|
Ngày 18 tháng 02 năm 2017
CHÍNH SÁCH MỚI
TIÊU ĐIỂM
PHÁT NGÔN NÓNG
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
SAI PHẠM
Tổng hợp các sai phạm điển hình trong tuần
TRÁI KHOÁY
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH MỚI
Từ 11/2, điều chỉnh tiền lương và thu nhập đóng BHXH. Thông tư số 42/2016/TT-BLĐTBXH do Bộ LĐ-TB&XH ban hành có hiệu lực từ hôm 11/2, thay đổi mức tiền lương và thu nhập đóng BHXH.
Thông tư 42/2016/TT - BLĐTBXH quy định đối tượng điều chỉnh tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP. Cụ thể: Người lao động đang tham gia BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian tham gia BHXH, có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, BHXH một lần hoặc bị chết mà thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần trong thời gian từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2017.
Đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đã đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được điều chỉnh như trên.
Đối tượng và mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội. Thông tư 42/2016/TT - BLĐTBXH còn quy định đối tượng điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 134/2015/NĐ-CP, cụ thể: Người tham gia bảo BHXH tự nguyện hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, BHXH một lần hoặc bị chết mà thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần trong thời gian từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017.
Thông tư số 42/2016/TT-BLĐTBXH cũng quy định, đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện thì thu nhập tháng đã đóng BHXH tự nguyện được điều chỉnh theo quy định như trên.
Mức bình quân thu nhập tháng đã đóng BHXH tự nguyện hoặc mức bình quân tiền lương và thu nhập tháng đã đóng BHXH làm căn cứ tính hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, BHXH một lần và trợ cấp tuất một lần được tính theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP .
Quy định mới về hoạt động cho vay của TCTD. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Theo đó, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp. Có phương án sử dụng vốn khả thi. Có khả năng tài chính để trả nợ.
Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn, thì khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh.
Thông tư nêu rõ, tổ chức tín dụng không được cho vay đối với các nhu cầu vốn:
1. Để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh.
2. Để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm.
3. Để mua, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh.
4. Để mua vàng miếng.
5. Để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay trừ trường hợp cho vay để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình, mà chi phí lãi tiền vay được tính trong dự toán xây dựng công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.
6. Để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài, trừ trường hợp cho vay để trả nợ trước hạn khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: a- Là khoản vay phục vụ hoạt động kinh doanh; b- Thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn cho vay còn lại của khoản vay cũ; c- Là khoản vay chưa thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ.
Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các loại cho vay như sau: Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm. Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 năm và tối đa 05 năm. Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 năm.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về việc cho vay bằng đồng Việt Nam hoặc bằng ngoại tệ phù hợp với quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan. Đồng tiền trả nợ là đồng tiền cho vay của khoản vay.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/ 2017.
Hỗ trợ kinh phí chuyển giao công nghệ cho nông thôn, miền núi. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 348/2016/TT-BTC quy định quản lý tài chính thực hiện “Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025”.
Kinh phí thực hiện Chương trình được bảo đảm từ các nguồn: Ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; nguồn kinh phí khác, gồm kinh phí của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia thực hiện các dự án thuộc Chương trình và kinh phí huy động từ các nguồn hợp pháp khác.
Ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương để thực hiện các dự án thuộc Chương trình theo nguyên tắc: Đối với các địa phương khó khăn, chưa tự cân đối được ngân sách, ngân sách trung ương hỗ trợ tối đa không quá 50% mức kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ để thực hiện dự án. Đối với các địa phương còn lại bố trí 100% từ nguồn ngân sách địa phương để thực hiện dự án.
Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quy định mới về tỷ lệ hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, mức hỗ trợ quy định tại Thông tư sẽ được thực hiện theo quy định mới của Thủ tướng Chính phủ.
Các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sử dụng kinh phí hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình đảm bảo đúng mục đích, đúng quy định về tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu hiện hành và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Về nội dung chi và định mức chi ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình, Thông tư nêu rõ: Chi công lao động thực hiện dự án, bao gồm công lao động của cán bộ hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ; công lao động của chủ nhiệm dự án và cán bộ kỹ thuật tiếp nhận, triển khai công nghệ; công lao động phổ thông; công lao động của cán bộ khoa học trẻ, cán bộ tình nguyện đến làm việc thường xuyên để hướng dẫn, chuyển giao công nghệ theo quy định.
Mức chi công lao động thực hiện dự án được vận dụng theo quy định tại Thông tư liên tịch 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.
Chi đào tạo cán bộ kỹ thuật cho địa phương, tập huấn kỹ thuật cho nông dân, công nhân vận hành máy móc thiết bị và các cộng tác viên, tình nguyện viên trực tiếp ở địa phương: Thực hiện theo quy định tại Thông tư 139/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; Thông tư liên tịch 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/2/2017.
Định mức sử dụng máy móc, thiết bị của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 341/2016/TT-BTC quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
Về tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, Thông tư nêu rõ: Việc xác định giá để phân loại nhóm máy móc, thiết bị chuyên dùng làm căn cứ trình cấp có thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài theo quy định là giá phổ biến trên thị trường (giá đã được các nhà cung cấp niêm yết, thông báo tại nước sở tại hoặc từ thông tin chính thống do các nhà cung cấp công bố theo pháp luật của nước sở tại được khai thác qua mạng Internet) hoặc tham khảo giá mua của các kỳ trước.
Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng có giá từ 500 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (đối với Cơ quan đại diện); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (đối với Cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài) ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng (số lượng, chủng loại) trang bị cho Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính về tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng (số lượng, chủng loại); đồng thời, gửi Bộ Tài chính để phối hợp quản lý.
Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng có giá dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (đối với Cơ quan đại diện); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (đối với Cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài) ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng (số lượng, chủng loại) trang bị cho Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý.
Theo Thông tư, việc khoán kinh phí sử dụng máy móc, thiết bị chỉ áp dụng đối với máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến quy định và trên cơ sở việc đăng ký tự nguyện khoán của cán bộ, công chức, viên chức của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
Việc khoán kinh phí sử dụng máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến áp dụng trong các trường hợp: Các chức danh có tiêu chuẩn, định mức nhưng chưa được trang bị máy móc, thiết bị theo tiêu chuẩn, định mức; máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến hiện có đã hư hỏng, không còn sử dụng được hoặc không đảm bảo an toàn khi sử dụng đủ điều kiện thanh lý.
Căn cứ loại máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến và thực tế điều kiện làm việc của cán bộ, công chức, viên chức tại Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương có Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định khoán kinh phí sử dụng máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến cho các chức danh của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài đảm bảo không làm ảnh hưởng đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, đảm bảo an ninh bảo mật thông tin và việc khoán kinh phí đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm hơn việc trang bị.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2017.
Sử dụng kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo 389. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 339/2016/TT-BTC quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí đảm bảo hoạt động của Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban chỉ đạo 389).
Thông tư nêu rõ về nguồn kinh phí đảm bảo hoạt động của Ban Chỉ đạo 389. Theo đó nguồn ngân sách nhà nước: Ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Ban Chỉ đạo 389 của Bộ, cơ quan trung ương, Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, bộ phận thường trực Ban Chỉ đạo 389 của Bộ, cơ quan trung ương và được bố trí trong kinh phí hoạt động thường xuyên của Bộ Tài chính (đối với Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia), các Bộ, cơ quan trung ương (đối với bộ phận thường trực Ban Chỉ đạo 389 của Bộ, cơ quan trung ương).
Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo 389 địa phương, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 389 địa phương và được bố trí trong kinh phí hoạt động thường xuyên của cơ quan được giao nhiệm vụ thường trực Ban Chỉ đạo 389 địa phương.
Ngoài ra còn có nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật (nếu có).
Theo Thông tư, kinh phí được sử dụng để chi xây dựng chiến lược, kế hoạch chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, bao gồm: Chi tổ chức các cuộc họp, kiểm tra, giám sát việc xây dựng chiến lược, kế hoạch và hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Bên cạnh đó chi hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm ở nước ngoài về lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; chi khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phối hợp liên ngành chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; chi tuyên truyền về công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả…
Mức chi cho các nội dung quy định trên được thực hiện theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu tài chính hiện hành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Thông tư này quy định một số mức chi cụ thể như sau: Mức chi tiền thưởng của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Ban Chỉ đạo 389 của Bộ, cơ quan trung ương và Ban Chỉ đạo 389 địa phương đối với các tổ chức; cá nhân được áp dụng mức chi tiền thưởng theo quy định tại Nghị định 42/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.
Mức chi tiền họp ngoài giờ làm việc: Cuộc họp do Ban Chỉ đạo 389 quốc gia tổ chức thì mức chi tối đa đối với người chủ trì cuộc họp là 150.000 đồng/người/buổi, các đại biểu khác là 100.000 đồng/người/buổi.
Chi hỗ trợ người được giao trực tiếp nhận thông tin từ đường dây nóng (tiếp nhận thông tin 24h/24h và 7 ngày/tuần): 1.300.000 đồng/người/tháng/một đường dây nóng.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2017.
Quy định việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Nghị định 09/2017/NĐ-CP quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước vừa được Chính phủ ban hành.
Nghị định này quy định về người phát ngôn, chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.
Trong đó, người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tổng cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, gồm: Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước; người được người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thường xuyên (người phát ngôn); người có trách nhiệm thuộc cơ quan hành chính nhà nước được người đứng đầu ủy quyền thực hiện phát ngôn (người được uỷ quyền phát ngôn) hoặc giao nhiệm vụ phối hợp cùng người phát ngôn thực hiện phát ngôn hoặc cung cấp thông tin cho báo chí về những vấn đề cụ thể được giao.
Người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cục, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các tổ chức cấp tỉnh thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương, gồm: Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước; trường hợp người đứng đầu cơ quan hành chính không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì ủy quyền cho cấp phó là người được giao phụ trách cơ quan thực hiện việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí.
Người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã; trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì uỷ quyền cho cấp phó của mình thực hiện việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí.
Họ tên, chức vụ, số điện thoại và địa chỉ e-mail của người phát ngôn phải được công bố bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về báo chí và phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước.
Các cá nhân của cơ quan hành chính nhà nước không là người được giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí được cung cấp thông tin cho báo chí theo quy định pháp luật nhưng không được nhân danh cơ quan hành chính nhà nước để phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp.
Theo Nghị định, có 6 hình thức phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí: 1- Tổ chức họp báo; 2- Đăng tải nội dung phát ngôn và cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử hoặc trang mạng xã hội chính thức của cơ quan hành chính nhà nước; 3- Phát ngôn trực tiếp hoặc trả lời phỏng vấn của nhà báo, phóng viên; 4- Gửi thông cáo báo chí, nội dung trả lời cho cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên bằng văn bản hoặc qua thư điện tử; 5- Cung cấp thông tin qua trao đổi trực tiếp hoặc tại các cuộc giao ban báo chí do trung ương, địa phương tổ chức khi được yêu cầu; 6- Ban hành văn bản đề nghị cơ quan báo chí đăng, phát phản hồi, cải chính, xin lỗi nội dung thông tin trên báo chí.
Nghị định cũng nêu rõ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức cung cấp thông tin cho báo chí theo định kỳ 1 tháng một lần về hoạt động và công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ bằng hình thức họp báo, cung cấp thông cáo báo chí và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ.
