|
Ngày 17 tháng 12 năm 2016
CHÍNH SÁCH MỚI
TIÊU ĐIỂM
PHÁT NGÔN NÓNG
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
SAI PHẠM
TRÁI KHOÁY
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH MỚI
Quy định phí sở hữu công nghiệp. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 263 /2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp.
Tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài khi nộp đơn, hồ sơ yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công việc, dịch vụ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp phải nộp phí, lệ phí theo quy định tại Thông tư này.
Đối với lệ phí nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp: Lệ phí nộp đơn (gồm cả đơn tách, đơn chuyển đổi) là 150.000 đồng; lệ phí yêu cầu gia hạn thời hạn trả lời thông báo của Tổ chức thu phí, lệ phí (mỗi lần được phép gia hạn) là 120.000 đồng.
Về lệ phí cấp Văn bằng bảo hộ, cấp chứng nhận đăng ký Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, Thông tư quy định lệ phí cấp Văn bằng bảo hộ 120.000 đồng; lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp 120.000 đồng.
Lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp 200.000 đồng...
Cục Sở hữu trí tuệ thực hiện công việc, dịch vụ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là tổ chức thu phí, lệ phí sở hữu công nghiệp.
Phí, lệ phí quy định tại Thông tư này được thu bằng đồng Việt Nam, trừ trường hợp thu phí thông qua Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) được thu bằng Franc Thụy Sỹ (CHF) trên cơ sở quy đổi mức thu bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái chính thức của Liên hợp quốc.
Tổ chức, cá nhân nộp phí, lệ phí sở hữu công nghiệp bằng tiền mặt hoặc qua dịch vụ bưu chính cho tổ chức thu phí, lệ phí hoặc chuyển khoản vào tài khoản của tổ chức thu phí, lệ phí.
Tổ chức thu lệ phí nộp toàn bộ số tiền lệ phí thu được vào ngân sách nhà nước.
Tổ chức thu phí được để lại 70% số tiền phí thu được trước khi nộp ngân sách nhà nước, để trang trải các chi phí cho việc thực hiện công việc, dịch vụ và thu phí theo quy định. Số còn lại 30% trên tổng số tiền phí thu được nộp vào ngân sách nhà nước.
Thông tư này có hiệu lực từ 01/01/2017.
Phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt là 8% tổng doanh thu. Từ ngày 1/1/2017, mức thu, chế độ thu, nộp phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 295/2016/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành.
Theo đó, Thông tư này quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do Nhà nước đầu tư để chạy tàu.
Doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt khi sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt để chạy tàu phải nộp phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt theo quy định tại Thông tư này.
Không thu phí đối với việc sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt phục vụ cho các mục đích gồm: Kiểm tra, sửa chữa, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt; Phục vụ phòng chống lụt bão và cứu hộ, cứu nạn đường sắt và Phục vụ nhu cầu quốc phòng và an ninh quốc gia.
Mức phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt được xác định là 8% trên doanh thu kinh doanh vận tải đường sắt.
Doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt thực hiện nộp 100% số tiền phí vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, được hạch toán khoản tiền phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt phải nộp vào chi phí hợp lý của hoạt động kinh doanh vận tải đường sắt khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2017.
Phân công chuẩn bị phiên họp thứ 5 UBTVQH. Để chuẩn bị cho Phiên họp thứ 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (từ ngày 19-22/12/2016), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phân công các thành viên Chính phủ chuẩn bị một số tờ trình, báo cáo.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chuẩn bị Tờ trình của Chính phủ về việc kéo dài thời gian thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trụ sở cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Bộ trưởng Bộ Tài chính chuẩn bị Tờ trình của Chính phủ về dự án Pháp lệnh phí, lệ phí Tòa án; Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành Nghị định quy định về một số cơ chế tài chính, ngân sách đặc thù cho Thành phố Hà Nội.
Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp chuẩn bị Báo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.
Bộ trưởng Bộ Công Thương chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết số 1052/NQ-UBTVQH ngày 24/10/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về một số định hướng, nhiệm vụ và giải pháp thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chuẩn bị Báo cáo tiếp thu, chỉnh lý về một số vấn đề lớn của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015.
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị Tờ trình của Chính phủ về việc điều chỉnh kế hoạch vốn nước ngoài năm 2016.
Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chuẩn bị Tờ trình của Chính phủ về dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.
Giảm phí đường bộ Quốc lộ 1 đoạn tránh TP Biên Hoà – Đồng Nai. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 318/2016/TT-BTC sửa đổi Thông tư số 37/2014/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ trạm thu phí Quốc lộ 1 đoạn tránh TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Theo Thông tư 318, mức phí sử dụng đường bộ tại trạm thu phí Quốc lộ 1 đoạn tránh TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai được điều chỉnh giảm với một số loại xe.
Cụ thể, theo biểu phí mới, mức thu đối với xe tải có tải trọng từ 10 tấn đến dưới 18 tấn; xe chở hàng bằng container 20 fit và xe tải có tải trọng từ 18 tấn trở lên; xe chở hàng bằng container 40 fit được giảm 20.000 đồng/vé/lượt, xuống còn 120.000 đồng và 180.000 đồng/vé/lượt.
Mức thu vé tháng đối với 2 nhóm xe trên được điều chỉnh giảm 600.000 đồng/tháng xuống còn lần lượt là 3.600.000 đồng/tháng và 5.400.000 đồng/tháng.
Đối với vé quý, giảm 1.630.000 đồng/vé quý đối với xe tải có tải trọng từ 10 tấn đến dưới 18 tấn và xe chở hàng bằng Container 20 fit; sẽ giảm 1.620.000 đồng/vé quý đối với xe tải có tải trọng từ 18 tấn trở lên; xe chở hàng bằng container 40 fit.
