|
Ngày 19 tháng 07 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 81/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng.
Theo đó, Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật.
Bộ Xây dựng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
Trong đó, về quy hoạch xây dựng, kiến trúc, Bộ Xây dựng tổ chức lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, vùng chức năng đặc thù có ý nghĩa quốc gia, vùng dọc tuyến đường cao tốc, hành lang kinh tế liên tỉnh; quy hoạch chung đô thị mới có phạm vi quy hoạch liên quan đến địa giới hành chính của hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên; quy hoạch chung đô thị mới có quy mô dân số dự báo tương đương với đô thị loại III trở lên và các quy hoạch khác do Thủ tướng Chính phủ giao; hướng dẫn thực hiện quy hoạch sau khi được phê duyệt.
Bên cạnh đó, thẩm định các đồ án quy hoạch xây dựng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ; có ý kiến thống nhất bằng văn bản để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt các quy hoạch xây dựng cụ thể theo quy định của pháp luật.
Ban hành quy chuẩn quy hoạch xây dựng, định mức, đơn giá, phương pháp lập và quản lý chi phí trong việc lập, thẩm định và tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, thiết kế đô thị.
Về nhà ở, xây dựng chiến lược phát triển nhà ở quốc gia cho từng thời kỳ, chỉ tiêu phát triển nhà ở và kế hoạch phát triển nhà ở trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hàng năm và theo từng giai đoạn; chỉ đạo việc thực hiện sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương, chỉ tiêu phát triển nhà ở và kế hoạch phát triển nhà ở trong nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hàng năm và theo từng giai đoạn; cho ý kiến đối với chương trình phát triển nhà ở của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực đầu tư phát triển nhà ở trên phạm vi toàn quốc, các chương trình, đề án, dự án phát triển nhà ở cho từng nhóm đối tượng cụ thể tại các địa bàn trọng điểm và hỗ trợ cải thiện nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện.
Về thị trường bất động sản, xây dựng các chiến lược, chính sách phát triển và quản lý thị trường bất động sản; chỉ đạo việc thực hiện sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức thực hiện và quản lý kinh doanh bất động sản.
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản; phối hợp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra, rà soát các dự án kinh doanh bất động sản để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi, đình chỉ, tạm dừng hoặc điều chỉnh, chuyển đổi, chuyển nhượng các dự án kinh doanh bất động sản; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ bất động sản; việc thành lập và tổ chức hoạt động của sàn giao dịch bất động sản;...
Về cơ cấu tổ chức, Bộ Xây dựng có 25 đơn vị gồm: 1-Vụ Quy hoạch - Kiến trúc; 2- Vụ Vật liệu xây dựng; 3- Vụ Khoa học công nghệ và môi trường; 4- Vụ Kế hoạch - Tài chính; 5- Vụ Quản lý doanh nghiệp; 6- Vụ Pháp chế; 7- Vụ Hợp tác quốc tế; 8- Vụ Tổ chức cán bộ; 9- Văn phòng; 10- Thanh tra; 11-Cục Kinh tế xây dựng; 12- Cục Quản lý hoạt động xây dựng; 13- Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng; 14- Cục Công tác phía Nam; 15- Cục Phát triển đô thị; 16- Cục Hạ tầng kỹ thuật; 17- Cục Quản lý Nhà và thị trường bất động sản; 18- Viện Kinh tế xây dựng; 19- Viện Khoa học công nghệ xây dựng; 20- Viện Kiến trúc quốc gia; 21- Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia; 22- Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị; 23- Báo Xây dựng; 24- Tạp chí Xây dựng; 25- Trung tâm Thông tin.
Các đơn vị từ 1 đến 17 nêu trên là các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các đơn vị từ 18 đến 25 là các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc bộ. (Công An Nhân Dân 18/7) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 80/2017/NĐ-CP quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường.
Trong đó, để bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, cơ sở giáo dục cần bảo đảm an ninh trật tự; an toàn vệ sinh thực phẩm; an toàn phòng, chống tai nạn, thương tích; an toàn, phòng, chống cháy, nổ; an toàn phòng, chống thảm họa, thiên tai; xây dựng, công khai và thực hiện nghiêm túc bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong cơ sở giáo dục có sự tham gia của người học...
Nghị định cũng quy định rõ biện pháp phòng ngừa bạo lực học đường. Cụ thể, tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của người học, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục, gia đình người học và cộng đồng về mối nguy hiểm và hậu quả của bạo lực học đường; về trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi bạo lực học đường; ngăn ngừa và can thiệp kịp thời đối với các hành vi bạo lực học đường phù hợp với khả năng của bản thân... (An Ninh Thủ Đô 19/7) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 79/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Theo quy định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể do Chính phủ quy định tại Nghị định này.
Trong đó, về lĩnh vực di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ cấp, thu hồi giấy phép về biểu diễn, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu theo quy định của pháp luật...
Về điện ảnh, Bộ có nhiệm vụ tổ chức liên hoan phim quốc gia và quốc tế tại Việt Nam; chấp thuận tổ chức liên hoan phim chuyên ngành, chuyên đề, những ngày phim nước ngoài tại Việt Nam và những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài; quản lý việc lưu chiểu, lưu trữ phim và các tư liệu, hình ảnh động được sản xuất trong nước; lưu chiểu, lưu trữ phim nước ngoài được phổ biến, phát hành tại Việt Nam; cấp, thu hồi giấy phép trong lĩnh vực điện ảnh theo quy định của pháp luật...
Về quyền tác giả, quyền liên quan, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ hướng dẫn việc cung cấp, hợp tác, đặt hàng, sử dụng và đảm bảo quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; quản lý, khai thác các quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về sở hữu Nhà nước; quản lý hoạt động cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; quản lý hoạt động giám định về quyền tác giả, quyền liên quan; hoạt động đại diện, tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan...
Theo Nghị định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có 26 đơn vị: Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch, Tài chính; Vụ Pháp chế; Vụ Đào tạo; Vụ Thi đua, Khen thưởng; Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Vụ Thư viện; Vụ Văn hóa dân tộc; Vụ Gia đình; Văn phòng Bộ; Thanh tra Bộ; Cục Di sản văn hóa; Cục Nghệ thuật biểu diễn; Cục Điện ảnh; Cục Bản quyền tác giả; Cục Văn hóa cơ sở; Cục Hợp tác quốc tế; Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Tổng cục Thể dục thể thao; Tổng cục Du lịch; Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam; Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam; Báo Văn hóa; Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật; Trung tâm Công nghệ thông tin; Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch. (Giáo Dục Việt Nam 19/7) đầu trang(
Bộ Thông tin và Truyền thông vừa ban hành Thông tư 10/2017/TT-BTTTT quy định về đề tài, thời gian phát hành tem bưu chính kỷ niệm và ấn phẩm tem bưu chính kỷ niệm.
Theo đó, các đề tài về sự kiện gồm: Sự kiện tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; sự kiện có ý nghĩa to lớn, có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam hoặc của các dân tộc trên thế giới; sự kiện có tính chất tiêu biểu, nổi bật trong từng thời kỳ, là mốc lịch sử quan trọng, đánh dấu sự phát triển của Việt Nam hoặc của các nước trên thế giới; sự kiện mang đậm bản sắc dân tộc, truyền thống văn hóa, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, tình cảm và ý chí của nhân dân Việt Nam hoặc của các dân tộc trên thế giới.
Đề tài về nhân vật gồm: Chiến sĩ cách mạng, chí sĩ yêu nước, anh hùng tiêu biểu trong các thời kỳ phát triển của Việt Nam hoặc của các nước trên thế giới; lãnh đạo tiền bối, danh nhân, nhân vật tiêu biểu trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong các phong trào giải phóng dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình của Việt Nam hoặc của các nước trên thế giới; nhà khoa học, nhà văn hóa tiêu biểu có đóng góp to lớn cho Việt Nam hoặc cho nhân loại.
Thông tư cũng quy định rõ về thời gian phát hành tem bưu chính kỷ niệm, ấn phẩm tem bưu chính kỷ niệm về sự kiện. Cụ thể, tem bưu chính kỷ niệm, ấn phẩm tem bưu chính kỷ niệm để chào mừng sự kiện được phát hành vào trước, đúng hoặc sau thời gian diễn ra sự kiện.
Tem bưu chính kỷ niệm, ấn phẩm tem bưu chính kỷ niệm để kỷ niệm sự kiện được phát hành lần đầu vào trước, đúng hoặc sau thời gian trong 50 năm diễn ra sự kiện và các lần tiếp theo là bội số của 50 năm.
Tem bưu chính kỷ niệm, ấn phẩm tem bưu chính kỷ niệm về nhân vật được phát hành lần đầu vào trước, đúng hoặc sau thời gian tròn 100 năm sinh của nhân vật và các lần tiếp theo là bội số của 50 năm.
Thời gian phát hành tem bưu chính kỷ niệm, ấn phẩm tem bưu chính kỷ niệm khác với quy định trên do Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017. (Báo Chính Phủ 18/7) đầu trang(
Bộ Tư pháp đang xây dựng dự thảo Quyết định về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.