Cổng thông tin điện tử của Chính phủ có trách nhiệm cập nhật thông tin theo các quy định hiện hành để cung cấp kịp thời, chính xác thông tin chính thống cho các cơ quan báo chí trong cả nước.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về hoạt động của cơ quan mình, về lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình, thông qua các hình thức sau: Hàng tháng cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí và cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan mình theo quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; ít nhất 3 tháng một lần tổ chức họp báo để cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí; trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí bằng văn bản hoặc thông tin trực tiếp tại các cuộc giao ban báo chí hàng tuần do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức; cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho Cổng thông tin điện tử của Chính phủ theo quy định hiện hành.
Tổng cục, cục, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các tổ chức cấp tỉnh thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương và Ủy ban nhân dân cấp huyện cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí và cập nhật thông tin trên Cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan mình theo quy định của Chính phủ về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; cử người phát ngôn cung cấp thông tin tại họp báo của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi có yêu cầu; cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định hiện hành; trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí bằng văn bản.
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; các tổ chức cấp tỉnh thuộc cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể thông tin trực tiếp tại các cuộc giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo, Sở Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức.
Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện; trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí bằng văn bản hoặc các hình thức quy định nêu trên.
Nghị định cũng quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin trong trường hợp đột xuất, bất thường.
Chức năng, cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc. Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 13/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc.
Theo đó, Ủy ban Dân tộc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và một số nhiệm vụ cụ thể.
Trong đó, Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ chủ trì hoặc phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, nâng cao dân trí ở vùng dân tộc thiểu số; chính sách để đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình; chính sách đầu tư, phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo đáp ứng về cơ sở vật chất để phục vụ công tác giáo dục, đào tạo cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Bên cạnh đó, Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; theo dõi, kiểm tra, tổng hợp tình hình vùng dân tộc thiểu số, tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác dân tộc ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương, đề xuất, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác dân tộc và đồng bào dân tộc thiểu số...
Ủy ban Dân tộc có 18 đơn vị chức năng gồm: Vụ Kế hoạch - Tài chính; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác quốc tế; Thanh tra; Văn phòng; Vụ Tổng hợp; Vụ Chính sách dân tộc; Vụ Tuyên truyền; Vụ Dân tộc thiểu số; Vụ Địa phương I; Vụ Địa phương II; Vụ Địa phương III; Học viện Dân tộc; Trung tâm Thông tin; Báo Dân tộc và Phát triển; Tạp chí Dân tộc; Nhà khách Dân tộc.
Quy chế quản lý tài chính của EVN. Chính phủ vừa ra Nghị định số 10/2017/NĐ-CP ban hành quy chế quản lý tài chính của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Nghị định quy định vốn vủa EVN bao gồm vốn do Nhà nước đầu tư tại EVN, vốn do EVN tự huy động và các loại vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
EVN được quyền chủ động sử dụng số vốn nhà nước đầu tư, các loại vốn khác, các quỹ do EVN quản lý vào hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN theo quy định; quản lý sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn có hiệu quả; báo cáo theo đúng quy định cho chủ sở hữu, Bộ Tài chính về việc doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không đảm bảo khả năng thanh toán, không hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do chủ sở hữu giao hoặc trường hợp sai phạm khác để thực hiện giám sát theo quy định.
EVN được quyền huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu vốn của EVN và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn huy động, hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vay cho chủ nợ mà EVN đã cam kết.
Việc huy động vốn của EVN phải đảm bảo hệ số nợ phải trả (bao gồm cả các khoản bảo lãnh vay vốn đối với công ty con của EVN) trên vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của EVN tại thời điểm gần nhất với thời điểm huy động vốn không vượt quá 3 lần.
Hình thức huy động vốn của EVN gồm: Phát hành trái phiếu doanh nghiệp; vay vốn của các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính khác, của cá nhân, tổ chức ngoài doanh nghiệp; vay vốn của người lao động và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật.
Nghị định nêu rõ EVN không được huy động vốn để đầu tư vào các lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư, bất động sản, tài chính.
Nghị định cũng nêu rõ: EVN được quyền sử dụng vốn của EVN để đầu tư ra ngoài EVN thuộc các ngành nghề kinh doanh được quy định trong Điều lệ tổ chức hoạt động của EVN. Việc đầu tư vốn ra ngoài EVN phải tuân thủ các quy định của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và không làm thay đổi mục tiêu hoạt động của EVN.
EVN không được nhận đầu tư, góp vốn từ các công ty con của EVN (doanh nghiệp cấp II), từ các công ty con của doanh nghiệp cấp II (doanh nghiệp cấp III).
Về đầu tư ra nước ngoài, Nghị định yêu cầu việc sử dụng vốn, tài sản của EVN để đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về quản lý ngoại hối và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Sử dụng kinh phí hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 337/2016/TT-BTC quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thông tư nêu rõ nguồn kinh phí phục vụ hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp do ngân sách nhà nước bảo đảm, được bố trí theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hiện hành.
Cụ thể, kinh phí bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương do ngân sách Trung ương bảo đảm, được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương.
Kinh phí bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương do ngân sách địa phương bảo đảm, được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương. ..
Nội dung chi cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội gồm: Chi công tác phí cho các đoàn công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, khảo sát những vấn đề có liên quan phục vụ hoạt động giám sát, phản biện xã hội; chi tổ chức các Hội nghị triển khai, sơ kết, tổng kết, tổ chức tọa đàm, hội thảo về công tác giám sát, phản biện xã hội; chi thuê chuyên gia thẩm định, chuyên gia tư vấn độc lập trong trường hợp nội dung giám sát, phản biện xã hội thuộc lĩnh vực chuyên môn phức tạp; chi xây dựng báo cáo kết quả giám sát, phản biện xã hội, văn bản kiến nghị…
Mức chi bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của nhà nước.
Thông tư này quy định cụ thể một số mức chi như sau: Chi công tác phí cho các đoàn công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, khảo sát: Thanh toán công tác phí, tiền thuê chỗ ở nơi công tác, phương tiện phục vụ công tác giám sát, phản biện xã hội, thực hiện theo quy định tại Thông tư 97/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
Về chi tổ chức hội nghị, đối với hội nghị đối thoại, tọa đàm, hội thảo, ngoài các khoản chi theo quy định tại Thông tư 97/2010/TT-BTC được chi một số khoản sau: Chủ trì cuộc họp 150.000 đồng/người/cuộc họp; thành viên tham dự cuộc họp 100.000 đồng/người/cuộc họp; chi báo cáo tham luận theo đơn đặt hàng 500.000 đồng/bài viết.
Chi xây dựng báo cáo kết quả giám sát, phản biện xã hội (báo cáo theo định kỳ, báo cáo kết quả giám sát, phản biện xã hội theo chuyên đề được giao); văn bản kiến nghị: 2.000.000 đồng/báo cáo hoặc văn bản.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2017.
Hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân. Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 34/2016/TT-BCT quy định chi tiết hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân tại Quyết định 52/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới.
Thông tư nêu rõ thương nhân được thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới là thương nhân Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã theo quy định của pháp luật.
Thông tư cũng quy định cụ thể về hồ sơ, thủ tục đăng ký thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới.
Theo đó, căn cứ điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại khu vực cửa khẩu phụ, lối mở biên giới, Uỷ ban nhân dân tỉnh lựa chọn thương nhân đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật để thực hiện mua bán hàng hoá qua các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới.
Thương nhân gửi 01 bộ hồ sơ đến Sở Công Thương tỉnh biên giới nơi có cửa khẩu phụ, lối mở biên giới. Hồ sơ gồm: Đơn đăng ký hoạt động mua bán hàng hoá qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới theo mẫu quy định; giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, liên hợp tác xã.
Trong thời hạn 04 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Công Thương trình Uỷ ban nhân dân tỉnh biên giới danh sách thương nhân đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật để thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được danh sách đề nghị của Sở Công Thương, Uỷ ban nhân dân tỉnh biên giới công bố danh sách thương nhân được thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới. Trường hợp từ chối lựa chọn thương nhân, Uỷ ban nhân dân tỉnh biên giới trả lời thương nhân bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Hàng hoá mua bán qua biên giới của thương nhân thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg.
Hàng hoá xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới phải đáp ứng quy định tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.
Hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới trong khu kinh tế cửa khẩu phải đáp ứng quy định tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài…
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2017.
Quy định mới về cấp Giấy phép hoạt động báo in, báo điện tử. Từ ngày 15/2/2017, việc cấp giấy phép hoạt động báo in và báo điện tử, xuất bản thêm ấn phẩm, mở chuyên trang của báo điện tử, xuất bản phụ trương, xuất bản bản tin, xuất bản đặc san được thực hiện theo quy định tại Thông tư 48/2016/TT-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông mới ban hành.
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động báo in và báo điện tử; cấp giấy phép xuất bản thêm ấn phẩm theo quy định của pháp luật và quy định tại Thông tư này.
Cục trưởng Cục Báo chí cấp giấy phép xuất bản phụ trương; cấp giấy phép chuyên trang của báo điện tử; cấp giấy phép xuất bản đặc san; cấp giấy phép xuất bản bản tin cho các cơ quan, tổ chức của trung ương, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.
Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông giúp UBND cấp tỉnh cấp giấy phép xuất bản bản tin cho các cơ quan, tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo quy định.
Về hồ sơ, thủ tục cấp giấy phép hoạt động báo in, Thông tư nêu rõ: Cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo in (gồm báo in, tạp chí in) gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính 1 bộ hồ sơ về Bộ Thông tin và Truyền thông.
Hồ sơ gồm có: Tờ khai đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo in; đề án hoạt động báo in có xác nhận của cơ quan, tổ chức, gồm các nội dung quy định; danh sách dự kiến nhân sự của báo in; sơ yếu lý lịch người dự kiến là tổng biên tập; mẫu trình bày tên gọi của ấn phẩm báo chí có xác nhận của cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo in.
Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động báo in; trường hợp từ chối cấp phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với hồ sơ, thủ tục cấp giấy phép hoạt động báo điện tử, Thông tư quy định: Cơ quan, tổ chức đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo điện tử (gồm báo điện tử, tạp chí điện tử) gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính 1 bộ hồ sơ về Bộ Thông tin và Truyền thông.
Bộ hồ sơ này gồm: Tờ khai đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo điện tử; đề án hoạt động báo điện tử có xác nhận của cơ quan, tổ chức; danh sách nhân sự dự kiến; sơ yếu lý lịch của người dự kiến là tổng biên tập; bản in màu giao diện trang chủ báo điện tử có xác nhận của cơ quan, tổ chức đề nghị cấp phép; văn bản chứng minh sở hữu tên miền còn thời gian sử dụng tối thiểu 6 tháng tính từ thời điểm đề nghị cấp phép.
Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động báo điện tử; trường hợp từ chối cấp phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Cơ quan báo chí đã được cấp phép theo quy định của pháp luật khi giấy phép hoạt động báo chí hết hiệu lực, cơ quan chủ quản báo chí thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo in, báo điện tử, xuất bản ấn phẩm, phụ trương, chuyên trang của báo điện tử theo quy định tại Thông tư này.