Các nhóm xe còn lại là xe dưới 12 ghế ngồi, xe tải có tải trọng dưới 2 tấn, các loại xe buýt vận tải khách công cộng; xe từ 12 ghế đến 30 ghế, xe tải có tải trọng từ 2 tấn đến dưới 4 tấn; xe từ 31 ghế ngồi trở lên; xe tải có tải trọng từ 4 tấn đến dưới 10 tấn thì mức phí vẫn giữ nguyên là 35.000 đồng, 50.000 đồng và 75.000 đồng/vé/lượt.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2016.
Qui định mới về phí nhượng quyền khai thác cảng hàng không, sân bay. Từ ngày 1/1/2017, mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý sử dụng phí nhượng quyền khai thác cảng hàng không, sân bay được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 247/2016/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành.
Người nộp phí là các tổ chức, cá nhân khai thác kết cấu hạ tầng cảng hàng không, sân bay cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay và kinh doanh cảng hàng không.
Tổ chức thu phí là các Cảng vụ hàng không (Cảng vụ hàng không miền Bắc, Cảng vụ hàng không miền Trung, Cảng vụ hàng không miền Nam) thuộc Cục Hàng không Việt Nam.
Mức thu phí được quy định như sau: Đối với dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, mức thu là 165.000 đồng/lượt hạ hoặc cất cánh; kinh doanh cảng hàng không mức thu 335.000 đồng/lượt hạ hoặc cất cánh.
Trong đó mức thu phí được tính trên sản lượng chuyến bay hạ cánh hoặc cất cánh (sản lượng tính theo lượt hạ cánh hoặc cất cánh) đi hoặc đến các cảng hàng không thuộc khu vực do Cảng vụ hàng không thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Miễn thu phí đối với các trường hợp: Chuyến bay chuyên cơ (không bao gồm tàu bay chuyên khoang hoặc thuê khoang cho mục đích chuyên cơ); chuyến bay của tàu bay công vụ; chuyến bay tìm kiếm cứu nạn, vận chuyển hàng viện trợ nhân đạo, cứu trợ lũ lụt, thiên tai và làm nhiệm vụ nhân đạo khác.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017.
Quy định về đăng kiểm tàu biển Việt Nam. Bộ giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 40/2016/TT-BGTVT quy định về đăng kiểm tàu biển Việt Nam.
Theo đó, nội dung công tác đăng kiểm gồm: Duyệt các tài liệu hướng dẫn tàu biển; thẩm định thiết kế tàu biển; kiểm định, phân cấp và cấp giấy chứng nhận kỹ thuật về an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường cho tàu biển trong đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi, nhập khẩu và khai thác sử dụng; đánh giá và cấp giấy chứng nhận quản lý an toàn, an ninh hàng hải và lao động hàng hải cho tàu biển theo quy định; giám định trạng thái kỹ thuật phục vụ việc mua, bán, thuê tàu biển, điều tra sự cố, tai nạn tàu biển theo yêu cầu của cơ quan nhà nước hoặc chủ tàu biển, người mua, bán bảo hiểm, người mua, bán và thuê tàu biển; đánh giá và cấp giấy chứng nhận phù hợp cho công ty tàu biển; cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ cán bộ quản lý an toàn và cán bộ an ninh công ty tàu biển, sỹ quan an ninh tàu biển...
Có 3 loại hình kiểm định tàu biển bao gồm: Kiểm định lần đầu (kiểm tra, giám sát kỹ thuật tàu biển đóng mới, tàu biển nhập khẩu); kiểm định chu kỳ (kiểm định định kỳ, kiểm định trung gian, kiểm định trên đà, kiểm định hàng năm); kiểm định bất thường.
Nội dung và thời hạn của các loại hình kiểm định tàu biển theo quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân cấp và đóng tàu biển, đo dung tích tàu biển, trang bị an toàn tàu biển, thiết bị nâng dùng trên tàu biển, các hệ thống ngăn ngừa ô nhiễm và các điều ước quốc tế liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Thông tư nêu rõ, tàu biển không hoạt động tuyến quốc tế được cấp hồ sơ đăng kiểm theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Tàu biển hoạt động tuyến quốc tế được cấp hồ sơ đăng kiểm theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Hồ sơ đăng kiểm cấp cho tàu biển bao gồm: Các giấy chứng nhận theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về Danh mục giấy chứng nhận và tài liệu của tàu biển, tàu biển công vụ, tàu ngầm, tàu lặn Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; các báo cáo kiểm định tàu biển được cấp khi kiểm tra thực tế tàu.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017.
Thủ tướng chỉ đạo ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ. Thủ tướng Chính phủ vừa có Công điện số 2263/CĐ-TTg về chủ động ứng phó, khắc phục mưa lũ.
Nội dung công điện như sau:
Từ ngày 11 tháng 12 năm 2016 đến nay, tại các tỉnh miền Trung tiếp tục xảy ra các đợt mưa lớn, nhiều hồ chứa nước phải vận hành xả lũ đã gây ngập lụt tại vùng thấp trũng, ven sông suối thuộc các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, thiệt hại người, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của Nhân dân.
Dự báo, từ ngày 15 đến 18 tháng 12, tại các tỉnh từ Thừa Thiên Huế đến Khánh Hòa sẽ tiếp tục có mưa lớn trên diện rộng với lượng mưa phổ biến từ 200 - 300 mm, đặc biệt từ Quảng Ngãi tới Khánh Hòa 300 - 400 mm, một số nơi có thể mưa cục bộ lớn hơn; lũ các sông từ Thừa Thiên Huế đến Phú Yên lên nhanh, đêm nay (ngày 15 tháng 12) các sông ở Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế và bắc Phú Yên lên báo động 2 đến báo động 3, đỉnh lũ trên các sông ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên có thể lên trên mức báo động 3 từ 0,5 - 1,3 m (đợt lũ này tương đương và có thể cao hơn đợt lũ đầu tháng 12 vừa qua); nguy cơ tiếp tục xảy ra ngập lụt kéo dài tại vùng thấp trũng, khu vực ven sông, nhất là tại các tỉnh từ Quảng Nam đến Khánh Hòa.