Bộ Tư pháp cho biết, tính đến hết năm 2015, trong số 125.083 thôn, làng được rà soát, có 109.698 bản hương ước, quy ước đã được phê duyệt (chiếm 87,7%); có 6.694 bản hương ước, quy ước đang trong quá trình phê duyệt; 3.260 bản hương ước, quy ước đang xây dựng. Nhận thức của chính quyền các cấp, của các cơ quan, đơn vị về vị trí, vai trò của hương ước, quy ước đối với quản lý xã hội tại cộng đồng dân cư được nâng lên.
Hương ước, quy ước đã khẳng định được vị trí, vai trò trong xây dựng, thực hiện nếp sống văn minh, thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự quản và xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng dân cư; góp phần đưa pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; gìn giữ, phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới.
Tuy vậy, công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước còn một số tồn tại, hạn chế: Một số hương ước, quy ước có nội dung trái pháp luật, xâm phạm hoặc hạn chế quyền con người, quyền công dân, sơ sài về nội dung, sao chép, lặp lại pháp luật và chủ trương chính sách của nhà nước, thiếu nét đặc trưng văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, thuần phong mỹ tục của địa phương. Việc xây dựng, thực hiện hương ước nhiều nơi còn hình thức, phong trào, kém hiệu quả; công tác phối hợp, phân công trách nhiệm chưa rõ. Hạn chế đó làm sai lệch bản chất, suy giảm vai trò, vị trí của hương ước, quy ước với tư cách là thiết chế tự quản của cộng đồng dân cư.
Nguyên nhân của hạn chế trên chủ yếu là do pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước đã ban hành từ lâu; chậm được rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Vì vậy, Bộ Tư pháp đã đề xuất dự thảo Quyết định về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước với quan điểm pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước chỉ định hướng, không hành chính hóa, dễ hiểu, dễ áp dụng; quán triệt quan điểm kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp; khắc phục tồn tại, hạn chế từ thực tiễn; sửa đổi, bổ sung, thay thế quy định không còn phù hợp để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Theo dự thảo, việc xây dựng hương ước, quy ước phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc và của địa phương; bảo đảm sự tự nguyện, dựa trên nhu cầu của Nhân dân, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân tại cơ sở; không đặt ra những quy định trái pháp luật, hạn chế quyền con người, quyền công dân; bảo vệ, giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục, tập quán tiến bộ, tích cực; loại bỏ phong tục, tập quán, hủ tục lạc hậu; xây dựng các giá trị văn hóa mới phù hợp với thực tiễn địa bàn dân cư.
Việc thực hiện hương ước, quy ước phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Chỉ áp dụng hương ước, quy ước khi pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ, mang tính nguyên tắc tại thời điểm quan hệ xã hội phát sinh; đề cao tinh thần tự nguyện, tự giác; phát huy vai trò của các thiết chế tự quản trong cộng đồng trong giám sát việc thực hiện hương ước, quy ước; khi có sự mâu thuẫn, chồng chéo với quy định của pháp luật hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, hương ước, quy ước phải được sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn.
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 18/7) đầu trang(
Bộ Y tế đang dự thảo Nghị định quy định về kiểm dịch y tế biên giới. Trong đó đề xuất quy định về giám sát, kiểm tra y tế đối với người xuất, nhập cảnh, quá cảnh.
Cụ thể, kiểm dịch viên y tế tiến hành giám sát bằng việc quan sát thể trạng và giám sát thân nhiệt của người xuất, nhập cảnh, quá cảnh. Trường hợp phát hiện người có biểu hiện bất thường liên quan đến sức khỏe hoặc thân nhiệt cao thì tiến hành kiểm tra y tế.
Các bước và nội dung kiểm tra y tế như sau: Kiểm dịch viên y tế đưa người có khả năng nghi ngờ hoặc mắc bệnh truyền nhiễm đến khu vực quy định để tránh nguy cơ lây nhiễm (nếu có) và thực hiện phỏng vấn, khai thác tiền sử; kiểm tra tờ khai y tế theo quy định; kiểm tra giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng (nếu có); khám lâm sàng đối với trường hợp nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; đánh giá hiệu quả các biện pháp xử lý y tế đã áp dụng; lấy mẫu xét nghiệm trong trường hợp nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.
Sau khi kiểm tra, kiểm dịch viên y tế có trách nhiệm thực hiện việc xử lý y tế theo quy định nếu người bị kiểm tra thuộc một trong các trường hợp sau đây: Bị nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A; xuất phát hoặc đi qua vùng đang bị ảnh hưởng bởi phóng xạ, hóa chất, sinh học và các yếu tố khác có khả năng gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng; không có hoặc có giấy chứng nhận tiêm chủng quốc tế hoặc áp dụng biện pháp dự phòng nhưng hết hiệu lực đối với người xuất phát từ vùng có dịch bệnh hoặc đến vùng có dịch bệnh mà bệnh đó bắt buộc phải tiêm chủng hoặc áp dụng biện pháp dự phòng.
Kết thúc quy trình kiểm dịch y tế và thông báo cho cơ quan phụ trách cửa khẩu để làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cho người bị kiểm tra nếu người bị kiểm tra không thuộc một trong các trường hợp trên.
Dự thảo nêu rõ, việc kiểm tra thực tế đối với một người phải hoàn thành trong thời gian tối đa là 2 giờ làm việc tính từ thời điểm hoàn thành xong việc kiểm tra khai báo y tế đối với người đó. (Báo Chính Phủ 18/7) đầu trang(
Đây là đề xuất của Bộ Nội vụ tại dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Dự thảo đề xuất cụ thể mức phạt đối với vi phạm quy định về tổ chức lễ hội tín ngưỡng. Theo đó, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng không thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục sau thời gian gián đoạn hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ, lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục sau thời gian gián đoạn hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm mà không được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ, lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục sau thời gian gián đoạn hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm một trong các hành vi này, mức phạt sẽ là từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
Dự thảo nêu rõ, phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi: Kỳ thị, phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; mua chuộc người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo.
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Vi phạm có tổ chức; dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc, cản trở người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào.
Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm hoặc lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để bịa đặt, xuyên tạc dưới mọi hình thức nhằm chống lại Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoài ra còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động tôn giáo từ 12 tháng đến 24 tháng đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm một trong các hành vi quy định… (Báo Quảng Ninh 18/7) đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Sáng ngày 18/7/2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ Kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Lào.
Đây cũng là dịp hai nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Lào (18/7/1977 – 18/7/2017) tại Hà Nội.
Đến dự buổi lễ, về phía Việt Nam có đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng chí Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí nguyên Lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội; Lãnh đạo các bộ, ban, ngành; đại diện quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào cùng đông đảo đại diện cán bộ công nhân, trí thức, sinh viên, học sinh và các tầng lớp nhân dân Thủ đô.
Về phía Lào có đồng chí Phăn-khăm Vị-pha-văn, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Lào cùng đông đảo cán bộ, sinh viên, học sinh Lào đang công tác và học tập tại Việt Nam.
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, ôn lại truyền thống quan hệ hai nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định việc hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 05/9/1962 và ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ngày 18/7/1977 là sự kiện lịch sử trọng đại, là dấu mốc rất quan trọng trong quan hệ giữa hai nước, khẳng định sự gắn bó vận mệnh của hai dân tộc Việt - Lào trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước cũng như trong chặng đường bảo vệ và phát triển đất nước sau này.
Tổng Bí thư nhấn mạnh, quan hệ Việt Nam – Lào là mối quan hệ “đặc biệt hiếm có” bởi lẽ đó là mối quan hệ phát triển bền vững từ quan hệ truyền thống thân thiết trở thành quan hệ đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn, Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đặt nền móng cùng các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp; đó là mối quan hệ thể hiện những ước vọng tha thiết của nhân dân hai nước là đoàn kết, giúp nhau chống kẻ thù chung, xây dựng quan hệ bình đẳng, tự chủ, hữu nghị, hợp tác cùng có lợi giữa hai quốc gia; đó là mối quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững mang tính xuyên suốt các giai đoạn lịch sử, các chặng đường, bước trước chuẩn bị cho bước sau tiếp tục phát triển đưa tới những thắng lợi lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay của hai nước Việt Nam - Lào.
Tổng Bí thư vui mừng nhận thấy quan hệ giữa hai nước đang ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực với nhiều hình thức hợp tác phong phú, đa dạng trên các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân; giữa các ngành và các địa phương; cả hợp tác song phương và đa phương. Hai nước Việt Nam và Lào đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nhân dân hai nước đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội của mỗi Đảng và cùng nhau phấn đấu xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân hai nước có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Tại lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư nhấn mạnh, để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam lên tầm cao mới, hai bên cần tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh các cơ chế, chính sách và tổ chức chỉ đạo thực hiện hiệu quả những thỏa thuận, mục tiêu chiến lược đã đặt ra với tầm nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào.