Thông tư 48 có hiệu lực thi hành từ 15/2/2017.
Giao kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho 6 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư và danh mục dự án đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước năm 2017 cho Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (gọi tắt là bộ, ngành trung ương).
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao chi tiết danh mục dự án đủ thủ tục đầu tư và mức kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước năm 2017 cho các bộ, ngành trung ương trên được giao; đôn đốc các bộ, ngành trung ương chưa phân bổ chi tiết kế hoạch vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước năm 2017 hoặc phân bổ chưa đúng quy định khẩn trương hoàn thiện phương án phân bổ chi tiết. Đồng thời, rà soát phương án phân bổ chi tiết số vốn chưa phân bổ hoặc phân bổ chưa đúng quy định của bộ, ngành trung ương, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20/2/2017.
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan thanh tra, kiểm toán về tính chính xác của các thông tin, số liệu và mức vốn phân bổ cho các dự án.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành trung ương được giao kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước năm 2017 thông báo cho các đơn vị danh mục và mức kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước cho từng dự án theo quy định và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 25/2/2017.Dự kiến phương án phân bổ chi tiết số vốn theo đúng quy định của Luật Đầu tư công, các nghị định hướng dẫn thi hành và theo nguyên tắc ưu tiên bố trí vốn để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản, các dự án hoàn thành trong năm 2017 và các dự án chuyển tiếp cần đẩy nhanh tiến độ, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 15/2/2017.
Thủ tướng Chính phủ lưu ý chỉ thực hiện giải ngân kế hoạch đầu tư vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước khi có nguồn thu thực tế và không vượt quá tổng mức vốn được giao và số thu thực tế.
Thí điểm thông tuyến khám chữa bệnh BHYT y học cổ truyền. Bộ Y tế đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thí điểm thông tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế y học cổ truyền.
Thông tư này áp dụng thí điểm tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, bao gồm: trạm y tế xã, phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện có khoa y học cổ truyền tuyến huyện, tuyến tỉnh, bệnh viện y học cổ truyền hạng I, hạng II, hạng III, hạng IV và tương đương, Viện y dược học dân tộc, bệnh viện có khoa y học cổ truyền trực thuộc Bộ, ngành và người có thẻ bảo hiểm y tế khi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định trên.
Thông tư này không áp dụng đối với bệnh viện y học cổ truyền tuyến trung ương, bệnh viện có khoa y học cổ truyền và bệnh viện y học cổ truyền thực hành thuộc các trường đại học y, dược trong toàn quốc.
Theo dự thảo, người có thẻ bảo hiểm y tế được đăng ký khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong toàn quốc không phải cần giấy giới thiệu, giấy chuyển tuyến của cơ sở đăng ký khám chữa bệnh ban đầu và được quỹ bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh như các trường hợp đúng tuyến.
Trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, trường hợp người bệnh phải cấp cứu hoặc phải điều trị các bệnh khác kèm theo thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền được sử dụng thuốc, vật tư y tế và các chỉ định điều trị cần thiết phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bảo hiểm xã hội thực hiện thanh toán đối với các trường hợp này như đối với trường hợp điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác. đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Theo thông tin từ Bộ Công Thương, ngày 16/2, Bộ đã nhận được văn bản của Văn phòng Trung ương Đảng truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về việc làm rõ thông tin báo chí nêu về tài sản của Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa.
Ban cán sự đảng Bộ Công Thương sẽ phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan hữu quan để thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và kịp thời ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư.
Như tin đã đưa, cùng ngày, Văn phòng Trung ương Đảng có công văn nêu ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Ban cán sự Đảng: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Thanh tra Chính phủ khẩn trương kiểm tra, thanh tra, xem xét, kết luận những nội dung mà các bài báo đã nêu và những vấn đề khác có liên quan và sớm báo cáo kết quả với Ban Bí thư.
Yêu cầu Ban cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật có liên quan để sớm sửa đổi hoặc kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định, khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phòng, chống thất thoát tài sản của Nhà nước, ngăn ngừa tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm trong quá trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 16/2) đầu trang(
PHÁT NGÔN NÓNG
Cán bộ phải đứng trước gương tập mỗi ngày để ứng xử tốt với người dân
"Chúng ta là cán bộ, đừng đòi hỏi người dân phải ứng xử tốt trước. Chính quyền phục vụ, người dân dù có ứng xử thế nào, có mắng chửi cũng vẫn phải vui, phải ứng xử tốt với dân. Có lẽ, mỗi cán bộ chúng ta phải đứng trước gương tập mỗi ngày để giao tiếp, ứng xử tốt với người dân" (Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải phát biểu tại buổi làm việc với lãnh đạo huyện Phúc Thọ ngày 7-2)
Phải làm sao nhà xã hội phải có giá 5-6 triệu đồng mỗi m2
“15 rtiệu đồng thì bằng với nhà ở thương mại còn gì? Cao như thế thì công nhân tiền đâu mà mua! Phải làm sao nhà xã hội phải có giá 5 -6 triệu đồng mỗi mét vuông, Nhà nước xẽ lo mọi thứ, đặc biệt là nguồn đất sạch, doanh nghiệp chỉ bỏ tiền xây. Phải kết nối nhiều doanh nghiệp, mỗi anh giảm một tí để giá nhà thấp nhất” (Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng phát biểu tại buổi làm việc với Liên đoàn Lao động TP.HCM ngày 10-2) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Có quá ít hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trên Hệ thống DVC trực tuyến. Tổng cục Hải quan vừa yêu cầu hải quan các địa phương tiếp tục triển khai thí điểm Hệ thống dịch vụ công trực tuyến để thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) đến hết ngày 28/2 và chuyển sang vận hành chính thức từ ngày 1/3.
Thông qua theo dõi, xử lý hồ sơ trên Hệ thống dịch vụ công trực tuyến trong thời gian triển khai thí điểm từ ngày 1/1 đến 25/1, Tổng cục Hải quan nhận thấy, nhiều cục hải quan tỉnh, thành phố còn thiếu sự quan tâm, chỉ đạo trong công tác triển khai, dẫn đến số lượng hồ sơ TTHC được tiếp nhận, xử lý trên Hệ thống còn thấp, đặc biệt có nhiều đơn vị chưa tiếp nhận hồ sơ.
Cụ thể, mới chỉ có 18 trong số 35 cục hải quan tiếp nhận hồ sơ TTHC trên Hệ thống với số lượng hồ sơ được tiếp nhận là 492 bộ, số lượng hồ sơ đã hoàn thành xử lý là 221 bộ. Hiện cũng còn 17 trong số 35 cục hải quan chưa tiếp nhận hồ sơ TTHC trên Hệ thống, đồng thời chỉ có 214 doanh nghiệp tham gia với 18/41 TTHC được xử lý trên Hệ thống.
Theo Tổng cục Hải quan, kết quả nêu trên ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch triển khai Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử và kế hoạch cung cấp dịch vụ công trực tuyến của toàn ngành.
Hà Nội: Gắn trách nhiệm để đẩy nhanh tiến độ cấp "sổ đỏ". Trần ai, mòn mỏi, đó là cảnh thường thấy của người dân trước kia khi đi làm “sổ đỏ”.
Đây cũng là lĩnh vực phát sinh nhiều điều tiếng, khiếu nại, tiêu cực nhất. Tuy nhiên, tại TP Hà Nội, điều đó đang trở thành… dĩ vãng khi công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) thổ cư và đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa (DĐĐT) đang được “cột” vào cùng với trách nhiệm cán bộ để đẩy nhanh tiến độ.
Cầm trên tay quyển “sổ đỏ” mà vẫn chưa hết ngỡ ngàng, anh Nguyễn Hữu Thành, ở Tam Hiệp, Thanh Trì phấn khởi cho biết: “Không ngờ lại nhanh gọn, đơn giản thế. Lúc đi làm cứ tưởng sẽ rất phức tạp, đang định phải nhờ người này, người kia xem có nhanh hơn được không. Thế mà chưa kịp nhờ thì đã xong rồi!”. Đó là cảm nhận chung của rất nhiều người khi được mời đến nhận "sổ đỏ". Không còn cảnh trần ai, mòn mỏi đi lại, chờ đợi, chưa kể đến khoản chi phí “lót tay” nữa.
Có được kết quả đó là nhờ quyết tâm, nỗ lực rất cao của các cấp, các ngành TP. Xác định rõ bức xúc của người dân trong lĩnh vực này, nên Hà Nội đã tập trung cao độ, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc cởi gỡ vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ với trách nhiệm, thời gian cụ thể.
Ngày 1/9/2016, Thành ủy đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đối với công tác cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu gắn liền với đất trên địa bàn Hà Nội. Theo Chỉ thị, thời gian qua, công tác quản lý đất đai nói chung và cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn Hà Nội đạt kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Kết quả cấp GCN trên địa bàn TP còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai và nguyện vọng chính đáng của các tổ chức, cá nhân. Chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ có mặt còn hạn chế...
Nguyên nhân chủ yếu do một số cấp ủy chưa quan tâm thường xuyên trong công tác lãnh đạo. Một số chính quyền, cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, thiếu quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành liên quan trong công tác tổ chức thực hiện cấp GCN thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao; thủ tục hành chính chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới; cơ chế, chính sách thực hiện chưa sát với thực tế ở từng địa phương.
TP yêu cầu cụ thể: “Địa phương, đơn vị nào không hoàn thành Kế hoạch cấp GCN được cấp có thẩm quyền giao thì cấp ủy, chính quyền, trước hết là đồng chí Bí thư cấp ủy phải chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên”.
Với mục tiêu phấn đấu đến hết tháng 6/2017 sẽ cơ bản hoàn thành công tác cấp GCN QSDĐ của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, Thành ủy yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội từ TP đến cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các tổ chức, cá nhân và các tầng lớp Nhân dân Thủ đô trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định.
Thành ủy cũng yêu cầu các cơ quan hữu quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện tốt phương châm: “Rõ người - rõ việc - rõ trách nhiệm - rõ quy trình - rõ hiệu quả”; phân công, xác định cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện. Tại mỗi cơ quan, đơn vị phải phân công rõ cán bộ lãnh đạo chịu trách nhiệm toàn diện, quy định trách nhiệm của các phòng, ban liên quan. Các cơ quan chuyên môn bố trí tối đa thời gian làm việc, các đơn vị liên quan bố trí thời gian phù hợp để phục vụ công tác cấp GCN; xây dựng kế hoạch và công khai nội dung văn bản pháp luật, thời gian làm việc cho tổ chức, Nhân dân được biết và giám sát. Quy trình xét, cấp GCN, thu nghĩa vụ tài chính khi cấp GCN phải đúng pháp luật, sát thực tế, dễ hiểu, dễ thực hiện, đảm bảo công khai, minh bạch; không ban hành chính sách giải quyết trường hợp cá biệt.
Thành ủy yêu cầu tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo về đất đai và những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện; xử lý nghiêm các trường hợp nhũng nhiễu, gây phiền hà, đồng thời, xem xét và xử lý trách nhiệm người đứng đầu của cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị để xảy ra vi phạm.