Đây là đợt mưa lớn, trong khi dung tích trữ của nhiều hồ chứa nước trong khu vực đã cơ bản đạt mức thiết kế nên sẽ phải vận hành xả lũ, đồng thời khu vực này đã bị ngập lụt nhiều ngày trong các đợt mưa lũ vừa qua, để chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại, kịp thời khắc phục hậu quả, ổn định đời sống Nhân dân trong và sau lũ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia và các đơn vị liên quan theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, mưa lũ, tổ chức dự báo, cung cấp thông tin kịp thời đến các cơ quan chức năng, chính quyền và Nhân dân biết để chủ động chỉ đạo, triển khai các biện pháp ứng phó với mưa lũ.
2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa lũ, kịp thời chỉ đạo, triển khai các biện pháp ứng phó với mưa lũ trên địa bàn theo phương châm “bốn tại chỗ” và cấp báo động; chủ động xử lý các tình huống, sự cố phát sinh trong và sau mưa lũ, khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ, trong đó tập trung:
- Rà soát các khu vực có nguy cơ bị ngập sâu, chia cắt, chủ động sơ tán người dân ra khỏi các khu vực nguy hiểm không bảo đảm an toàn, nhất là đối với các hộ ở ven sông, suối, vùng thấp trũng, khu vực có nguy cơ lũ quét, sạt lở đất.
- Bố trí lực lượng kiểm soát, hướng dẫn giao thông tại các ngầm, tràn, bến đò, khu vực bị ngập sâu, nước chảy xiết; tuyên truyền vận động, hướng dẫn người dân đi lại an toàn trong vùng ngập lũ, tránh chủ quan dẫn tới thiệt hại; căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương quyết định cho học sinh ở các vùng bị ngập sâu, chia cắt nghỉ học để bảo đảm an toàn.
- Triển khai phương án bảo đảm an toàn đê điều, hồ đập, an toàn cho người và phương tiện trên các công trình đang thi công dở dang trên sông, suối.
- Phối hợp chặt chẽ với các chủ hồ kiểm tra, chỉ đạo vận hành an toàn các hồ chứa nước trên địa bàn, góp phần cắt giảm lũ cho hạ du.
- Hướng dẫn neo đậu tàu thuyền bảo đảm an toàn, nhất là ở vùng cửa sông, tránh xảy ra sự cố đứt dây neo, trôi tàu thuyền dẫn tới những thiệt hại về người, phương tiện khi mưa lũ.
- Kịp thời tổ chức thăm hỏi, động viên, hỗ trợ gia đình bị thiệt hại, nhất là các hộ bị thiệt hại về người, mất nhà cửa, hộ nghèo, gia đình chính sách; cứu trợ lương thực, nhu yếu phẩm cho người dân, không để người dân bị đói, khát; chủ động huy động lực lượng hỗ trợ Nhân dân dựng lại nhà cửa, dọn vệ sinh môi trường, tiêu độc, khử trùng, phòng chống dịch bệnh ngay sau khi lũ rút.
3. Bộ Y tế chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và lực lượng y tế cơ sở sẵn sàng lực lượng, cơ số thuốc dự phòng, kịp thời xử lý hỗ trợ địa phương khi có yêu cầu.
4. Bộ Công Thương chỉ đạo kiểm tra, vận hành an toàn, hiệu quả các hồ chứa thủy điện, góp phần cắt giảm lũ cho hạ du, không để xảy ra lũ nhân tạo; vận hành an toàn hệ thống lưới điện và bảo đảm cung cấp điện; có phương án chủ động điều tiết thị trường, bảo đảm cung ứng các hàng hóa thiết yếu phục vụ sinh hoạt của Nhân dân.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo địa phương kiểm tra, vận hành bảo đảm an toàn đê điều, hồ đập, góp phần cắt giảm lũ cho hạ du; chỉ đạo triển khai các biện pháp bảo vệ sản xuất nông nghiệp, chuẩn bị phương án phục hồi sản xuất ngay sau khi lũ rút.
6. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo các cơ quan chức năng rà soát, sẵn sàng lực lượng, vật tư, phương tiện tại các khu vực xung yếu để kịp thời khắc phục nhanh các sự cố sạt lở, bảo đảm giao thông thông suốt, nhất là trên các tuyến quốc lộ, tuyến đường sắt Bắc Nam, kịp thời hỗ trợ địa phương khắc phục sự cố trên các trục giao thông chính; chủ động triển khai phương án giải quyết ách tắc giao thông trên các tuyến quốc lộ, đường sắt khi xảy ra sự cố ngập lụt, sạt lở.
7. Bộ Công an chỉ đạo lực lượng công an các địa phương bảo đảm an ninh trật tự vùng bị thiên tai, chủ động cấm phương tiện giao thông hoạt động trên các tuyến đường bị ngập sâu, bố trí lực lượng canh gác, kiểm soát và hướng dẫn giao thông qua các khu vực bị ngập lũ, đặc biệt qua các ngầm, tràn, khu vực nước chảy xiết; sẵn sàng hỗ trợ sơ tán nhân dân, phối hợp thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn khi có yêu cầu.
8. Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn, Bộ Quốc phòng chỉ đạo các lực lượng đóng quân trên địa bàn sẵn sàng phương tiện, lực lượng, chủ động tham gia hỗ trợ địa phương và nhân dân ứng phó, khắc phục nhanh hậu quả mưa lũ.
9. Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương tăng thời lượng phát sóng; thường xuyên thông báo diễn biến mưa lũ, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các biện pháp phòng, tránh thiệt hại do mưa lũ để các địa phương và nhân dân biết, chủ động phòng tránh.
10. Các Bộ, ngành khác: theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp với các địa phương triển khai các phương án đối phó, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, vật tư cần thiết để hỗ trợ địa phương đối phó với mưa lũ.
11. Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống thiên tai tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa lũ, kịp thời chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai các biện pháp ứng phó; tổng hợp tình hình thiệt hại, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định. đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
5 trong số 20 sở, ngành của TP. Cần Thơ thừa chức danh phó giám đốc. Phải chăng thành phố đang thể hiện tầm nhìn xa của mình?
Theo VNExpress, ngày 6/12 vừa qua, UBND TP. Cần Thơ đã gửi báo cáo cho Bộ Nội vụ về việc có 5 trong số 20 sở, ngành của thành phố thừa phó giám đốc so với quy định.
Trao đổi với báo chí, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ – ông Võ Thành Thống cho biết: Trong các cấp phó được bổ nhiệm dư, có một số trường hợp “dự phòng” cho những người về hưu trong năm 2017. Số thừa còn lại, thành phố sẽ chuyển qua những đơn vị đang thiếu. Đương nhiên, vấn đề về năng lực, chuyên môn luôn được chú trọng để phát huy tính hiệu quả của công việc.
Vậy, theo như lời giải thích của Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ, không hề có sự “bừa bãi” trong việc bổ nhiệm lãnh đạo. Mà ngược lại, việc thừa thãi cán bộ như trên còn khẳng định được tầm nhìn xa, trông rộng của các cơ quan chức năng.
Đã có rất nhiều phản ứng trước lời giải thích của TP. Cần Thơ. Như PGS. TS Nguyễn Hữu Tri (trả lời phỏng vấn Báo Đất Việt) đã lên tiếng cảnh báo những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả làm việc như không còn tâm lý cạnh tranh hay tạo điều kiện cho tham nhũng xảy ra…
Đương nhiên những vấn đề mà PGS. TS nói, về mặt… tiêu cực thì hoàn toàn hợp tình, hợp lý. Nhưng hãy thử đeo đôi mắt kính màu hồng, nhìn đời tích cực hơn, lạc quan hơn thì tính chất của sự việc sẽ hoàn toàn khác.
Đành rằng việc bố trí nhiều “chân sơ cua” trong bộ máy quản lý sẽ khiến những người ở vị trí “thấp” thui chột tâm lý cạnh tranh vì nghĩ rằng cố mãi cũng chẳng ngoi lên được. Nhưng ngược lại, sự việc đó lại thúc đấy tinh thần cố gắng và sự phấn đấu của những người ngồi ở vị trí lãnh đạo và của chính những “ứng cử viên” cho ngôi vị họ phấn đấu.
Cũng giống như việc thi đại học, lượng thí sinh càng nhiều thì tỉ lệ chọi càng cao. Điều đó đồng nghĩa với việc tiêu chí để lựa chọn càng và sức ép lên “thí sinh” càng lớn, khiến thí sinh phải nỗ lực hết mình. Vậy chẳng phải thành phố đã tạo được đòn bẩy cho sự trì trệ, ì ạch bấy lâu nay của bộ máy công quyền bằng cách tăng tỉ lệ chọi hay sao?
Nhưng đúng là mọi sự so sánh đều khập khiễng, thậm chí có phần… mâu thuẫn. Nếu các em học sinh, sinh viên phải lao tâm khổ tứ, đầu tư gần như hết quỹ thời gian, tiền bạc của mình để đánh đổi lấy sự danh giá trong học tập mà những nơi có tỉ lệ chọi cao mang lại thì sự đánh đổi của những “ứng cử viên” dự bị trong bộ máy sở, ngành ở Cần Thơ lại hoàn toàn ngược lại.
Ngoài “áp lực” bon chen mà bất cứ ứng cử viên nào cũng gặp phải thì những “lãnh đạo dự bị” nơi đây còn được khuyến mãi thêm những ưu đãi mà có lẽ nhiều người phấn đấu cả đời cũng không thể được. Đó là danh, là lợi, là quyền lực, là chỗ đứng chắc chân trong xã hội…
Thôi thì việc “dự phòng lãnh đạo” cũng là một bước lo xa của thành phố. Nhưng nếu đã sử dụng khái niệm “dự phòng” thì cũng nên đặt những người “dự bị” đó vào đúng vị trí của họ là ở “phía cánh gà” chứ không phải trên “vũ đài chính trị” và tặng họ quá nhiều quyền lợi cũng giống như những người “tham chiến trực tiếp” như thế.
Nhưng dù sao thì sau sự việc này, chúng ta mới thấy không phải Đà Nẵng, cũng chẳng phải TP. Hồ Chí Minh mà Cần Thơ mới là thành phố đáng sống nhất bởi tầm nhìn xa và trái tim bao la của những nhà chức trách nơi đây. (Người Đưa Tin 11/12) đầu trang(
PHÁT NGÔN NÓNG
Không sợ nói ra khuyết điểm, tiêu cực
“Chúng ta không sợ nói ra khuyết điểm, tiêu cực; đồng thời cũng không cho phép ai lợi dụng việc đấu tranh khắc phục khuyết điểm, tiêu cực để bôi nhọ, kích động chống phá Đảng ta, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. (Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ngày 9-12)
Đừng để “sân trước, sân sau”
“Vẫn còn gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn, chiếm giá trị từ 70-100% vốn Nhà nước. Chúng ta phải tăng cường quản lý tốt nhất, đừng để “sân trước, sân sau” ”. (Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị toàn quốc toàn quốc triển khai công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước ngày 6-12).
Khẩn trương hoàn thiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai đoạn 2016-2020.