Phát biểu tại buổi Lễ, đồng chí Phankham Viphavanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước Lào bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Lào và khẳng định luôn ghi nhớ sự giúp đỡ quý báu, vô tư, chí tình, chí nghĩa, không tiếc máu xương của cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam, chính sự gắn bó thân thiết và tình yêu thương nồng nàn, tin tưởng thực sự anh em đã củng cố tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc Lào – Việt Nam.
Đồng chí Phankham Viphavanh khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào sẽ phấn đấu hết sức mình, sát cánh cùng với người anh em Việt Nam để duy trì, củng cố, tăng cường phát triển mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc Lào – Việt Nam không ngừng đơm hoa kết trái, góp phần xứng đáng cho hòa bình, hữu nghị, hợp tác toàn diện vì hạnh phúc và phồn vinh của các dân tộc trên thế giới.
Tại buổi lễ, đại diện quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào đã ôn lại truyền thống gắn bó keo sơn, tương trợ lẫn nhau giữa hai nước, hai dân tộc và những đóng góp của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào vào sự nghiệp giữ gìn và bảo vệ đất nước, khẳng định sẽ tiếp tục truyền lửa, truyền nhiệt huyết và kinh nghiệm cho các thế hệ trẻ hai nước trong việc vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào. Đại diện tuổi trẻ hai nước đã thể hiện ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trong việc kế thừa, gìn giữ và phát huy hơn nữa mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.
Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 40 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Lào đã diễn ra trong bầu không khí trang trọng, thắm tình hữu nghị anh em Việt – Lào, Lào – Việt. (Infonet 19/7) đầu trang(
QUẢN LÝ
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng - Trưởng Ban chỉ đạo về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư.
Thông báo kết luận nêu rõ, mô hình đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT tại Việt Nam đã được triển khai từ 20 năm trước (Nghị định số 77/CP ngày 18/6/1997), đến nay đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, tiếp cận với thông lệ quốc tế về mô hình đầu tư PPP. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai các dự án PPP còn một số vướng mắc như: Chịu tác động của nhiều luật liên quan như Luật Ngân sách nhà nước, Luật đầu tư, Luật đầu tư công, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai, Luật xây dựng...; sự không rõ ràng giữa PPP và khái niệm "xã hội hóa" đầu tư; một số quy định tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP chưa phù hợp; khó khăn về nguồn vốn đầu tư...; đặc biệt là năng lực của một số nhà đầu tư còn hạn chế cả về năng lực tài chính và kinh nghiệm.
Do đó, trong thời gian tới cần phải tập trung nghiên cứu, sửa đổi chính sách pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư; thống nhất ý chí huy động các nguồn lực nói chung để phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội của cả nước. Từ những bất cập đã được chỉ ra trong thực tiễn, các Bộ, ngành và địa phương cần nghiêm túc chấn chỉnh, đặt lợi ích của nhà nước và cộng đồng lên hàng đầu, không cho phép tồn tại lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực.
Về định hướng sửa đổi các Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và số 30/2015/NĐ-CP, Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương tiếp thu ý kiến các Bộ, ngành, địa phương và các Thành viên Ban chỉ đạo để hoàn thiện dự thảo sửa đổi hai Nghị định này, gửi Bộ Tư pháp thẩm định, trình Chính phủ trong tháng 8/2017.
Trong đó lưu ý vấn đề quản lý theo cách tiếp cận đầu ra: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố nhu cầu về công trình, dịch vụ công để các nhà đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách bình đẳng. Nhà đầu tư tự cân đối nguồn lực (bao gồm vốn chủ sở hữu; khả năng huy động vốn tín dụng; mức lãi suất tín dụng trên thị trường; mức lợi nhuận chấp nhận được của nhà đầu tư; lường trước các rủi ro...) để quyết định việc tham gia dự thầu. Nhà đầu tư/ Doanh nghiệp dự án được thu giá, phí dựa trên chất lượng dịch vụ cung cấp; chịu trách nhiệm về chất lượng công trình, dịch vụ gắn với quyền lợi của mình trong quá trình khai thác, vận hành dự án.
Tăng cường phân cấp; nâng cao trách nhiệm của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc triển khai dự án, từ việc quyết định chủ trương đầu tư, cân đối nguồn lực, thẩm định dự án, lựa chọn nhà đầu tư và giám sát tổ chức thực hiện, vận hành công trình theo đúng quy định tại Hợp đồng dự án và quy định của pháp luật.
Các bộ, ngành và địa phương phải ưu tiên dành nguồn lực ngân sách để hỗ trợ các dự án có khả năng đầu tư PPP; sau khi không đấu thầu được nhà đầu tư mới xem xét hình thức đầu tư công; nghiên cứu rút ngắn thời gian đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư nhưng vẫn bảo đảm tính công khai, minh bạch và hiệu quả.
Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để đẩy mạnh hỗ trợ chuẩn bị các dự án ưu tiên từ nguồn vốn hỗ trợ chuẩn bị đầu tư (PDF).
Các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh, trên cơ sở kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn dự kiến được phân bổ và các nguồn lực khác, tiếp tục rà soát thứ tự ưu tiên để lập và công bố danh mục dự án PPP làm cơ sở mời gọi đầu tư; chủ động nghiên cứu giải pháp thu hút đầu tư trên nguyên tắc thị trường, công khai, minh bạch.
Phó Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đánh giá cụ thể nhu cầu vốn tín dụng cho các dự án PPP trong giai đoạn tới, đề xuất các giải pháp khả thi để thu xếp vốn.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu các cơ chế bảo lãnh để áp dụng thí điểm cho một số dự án PPP giao thông quan trọng; dự thảo cơ chế sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước đối với dự án PPP, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10 năm 2017.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương cập nhật thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và Trang thông tin về PPP để phục vụ chương trình truyền thông về PPP.
Trong quá trình thực hiện, trường hợp có vướng mắc hoặc đề xuất, các Bộ, ngành và địa phương gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, kịp thời báo cáo Ban chỉ đạo để xem xét, giải quyết. (Báo Chính Phủ 18/7) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại phiên họp thứ ba triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về việc xử lý các tồn tại, yếu kém của một số dự án và doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương.
Theo đó, Phó Thủ tướng giao Bộ Công thương căn cứ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Thông báo số 43-TB/VPTW (ngày 19-6-2017) của Văn phòng T.Ư Đảng và ý kiến của các bộ, ngành để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án xử lý 12 dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương trước ngày 25-7-2017. Phó Thủ tướng giao Kiểm toán nhà nước, Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ sớm hoàn thành việc kiểm toán, điều tra, thanh tra tại 12 dự án, doanh nghiệp theo chương trình, kế hoạch đã đề ra.
Các tập đoàn: Hóa chất Việt Nam, Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty Thép Việt Nam củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo của các đơn vị mình; phân công, xác định rõ nhiệm vụ của từng đơn vị, người đứng đầu trong việc xử lý các dự án, doanh nghiệp thuộc đơn vị mình... (Nhân Dân 19/7) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.
Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chuyển thành công ty cổ phần khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau: Tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi; thuộc danh mục chuyển thành công ty cổ phần theo quy định; có phương án tiếp tục cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt.
Quyết định nêu rõ, thực hiện chuyển thành công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ hoặc không giữ cổ phần tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sau:
- Khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch;
- Thoát nước và xử lý nước thải; Vệ sinh môi trường; Chiếu sáng;
- Sản xuất, lưu giữ giống gốc cây trồng vật nuôi;
- Dịch vụ tư vấn trong các lĩnh vực (lập quy hoạch đô thị, kế toán, kiểm toán, thuế, thẩm định giá tài sản, nghiên cứu thị trường, thăm dò dư luận xã hội, tư vấn về quản lý và kinh doanh...);
- Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
- Hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
- Dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội;
- Thông tin thị trường lao động, dịch vụ việc làm, hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa;
- Quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường thủy nội địa;
- Quản lý, bảo trì bến tầu, bến xe;
- Kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới và phương tiện thủy;
- Kiểm định xây dựng;
- Kiểm định kỹ thuật an toàn lao động;
- Hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe;
- Kinh doanh mặt bằng hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại, đầu tư;
- Các dịch vụ hỗ trợ, cung cấp thông tin, quảng bá du lịch;
- Quản lý bất động sản;
- Quản lý chợ, trung tâm thương mại;
- Kinh doanh nhà khách, nhà nghỉ và dịch vụ lưu trú ngắn ngày và phục vụ hội họp;
- Phát triển hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp. (Bnews 18/7) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
71 năm xây dựng và trưởng thành, mặc dù còn nhiều khó khăn, thử thách song nhìn lại chặng đường đã qua, các thế hệ những người làm công tác thi hành án dân sự (THADS) tự hào vì những thành tựu vẻ vang đã đạt được.