Ngay sau khi Chỉ thị được ban hành, vẫn còn ý kiến cho rằng, chỉ tiêu đưa ra là quá cao, không sát thực tế và khó khả thi. Do đó, không ít địa phương còn “đủng đỉnh” chờ đợi, trong khi tỷ lệ cấp GCN đang đạt rất thấp. Thậm chí, có vị lãnh đạo địa phương lý giải “vì đất ở chỗ tôi toàn đất nông nghiệp, mà người dân không có nhu cầu làm nên rất khó”.
Những địa chỉ như vậy được “bêu” lên cụ thể trong các cuộc giao ban, kiểm tra tiến độ và bị lãnh đạo TP phê bình nghiêm khắc với thái độ gay gắt. Chính sự quyết liệt ấy đã tạo cú hích mạnh cho các nơi chuyển động. Để giúp các quận, huyện, Sở TN&MT đã thành lập các tổ công tác trực tiếp xuống các địa phương cởi gỡ vướng mắc, tháo gỡ từng trường hợp cụ thể. Từ một vài phần trăm đạt được đầu năm, đến cuối năm 2016, nhiều địa phương phấn khởi báo cáo TP đã đạt, vượt chỉ tiêu đề ra và kế hoạch hoàn thành trong tháng 6/2017 là “trong tầm tay”.
Như tại quận Thanh Xuân, đến giữa tháng 9/2016 đã cấp được 802 GCN lần đầu, vượt 78% chỉ tiêu; quận Nam Từ Liêm cấp được 861 GCN lần đầu, vượt 72% kế hoạch; huyện Phúc Thọ năm 2016 đã cấp được 405 GCN, đạt 161% kế hoạch và 37.394 GCN QSDĐ nông nghiệp, đạt 100% chỉ tiêu được giao…
Đánh giá cao những kết quả đạt được trong cấp GCN QSDĐ của TP năm 2016, Bí thư Thành ủy Hoàng Trung Hải đã nói: “Phải thấy được niềm vui của người dân khi được cấp “sổ đỏ” thì mới thấy quý. Nhiệm vụ dù khó cỡ nào, nhưng nếu đồng thuận, quyết tâm, vẫn sẽ làm được”.
Trước kia, người dân cứ làm hồ sơ, nộp rồi để đấy, không biết bao giờ mới nhìn thấy “sổ đỏ”. Bây giờ thì thủ tục nhanh gọn, thậm chí được mời đến nhận. Theo Bí thư Thành ủy, với những trường hợp còn chưa được cấp GCN là những trường hợp khó và cũng chính là bức xúc của người dân. Do đó, các cấp, các ngành phải chủ động, quyết liệt hơn để giải quyết. Có như vậy mới lấy được lòng tin của Nhân dân.
Bộ Tài nguyên và Môi trường sẵn sàng cung cấp các dịch vụ công trực tuyến. Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cho biết, Bộ đã sẵn sàng cung cấp 5 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản, 4 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 lĩnh vực môi trường, 6 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 lĩnh vực đo đạc và bản đồ và 4 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu tới các cơ quan, doanh nghiệp và người sử dụng.
Trong đó, lĩnh vực môi trường sẽ bao gồm các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 như: Chấp thuận việc điều chỉnh, thay đổi nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường liên quan đến phạm vi, quy mô, công suất, công nghệ sản xuất, các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường của dự án; Thẩm định Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; Thẩm định, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường; Xin ý kiến việc điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch (đối với trường hợp điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và điều chỉnh theo hướng không làm gia tăng hoặc gia tăng không đáng kể tác động xấu đến môi trường).
Theo Bộ TN&MT, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
Sớm đưa phần mềm CSDL Quốc gia về KN,TC vào sử dụng. Đó là ý kiến chỉ đạo của Tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP) Phan Văn Sáu tại buổi làm việc với lãnh đạo một số cục, vụ, đơn vị thuộc TTCP về việc thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao vào hôm 15/2. Dự họp có Phó Tổng TTCP Đặng Công Huẩn.
Báo cáo kết quả việc thực hiện nhiệm vụ tại buổi làm việc, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính và Tổng hợp Lê Hồng Lĩnh cho biết, đến ngày 14/2/2017, TTCP đã hoàn thành 116/180 nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, có 10 nhiệm vụ đã được chấp nhận điều chỉnh thời gian hoàn thành. Phần lớn các nhiệm vụ được giao, TTCP đã triển khai thực hiện và cập nhật trên phần mềm cơ sở dữ liệu (CSDL) theo dõi.
Tuy nhiên, vẫn còn một số nhiệm vụ, công việc thực hiện còn chậm so với yêu cầu; việc cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong chỉ đạo điều hành và xử lý công viêc cần thúc đẩy hơn nữa.
Về tình hình đầu tư trang thiết bị và ứng dụng CNTT, TTCP đã đầu tư 11 phần mềm, hiện đang trong giai đoạn đầu tư phần mềm “Xây dựng dự án CSDL Quốc gia về khiếu nại, tố cáo (KN,TC)”.
Đối với việc đôn đốc thực hiện kế hoạch tổ chức hội nghị cải cách hành chính và ứng dụng CNTT, ông Lĩnh cho biết, Vụ Kế hoạch, Tài chính và Tổng hợp đã chủ động tham mưu ban hành Kế hoạch 2391/KH-TTCP ngày 19/9/2016, trong đó giao Trung tâm Thông tin chủ trì phối hợp với các cục, vụ, đơn vị báo cáo công tác ứng dụng CNTT của TTCP giai đoạn 2011 - 2016 và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới; Vụ Pháp chế chủ trì phối hợp với các cục, vụ, đơn vị chuẩn bị báo cáo về công tác cải cách hành chính của TTCP giai đoạn 2011 - 2016 và phương hướng nhiệm vụ thời gian tới.
Cho ý kiến tại buổi làm việc, Phó Tổng TTCP Đặng Công Huẩn yêu cầu tổ Vụ Kế hoạch, Tài chính và Tổng hợp rà soát lại nhiệm vụ của Thủ tướng giao, đồng thời theo dõi việc thực hiện các kết luận của Tổng TTCP và các Phó Tổng TTCP; Trung tâm Thông tin rà soát lập danh sách thông báo các thủ trưởng đơn vị phân công đầu mối cập nhật văn bản lên hệ thống phần mềm. Sau khi có kết quả rà soát, Vụ Kế hoạch, Tài chính và Tổng hợp có ý kiến đề nghị Lãnh đạo TTCP làm việc với Văn phòng Chính phủ gia hạn vụ việc khi cần thiết; họp cải cách hành chính đánh giá lại thực trạng ứng dụng CNTT tại cơ quan TTCP.
Phát biểu kết luận, Tổng TTCP Phan Văn Sáu yêu cầu, đối với nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, Vụ Kế hoạch, Tài chính và Tổng hợp làm đầu mối, sớm xây dựng kế hoạch, công văn yêu cầu, đề cương báo cáo và triển khai thực hiện theo dõi, đôn đốc trong thời gian sớm nhất; các đơn vị phải thường xuyên theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ; Trung tâm Thông tin khẩn trương kết nối phần mềm quản lý văn bản của TTCP với Văn phòng Chính phủ; kiến nghị Văn phòng kết nối đường truyền với các đơn vị ở xa để cập nhật phần mềm cơ sở dữ liệu theo dõi nhiệm vụ; khẩn trương triển khai hội nghị cải cách hành chính và ứng dụng CNTT trong TTCP.
Đối với đầu tư trang thiết bị và ứng dụng CNTT, Tổng TTCP Phan Văn Sáu yêu cầu Trung tâm Thông tin đánh giá lại hiện trạng cơ sở hạ tầng và hệ thống các phần mềm ứng dụng CNTT của toàn cơ quan TTCP và đề xuất các giải pháp để ứng dụng vào thực tế cho phù hợp; đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án “Xây dựng Hệ thống phần mềm CSDL Quốc gia về KN,TC” đưa vào sử dụng; Viện Khoa học Thanh tra, Văn phòng, Trường Cán bộ Thanh tra hạch toán số lượng vào sổ sách kế toán các phần mềm đã và đang sử dụng, được đầu tư từ nguồn vốn Poscis mà chưa được theo dõi, hạch toán trên sổ sách…
Cà Mau sẽ truyền thông về hoạt động cải cách thủ tục hành chính. Tỉnh Cà Mau vừa ban hành kế hoạch "Truyền thông về cải cách thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017 trên địa bàn tỉnh".
Mục đích là nhằm tuyên truyền kịp thời, sâu rộng các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Bộ, ngành Trung ương và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của địa phương về công tác cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính; nâng cao nhận thức của của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh về ý nghĩa, mục tiêu và tâm quan trọng của hoạt động này.
Việc truyền thông về cải cách thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017 trên địa bàn tỉnh Cà Mau còn nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan đoàn thể chính trị, chính trị- xã hội trong việc thực hiện truyền thông về cải cách thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính; công khai, minh bạch các thông tin về thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân, tiếp cận và thực hiện giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, giúp người dân, doanh nghiệp giám sát hoạt động cải cách thủ tục hành chính của cơ quan hành chính nhà nước. Cụ thể là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, từ đó góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp trong quá trình giải quyết công việc có liên quan đến thực thi thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân.
Ngoài ra việc này cũng nhằm phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, đài, báo trong việc phản ánh chính xác, kịp thời những mặt tích cực hoặc chưa hiệu quả của tổ chức, cá nhân thuộc tỉnh Cà Mau trong thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; nâng cao chỉ số cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện Nghị quyết 19-2017/NQ-CP: Cải cách thuế đi vào “vùng lõi”. Ngay khi Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 ra đời, Tổng cục Thuế đã chủ động, tích cực đề ra chương trình hành động cụ thể với mục tiêu năm 2017 cải cách thuế sẽ đạt được kì vọng của người nộp thuế và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Tại Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP của Chính phủ, trong năm 2017 và định hướng đến năm 2020, ngành Thuế cần thực hiện đồng bộ, toàn diện các giải pháp cải cách hành chính mà trọng tâm là tiếp tục hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh. Quan trọng nhất, là đạt được các mục tiêu đạt trung bình của nhóm nước ASEAN 4 về cải cách hành chính thuế bao gồm cả 3 nhóm chỉ tiêu: Hoàn thuế; quản lý rủi ro trong thanh, kiểm tra thuế; thời gian và kết quả xử lý khiếu nại về thuế.
Ngành Thuế phải phấn đấu rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục nộp thuế còn không quá 119 giờ/năm, phấn đấu đến năm 2020 còn tối đa là 110 giờ/năm. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện thể chế để phát triển thị trường tài chính, dịch vụ tài chính tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho doanh nghiệp và người dân.
Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hiệp hội tư vấn thuế cho rằng, những năm vừa qua ngành Thuế đã nỗ lực không ngừng nghỉ để đạt được những yêu cầu mà Nghị quyết 19 các năm đề ra, nhờ đó kết quả không chỉ được Chính phủ đánh giá cao mà còn được cộng đồng doanh nghiệp và người dân ghi nhận. Trong các năm 2014-2016, Tổng cục Thuế đã nỗ lực giảm số giờ nộp thuế xuống còn 117 giờ, nếu theo mục tiêu yêu cầu đề ra tại Nghị quyết 19-2017/NQ-CP thì đã đáp ứng.