Để hoàn thiện Đề án và dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016-2020, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu Bộ tài chính bổ sung đánh giá kết quả thực hiện theo nội dung quy định tại Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hoàn thành mục tiêu tái cơ cấu đã đề ra; việc thoái vốn nhà nước ở công ty cổ phần mà Nhà nước không cần chi phối; việc hoàn thành nhiệm vụ của doanh nghiệp công ích; nhiệm vụ tái cơ cấu theo ngành, lĩnh vực không phân biệt cấp, cơ quan quản lý.
Bộ Tài chính bám sát Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, Nghị quyết số 24/2016/QH14 của Quốc hội về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.
Đồng thời rà soát, đối chiếu với nội dung tái cơ cấu DNNN nêu trong Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế 2016-2020 của Chính phủ để bổ sung thêm các đánh giá, nhận định; cụ thể hóa các nội dung về mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016-2020.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính trước ngày 15/12/2016, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Đề án tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016-2020.
Hoàn thiện quy định chế độ tiền lương công nhân, viên chức quốc phòng
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa có kết luận về dự thảo Nghị định quy định chế độ tiền lương của công nhân quốc phòng và chế độ phụ cấp thâm niên đối với công nhân và viên chức quốc phòng.
Theo đó, Phó Thủ tướng giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan rà soát lại toàn bộ hồ sơ dự thảo Nghị định, trên cơ sở đó báo cáo rõ phạm vi và đối tượng áp dụng Nghị định. Đồng thời bổ sung quy định chuyển xếp lương vào dự thảo Nghị định; không bổ sung các chế độ phụ cấp, trợ cấp mới.
Dự thảo Nghị đinh được quy định cụ thể để áp dụng ngay mà không cần hướng dẫn hay viện dẫn văn bản khác. Bộ Quốc phòng khẩn trương hoàn chỉnh dự thảo Nghị định trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/12/2016.
Thanh kiểm tra doanh nghiệp 1 năm/1 lần, không chồng chéo
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan khi xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, kiểm toán phải đảm bảo việc tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán về tài chính, thuế đối với doanh nghiệp 1 năm/1 lần, không trùng lắp, chồng chéo.
Để tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan khi xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, kiểm toán phải chủ động phối hợp, cùng thống nhất để đảm bảo việc tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán về tài chính, thuế đối với doanh nghiệp 1 năm/1 lần, không trùng lắp, chồng chéo và phải công khai trước cho doanh nghiệp biết (trừ trường hợp đặc biệt phát hiện doanh nghiệp vi phạm phải thực hiện theo quy định của pháp luật).
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu không thanh tra, kiểm tra khi không có căn cứ theo quy định của pháp luật. Khi thanh tra, kiểm tra, kiểm toán không được thanh tra, kiểm tra, kiểm toán lại những vấn đề, nội dung mà các cơ quan có thẩm quyền đã kết luận, xử lý trước đó và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của mình.
Thanh tra Chính phủ sẽ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và cơ quan liên quan theo dõi, giám sát việc thực hiện.
Chuyển 3 đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Quảng Ninh thành Cty cổ phần
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về danh mục đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh chuyển thành công ty cổ phần.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đồng ý chuyển 3 đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần, nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ hoặc không nắm giữ cổ phần gồm: Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống thủy sản, Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp Quảng Ninh; Trung tâm Tư vấn và Kiểm định chất lượng công trình xây dựng nông nghiệp.
Chuyển sang hình thức giải thể đối với đơn vị không thực hiện cổ phần hóa được.
Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Quảng Ninh là cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần (nếu còn vốn nhà nước).
Thủ tướng Chính phủ ủy quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt phương án cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập nêu trên và triển khai các công việc liên quan theo quy định hiện hành, chịu trách nhiệm và đảm bảo thực hiện hiệu quả.
Lập đường dây nóng tố giác việc bơm tạp chất vào tôm
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án kiểm soát ngăn chặn hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất, kinh doanh sản phẩm tôm có tạp chất.
Một trong những nhiệm vụ và các giải pháp chính của Đề án là tuyên truyền phổ biến pháp luật, ký cam kết, phát hiện và tố giác tội phạm. Cụ thể, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phổ biến cho các đối tượng có liên quan về: Nguy cơ, tác hại của việc đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất kinh doanh tôm có tạp chất; cách thức nhận biết sản phẩm tôm có tạp chất và tố giác hành vi vi phạm tạp chất; các chế tài xử lý phải chấp hành khi bị phát hiện vi phạm tạp chất.
Riêng đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, chỉ đạo thành lập các đường dây nóng tiếp nhận thông tin tố giác hành vi vi phạm tạp chất trong tôm tại các sở, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp; chỉ đạo việc tổ chức ký cam kết không vi phạm tạp chất, công bố công khai danh sách các cơ sở đã ký cam kết theo địa bàn.
Bộ Công an, Bộ NN-PTNT, Bộ Công Thương phối hợp với các kênh phương tiện thông tin đại chúng đăng tải bản tin về tình hình bơm chích tạp chất vào tôm và công khai tên, địa chỉ và kết quả xử lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm về tạp chất. Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) rà soát, sửa đổi, hoàn thiện Chương trình Các doanh nghiệp chế biến tôm “nói không với tôm tạp chất” vận động các doanh nghiệp hội viên sản xuất chế biến tôm tham gia Chương trình.
Hội, hiệp hội ngành nghề khác có liên quan đến sản xuất, chế biến, xuất khẩu tôm (các hội/hiệp hội thủy sản các địa phương, Hội Nghề cá Việt Nam,…) tuyên truyền, phổ biến, vận động các hội viên tuân thủ các quy định pháp luật về kiểm soát, ngăn chặn hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất kinh doanh tôm có chứa tạp chất.