Kỷ niệm ngày truyền thống cũng là dịp cùng ôn lại truyền thống vẻ vang THADS để tiếp tục nỗ lực, cống hiến, đưa hệ thống thi hành án ngày càng phát triển, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Bằng nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, công tác THADS ngày càng có bước chuyển biến quan trọng, kết quả THADS ngày càng cao, năm sau cao hơn năm trước và có xu hướng bền vững, cơ bản đều đạt và vượt các chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao. Giai đoạn 2011-2015, toàn hệ thống đã thi hành xong 2 triệu 333 ngàn 329 việc, tương ứng về giá trị là 131 ngàn 326 tỷ đồng, đạt tỷ lệ trung bình là 88% về việc và 76% về tiền; riêng năm 2015 đã tổ chức thi hành xong 533.985 việc, đạt tỷ lệ 89,09% và đã giải quyết xong trên 42.819 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 76% về tiền.
Đặc biệt, năm 2016 là năm đầu tiên hệ thống THADS đạt được 4 chỉ tiêu quan trọng Quốc hội giao; so với chỉ tiêu, nhiệm vụ Bộ Tư pháp giao năm 2016, Hệ thống THADS đã vượt chỉ tiêu cả về việc (8,53%) và về tiền (3,74%) với tổng số việc thi hành xong là 530.428 việc; số tiền là hơn 29.097 tỷ 865 triệu đồng. Số án chuyển kỳ sau được kéo giảm đáng kể so với năm 2015 (giảm 14,66% về việc và 19,05% về tiền).
Công tác phân loại án có điều kiện thi hành và chưa có điều kiện thi hành; tỷ lệ án có điều kiện thi hành trên tổng số phải thi hành năm 2016 ngày càng chính xác hơn và đạt khá cao (82,25% về việc và 64,55% về tiền), cao hơn so với các năm trước. 06 tháng đầu năm 2017 kết quả THADS đạt cao hơn so với cùng kỳ năm 2016 cả về việc và về tiền (tăng 2,2% về việc và 9,86% về tiền), các mặt công tác đã được triển khai tương đối toàn diện, đồng bộ, hiệu quả.
Một trong những giải pháp đột phá được ngành Tư pháp thực hiện là đổi mới trong công tác chỉ đạo điều hành. Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đã quan tâm sâu sắc, chỉ đạo quyết liệt đối với toàn hệ thống, lãnh đạo Tổng cục THADS cũng tăng cường các chuyến đi về cơ sở, kịp thời phát hiện, tháo gỡ khó khăn cho địa phương; đồng thời chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật và củng cố, kiện toàn về công tác cán bộ, tập trung chỉ đạo quyết liệt đối với những địa bàn có nhiều án hoặc còn nhiều hạn chế, kết quả thi hành án đạt thấp. Toàn ngành đã tập trung chỉ đạo sâu sát, quyết liệt đối với những vụ án lớn, những vụ việc liên quan đến thu hồi tài sản cho Nhà nước trong các vụ án tham nhũng. Đặc biệt, sự phối hợp với các bộ, ngành liên quan, với cấp ủy, chính quyền địa phương được tăng cường.
Bản thân các cơ quan THADS cũng đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để công tác THADS đạt kết quả cao nhất. Đặc biệt ở các địa phương lớn, lượng án nhiều, phức tạp đã mạnh dạn áp dụng những giải pháp sáng tạo, đột phá để nâng cao tỷ lệ THADS về việc, về tiền, đảm bảo các chỉ tiêu khác được giao.
Công tác xây dựng thể chế được quan tâm, năm 2017, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn triển khai Luật THADS (sửa đổi, bổ sung năm 2014) về cơ bản đã được hoàn thiện. Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 06/02/2017 về tăng cường công tác THADS. Chỉ thị nêu rõ Hệ thống THADS cần quyết liệt đổi mới, trong đó, đặc biệt quan tâm đến những đơn vị còn nhiều hạn chế, yếu kém. Thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chấp hành viên đảm bảo phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy cho người dân và doanh nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục thực hiện tốt công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự. Thực hiện tốt phương châm “hướng về cơ sở”; kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải quyết dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành, đặc biệt là các vụ việc trọng điểm, giá trị lớn, phức tạp; các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng và các vụ án về tham nhũng; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá.
Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra theo thẩm quyền, kịp thời phát hiện, khắc phục và hạn chế đến mức thấp nhất các vi phạm, nhất là vi phạm trong kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Xử lý nghiêm các trường hợp tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật.
Thực hiện Chỉ thị nêu trên, Bộ Tư pháp đã có Quyết định ban hành Kế hoạch thực hiện. Nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác THADS, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Tổng cục THADS đã có văn bản yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tổng cục, Cục trưởng Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai các công việc liên quan. Trên cơ sở này, nhiều địa phương đã ban hành chỉ thị tăng cường công tác THADS, góp phần đưa công tác THADS ngày càng nền nếp, hiệu quả.
Hệ thống THADS trưởng thành, vững mạnh không thể không nói đến việc kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy. Số liệu 6 tháng đầu năm cho thấy, toàn Hệ thống đã thực hiện 9.463/9.657 biên chế (Tổng cục 142/170 biên chế, các cơ quan THADS địa phương 9.321/9.477 biên chế).
Về đội ngũ công chức lãnh đạo, tại Tổng cục có Tổng cục trưởng, 04 Phó Tổng cục trưởng và 31 lãnh đạo cấp Vụ; tại địa phương, có 61/63 Cục trưởng, 02 Quyền Cục trưởng và 140 Phó Cục trưởng; 685 Chi cục trưởng, 25 đơn vị chưa có Chi cục trưởng.
Đội ngũ công chức giữ chức danh tư pháp gồm 3.924 chấp hành viên; 691 thẩm tra viên; 1.814 thư ký. Công tác đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh tiếp tục được chú trọng. Công tác luân chuyển, quy hoạch được thực hiện tốt; kỷ luật, kỷ cương công vụ được tăng cường; quan hệ phối hợp với các bộ, ban, ngành và các cấp ủy, chính quyền địa phương ngày càng chặt chẽ và đi vào thực chất; cơ sở vật chất, nhất là trụ sở, kho vật chứng được quan tâm đầu tư, xây dựng.
Để tạo thuận lợi cho người dân, năm 2016, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Tổng cục THADS tiến hành rà soát và công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực THADS, thực hiện thí điểm cơ chế một cửa đối với một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực THADS; triển khai thực hiện thí điểm hỗ trợ trực tuyến yêu cầu thi hành án mức độ 2 tại các cơ quan THADS địa phương nhằm tạo sự công khai, minh bạch, nêu cao tinh thần phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đến nay việc hỗ trợ trực tuyến yêu cầu thi hành án đã được triển khai trên phạm vi cả nước.
Với những kết quả đạt được, hệ thống THADS đã và đang góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và kinh tế - xã hội của từng địa phương nói riêng, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với công tác THADS thời gian qua.
Ghi nhận và tin tưởng những thành tựu đạt được của hệ thống THADS, Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cho các tập thể, cá nhân thuộc hệ thống THADS. Tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống, hệ thống THADS vinh dự và tự hào đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Đây là phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước và nhân dân trao tặng cho hệ thống THADS.
Nhìn lại chặng đường vẻ vang, những người làm công tác THADS có thêm động lực để phấn đấu, nỗ lực hơn vì sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống. (Pháp Luật Việt Nam 19/7) đầu trang(
Chiều 18/7, Thanh tra tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017.
Trong 6 tháng đầu năm 2017, ngành Thanh tra Đồng Tháp thực hiện 45 cuộc thanh tra hành chính, đã ban hành 21 kết luận thanh tra. Qua thanh tra, đã phát hiện sai phạm số tiền hơn 2,5 tỷ đồng; kiến nghị xử lý hành chính 3 tổ chức, 23 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra 3 vụ việc.
Toàn tỉnh đã tiến hành 146 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đối với 4.431 tổ chức, đơn vị, cá nhân; phát hiện 1.592 tổ chức, cá nhân có vi phạm. Ban hành 443 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền trên 1,45 tỷ đồng.
Cũng trong 6 tháng đầu năm 2017, tình hình tiếp nhận, thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trên địa bàn tỉnh giảm cả về số lượt tiếp công dân, số đơn tiếp nhận. Các cấp, ngành của tỉnh đã tiếp 3.818 lượt công dân với 3.970 người, giảm 989 lượt so với cùng kỳ năm 2016, trong đó có 7 vụ đông người.
Các cơ quan hành chính tiếp nhận 1.050 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, đã xử lý 703 đơn đủ điều kiện. Đến nay, đã giải quyết 359 trong tổng số 496 vụ việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm được giao, đạt tỷ lệ trên 72%.
Thực hiện Kế hoạch 2100 của Thanh tra Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 160 về kiểm tra, rà soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, phức tạp tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh.
Đến nay, đã ban hành thông báo kết thúc giải quyết đối với 8 trường hợp khiếu nại, 1 vụ đã thống nhất nhận hỗ trợ và không khiếu nại tiếp; tiếp tục có chính sách hỗ trợ khác 3 vụ.