Tuy nhiên, tại báo cáo môi trường kinh doanh 2017 do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố tháng 10/2016, mức độ thuận lợi về chỉ số nộp thuế của Việt Nam đã cải thiện đáng kể so với những năm trước, nhưng thời gian nộp thuế theo WB đánh giá vẫn ở mức cao. Theo bà Nguyễn Thị Cúc, nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này do tại báo cáo môi trường kinh doanh năm 2017 (đánh giá kết quả cho năm 2015), WB mới chỉ tính điểm xếp hạng đối với 2 quy trình (hoàn thuế Giá trị gia tăng và kiểm tra, thanh tra thuế Thu nhập doanh nghiệp).
Trong khi chỉ số nộp thuế hiện nay phải được đánh giá trên 4 tiêu chí: Số lần nộp thuế, thời gian nộp thuế, tổng mức thuế suất và chỉ số sau kê khai. Cùng với đó, đánh giá của WB có độ trễ 2 năm nên nhiều cải cách mà cơ quan Thuế đã triển khai nhưng chưa được ghi nhận.
"Dù theo đánh giá của WB, khoảng cách về mục tiêu số giờ phải đạt được có vẻ như khá xa nhưng thực tế, thời gian qua số giờ nộp thuế của Việt Nam đang giảm thêm. Do vậy, tôi nghĩ mục tiêu năm 2017 chúng ta hoàn toàn có thể đạt được nếu ngành Thuế quyết liệt thực hiện đồng thời cả cải cách chính sách và thủ tục hành chính (TTHC)", bà Cúc nhận định.
Trước những mục tiêu mà Nghị quyết 19-2017/NQ-CP đề ra cho ngành Thuế, tại dự thảo chương trình hành động, Tổng cục Thuế đã đưa ra một số nhóm giải pháp để thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP bao gồm: Nhóm giải pháp để thực hiện mục tiêu hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; Nhóm giải pháp để đạt mục tiêu trung bình của nhóm nước ASEAN 4 về cải cách hành chính thuế; Nhóm giải pháp về dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, đó là thực hiện ứng dụng CNTT trong kê khai, nộp thuế, hoàn thuế điện tử đạt 95%; Nhóm giải pháp về giảm giờ; Phát triển hệ thống đại lý thuế; Tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong nộp thuế; kiện toàn bộ máy để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi phương thức quản lý tại các đơn vị thuộc bộ.
Theo lãnh đạo của Tổng cục Thuế, để thực hiện những công việc này, ngành Thuế sẽ tập trung rà soát chính sách, gỡ bỏ những thủ tục rườm rà gây cản trở cho người dân và doanh nghiệp.
Bà Nguyễn Thị Cúc cho rằng: “Thực hiện cải cách TTHC cần có 3 nội dung lớn: Thể chế chính sách, công nghệ quản lý về ứng dụng CNTT và tổ chức bộ máy. Đặc biệt, phải cải cách vào những "vùng lõi" của ngành Thuế. Đó là vấn đề hoàn thuế Giá trị gia tăng, công khai dữ liệu về hoàn thuế; đảm bảo giải quyết hoàn thuế theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời phải chủ trương định hướng quản lý thuế theo mức độ rủi ro và mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, xác định tính hợp lệ của giao dịch kinh tế trên cơ sở giao dịch tiền hàng. Đối với thể chế chính sách và quy trình nghiệp vụ phải tiếp cận theo hướng đơn giản, minh bạch rõ ràng, trong đó đồng bộ kể cả thuế và kế toán. Cần xây dựng được thể chế chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế trên cơ sở quy trình hiện đại, đặc biệt ứng dụng CNTT trong xây dựng cơ sở dữ liệu về kế toán thuế".
Bà Cúc nhấn mạnh, thực hiện Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, các ban, ngành đều quyết tâm và đặt ra những mục tiêu và giải pháp thực hiện hết sức cụ thể. Tuy nhiên, để kết quả được như mong đợi, ngành Thuế phải thực hiện quyết liệt, chỉ đạo đồng bộ từ trên xuống dưới, đảm bảo xóa khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, để những thay đổi tích cực của ngành Thuế thực sự đi vào cuộc sống và được người dân và cộng đồng ghi nhận. Có như vậy, mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của Chính phủ mới thực sự đạt kết quả tốt. đầu trang(
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
Long An tạo đột phá trong thu hút đầu tư. Nằm ở vị trí cửa ngõ đi các tỉnh miền tây Nam Bộ và tiếp giáp với TP Hồ Chí Minh, Long An đang nỗ lực tháo gỡ mọi khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo đột phá trong thu hút đầu tư để phấn đấu trở thành tỉnh đầu tàu kinh tế của khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc (Long An) Nguyễn Văn Thiệp cho biết: Cần Giuộc có hơn 9.800 ha đất sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên chia huyện thành hai vùng sản xuất rất riêng biệt. Vùng thượng có chín xã và một thị trấn với các thế mạnh là nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và công nghiệp. Vùng thượng cơ bản ngăn được mặn, trữ được nước ngọt để trồng lúa hai vụ, trồng màu, chăn nuôi gia súc và gia cầm. Vùng hạ có bảy xã bị ảnh hưởng sáu tháng mặn cho nên chỉ trồng được một vụ lúa năng suất không cao, nuôi thủy sản rất bấp bênh.
Đến mùa xâm nhập mặn người dân vùng hạ bỏ nhà đi sang rừng sát huyện Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) chặt và mót củi hoặc đi xứ khác làm thuê kiếm cơm. Hằng năm, đến mùa giáp hạt, tỉnh phải cứu trợ lương thực, giống cây trồng để người dân sản xuất. Ngày Tết gần như không có đối với người dân vùng hạ. Cần Giuộc từng là huyện nghèo nhất của tỉnh Long An.
Thế nhưng, Cần Giuộc lại có vị trí khá “đắc địa” là nằm ngay cửa ngõ Tây Nam Bộ, cách trung tâm TP Hồ Chí Minh khoảng 20 km; có quốc lộ 50 và sông Cần Giuộc chạy qua và nối liền TP Hồ Chí Minh với các tỉnh miền tây; có sông Soài Rạp chảy nối liền TP Hồ Chí Minh với Biển Đông… Nhận ra lợi thế phát triển kinh tế, địa phương đã lập tờ trình báo cáo tỉnh xin Trung ương cho phát triển các khu công nghiệp. Kết quả, sau một nhiệm kỳ (2010 - 2015), Cần Giuộc đã bứt phá trở thành huyện điểm trong vùng kinh tế động lực của tỉnh.
Khi Khu công nghiệp (KCN) Long Hậu và KCN Tân Kim đi vào hoạt động thì: “Vùng nước mặn, phèn chua, bom bừa pháo dội” của Cần Giuộc nhanh chóng thay đổi. Ngành nghề thu hút đầu tư vào hai KCN này đều bảo đảm sản xuất “sạch”, không có nguy cơ gây tổn hại môi trường. Cần Giuộc phát triển công nghiệp chỉ sau các huyện Bến Lức, Đức Hòa và Đức Huệ nhưng đang được ví như “cánh cửa công nghiệp” của tỉnh Long An.
Chìa khóa “cải tạo” thành công vùng đất Cần Giuộc là: Tận dụng lợi thế địa lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, "trải thảm đỏ" mời gọi đầu tư nhưng huyện luôn tuân thủ phương châm: phát triển công nghiệp nhưng không đánh đổi môi trường, Cần Giuộc chọn nhà đầu tư phải cam kết bảo đảm nghề sản xuất không có nguy cơ gây tổn hại môi trường; đối với lĩnh vực nông nghiệp thì phải đi theo hướng công nghệ cao. Năm 2016, KCN Long Hậu (xã Long Hậu) đóng góp cho ngân sách nhà nước hơn 1.000 tỷ đồng/năm, giải quyết cho hơn 30 nghìn lao động trong tỉnh và ngoài tỉnh. Thu nhập bình quân của người lao động trong các KCN từ mức 4,5 triệu đến 5 triệu đồng/người/tháng.
Cùng với công nghiệp dịch vụ, thương mại cũng phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng khang trang và thị trấn Cần Giuộc đã được xếp là đô thị loại 4 trước thời hạn. Thu nhập bình quân của người dân trong toàn huyện đạt hơn 50 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo từ 8,81% năm 2010 thì nay giảm còn khoảng 2% và đã có tám trong 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Kinh tế Cần Giuộc sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới khi cảng quốc tế Long An đi vào hoạt động trong năm 2017. Đây là một trong những cảng biển có quy mô lớn nhất tại khu vực miền nam, có thể tiếp nhận được tàu có tải trọng từ 30.000 đến 70.000 DWT. Dịch vụ logistics chính thức hoạt động sẽ khai thác được thêm nhiều tiềm năng và lợi thế đường thủy nội địa. Mục tiêu Cần Giuộc phấn đấu đến năm 2020 có 13 trong số 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới, các xã còn lại đạt 18 trên 19 tiêu chí. Thu nhập của người dân nông thôn đạt 68 triệu đồng người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,2%.
Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Long An Nguyễn Thanh Nguyên cho biết: Sau hơn 10 năm phát triển công nghiệp, đến nay, Long An có gần 8.190 doanh nghiệp đang hoạt động trong 16 KCN, với tổng vốn đăng ký hơn 192.000 tỷ đồng; 1.317 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký 144.566 tỷ đồng; 801 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của 37 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư với tổng vốn đăng ký hơn 5,2 tỷ USD. Công nghiệp phát triển mạnh góp phần chính trong tổng thu ngân sách hơn 9 nghìn tỷ đồng, đạt 112,2% dự toán năm.
Doanh nghiệp FDI đang giải quyết việc làm cho hơn 90 nghìn lao động trong tỉnh và ngoài tỉnh. Long An cũng là vệ tinh của TP Hồ Chí Minh trong việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp sạch. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2016 đạt 57.265 tỷ đồng, tăng trưởng kinh tế 9,05%. Kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 4,3 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 50,7 triệu đồng/người/năm và đã có 57 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Tỷ lệ hộ nghèo giảm chỉ còn dưới 4% so mức quy định của Trung ương. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống của người dân, Long An đang tập trung nhiều giải pháp trong thu hút đầu tư vào công nghiệp và nông nghiệp.
Long An đang dẫn đầu các tỉnh ĐBSCL và đứng thứ 12 trong số 63 tỉnh, thành phố của cả nước về thu hút vốn FDI, chiếm đến gần 65% tổng số dự án và 34,55% vốn đăng ký FDI đầu tư vào ĐBSCL…
Thu hút vốn FDI tăng nhanh đã góp phần tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhưng chất lượng thu hút chưa cao. Các dự án mang tính lan tỏa, lôi kéo doanh nghiệp trong nước cùng phát triển còn hạn chế, chưa góp phần xây dựng công nghiệp công nghệ cao ở tỉnh. Các dự án đầu tư vào nông nghiệp và dịch vụ thân thiện với môi trường còn ít, nhiều dự án còn gây ô nhiễm, tình hình chuyển giá, né thuế của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh vẫn còn…
Để xây dựng chiến lược thu hút vốn đầu tư trong thời gian tới, theo các chuyên gia kinh tế, Long An không nên thu hút vốn FDI bằng mọi giá, tránh xung đột giữa các lĩnh vực. Thu hút vốn FDI phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng tăng trưởng xanh, không đánh đổi môi trường lấy kinh tế; tập trung vào các ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông, các ngành có hàm lượng kỹ thuật và công nghệ và các ngành dịch vụ cao cấp...; liên kết với các tỉnh ĐBSCL và TP Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hạ tầng giao thông, cảng biển…
Chủ tịch UBND tỉnh Long An Trần Văn Cần cho biết: Long An định hướng đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, GDP bình quân đạt khoảng 80 triệu đến 85 triệu đồng/người/năm (khoảng 3.800 USD), tỷ trọng các ngành nông nghiệp chiếm 15%, công nghiệp là 45%, dịch vụ là 40% và phấn đấu trở thành tỉnh đầu tàu kinh tế của khu vực ĐBSCL.