Về hoạt động kiểm tra thường xuyên, Bộ NN-PTNN tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định về kiểm soát, ngăn chặn tạp chất kết hợp kiểm tra, đánh giá điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định pháp luật... Bộ Công an tổ chức triển khai các biện pháp nghiệp vụ, thu thập thông tin, trinh sát để đấu tranh phòng ngừa và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định pháp luật....
Ngoài ra, tổ chức thanh tra theo kế hoạch và đột xuất, thanh kiểm tra liên ngành tăng cường tháng cao điểm nhằm phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm tạp chất.
Theo Đề án, mục tiêu đến hết năm 2017, 100% cơ sở nuôi tôm tại địa bàn 4 tỉnh trọng điểm: Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang ký cam kết không đưa tạp chất vào tôm trước khi tiêu thụ; 100% cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến tại địa bàn 4 tỉnh trọng điểm: Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang ký cam kết không đưa tạp chất vào tôm; không mua tôm tạp chất.
Đến hết năm 2018, cơ bản chấm dứt tình trạng đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu tại các tỉnh trọng điểm và trên phạm vi cả nước.
Viện Y học biển cần tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học
Văn phòng Chính phủ vừa ra thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Viện Y học biển, Bộ Y tế.
Trong 15 năm qua, Viện Y học biển đã có những bước phát triển trong công tác nghiên cứu, đào tạo và chăm sóc sức khỏe trong một lĩnh vực còn mới ở Việt Nam là y học biển; góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bà con ngư dân, lực lượng lao động biển của 28 tỉnh, thành ven biển trên cả nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.
Việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân biển, đảo luôn là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của Đảng, Nhà nước. Y học biển cần tiếp tục nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân biển, đảo. Viện Y học biển là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học biển và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân biển, đảo.
Vì vậy, để phát triển y học biển trong thời gian tới, Viện cần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt chú trọng phát triển Viện Y học biển sớm trở thành cơ sở nghiên cứu, ứng dụng các khoa học công nghệ tiên tiến phục vụ chuyên ngành y học biển.
Viện Y học biển cần tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, giữ vị trí là đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về y học biển trong phạm vi cả nước, sớm trở thành một trung tâm y học biển của khu vực, phấn đấu 100% công trình nghiên cứu khoa học, đề tài nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và phục vụ thiết thực cho việc hoạch định chính sách và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của ngư dân và lao động biển.
Đồng thời, phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học, hình thành được nhiều nhóm nghiên cứu mạnh, đủ năng lực tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến y học biển.
Viện cần hoàn thiện mô hình quản trị theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế. Cải thiện cơ sở vật chất để đáp ứng tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của ngư dân và lao động biển.
Thủ tướng cũng yêu cầu Viện Y học biển nâng cao chất lượng đào tạo, đa dạng hóa các chương trình, các hình thức đào tạo: Chú trọng đào tạo chính quy cho đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế làm công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của ngư dân và lao động biển, đủ khả năng để cấp cứu và điều trị cho các trường hợp nặng do đặc thù nghề nghiệp liên quan đến lao động biển, đảo. Đồng thời đào tạo các kỹ năng thiết thực, phù hợp với điều kiện sinh hoạt và lao động của người dân biển, đảo, đặc biệt là các ngư dân.
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực, chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ngư dân và lực lượng lao động biển; tăng cường công tác kết hợp quân dân y để thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề xuất của Viện về việc thành lập Bệnh viện Y học biển với quy mô phù hợp, trực thuộc Viện Y học biển trên cơ sở Trung tâm tiếp nhận cấp cứu, khám, chữa bệnh hiện nay của Viện. Bệnh viện Y học biển là cơ sở thực hành của Viện Y học biển trong công tác nghiên cứu, đào tạo, đồng thời là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho bà con ngư dân.
Viện Y học biển xây dựng Đề án thành lập Bệnh viện, với mô hình quản trị tiên tiến, theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động, tổ chức bộ máy và tài chính, báo cáo Bộ Y tế trình Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2017.
Thủ tướng gửi thư khen các cô giáo Trường Mầm non xã An Hiệp
Thủ tướng Chính phủ vừa gửi thư khen các cô giáo Trường Mầm non xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên đã cứu giúp và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cháu học sinh trong khi lũ về nhanh, gây ngập lụt nghiêm trọng tại Trường.
Dưới đây là nội dung thư khen của Thủ tướng:
Tôi rất xúc động được biết tin, trong ngày 13 tháng 12 năm 2016, với lòng dũng cảm, trách nhiệm và tình người sâu sắc, các cô giáo Trường Mầm non xã An Hiệp và người dân địa phương đã cứu giúp và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cháu học sinh trong khi lũ về nhanh, gây ngập lụt nghiêm trọng tại Trường. Thật cảm động trước suy nghĩ của các cô giáo: “thà cô chết chứ không để trò chết”. Thay mặt Chính phủ, tôi gửi lời biểu dương, khen ngợi các cô giáo Trường Mầm non xã An Hiệp và người dân địa phương đã tham gia cứu giúp các cháu.
Nhân đây, tôi yêu cầu chính quyền địa phương các vùng bị lũ lụt vừa qua khẩn trương có những biện pháp phù hợp để khắc phục thiệt hại, sớm ổn định việc học tập cho các cháu, trong đó có Trường mầm non An Hiệp.
Tôi cũng đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên và Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo rà soát trên địa bàn tỉnh Phú Yên cũng như trên phạm vi cả nước đối với các trường học, nhất là các trường mầm non để chủ động có các biện pháp phòng, tránh và cứu hộ cứu nạn cần thiết, nhằm bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các cháu khi có thiên tai, mưa lũ lớn xảy ra.