Ngoài ra, UBND tỉnh đã chỉ đạo cho các ngành chức năng kiểm tra, rà soát và ban hành thông báo chấm dứt thụ lý, xem xét, giải quyết 8 trường hợp khiếu nại đã có quyết định giải quyết lần 2, nhưng công dân còn khiếu nại, kết quả kiểm tra không có phát sinh tình tiết mới.
Về nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017, tỉnh tiếp tục triển khai các cuộc thanh tra theo kế hoạch năm đã được duyệt, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả; kịp thời xử lý, không để phát sinh chồng chéo trong quá trình thanh tra, kiểm tra; rà soát điều chỉnh kế hoạch thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, tăng cường công tác nắm tình hình, tham mưu cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra đột xuất, tập trung các lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực, tham nhũng; kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những yếu kém, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có sai phạm.
Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai, quán triệt và thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại, tố cáo; xác định nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo để có biện pháp chấn chỉnh những yếu kém trong quản lý nhà nước, xử lý cán bộ có sai phạm. (Thanh Tra 18/7) đầu trang(
Thời gian qua, người dân ở Bạc Liêu rất bức xúc trước việc một số dự án lớn được chính quyền tỉnh "tin tưởng và ưu ái" với nhiều hình thức như: giao hàng nghìn mét vuông "đất vàng" tại Khu trung tâm TP Bạc Liêu cho nhà thầu, ứng trước vốn của Nhà nước làm lễ khởi công... Tuy nhiên, sau một thời gian dài, những công trình này vẫn không triển khai xây dựng, làm lãng phí tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của địa phương.
Theo phản ánh của người dân, chính quyền tỉnh Bạc Liêu đã giao khu "đất vàng" rộng hơn 4.000 m2 tại Khu trung tâm thương mại của tỉnh cho Tập đoàn Nguyễn Kim, để xây dựng Trung tâm mua sắm Nguyễn Kim Bạc Liêu, tại TP Bạc Liêu. Từ khi nhận giao đất đến nay đã gần ba năm, nhưng Tập đoàn này chỉ làm lễ động thổ khởi công "giữ đất" rồi bỏ hoang, để cỏ cây mọc um tùm giữa trung tâm thành phố. Nhiều cán bộ, người dân trong tỉnh đề nghị chính quyền và ngành chức năng ở Bạc Liêu cần làm rõ, vì sao Tập đoàn Nguyễn Kim khởi công xây dựng dự án tại khu "đất vàng" rồi lại bỏ hoang như vậy?
Đem những bức xúc, bất bình nêu trên đến hỏi Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bạc Liêu Lê Minh Chiến, để tìm hiểu rõ hơn vì sao có tình trạng đáng buồn này, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị phóng viên tới gặp Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) tỉnh là ông Trần Thanh Tâm. Sau nhiều ngày kiên trì "đeo bám", cuối cùng lãnh đạo Sở KHĐT tỉnh Bạc Liêu đã đưa cho phóng viên Báo cáo số 673 (đề ngày 28-6-2017) gửi UBND tỉnh Bạc Liêu.
Trong đó, có đoạn nêu rõ: "Dự án đầu tư Trung tâm thương mại - du lịch tại phường 3, TP Bạc Liêu (tại góc đường Trần Phú - Hai Bà Trưng), nhà đầu tư là Tập đoàn Nguyễn Kim đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất ngày 26-12-2014, với diện tích hơn 4.000 m2 đất, ngay mặt tiền tại hai con đường chính của tỉnh. Ngoài ra, dự án đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại - dịch vụ - giải trí tại phường 3, TP Bạc Liêu, góc đường Hai Bà Trưng và đường 30-4, với diện tích hàng nghìn mét vuông. Nhà đầu tư cũng do Tập đoàn Nguyễn Kim đã trúng đấu giá quyền sử dụng ngày 17-5-2016. Tuy nhiên, đến nay cả hai dự án này đều chưa triển khai thực hiện, đã tạo dư luận không tốt trong thời gian qua...".
Tại các kỳ họp của HĐND tỉnh, nhiều đại biểu đã thẳng thắn nêu những bức xúc, bất bình của cử tri trong tỉnh về việc Tập đoàn Nguyễn Kim đã "ôm" hàng nghìn mét vuông đất tại khu thương mại ở trung tâm TP Bạc Liêu rồi để hoang phí, làm phát sinh các tụ điểm tệ nạn xã hội, hoạt động giữa trung tâm thành phố như mấy năm qua.
Trước sự bức xúc, bất bình của nhiều cán bộ, người dân, ngày 5-4-2016, Tập đoàn Nguyễn Kim tổ chức lễ khởi công dự án Trung tâm mua sắm Nguyễn Kim Bạc Liêu, tại TP Bạc Liêu. Tổng mức đầu tư dự kiến 160 tỷ đồng. Theo kế hoạch, sau 14 tháng thi công (tức quý IV-2017), trung tâm thương mại này sẽ đi vào hoạt động.
Tuy nhiên, hiện nay, cả hai khu "đất vàng" rộng hàng nghìn mét vuông ngay tại trung tâm thương mại TP Bạc Liêu vẫn bỏ hoang, trước sự bức xúc, bất bình của nhân dân trong tỉnh... Đáng lưu ý là, trong khi đó, Tập đoàn này lại đi thuê khu đất khác tại đường Trần Huỳnh, phường 7, TP Bạc Liêu để đầu tư xây dựng khá " hoành tráng" Trung tâm kinh doanh điện máy Nguyễn Kim tại đây, trước sự ngạc nhiên và khó hiểu của nhiều người dân địa phương.
Vụ việc này xảy ra tại huyện Hòa Bình (Bạc Liêu). Cụ thể, ngày 22-6-2012, UBND huyện Hòa Bình tổ chức Lễ khởi công xây dựng công trình bờ kè chống sạt lở khu dân cư thị trấn Hòa Bình (đoạn 2). Theo đó, mục tiêu của dự án là gia cố phòng, chống sạt lở, bảo đảm an toàn cho người và hệ thống cơ sở hạ tầng dọc hai bờ sông theo các tuyến đường khu dân cư thị trấn. Dự án do UBND huyện Hòa Bình làm chủ đầu tư, với tổng kinh phí gần 100 tỷ đồng, nguồn vốn do Trung ương cấp.
Đơn vị trúng thầu thi công là liên danh doanh nghiệp tư nhân Chí Tôn (Bạc Liêu) và Tổng Công ty 319. Dự án có tổng chiều dài bờ kè là 1.600 m, được chia làm hai đoạn: Đoạn 1 từ chùa Mới (thị trấn Hòa Bình) dài 1.000 m đến khu vực chợ Hòa Bình. Đoạn 2, từ bên kia sông đối diện chùa Mới, dài 600 m đến giáp ranh kênh Chùa Phật (xã Vĩnh Hậu). Theo thiết kế, công trình còn có các hạng mục sau kè, như: lan-can theo tuyến kè, vỉa hè, cây xanh và hệ thống điện chiếu sáng...
Khi hoàn thành, dự án này sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho đời sống người dân. Ngoài việc góp phần chống sạt lở khu dân cư, còn hoàn thiện cơ sở hạ tầng, phát triển giao thông, chỉnh trang nâng cấp đô thị. Đây là một trong những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa xã hội giúp thị trấn Hòa Bình trở thành đô thị loại 4.
Tuy nhiên, điều đáng buồn là, hai nhà thầu nêu trên đã tạm ứng vốn của Nhà nước hàng chục tỷ đồng đã làm lễ khởi công "ì xèo", nhưng chỉ mới cắm được vài cột bê-tông rồi bỏ đó suốt 5 năm qua. Đáng nói, hiện nay lãnh đạo chủ chốt của huyện Hòa Bình, người thì được điều chuyển công tác, người thì đã về hưu; có doanh nghiệp đã phá sản, gây thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân nhiều chục tỷ đồng.
Dư luận ở Bạc Liêu đề nghị Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bạc Liêu cần sớm chỉ đạo làm rõ, xử lý nghiêm minh những tập thể, cá nhân có liên quan đến các vụ việc nêu trên. (Nhân Dân 19/7) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
hông qua các tiện ích như website thông tin, tin nhắn SMS trực tiếp vào di động, người dân khi ra ngoài vẫn có thể biết được số phiếu đang thực hiện giao dịch và sắp xếp thời gian quay lại đúng giờ.
Thời gian qua, mặc dù chất lượng cung ứng thủ tục hành chính và dịch vụ công tại thành phố Đà Nẵng đã có nhiều cải thiện song đối với các thủ tục, dịch vụ đông người (đặc biệt tại các cơ sở y tế), thời gian chờ đợi tương đối lâu.
Các cơ quan, đơn vị có số lượt giao dịch lớn trên địa bàn đều đã trang bị máy xếp hàng tự động. Sau khi lấy phiếu thứ tự từ các máy xếp hàng tự động, phần lớn người dân ngồi tại chỗ, không dám đi khỏi nơi chờ đợi vì sợ qua lượt, tạo cảm giác mệt mỏi, không hài lòng với việc cung ứng thủ tục hành chính, dịch vụ công của thành phố.