Để đạt được mục tiêu đề ra, Long An đang tạo bước đột phát trong thu hút đầu tư bằng cách huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông phục vụ phát triển công nghiệp, gắn với nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và chuỗi giá trị ngành hàng theo hướng bền vững. Long An luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư đến tìm hiểu cũng như thực hiện dự án đầu tư; xem khó khăn của doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng là khó khăn của tỉnh, thành công của doanh nghiệp cũng chính là thành công của tỉnh.
Tỉnh Bắc Ninh thu ngân sách đứng thứ 10 cả nước sau 20 năm tái lập. Tối 12.2, tại TP Bắc Ninh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Ninh trọng thể tổ chức Lễ kỷ niệm 185 năm ngày thành lập, 20 năm tái lập tỉnh và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cùng nhiều lãnh đạo Ban, Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tới tham dự.
Trình bày diễn văn tại lễ kỷ niệm, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh, ông Nguyễn Nhân Chiến cho hay, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, ngày 27.10.1962, Quốc hội khóa II ra Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc. Sau 1/3 thế kỷ hợp nhất, trước yêu cầu đổi mới, tại kỳ họp thứ 10, ngày 6.11.1996 Quốc hội khóa IX đã ra Quyết định phê chuẩn việc tái lập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Ngày 1.1.1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới.
Ông Chiến nhấn mạnh: “Năm 1997 khi mới tái lập, Bắc Ninh còn là tỉnh chậm phát triển về nhiều mặt, nhưng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã chung sức, đồng lòng, quyết tâm xây dựng, kiến thiết quê hương. Quyết tâm đó được định hướng bằng những quyết sách có ý nghĩa lịch sử của Tỉnh ủy - UBND tỉnh tỉnh lâm thời, với việc đề ra 10 nhiệm vụ cấp bách trong những ngày đầu tái lập tỉnh. Những định hướng và kết quả khởi đầu chính là những “viên gạch” đầu tiên, là tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo kế thừa, tiếp nối, sáng tạo và phát triển.
Ngày nay, Bắc Ninh phát triển nhanh, mạnh, cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, với nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đứng trong tốp dẫn đầu của cả nước; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao; diện mạo đô thị và nông thôn ngày càng được đổi mới; cải cách hành chính được đẩy mạnh;quốc phòng, quân sự địa phương được củng cố; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác xây dựng Đảng chính quyền, đoàn thể đạt nhiều kết quả tích cực”.
Theo đó, Kinh tế phát triển với tốc độ nhanh và ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, công nghiệp là đầu tàu tăng trưởng; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 95%.Từ một tỉnh thuần nông, đến nay đã cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, nằm trong nhóm các tỉnh có nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội dẫn đầu cả nước, như: tỷ lệ trường học kiên cố hóa, tỷ lệ trường chuẩn quốc gia và tỷ lệ phổ cập giáo dục trẻ em mầm non 5 tuổi đứng thứ nhất; tỷ lệ phổ cập tiểu học giai đoạn 2, GRDP bình quân đầu người, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2; thu hút vốn đầu tư nước ngoài đứng thứ 5; quy mô nền kinh tế đứng thứ 6; thu ngân sách Nhà nước đứng thứ 10 của cả nước; thu nhập bình quân đầu người tăng gần 20 lần so với năm 1997, gấp 2,3 lần bình quân chung cả nước; chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đạt kết quả cao.
Các lĩnh vực văn hoá - xã hội được chăm lo, phát triển,an sinh xã hội được đảm bảo; quốc phòng quân sự địa phương được củng cố, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quản lý, điều hành của chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được đổi mới; hệ thống chính trị không ngừng được củng cố, vững mạnh về mọi mặt.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã biểu dương và chúc mừng những thành tựu to lớn mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã đạt được trong 20 năm qua.
Thủ tướng nhấn mạnh: "Năm 2017 và những năm tới, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôi yêu cầu Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh cần tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, nêu cao tinh thần đoàn kết, tận dụng tối đa tiềm năng, lợi thế, tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ như bám sát Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, vận dụng sáng tạo, hiệu quả vào quá trình phát triển. Chủ động rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, Quy hoạch điều chỉnh vùng Thủ đô. Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động, thúc đẩy khởi nghiệp;tích cực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân sản xuất, kinh doanh. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường".
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng yêu cầu Bắc Ninh cần thu hút đầu tư có chọn lọc; đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với đô thị hóa; phát triển công nghiệp hỗ trợ, điện tử, tin học. Thúc đẩy thương mại, dịch vụ gắn với kinh tế đô thị;đẩy mạnh xuất nhập khẩu.Tăng thu và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, đảm bảo ổn định hoạt động tiền tệ và tín dụng.
Tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi giá trị; thực hiện tốt Chương trình xây dựng nông thôn mới. Mặt khác, việc phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội, vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Cùng với đó, tập trung làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp;tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phát huy tốt vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị.
Đà Nẵng động viên cán bộ lớn tuổi nghỉ hưu trước tuổi, nhường cho cán bộ trẻ. Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh vừa ký quyết định ban hành “đề án xây dựng và tạo nguồn cán bộ trẻ đảm nhiệm các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý và cán bộ chủ chốt thành phố đến năm 2025 và những năm tiếp theo”.
Theo Thành ủy Đà Nẵng, thời gian quan, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của thành phố phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng với tổng số 27.692 người.
Công tác phát triển cán bộ trẻ được đầu tư đến cấp cơ sở. Trong nhiệm kỳ, mỗi cấp uỷ viên phải tiến cử ít nhất một cán bộ để đào tạo thành cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt.
Sau hai nhiệm kỳ triển khai tiến cử, đến nay đã bổ sung cán bộ diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý, đặc biệt cán bộ trẻ tham gia Thành ủy. Thành phố cũng đã chủ động, tích cực và làm tốt công tác cán bộ nên bước đầu đã chuẩn bị được đội ngũ cán bộ trẻ kế cận. Khắc phục dần tình trạng bị động, hẫng hụt cán bộ, từng bước nâng cao chất lượng, số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ.
Tuy nhiên, công tác phát triển cán bộ trẻ vẫn còn một số mặt hạn chế. Rõ nhất là tỷ lệ cán bộ trẻ tham gia cấp uỷ vẫn chưa đảm bảo theo quy định (không dưới 10%). Tại đại hội các đảng bộ trực thuộc Thành ủy nhiệm kỳ 2015 - 2020, có 544 cấp ủy viên thì chỉ có 38 đồng chí dưới 35 tuổi (chiếm tỷ lệ 6,99%).
Cơ cấu cán bộ trẻ giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp còn thấp, chưa có tính kế thừa. Nguyên nhân là do từ trước đến nay từ Trung ương đến địa phương chưa có văn bản chỉ đạo hoặc chuyên đề cụ thể về phát triển đội ngũ cán bộ trẻ.
Dẫn đến, một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn e dè, chưa mạnh dạn đưa cán bộ vào quy hoạch hoặc giao việc cho cán bộ trẻ để thử thách, rèn luyện. Trong bổ nhiệm cán bộ còn có tư tưởng cầu toàn, nhiều nơi mang “giải pháp tình thế”, thiếu tính chiến lược. Ngoài ra, một số cán bộ trẻ thiếu rèn luyện hoặc tự mãn, ỷ lại khi đã được quy hoạch.
Đề án mới cũng nêu rõ, việc xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ năng lực và kinh nghiệm thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới là yêu cầu cấp bách. Đối tượng tạo nguồn là lãnh đạo, quản lý hiện đang giữ các chức vụ ở các cấp. Trong đó, cấp thành phố: từ phó trưởng phòng (và tương đương) trở lên thuộc các cơ quan Đảng, chính quyền, sở, ban, ngành, Mặt trận và đoàn thể thành phố. Cấp quận, huyện thì từ phó trưởng phòng và tương đương trở lên.
Cấp phường, xã thì từ Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân phường, xã. Tiêu chuẩn xây dựng và đào tạo nguồn cán bộ trẻ là phải có trình độ chuyên môn.
Cụ thể, phải tốt nghiệp Đại học chính quy công lập (bằng 1) hoặc tốt nghiệp bậc đại học trở lên tại một số cơ sở đào tạo ở nước ngoài. Kết quả tốt nghiệp loại khá trở lên, khả năng ngoại ngữ B1 châu Âu, trình độ lý luận chính trị: từ trung cấp trở lên. Về thực tiễn công tác thì phải công tác ít nhất từ 5 năm trở lên tại các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc thành phố Đà Nẵng.
Có thành tích tiêu biểu, uy tín tại cơ quan, đơn vị, địa phương nơi công tác. Có tuổi đời dưới 35 tuổi tính đến thời điểm tham gia Đề án. Dựa trên những tiêu chuẩn nói trên, lãnh đạo các cơ quan tiến hành tiến cử cán bộ. Người tiến cử cán bộ phải có trách nhiệm theo dõi, giúp đỡ cán bộ phát triển.
Từ những cán bộ đã được tiến cử, cơ quan có thẩm quyền tiến hành thu thập thông tin, lấy ý kiến tham khảo để đánh giá, phân loại để đào tạo, bồi dưỡng định hướng phát triển.
Trên cơ sở đánh giá cán bộ, xem xét và đề nghị đưa ra khỏi Đề án những cán bộ không có triển vọng phát triển, thiếu tinh thần cầu tiến hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ thử thách được giao. Đồng thời, chọn lựa bổ sung cán bộ khác thay thế.
Đề án cũng nêu rõ, các cơ quan tạo điều kiện cho cán bộ được rèn luyện thử thách, tích lũy kinh nghiệm qua thực tiễn, kết hợp với công tác luân chuyển, bố trí cán bộ.
Tăng cường tổ chức cho cán bộ tham gia Đề án và cán bộ trẻ đủ điều kiện thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý ở một số lĩnh vực chuyên môn theo quy định của Trung ương. Song song với công tác tạo nguồn, giao việc cho cán bộ thử thách thì phải có vị trí, môi trường cụ thể để cán bộ rèn luyện, thử thách.
Để thực hiện tốt Đề án, cần có giải pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, cần có chế độ chính sách để động viên cán bộ lớn tuổi nghỉ hưu trước tuổi nhường vị trí lại cho cán bộ trẻ.
Có phương án, kế hoạch điều động, luân chuyển cán bộ giữa các cấp, các ngành để tạo điều kiện thuận lợi trong việc bố trí, giao việc, thử thách cán bộ tham gia Đề án.