Quy hoạch hệ thống báo chí đối ngoại
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Quy hoạch hệ thống báo chí đối ngoại đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Quy hoạch đặt mục tiêu phát triển một báo điện tử đối ngoại chuyên biệt, chủ lực với các thứ tiếng chính (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga) nằm trong nhóm 10 báo điện tử có lượng truy cập cao nhất từ Việt Nam và nhóm 5 báo điện tử có lượng truy cập cao nhất từ nước ngoài đối với tờ báo điện tử của Việt Nam.
Bên cạnh đó, phát triển một số tờ báo in, tạp chí in đối ngoại chuyên biệt, chủ lực với các ngôn ngữ chính: Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga mang tầm khu vực và thế giới, đồng thời khuyến khích các cơ quan báo chí có các chuyên mục, bài viết phục vụ nhiệm vụ đối ngoại.
Đồng thời, xác định cơ quan báo chí đối ngoại chủ lực quốc gia là Thông tấn xã Việt Nam với các sản phẩm truyền thông chủ lực gồm: Báo in, tạp chí in, báo điện tử; cơ quan hỗ trợ là các cơ quan báo chí khác ở trung ương, địa phương và nước ngoài, trong đó, các bài viết, chuyên mục trên các báo và tạp chí của các cơ quan báo chí này phục vụ từng đối tượng, địa bàn cụ thể.
Định hướng Quy hoạch đến năm 2020, về phát triển báo chí đối ngoại, trước năm 2020, Thông tấn xã Việt Nam căn cứ vào tình hình thực tế, trên cơ sở các cơ quan báo chí đối ngoại hiện có, đề xuất phát triển một số tờ báo, tạp chí in và báo điện tử đối ngoại quốc gia có tầm cỡ khu vực và thế giới.
Hỗ trợ các báo, tạp chí in, báo điện tử đối ngoại khác để làm lực lượng bổ sung cho các cơ quan báo chí đối ngoại quốc gia của Thông tấn xã Việt Nam; thí điểm hỗ trợ phát triển một tờ báo (tạp chí) in, một báo điện tử của người Việt Nam khu vực trọng điểm ở nước ngoài.
Xây dựng các ấn phẩm, chuyên mục, chuyên đề, bài viết, phóng sự,… đối ngoại bằng tiếng nước ngoài, cụ thể, bên cạnh những ngôn ngữ chủ lực, tiếp tục sản xuất các bản tin, tin bài bằng các thứ tiếng khác như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Ả Rập,...;
Không ngừng cải tiến nội dung tuyên truyền, thay thế một số chuyên mục không còn phù hợp và xây dựng một số chuyên mục mới phù hợp với tình hình và đáp ứng nhu cầu thông tin đối ngoại; khuyến khích các cơ quan báo chí sử dụng các phương thức truyền thông mới, mạng xã hội để đưa các thông tin đến các đối tượng thông tin đối ngoại.
Về định hướng nội dung báo chí đối ngoại, thông tin về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giới thiệu, quảng bá đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam, những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, tiềm năng và hiệu quả trong hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các đối tác; thông tin về tình hình quốc tế cho nhân dân trong nước, chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới.
Bên cạnh đó, phản hồi kịp thời những thông tin sai trái, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phá hoại sự nghiệp đổi mới, độc lập, thống nhất, ổn định, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Cung cấp thông tin phục vụ, hỗ trợ những đơn vị và đối tượng làm công tác thông tin đối ngoại.
Định hướng đến năm 2030, tiếp tục mở rộng khu vực phát hành của báo chí đối ngoại Việt Nam, đặc biệt tại các địa bàn trọng điểm là các nước láng giềng, các nước lớn, các nước trong khối ASEAN, Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, các nước khu vực Mỹ Latinh, đồng bào ta ở nước ngoài. Kết hợp có hiệu quả các phương thức báo chí, tận dụng các thế mạnh về công nghệ để đảm bảo tính kinh tế, hợp lý, tiết kiệm trong đầu tư phát triển báo chí đối ngoại.
Tiếp tục xây dựng, phát triển hệ thống báo chí đối ngoại với đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở dữ liệu phục vụ báo chí đối ngoại. Mở rộng hợp tác quốc tế, đa dạng hóa các hình thức hợp tác với các đối tác nước ngoài nhằm đạt được yêu cầu phục vụ nhiệm vụ thông tin đối ngoại.
Trợ giá lưu giữ, sản xuất giống gốc giống thủy sản
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính quyết định mức trợ giá lưu giữ, sản xuất giống gốc giống thủy sản.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính căn cứ quy định tại Điều 7 Nghị định số 130/2013/NĐ-CP quyết định mức trợ giá, trợ cấp cho lưu giữ, sản xuất, cung ứng giống gốc giống thủy sản theo đúng thẩm quyền.
Đồng thời, Phó Thủ tướng yêu cầu căn cứ Điều 5 và các quy định khác của Nghị định số 130/2013/NĐ-CP, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định rõ, thống nhất về thẩm quyền xây dựng và ban hành danh mục chi tiết các giống gốc thủy sản được lưu giữ, sản xuất, cung ứng theo Nghị định.
Không để nhóm lợi ích chi phối quá trình xây dựng thể chế
Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu các bộ, ngành, địa phương trong quá trình xây dựng thể chế phải giám sát, kiểm tra, kiên quyết không để nhóm lợi ích chi phối; đồng thời, rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, gây phiền hà cho người dân...
Trong năm qua, công tác cải cách hành chính đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Các nội dung cải cách hành chính đạt được kết quả tích cực góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cải cách thể chế tiếp tục được quan tâm; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực được đơn giản, thuận lợi; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; tiêu chí thành lập các tổ chức hành chính thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được xác định cụ thể; việc tinh giản biên chế bước đầu đạt kết quả.