Xuất phát từ thực tế trên, thành phố Đà Nẵng đã xây dựng Bộ công cụ tra cứu dữ liệu từ các máy xếp hàng tự động. Cụ thể, thông qua các tiện ích như, Website thông tin, tin nhắn SMS trực tiếp vào di động, người dân khi ra ngoài vẫn có thể biết được số phiếu đang thực hiện giao dịch và sắp xếp thời gian quay lại đúng giờ. Đặc biệt, người nhà bệnh nhân có thể chủ động thời gian để đưa người bệnh đến cơ sở y tế mà không phải chờ đợi tại chỗ.
Đến nay, thành phố Đà Nẵng đã tích hợp thành công dữ liệu từ máy xếp hàng tự động tại Trung tâm Hành chính thành phố (2 máy cung cấp số thứ tự cho tất cả các sở, ban, ngành), UBND quận Hải Châu, Bệnh viện Đà Nẵng, Bệnh viện Phụ sản - Nhi về Cổng một cửa thành phố. Theo đó, người dân có thể truy cập website http://motcua.danang.gov.vn để xem và tra cứu dữ liệu từ các máy xếp hàng tự động, biết được số lượt đang giao dịch và chờ tại các đơn vị trên.
Bên cạnh việc tra cứu trên mạng, trong trường hợp người dân sau khi đã bấm số thứ tự và đi ra ngoài tại các nơi không có internet thì sử dụng tin nhắn SMS với cú pháp: XH [Mã máy] [Số thứ tự] gửi về tổng đài 8181. Trong đó, danh sách mã máy như sau: TTHC1: Từ quầy 01 - 13 tại Trung tâm Hành chính; TTHC2: Từ quầy 14 - 32 tại Trung tâm Hành chính; BVDN: Bệnh viện Đà Nẵng; PSN: Bệnh viện Phụ sản - Nhi; HC: UBND quận Hải Châu.
Để thuận tiện cho việc tra cứu của người dân, tại những điểm đặt máy xếp hàng tự động đều có poster thông tin về dịch vụ tra cứu dữ liệu máy xếp hàng tự động và danh sách mã máy tương ứng.
Việc triển khai Bộ công cụ tra cứu dữ liệu từ các máy xếp hàng tự động là giải pháp mới về cải cách hành chính của thành phố Đà Nẵng nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người dân khi thực hiện các thủ tục hành chính và dịch vụ công trên địa bàn thành phố. (Bnews 18/7) đầu trang(
Đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ vừa có Thông báo kết quả kiểm tra công tác CCHC tại tỉnh Thanh Hóa và tỉnh An Giang.
Trước đó, đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo do Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Thành làm Trưởng đoàn đã tiến hành kiểm tra công tác CCHC, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC tại tỉnh Thanh Hóa và tỉnh An Giang.
Kết quả kiểm tra công tác CCHC tại tỉnh Thanh Hóa cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2017, tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo thực hiện công khai, minh bạch, đổi mới việc thực hiện TTHC, giúp giải quyết nhanh, giảm phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, trong đó đã phê duyệt để chuẩn bị tổ chức thực hiện Đề án thành lập Trung tâm hành chính công tỉnh và Trung tâm hành chính công cấp huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa,... Tỉnh đã thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông ở 29/29 sở, ngành cấp tỉnh; 27/27 cơ quan UBND cấp huyện và 635/635 cấp xã; hệ thống một cửa điện tử hiện đại cung cấp dịch vụ hành chính công cấp huyện đã được triển khai và đưa vào sử dụng tại 20/27 UBND huyện, thị xã, thành phố và 7/21 đơn vị cấp tỉnh.
Tỉnh An Giang đã triển khai và công bố kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2016 đối với 17 sở, ban, ngành, 11 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; tiếp tục chấn chỉnh, duy trì kỷ luật, kỷ cương hành chính, đẩy mạnh hiệu quả cải cách hành chính để tạo chuyển biến về hiệu quả, uy tín và chất lượng phục vụ của chính quyền các cấp, nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp với việc thực hiện giám sát và công bố, công khai kết quả giải quyết thủ tục hành chính vào ngày 05 hàng tháng trên báo An Giang và Cổng Thông tin điện tử tỉnh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước được thực hiện khá toàn diện. An Giang là một trong những tỉnh triển khai nhiều dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác CCHC tại Thanh Hóa chưa toàn diện, triệt để, chưa có nhiều đột phá, chưa xứng với tiềm năng của tỉnh; một số chỉ số đánh giá về CCHC của tỉnh có chiều hướng giảm; vẫn còn việc quy định thêm các TTHC không cần thiết, không hợp lý.
Còn tại An Giang, tốc độ CCHC nhìn chung còn chậm; việc giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa của các cơ quan hành chính chưa đồng đều, vẫn còn nhiều hồ sơ giải quyết quá hạn, đặc biệt ở lĩnh vực đất đai; TTHC được chỉ đạo rà soát, cắt giảm, nhưng vẫn còn rườm rà...
Để công tác CCHC tại 2 tỉnh Thanh Hóa và An Giang được triển khai hiệu quả, đóng góp thiết thực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Đoàn kiểm tra đề nghị lãnh đạo UBND 2 tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, lãnh đạo UBND cấp huyện, cấp xã khắc phục ngay những bất cập, tồn tại; đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 10/6/2015 và Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 5/9/2016.
Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh triển khai CCHC một cách quyết liệt, toàn diện, sâu sát hơn, trong đó tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.
Tổ chức tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ công tác CCHC; tăng cường khả năng giám sát của người dân và trách nhiệm giải trình của cơ quan hành các cấp thông qua việc triển khai có hiệu quả việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức về cơ chế, chính sách, TTHC.
Triển khai có hiệu quả Đề án thành lập Trung tâm hành chính công tỉnh và Trung tâm hành chính công cấp huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa theo quyết định đã được phê duyệt; nhanh chóng đưa Trung tâm tiếp nhận và trả kết quả TTHC tỉnh An Giang vào hoạt động; đẩy mạnh việc giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trên địa bàn 2 tỉnh Thanh Hóa và An Giang. (Xây Dựng 18/7) đầu trang(
Các sở, ngành, quận, huyện cần đẩy nhanh việc áp dụng dịch vụ công trực tuyến và xem đây là một giải pháp căn bản xây dựng chính quyền phục vụ dân, giảm thiểu những thủ tục gây nhũng nhiễu, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Đó là chỉ đạo của ông Trần Vĩnh Tuyến, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, khi nói về việc nâng cao hiệu quả triển khai dịch vụ công trực tuyến tại TP Hồ Chí Minh.
Theo ông Trần Vĩnh Tuyến để nâng cao hiệu quả của dịch vụ công trực tuyến, trước hết các sở, cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác tuyên truyền cho người dân, nghiên cứu giảm thời gian xử lý đối với các dịch vụ công trực tuyến để khuyến khích người dân tham gia sử dụng; thêm nhiều tiện tích cho người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến thông qua sự hỗ trợ nhà nước và các phương tiện công nghệ thông tin; minh bạch thông tin với người dân (nhắn tin, thư điện tử, công khai thông tin trên trang thông tin điện tử...).
“Ngoài ra, UBND các quận, huyện cần tổ chức thí điểm các điểm hỗ trợ người dân nộp hồ sơ trực tuyến tại các phường xã, thị trấn; hỗ trợ máy móc, thiết bị và nhân sự để người dân dễ dàng trong sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Sở Thông tin và Truyền thông được giao nghiên cứu đề xuất giải pháp thanh toán trực tuyến phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 tại các sở, ban ngành và quận huyện”, ông Tuyến cho biết thêm.
Hiện nay, TP Hồ Chí Minh có hơn 300 thủ tục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 triển khai cho 24 quận huyện, tập trung các nhóm lao động, kinh tế, đất đai, xây dựng và hộ tịch. Tuy nhiên, việc tham gia dịch vụ công trực tuyến hiện còn khá thấp, chẳng hạn nhóm lao động có tỷ lệ nộp hồ sơ xử lý thông qua dịch vụ công trực tuyến chiếm 1%; nhóm kinh tế tỷ lệ nộp hồ sơ xử lý thông qua dịch vụ công trực tuyến chiếm 2%; nhóm đất đai, xây dựng tỷ lệ 1%; nhóm hộ tịch tỷ lệ 2% và nhóm vệ sinh an toàn thực phẩm tỷ 1%. (Tin Tức 19/7) đầu trang(
KINH TẾ
Riêng 10 nhóm hàng lớn nhất đã chiếm hơn 70% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước...
Theo Tổng cục Hải quan, bức tranh xuất khẩu 6 tháng đầu năm của Việt Nam có nhiều khả quan khi đạt tổng kim ngạch 97,21 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Trong đó, có 19/45 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, tăng hai nhóm hàng so với cùng kỳ.
