kết thúc 2 nhiệm kỳ Tổng thống liên tiếp vào đầu tháng 12 năm ngoái, cũng từng bị yêu cầu điều tra trong một vụ tham nhũng khác có liên quan tới việc bán USD của Ngân hàng Trung ương Argentina.
Ông Duterte dọa ném quan tham từ trực thăng xuống. Ông Duterte dọa sẽ ném quan chức tham nhũng từ trực thăng xuống giống cách từng làm từ khi còn là thị trưởng.
Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte mới đây kể lại rằng ông đã từng ném một kẻ bắt cóc từ trực thăng xuống hồi còn là thị trưởng thành phố Davao và cho biết sé áp dụng hình hạt tương tự với các quan chức tham nhũng, RT ngày 28/12 đưa tin.
"Nếu bạn tham nhũng, tôi sẽ đưa bạn lên một máy bay trực thăng và tôi sẽ ném bạn ra khỏi nó trên đường đến Manila. Tôi đã làm điều đó trước đây, tại sao tôi không nên làm điều đó một lần nữa?" – ông Duterte nói.
Trung Quốc đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng năm 2017. Hôm 28/12, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức hội nghị nghiên cứu triển khai công tác xây dựng tác phong liêm chính trong Đảng và chống tham nhũng.
Hội nghị đánh giá, từ sau Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đến nay, công tác quản lý Đảng nghiêm minh một cách toàn diện đã đạt được thành quả quan trọng mang tính giai đoạn, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng hình thành xu thế áp đảo, nhận được sự đồng lòng của quần chúng nhân dân.
Trong năm 2017, Trung Quốc sẽ tiếp tục chỉnh đốn nghiêm khắc sinh hoạt chính trị trong Đảng, tăng cường công tác giám sát trong Đảng, đi sâu cải cách thể chế giám sát quốc gia, tăng cường giám sát tình hình chấp hành kỷ luật và truy cứu trách nhiệm, trong sạch hoá bầu không khí chính trị trong Đảng, thúc đẩy công tác quản lý Đảng nghiêm minh một cách toàn diện, phát triển đi vào chiều sâu.
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng khẳng định quyết tâm đẩy lùi và kiềm chế sự gia tăng của tình trạng tham nhũng, đi sâu thúc đẩy xây dựng tác phong liêm chính và chống tham nhũng trong Đảng, từ đó giúp cho người dân cảm nhận được hiệu quả thực tế của công tác quản lý Đảng nghiêm minh một cách toàn diện.
Theo Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, từ sau Đại hội 18 đến cuối tháng 8/2016, Trung Quốc đã xử lý gần 140.000 vụ việc liên quan vi phạm kỷ luật, xử lý hơn 180.000 cán bộ đảng viên ở các mức độ khác nhau, đã có hơn 150 cán bộ cấp tỉnh và tương đương trở lên bị xử lý kỷ luật, bị truy tố hình sự và đưa ra xét xử như Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu.
đầu trang(./.
|
|||