Nghiên cứu tăng thêm chức danh phó bí thư ở các quận uỷ, huyện uỷ, đảng ủy trực thuộc Thành ủy, chức danh phó giám đốc (và tương đương) ở các sở, ban, ngành, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và nhưng nơi có điều kiện.
Việt Nam phát triển mô hình điện gió kết hợp du lịch sinh thái. Ông Bùi Văn Thịnh - giám đốc Công ty cổ phần Phong Điện Thuận Bình, cho biết công ty sẽ xây dựng mô hình điện gió kết hợp du lịch sinh thái tại hội thảo phát triển điện gió ở Bình Thuận sáng 16-2.
Cụ thể, tại khu điện gió Phú Lạc (công suất 24MW, đã vận hành) với 400ha, ông Thịnh cho biết đang tiếp tục đầu tư điện mặt trời tại đây với công suất khoảng 100MW, trong năm 2018 sẽ đầu tư hạng mục đầu tiên với công suất 30MW, thông tin đăng tải trên Tuổi trẻ cho biết.
Sau đó, công ty tiếp tục phát triển mô hình trồng rau sạch, trang trại chăn nuôi gia súc theo mô hình du lịch sinh thái. Việc này nhằm tới việc có thêm nguồn thu sớm thu hồi vốn trong điều kiện giá điện gió hiện nay (7,8 cent/kW) được các nhà đầu tư cho là còn thấp.
Ngoài dự án điện gió Phú Lạc, Công ty cổ phần phong điện Thuận Bình cho biết dự kiến triển khai tiếp 4 dự án điện gió khác ở Đắc Lắc, Gia Lai với tổng công suất các dự án 500MW.
Điện gió Phú Lạc được xem là một trong những dự án điện gió hiếm hoi hiện đại được đầu tư ở Việt Nam theo công nghệ Đan Mạch do Công ty Vestas cung cấp thiết bị. Tổng vốn đầu tư của các dự án trên là 2 tỉ USD.
Người lao động cho biết thêm, theo ông Bùi Văn Thịnh, tiềm năng điện gió Việt Nam rất lớn. Theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030, Chính phủ đặt mục tiêu đưa công suất nguồn điện gió từ 140 MW hiện nay lên 800 MW vào năm 2020, khoảng 2.00 MW vào năm 2025 và khoảng 6.000MW vào năm 2030.
Nhiều dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận nhưng không thể triển khai do không vay được vốn. Nguyên nhân là ngành điện gió tại Việt Nam còn non trẻ, hạ hầng hỗ trợ kém, thiếu nhân sự chuyên môn. Quan trọng hơn, chi phí đầu tư cao nhưng giá mua điện gió tại Việt Nam chỉ khoảng 7-8 cent/KWh. Mức giá này thấp nhất khu vực, không đảm bảo cho dự án có lãi.
"Hiệp hội Điện gió Bình Thuận đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ điều chỉnh giá mua điện gió lên mức 9,5 cent/KWh, Chính phủ cũng đã cam kết đến cuối năm 2016 sẽ xây dựng giá mới cho năng lượng tái tạo nhưng đến nay quyết định này vẫn chưa được ban hành" - ông Thịnh cho biết. đầu trang(
SAI PHẠM
Tổng hợp các sai phạm điển hình trong tuần
Các bị cáo vụ đại án Vinashin Lines đều không thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Các bị cáo cho rằng, mình không tham ô tài sản và cũng không câu kết với ai để thực hiện tội phạm.
Ngày 16.2, TAND TP.Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án tham ô tài sản xảy ra tại Công ty TNHH MTV vận tải viễn dương Vinashin (Vinashin Lines).
Các bị cáo: Trần Văn Liêm (61 tuổi), nguyên tổng giám đốc Vinashin Lines; Trần Văn Khương (66 tuổi), nguyên kế toán trưởng Vinashin Lines và Giang Kim Đạt (39 tuổi), nguyên trưởng phòng kinh doanh của Vinashin Lines, bị truy tố về tội tham ô tài sản. Bị cáo Giang Văn Hiển (66 tuổi), bố đẻ của Giang Kim Đạt bị truy tố về tội rửa tiền. Phiên tòa sơ thẩm do thẩm phán Nguyễn Quốc Thành là Chánh tòa hình sự làm chủ tọa, dự kiến kéo dài trong 4 ngày.
Theo cáo trạng, từ tháng 7.2006 - 3.2007, bị cáo Liêm ký hợp đồng mua 3 con tàu Vinashin Summer, Vinashin Island và Vinashin Phoenix. Bị cáo Đạt được giao thực hiện đàm phán mua tàu.
Đạt đàm phán với Công ty môi giới Marvin Shipping LTD mua tàu Vinashin Summer của Panama với giá 6,25 triệu USD, tàu Vinashin Island mua của Croatia với giá 5,95 triệu USD, tàu Vinashin Phoenix mua của Hy Lạp với giá 21,55 triệu USD. Quá trình đàm phán, Đạt thỏa thuận với Marvin Shipping LTD để được hưởng 11,5 tỉ đồng tiền hoa hồng từ hợp đồng mua 3 con tàu nêu trên. Toàn bộ số tiền này được Công ty môi giới Marvin Shipping LTD chuyển vào tài khoản của ông Giang Văn Hiển.
Từ tháng 5.2006 - 6.2008, thông qua các công ty môi giới, Liêm, Đạt và Khương đã thỏa thuận, đàm phán với các chủ tàu cho thuê 9 con tàu nhưng không thu tiền về cho công ty mà để chiếm đoạt với tổng số tiền hơn 249 tỉ đồng. Cáo trạng cũng nêu rõ, quá trình thực hiện dự án mua tàu và khai thác, kinh doanh cho thuê tàu biển, Liêm, Đạt và Khương đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt của Vinashin Lines số tiền hơn 260 tỉ đồng.
Trong đó, Liêm chiếm đoạt 3,1 tỉ đồng, Đạt chiếm đoạt hơn 255 tỉ đồng và Khương chiếm đoạt 110.000 USD. Còn Hiển sau khi nhận được tiền chuyển vào tài khoản đã rút tiền mặt đưa cho Đạt, đồng thời mua 40 bất động sản, mua đi bán lại 13 xe ô tô đứng tên mình và người thân.
Tháng 8.2010, khi Bộ Công an đã khởi tố vụ án cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Đạt bỏ trốn sang Campuchia và bị truy nã quốc tế. Ngày 7.7.2015, Đạt bị bắt. Cơ quan chức năng xác định, trong thời gian trốn truy nã, Đạt đã sử dụng hộ chiếu mang tên người khác để đi lại giữa Campuchia và Singapore. Liên quan tấm hộ chiếu này, Bộ Công an đã khởi tố để điều tra vụ án làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Trong ngày xét xử hôm qua, các bị cáo đều không thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Các bị cáo cho rằng, mình không tham ô tài sản và cũng không câu kết với ai để thực hiện tội phạm. Hôm nay phiên tòa tiếp tục với phần xét hỏi. (Thanh Niên 17/2) đầu trang(
TRÁI KHOÁY
Kết quả thanh kiểm tra của cơ quan kiểm toán khu vực phát hiện trong nhiều năm liền, Chi cục Thuế Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) đã miễn giảm thuế không đúng đối tượng, giấu nợ thuế, áp thuế không phù hợp… gây thất thu ngân sách hàng trăm tỷ đồng, nhưng chưa có cán bộ liên quan nào bị xử lý trách nhiệm.
Theo thông báo kết quả kiểm toán số 564/TB-KTNN của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) về hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách, thì Chi cục Thuế Buôn Ma Thuột đã làm thất thu nhiều khoản thuế. KTNN phát hiện, trên địa bàn Buôn Ma Thuột còn 267 hộ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) chưa được đưa vào quản lý. Chỉ riêng khảo sát 5 cơ sở kinh doanh karaoke, KTNN đã phát hiện số thuế TTĐB bị thất thu hơn 1 tỷ đồng/năm. Chi cục Thuế TP Buôn Ma Thuột cũng chưa quản lý được thuế xây dựng nhà ở tư nhân, gây thất thu hơn 16 tỷ đồng/năm.
Theo KTNN, năm 2015 hơn 4.000 hộ kinh doanh có mức khoán doanh thu giảm hơn 678 tỷ đồng so với năm 2014 là điều bất thường, nhưng Chi cục Thuế Buôn Ma Thuột đã không tích cực đấu tranh, hiệp thương để điều chỉnh tăng doanh số khoán. Vì nếu tính theo doanh thu năm 2014, số tiền nộp ngân sách sẽ tăng thêm hơn 13 tỷ đồng. Thế nhưng lại có tới 1.750 hộ được giảm thuế môn bài không đúng quy định và hướng dẫn của Tổng cục Thuế. Ngoài ra, Chi cục Thuế Buôn Ma Thuột còn để xảy ra nhiều khoản thất thu khác, như việc phân loại 1.879 doanh nghiệp không phát sinh kê khai thuế, trong khi thực tế các doanh nghiệp này có phát sinh tổng doanh thu hơn 13.000 tỷ đồng.
Theo KTNN, Chi cục Thuế TP Buôn Ma Thuột cũng chưa tuân thủ quy trình, quy định về các biện pháp thu nợ, cưỡng chế nợ, dẫn đến nợ đọng thuế chiếm tỉ lệ cao, có chiều hướng gia tăng qua các năm. Tính đến thời điểm kiểm toán, sổ sách thể hiện trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột còn nợ thuế hơn 185 tỷ đồng, trong đó nợ khó thu chiếm tới 83%. Đặc biệt, KTNN phát hiện Chi cục Thuế TP Buôn Ma Thuột báo cáo nợ còn thiếu tới 507,9 tỷ đồng, mà không được chỉ đạo hoặc có biện pháp đôn đốc thu hồi.
Vì thế, KTNN đã đề nghị UBND TP Buôn Ma Thuột chỉ đạo Chi cục thuế khắc phục những tồn tại, hạn chế và phải đưa 507,9 tỷ đồng nợ thuế vào báo cáo để theo dõi, thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước; Kiểm điểm Chi cục trưởng và các bộ phận liên quan của Chi cục thuế, báo cáo KTNN trước ngày 31/3/2017. Được biết, Chủ tịch UBND TP Buôn Ma Thuột Trương Công Thái đã ký văn bản gửi Chi cục thuế và các cơ quan liên quan, yêu cầu thực hiện nghiêm túc các kiến nghị của KTNN.
Ông Vũ Quang Tuyến - Chi cục trưởng Chi cục Thuế Buôn Ma Thuột cho biết: “Sắp tới chúng tôi sẽ họp các đội thuế, các bộ phận liên quan để kiểm điểm, rút kinh nghiệm, khắc phục các tồn tại, cái nào không khắc phục được thì báo cáo. Trách nhiệm chính trong việc để thất thu ngân sách nhiều năm liền, không đưa vào báo cáo nợ thuế hơn 500 tỷ đồng thuộc về ông Trần Văn Ánh, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Thuế Buôn Ma Thuột, hiện là Trưởng phòng Hành chính - Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk”. Còn ông Bùi Văn Chuẩn - Phó Cục trưởng Cục thuế Đắk Lắk xác nhận đã chỉ đạo Phòng Tổ chức - Cán bộ của cục làm thủ tục kiểm điểm ông Trần Văn Ánh theo đề nghị của KTNN.