Riêng 10 nhóm hàng lớn nhất đã đạt kim ngạch 69,94 tỷ USD, chiếm hơn 70% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Một số mặt hàng “tỷ đô” tiêu biểu đã được Tổng cục Hải quan thống kê chi tiết.
Điện thoại các loại và linh kiện: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 6 tháng năm nay đạt 19,5 tỷ USD, tăng 14,9% so với cùng kỳ.
Các thị trường nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam là Mỹ với kim ngạch 2,05 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ; Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) với kim ngạch 1,92 tỷ USD, giảm 13,8%; Hàn Quốc với 1,71 tỷ USD, tăng 30,2%...
Hàng dệt may: Xuất khẩu đạt 11,75 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ. 48,9% trị giá hàng dệt may của cả nước được xuất khẩu sang Mỹ với kim ngạch 5,75 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ; đứng thứ hai là khối EU với kim ngạch 1,69 tỷ USD, tăng 3,5%; tiếp theo là thị trường Nhật Bản với kim ngạch 1,37 tỷ USD, tăng 8%…
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Xuất khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng đạt 11,56 tỷ USD, tăng 45,8% so với cùng kỳ.
Các thị trường chủ yếu là Trung Quốc với 2,85 tỷ USD, tăng 99,6% so với cùng kỳ; thị trường EU với kim ngạch 2,12 tỷ USD, tăng 23,7%; thị trường Mỹ với 1,35 tỷ USD, tăng 0,2%…
Máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác: Xuất khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng đạt 5,93 tỷ USD, tăng 31,5% so với cùng kỳ.
Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Mỹ đạt trị giá 1,22 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ; Nhật Bản đạt trị giá 833 triệu USD, tăng 15,5%; Trung Quốc đạt trị giá 733 triệu USD, tăng 70%…
Gỗ và sản phẩm gỗ: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 6 tháng/2017 đạt 3,66 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ.
Gỗ và sản phẩm gỗ chủ yếu được xuất khẩu đi các thị trường sau: Mỹ với 1,51 tỷ USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ; Trung Quốc với 556 triệu USD, tăng 29%; Nhật Bản với 503 triệu USD, tăng 5,3%…
Hàng nông sản: Xuất khẩu nhóm hàng nông sản gồm hàng rau quả, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, sắn và sản phẩm từ sắn; cao su đạt 8,51 tỷ USD, tăng tăng 19,8% so với cùng kỳ.
Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc với 3,05 tỷ USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ, xuất khẩu hàng nông sản sang Trung Quốc chiếm tỷ trọng 35,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của cả nước; thị trường EU đạt kim ngạch 1,53 tỷ USD, tăng 13,8%; Mỹ với 1,04 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ.
Trong đó, xuất khẩu hàng rau quả đạt 1,67 tỷ USD, tăng 43,5% so với cùng kỳ; xuất khẩu điều đạt 1,47 tỷ USD, tăng 22,4%; cà phê đạt 1,88 tỷ USD, giảm 10,4%; cao su đạt 896 triệu USD...
Một số mặt hàng khác cũng có kim ngạch xuất khẩu lớn như giày dép (7,04 tỷ USD), thuỷ sản (3,59 tỷ USD), xơ sợi (1,67 tỷ USD), phương tiện vận tải và phụ tùng (3,36 tỷ USD)... (VnEconomy 18/7) đầu trang(
Những quy định chặt chẽ về an toàn thực phẩm trong Chương trình thanh tra cá da trơn của Hoa Kỳ… đang đặt ra những yêu cầu mới trong quản lý, chế biến cá tra xuất khẩu. Trước thực tế đó, nhiều chính sách liên quan đến quản lý ngành hàng này đã ra đời nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cá tra.
Cách đây hơn 3 năm, Chính phủ ban hành Nghị định 36 về về quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra với mục đích chấn chỉnh lại hoạt động nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, sau thời gian triển khai đã gặp phải những khó khăn, vướng mắc, nhất là sự phản ứng từ phía các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra. Để đáp ứng yêu cầu của thị trường, mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định 55 thay thế cho Nghị định 36 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2017.
Theo ông Như Văn Cẩn, Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản (Tổng cục Thủy sản), điểm nổi bật nhất của Nghị định 55 là quản lý ngành hàng cá tra theo chuỗi và sẽ hậu kiểm đối với điều kiện nuôi, chế biến, xuất khẩu. Các tổ chức, cá nhân không phải xuất trình giấy tờ chứng minh đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 của Điều 7 ở Nghị định 55 khi làm thủ tục xuất khẩu sản phẩm cá tra cho cơ quan hải quan, nhưng sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định nếu không chứng minh đủ điều kiện khi kiểm tra hậu kiểm.
Cũng theo Nghị định này, các nhà máy chế biến cá tra phải đáp ứng yêu cầu mua nguyên liệu từ cơ sở nuôi cá tra đáp ứng quy định của Điều 3 về điều kiện nuôi cá tra thương phẩm và có hệ thống truy xuất nguồn gốc đến cơ sở nuôi đó.
Các doanh nghiệp cho rằng, các nội dung cơ bản của Nghị định 55 đã được điều chỉnh, bổ sung đầy đủ để quản lý ngành hàng cá tra theo chuỗi từ nuôi trồng, chế biến đến tiêu thụ.
Ông Trần Văn Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Hùng Cá cho biết, Nghị định này cũng đã quy định các điều kiện tối thiểu, truy xuất nguồn gốc và hậu kiểm đối với điều kiện nuôi, chế biến và xuất khẩu thay vì quản lý bằng biện pháp hành chính như trước đây. Nếu như trước đây, những lô hàng hợp đồng xuất khẩu chỉ được cơ quan hải quan chấp nhận thông quan khi đã được Hiệp hội cá tra Việt Nam xác nhận, thì quy định này nay đã được bãi bỏ, thủ tục hành chính ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đã được tháo gỡ.
Theo ông Dương Ngọc Minh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Hùng Vương kiêm Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Nghị định 55 là một chính sách rất cần thiết trong thời điểm này để củng cố lòng tin cho các nhà nhập khẩu cá tra trên thế giới. Đây cũng là bước khởi đầu để định vị cá tra là sản phẩm mang thương hiệu quốc gia. Nếu không kiên quyết thực hiện các nội dung theo Nghị định này thì cá tra Việt khó thâm nhập sâu vào các thị trường, nhất là những thị trường mới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á…
Một nút thắt khác đã được Nghị định này tháo gỡ là không quy định về tỷ lệ hàm ẩm và mạ băng. Thay vào đó, nội dung này được đưa vào Thông tư 07/2017/TT-BNNPTNT ngày 21/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia “Sản phẩm thủy sản – cá tra phi lê đông lạnh”. Cụ thể, tỷ lệ mạ băng cá tra phile không được lớn hơn 20% khối lượng tổng của sản phẩm; hàm lượng nước không được lớn hơn 86% khối lượng tịnh của sản phẩm.
Ông Minh cho rằng, tỷ lệ này phù hợp hơn với yêu cầu của các thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam, giúp doanh nghiệp tạo được lòng tin và uy tín với đối tác trên thị trường xuất khẩu. Việc quy định rõ độ ẩm, tỷ lệ mạ băng trong sản phẩm nhằm giúp người tiêu dùng, các nhà nhập khẩu biết rõ tiêu chí đánh giá chất lượng của Việt Nam (giống như Đạo Luật Nông trại - Farm Bill của Mỹ cũng yêu cầu rõ về tỷ lệ mạ băng để người tiêu dùng có sự phân biệt khi mua sản phẩm). Ngoài Nghị định 55, trong 6 tháng đầu năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã ban hành nhiều chính sách, đề án nhằm phát triển bền vững ngành hàng cá tra. Đơn cử như Thông tư 07/2017/TT-BNNPTNT ngày 21/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia “Sản phẩm thủy sản - cá tra phi lê đông lạnh”; Dự án giống 3 cấp; Đề án khung sản phẩm cá da trơn; Tạo dòng sản phẩm mới thông qua cải thiện chất lượng thịt cá…
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Vũ Văn Tám, nhiều chính sách mới ra đời là hành lang pháp lý rất quan trọng để phát triển bền vững ngành hàng cá tra trong bối cảnh hiện nay. Cùng với những chính sách này, việc Chính phủ đưa cá tra là sản phẩm mang thương hiệu quốc gia cũng góp phần định hướng dòng sản phẩm cá tra chất lượng cao.
Đây là xu hướng phát triển mà Việt Nam cần hướng tới để tạo ra những sản phẩm chất lượng, thân thiện với môi trường, đảm bảo an toàn thực phẩm, có giá trị khác biệt so với những sản phẩm trước đây, đáp ứng yêu cầu của những thị trường khó tính hiện nay, nhất là Hoa Kỳ và EU. (Tin Tức 18/7) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Du lịch Hà Giang đã có sức cuốn hút đối với du khách trong nước và quốc tế, nhất là vào những thời điểm diễn ra các lễ hội như: Lễ hội Hoa Tam giác Mạch, Chợ tình Khâu Vai, Lễ hội Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì mùa lúa chín, Lễ hội Nhảy lửa của đồng bào dân tộc Pà Thẻn…
Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và kỳ thú; bên cạnh đó, Hà Giang là nơi sinh sống của trên 17 dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc có một nét văn hóa và truyền thống đặc trưng mang đậm nét huyền bí…nên ngành du lịch của Hà Giang chứa đựng một tiềm năng lớn để phát triển ở tất cả các loại hình.
Điển hình như du lịch khám phá khoa học về bí ẩn kiến tạo địa chất qua hàng triệu năm của Cao nguyên đá và văn hóa của các dân tộc trên Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn; trải nghiệm văn hóa truyền thống tại các làng du lịch văn hóa cộng đồng; du lịch văn hóa tâm linh tại các điểm di tích; du lịch văn hóa thương mại tại các cửa khẩu biên giới và các chợ phiên mang đậm nét truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; du lịch nông nghiệp gắn với phương thức canh tác độc đáo trên đá của đồng bào các dân tộc 4 huyện vùng Cao nguyên đá…
Trong những năm qua, sự tăng đột biến của lượng du khách đặt ra nhiều thách thức cho ngành du lịch Hà Giang như: việc nâng cao chất lượng phục vụ du khách; sự đa dạng của các sản phẩm du lịch; sự chuyên nghiệp trong khâu tổ chức du lịch nhất là khi vào mùa lễ hội... Bên cạnh đó, một số lễ hội đặc sắc của đồng bào dân tộc như Lễ hội Nhảy lửa của đồng bào dân tộc Pà Thẻn, Lễ hội Cúng rừng của đồng bào dân tộc Nùng tại huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần… mới chỉ mang tính giới thiệu, quảng bá chứ chưa quan tâm đến công tác phát triển và bảo tồn một cách bền vững trước sự du nhập của văn hóa ngoại lai không có tính chọn lọc và còn mang nặng tính thương mại…
Từ thực tiễn đó đã đặt ra cho ngành du lịch Hà Giang cần phải có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Theo định hướng của ngành Du lịch tỉnh Hà Giang, trong thời gian tới, ngành du lịch của tỉnh sẽ đầu tư phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm để hoàn thành hệ thống các cơ sở hạ tầng, các thiết chế văn hóa đi đôi với công tác bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số; xây dựng các làng văn hóa du lịch cộng đồng có chất lượng cao, phát triển các làng nghề truyền thống phục vụ cho công tác du lịch.
Đồng thời, đầu tư, tôn tạo các điểm du lịch tâm linh đi đôi với cải cách hành chính nhằm quảng bá và thu hút khách du lịch gắn với công tác bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học; xử lý nghiêm các trường hợp lừa gạt khách du lịch; nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong công tác quản lý du lịch; đảm bảo tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm phục vụ du khách; xây dựng cộng đồng du lịch và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân từ chính các sản phẩm du lịch do họ tạo ra…(Tin Tức Du Lịch 18/7) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Đồng lương cho người lao động sẽ lại điệp khúc "lương tối thiểu không đủ đảm bảo cuộc sống tối thiểu khi tiêu chí lương năm nay sẽ là "dựa trên đối thoại để tìm ra điểm chung, không phải quá nhấn mạnh vào tăng lương để đạt mức sống tối thiểu theo Bộ luật Lao động" - lời của Chủ tịch Hội đồng tiền lương Quốc gia Doãn Mậu Diệp.
Cách đây ít hôm, một điều tra của Viện Công nhân và Công đoàn đưa ra con số: Có 32% hộ gia đình CNLĐ với quy mô 2 vợ chồng và 2 người con ăn theo, trung bình 1 tháng họ chi tiêu hết 9,04 triệu đồng. Tức là chi phí tối thiểu để nuôi 1 con là 4,52 triệu đồng/tháng; trong khi đó, thu nhập bình quân chỉ là 4,72 triệu đồng/tháng.
PGS.TS Vũ Quang Thọ - Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn có một con số thực tế chi tiết hơn: 84% CNLĐ vẫn phải sống trong điều kiện còn rất khó khăn, thiếu thốn. Trong đó, 20,6% phải chi tiêu tằn tiện kham khổ và 12% là "không đủ sống"!
Và TS Vũ Quang Thọ sử dụng chữ đầy ám ảnh: Đây là những giới hạn cuối cùng của thu nhập và chi tiêu của một con người.
Có thể, những ông chủ vẫn nhìn thấy 200 ngàn đồng "thừa" so với mức chi "giới hạn cuối cùng"! Có thể, có những cái cớ, chẳng hạn mức tăng năng suất lao động không theo kịp mức tăng lương. Có thể, sẽ có những cái gạch đầu dòng về sự khó khăn của nền kinh tế. Có thể cả những câu "hỏi xoáy đáp xoay" rằng bảo không đủ sống sao vẫn sống!
Xin thưa rằng, để có thể sống, ở mức dưới đáy, người lao động không còn cách nào khác là tăng ca, tăng ca mãi, tăng ca miết, tăng đến vô cùng vô tận mà có người đã nói giống như việc "tự ăn thịt mình"!
Chúng ta đã được nghe, trước Quốc hội, chuyện những bữa cơm công nhân ăn với cá mắm mục nát, dăm miếng đậu, độn toàn rau. Chúng ta diện kiến hàng ngày những vàng vọt bủng beo nơi những thân xác chỉ còn đủ thời gian ăn-làm- ngủ. Cái giới hạn cuối cùng ấy đã tồn tại bao lâu và còn tồn tại bao lâu nữa khi năm nay giới chủ tiếp tục xin "không tăng lương hoặc chỉ dưới 5%"!
Những phát ngôn của Chủ tịch Hội đồng tiền lương Quốc gia đang chứa trong đó những dự cảm hết sức không thành về một nhãn tiền "lương tối thiểu sẽ tiếp tục không đảm bảo cuộc sống tối thiểu"!
Đúng, lương đúng là sự thỏa thuận, nhưng không thể nói "không phải quá nhấn mạnh vào tăng lương để đạt mức sống tối thiểu theo Bộ luật Lao động". Bởi như thế, quy định trong luật còn có ý nghĩa gì nữa. Và tại sao đã là luật định còn có "thỏa thuận" để làm không đúng những gì luật định.
Đúng, lương đúng phải là sự thỏa thuận, nhưng thỏa thuận không phải là mặc cả trên những giới hạn cuối cùng! (Lao Động 18/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Ông Ollanta Humala - cựu Tổng thống Peru (nhiệm kỳ 2011-2016) và vợ - cựu đệ nhất phu nhân Nadine Heredia, vừa bị Tòa án Tối cao nước này tuyên phạt 18 tháng tù giam vì tội nhận hối lộ và rửa tiền.
Theo cáo trạng, sau khi vụ bê bối liên quan đến Tập đoàn xây dựng BTP Odebrecht của Brazil bị cơ quan tư pháp Brazil điều tra, phát hiện, một số cựu quan chức BTP Odebrecht, trong đó có Chủ tịch Tập đoàn BTP Odebrecht, đã khai báo với cơ quan chức năng về việc họ đã hối lộ vợ chồng cựu Tổng thống Peru Ollanta Humala với tổng số tiền khoảng 3 triệu USD nhằm đổi lấy những hợp đồng xây dựng nhiều dự án của Chính phủ Peru. Sau khi có lời khai này, cơ quan tư pháp Peru nhanh chóng mở cuộc điều tra và đã tìm thấy bằng chứng khẳng định vợ chồng cựu Tổng thống Ollanta Humala đã nhận hối lộ của BTP Odebrecht và đã "rửa" số tiền phi pháp đó thông qua nhiều hình thức đầu tư khác nhau.
Ngay sau phán quyết của Tòa án Tối cao Peru, cựu Tổng thống Ollanta Humala lập tức được di lý đến thụ án tại 1 nhà tù quân sự đặc biệt. Ở đây, cựu Tổng thống Ollanta Humala sẽ gặp người tiền nhiệm của mình, cựu Tổng thống Alberto Fujimori, người đã bị kết án 25 năm tù giam hồi năm 2007 vì tội tham nhũng, biển thủ. Trong khi đó, cựu đệ nhất phu nhân Nadine Heredia thì được di lý đến thụ án tại một nhà tù giành cho nữ giới ở ngoại ô TP Lima (thủ đô của Peru).
Như vậy, chỉ trong vòng 25 năm qua, trải qua 5 đời Tổng thống thì có đến 4 cựu Tổng thống Peru bị điều tra, kết án tù vì bê bối tham nhũng, hối lộ. Đương kim Tổng thống Peru Pedro Pablo Kuczynski, người lên thay thế ông Ollanta Humala, khẳng định ưu tiên hàng đầu trong chính sách của ông là chống tham nhũng, đồng thời đánh giá cao kết qua phiên xét xử về hành vi tham nhũng đối với vợ chồng cựu Tổng thống Ollanta Humala. (Thanh Tra 19/7) đầu trang(./.
|
|||