Cũng theo thông báo số 564/TB-KTNN của KTNN, năm 2015, UBND TP Buôn Ma Thuột còn giao dự toán chi vượt biên chế tỉnh giao 170 chỉ tiêu, làm ngân sách tỉnh phải bố trí thêm hơn 10,6 tỷ đồng; phân bổ thừa kinh phí cho 8 trường học hơn 212 triệu đồng; giao dự toán 596 triệu đồng cho Chi cục thuế để hỗ trợ thu không đúng quy định…
Trong khi đó, có một số khoản chi chưa đúng chế độ, chưa tiết kiệm như: Phân bổ thừa 2 chỉ tiêu biên chế cho Văn phòng Thành ủy 214 triệu đồng, bổ sung kinh phí tự chủ 595,5 triệu đồng do tăng 7 chỉ tiêu hợp đồng lao động và chi lương… Ngoài ra, UBND TP Buôn Ma Thuột còn bổ sung cho Văn phòng HĐND và UBND 372 triệu đồng tổ chức gặp mặt kỷ niệm 40 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, hỗ trợ chi an ninh quốc phòng cho phường Tân Lập 119 triệu đồng sai quy định, bù hụt thu cho xã phường hơn 1,2 tỷ đồng chưa đúng quy định, cho các đơn vị tạm ứng ngân sách hơn 106 tỷ đồng chưa thể thu hồi…(Tiền Phong 14/2) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Người loại bỏ 25 vạn quan tham TQ trong 18 tháng. Nhiều người nói rằng do không có con cái nên ông Vương dễ bề trị tệ nạn tham nhũng nghiêm trọng ở Trung Quốc.
Trong sự cố phá sản lớn nhất Trung Quốc của Tập đoàn Đầu tư và Quỹ tín thác quốc tế Quảng Đông năm 1988, ông Vương Kì Sơn khi đó là người phụ trách vụ việc. Một hôm, người bạn lâu năm tới gặp ông Vương và đưa ra lời cảnh báo về tính chất nghiêm trọng của vụ việc.
“Tôi có nói với ông Vương rằng những người trong ngân hàng rất quyền lực và mối quan hệ của họ với những người đứng đầu là rất khăng khít. Tôi nói mình lo sợ trước phản ứng của họ nếu ông Vương ép ngân hàng phải phá sản và làm mất đi khoản tài sản quá lớn”, Hoàng Giang Nam, một trong những đồng nghiệp và bạn thân của Vương Kì Sơn, nói. “Tuy nhiên ông ấy bảo tôi là không cần nhiều lời và ông ấy sẽ theo đuổi tới cùng. Ông ấy rất bình tĩnh và cứng rắn”.
15 năm sau, ông Vương trở thành “ngôi sao” trong Ủy ban Trung ương về Giám sát Kỉ luật (CCDI). Ông là người chịu trách nhiệm chính trong cuộc điều tra chống tham nhũng Chu Vĩnh Khang, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an và là một trong những quan chức cấp cao nhất bị “sờ gáy”. Kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa từ năm 1949 tới nay, đại án Chu Vĩnh Khang vẫn được xem là tốn giấy mực nhất lịch sử.
Cuối năm 2012, Vương Kì Sơn được bổ nhiệm làm chủ tịch CCDI sau khi ông Tập Cận Bình lên nhậm chức Tổng bí thư. Nhiều người bày tỏ sự nghi ngờ năng lực của ông Vương khi phải động tới một trong những vấn đề thâm căn cố đế của Trung Quốc – tham nhũng hệ thống.
Sau 4 năm hoạt động liên tục, ông Vương đã chứng minh tầm ảnh hưởng và những quyết định sáng suốt của mình. Ông được xem là cánh tay phải đắc lực của ông Tập Cận Bình trong cuộc chiến “đả hổ diệt ruồi” và “săn cáo” quy mô toàn quốc.
Giờ đây ở tuổi 69, ông Vương là một trong 7 thành viên cốt cán của Ban thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc. Ông đứng cùng hàng ngũ với Chủ tịch Tập Cận Bình hay Thủ tướng Lí Khắc Cường. Chỉ 18 tháng sau khi nhậm chức chủ tịch CCDI, ông Vương Kì Sơn đã loại bỏ 250.000 cán bộ thoái hóa, biến chất. 39 quan chức chức vụ thứ trưởng trở lên cũng bị tóm gọn. Nhiều người nói rằng, quyền lực của ông Vương chỉ kém mỗi ông Tập.
Chiến dịch chống tham nhũng là trọng tâm của ông Tập Cận Bình kể từ ngày nhậm chức. Ủy ban CCDI đã quét sạch vào mọi lĩnh vực, ngành nghề, từ tài chính, thương mại tới sản xuất thực phẩm. Ngoài những công ty quốc doanh đối mặt các cuộc kiểm tra gắt gao, nhiều tập đoàn quốc tế hoạt động ở Trung Quốc cũng “lãnh đủ”, chẳng hạn như công ty dược Glaxo Smith Kline bị cáo buộc hối lộ công an Trung Quốc.
Các thương hiệu đồng hồ Thụy Sĩ xa xỉ cũng chứng kiến sự sụt giảm doanh số sau khi nhiều quan tham sa lưới.
Tại Tập đoàn Hóa dầu Trung Quốc, đơn vị kinh tế cực lớn và được xem là “bất khả xâm phạm”, rất nhiều quan chức cấp cao đang phải ngồi tù vì tham nhũng. Ông Vương đã thiết lập một hệ thống yêu cầu báo cáo tình hình hằng ngày ở tập đoàn này. Trong trường hợp một quan chức bị bắt, lập tức ngày hôm sau một người cấp dưới sẽ được đôn lên nắm chức.
Ủy ban CCDI cho thấy một cơ chế riêng biệt ở Trung Quốc, cho phép đơn vị này thẩm tra và bắt giữ bất kì ai trong tổng số 87 triệu đảng viên Trung Quốc. Thực tế, nhiều quan chức cấp thấp cũng bị CCDI điều tra và truy tội. Từ năm 2013 đến nay, ít nhất 100 quan chức đã tự tử hoặc chết trong tù sau khi bị cáo buộc tham nhũng.
Vương Kì Sơn từng phát biểu về nguyện vọng xây dựng một thể chế lành mạnh, tránh xa mọi tàn dư tham nhũng: “Nhiệm vụ của chúng tôi là triệt tiêu tham nhũng và xóa bỏ hoàn toàn tệ nạn này”.
Khi trở thành Chủ tịch CCDI năm 2012, nhiều chuyên gia chính trị nói rằng ông không có con cái nên chẳng cần lo tích trữ tài sản. Nhiều quan chức cấp cao Trung Quốc khác đã tích tụ tài sản tham ô trong vài thập kỷ vì họ có con.
Một nguyên nhân khác lí giải vì sao ông Vương được chọn là bởi ông không phải là thành viên của bất kì hội, nhóm chính trị nào. Ông chỉ có mối quan hệ rất mật thiết với những cán bộ cấp cao.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của Vương là tính thẳng thắn, chính trực khiến nhiều lãnh đạo cấp cao để mắt. Năm 1990, ông khẳng định chính sự xu nịnh, tham nhũng đã làm tha hóa bộ máy chính trị Trung Quốc.
Là chủ tịch của Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc trong giai đoạn giữa thập niên 1990, ông đã xây dựng nên ngân hàng đầu tư chính danh đầu tiên ở Trung Quốc có đối tác với tập đoàn Morgan Stanley (Mỹ). Cuối thập niên 90, ông đích thân giám sát vụ phá sản trị giá 4 tỉ USD của Tập đoàn Đầu tư và Quỹ tín thác quốc tế Quảng Đông.
Năm 2003, khi đại dịch SARS tấn công Bắc Kinh, ông Vương trở thành thị trưởng và ra tay rất nhanh giải quyết thảm họa sức khỏe này. Năm 2008 khi khủng hoảng tài chính toàn cầu lan tới Trung Quốc, ông đã cứu Bắc Kinh “một bàn thua trông thấy”.
Vương Kì Sơn thường được xem là người đàn ông quan trọng khi đàm phán với các quốc gia phương Tây và Mỹ. Ông nói rằng bộ phim truyền hình Mỹ ông yêu thích nhất là House of Cards, trong đó diễn viên chính là tài tử Kevin Spacey.
Henry Paulson, cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ, từng làm việc với Vương trong suy thoái kinh tế 2008 và vụ phá sản Quảng Đông năm 1990, nói: “Vương Kì Sơn là một sử gia nhiệt thành, thích tranh luật triết học và có óc hài hước thâm sâu”.
Romania thông qua kế hoạch trưng cầu ý dân cải cách chống tham nhũng. Quốc hội Romania ngày 13/2 đã nhất trí thông qua kế hoạch tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân về cải cách chống tham nhũng, trong bối cảnh làn sóng biểu tình trên đường phố đã khiến chính phủ phải rút lại các sắc lệnh bị cáo buộc là dung túng tham nhũng.
Kế hoạch trưng cầu ý dân do Tổng thống Klaus Iohannis đề xuất. Tổng thống Iohannis là người chỉ trích mạnh mẽ chính phủ cánh tả của Thủ tướng Sorin Grindeanu về các sắc lệnh nói trên.
Sau khi kế hoạch đã được Quốc hội nhất trí, Tổng thống sẽ đề xuất câu hỏi trưng cầu và thời gian tiến hành trưng cầu.
Làn sóng biểu tình tiếp diễn tại Romania trong hai tuần qua nhằm kêu gọi chính phủ từ chức vì bị cáo buộc dung túng tham nhũng. Cao điểm đợt biểu tình là ngày 5/2, với khoảng 500.000 người tham gia. Tối 13/2, khoảng 2.000 người biểu tình tập trung tại thủ đô Bucharest trong ngày biểu tình thứ 14 liên tiếp.
Các cuộc biểu tình chưa có dấu hiệu giảm bớt mặc dù Thủ tướng Sorin Grindeanu ngày 5/2 đã phải tuyên bố hủy bỏ các sắc lệnh gây nhiều tranh cãi, theo đó miễn truy tố tội tham nhũng với số tiền dưới 44.000 euro (47.500 USD) và trả tự do sớm cho một loạt chính trị gia bị cáo buộc lợi dụng chức vụ gây thất thoát tài sản nhà nước.
Nếu các sắc lệnh này được thông qua, trong danh sách các quan chức thoát án tham nhũng sẽ có cả lãnh đạo đảng PSD cầm quyền, ông Liviu Dragnea, người đang bị xét xử với cáo buộc lạm dụng chức quyền gây thất thoát khoảng 24.000 euro.
Người biểu tình Romania cho biết họ đã mất "hoàn toàn niềm tin" vào chính phủ hiện tại và muốn có một cuộc bầu cử sớm, ngay cả sau khi các sắc lệnh nói trên đã bị hủy bỏ và Bộ trưởng Tư pháp Florin Iordache phải từ chức trong nỗ lực nhằm xoa dịu dư luận trong và ngoài nước.
Romania gia nhập Liên minh châu Âu (EU) năm 2007 và luôn phải chịu sức ép từ EU về những tiến bộ chậm chạp trong cuộc chiến chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức. ./. đầu trang(
|
|||