Tuy nhiên, cải cách hành chính vẫn còn những hạn chế: Việc thực hiện thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn bất cập, phiền hà. Công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý của nhiều Bộ, cơ quan, địa phương về kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa được quan tâm đúng mức, việc phát hiện vi phạm, xác định trách nhiệm và xử lý chưa kịp thời, chưa nghiêm...
Để đáp ứng nhiệm vụ phát triển đất nước, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tập trung cải cách hành chính theo các mục tiêu đã đặt ra, bảo đảm hiệu quả của cải cách hành chính song vẫn đạt được mục tiêu quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.
Quá trình xây dựng thể chế phải được giám sát, kiểm tra, kiên quyết không để nhóm lợi ích chi phối và chống được lợi ích nhóm; tiếp tục rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp; công bố công khai, minh bạch các quy trình thủ tục, tạo thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp; tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; kiên quyết loại bỏ tình trạng tiêu cực, nhũng nhiễu, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ công.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ khẩn trương trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan bảo đảm bộ máy tinh gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, giải quyết chồng chéo và thống nhất đầu mối quản lý nhà nước; đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, công chức để khắc phục những bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện; thực hiện đồng bộ các giải pháp để tinh giản biên chế.
Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, trọng tâm là công tác bổ nhiệm, quản lý cán bộ, công chức, viên chức, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức; tổ chức thực hiện nghiêm túc việc đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, trên cơ sở đó tổng hợp số liệu chính xác, thực chất về công tác đánh giá và phân loại; kiên quyết miễn nhiệm, thay thế đối với cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức...
Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức đón tiếp các đoàn vào Lăng viếng Bác
Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức công tác đón tiếp, tuyên truyền nhằm phát huy tốt ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.
Phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các Bộ, ngành chức năng và các địa phương trong việc tổ chức các đoàn Mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình chính sách, người có công vào Lăng viếng Bác.
Đây là nội dung tại Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với vị trí, tính chất quan trọng của Công trình Lăng, khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung tâm chính trị - hành chính Ba Đình, thời gian tới, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cần chủ động nâng cao năng lực, phát huy truyền thống vẻ vang của đơn vị, tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; đi liền với làm tốt công tác đón tiếp, tuyên truyền, phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác.
Bên cạnh đó, khẩn trương nghiên cứu, báo cáo Bộ Quốc phòng để trình Thủ tướng Chính phủ và Ban Bí thư Trung ương Đảng cho ý kiến về việc điều chỉnh thời gian tu bổ định kỳ Lăng Bác hằng năm một cách hợp lý, khoa học để vừa bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, vừa đáp ứng mong muốn của nhân dân, học sinh, sinh viên và khách du lịch được vào Lăng viếng Bác trong tiết trời thu Hà Nội, trong các kỳ họp Quốc hội.
Đồng thời, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn; bổ sung, tăng cường quân số, trang bị; hoàn thiện các phương án tác chiến, phòng vệ từ xa; thường xuyên tổ chức huấn luyện, luyện tập, bảo đảm tuyệt đối không để xảy ra tình trạng cháy, nổ, mất an ninh trật tự, tụ tập trái phép đông người tại khu vực Lăng, Quảng trường Ba Đình, Nhà Quốc hội, Quảng trường Bắc Sơn và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.
Thủ tướng Chính phủ giao UBND thành phố Hà Nội khẩn trương thực hiện việc giải phóng mặt bằng khu nhà phía Nam sân cỏ quảng trường Ba Đình theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 332/TTg-KTN ngày 07/3/2013, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện; bố trí vốn đầu tư nâng cấp, mở rộng 8 km còn lại đoạn đường từ Đại lộ Thăng Long đến đường 87 lên Khu Di tích K9, Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội; bảo đảm giao thông thuận lợi.
Về việc tổ chức đón tiếp, phục vụ người nước ngoài đến tưởng niệm Bác và tham quan tại Khu Di tích K9, Thủ tướng Chính phủ đồng ý về nguyên tắc. Giao Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện phương án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết để đón tiếp, phục vụ nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác và dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ sau thời gian đóng cửa tu bổ định kỳ công trình Lăng. đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Ninh Bình nâng cao chất lượng cán bộ gắn liền tinh giản biên chế. Nhằm tạo nền tảng và sự chuyển biến về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo nội dung Nghị quyết số 39-NQ/TW (ngày 17-4-2015) của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình thành lập Ban Chỉ đạo và ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện thí điểm sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và cải cách hành chính tỉnh.
Tỉnh triển khai thực hiện thí điểm ở TP Ninh Bình và huyện Yên Khánh, sau đó tổng kết, rút kinh nghiệm và chỉ đạo thực hiện trong toàn tỉnh.
Tỉnh ủy cũng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục nâng cao chất lượng, đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy các cấp, đồng thời giúp cán bộ, đảng viên, công chức trong các cơ quan, đơn vị bám sát cơ sở, có kinh nghiệm thực tiễn. Tỉnh quyết định phân công 55 cơ quan, đơn vị kết nghĩa hỗ trợ, giúp đỡ 55 xã có tính chất đặc thù trong phát triển kinh tế, xã hội.
Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp đã và đang tập trung rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và xây dựng quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025. Theo đó, đến hết năm 2016 tỉnh sẽ hoàn thành việc rà soát, bổ sung và xây dựng quy hoạch của cấp huyện, quý I-2017 hoàn thành rà soát, bổ sung và xây dựng quy hoạch cán bộ cấp tỉnh.
Đồng thời, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chú trọng, nhất là cán bộ dự nguồn chủ chốt cấp cơ sở và bồi dưỡng cán bộ mới tham gia cấp ủy lần đầu. Tỉnh có nhiều giải pháp và đầu tư bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp…
Hải Phòng bứt phá trong công tác cải cách hành chính. Đã 3 năm liên tiếp, Hải Phòng giữ vững hạng thứ 2/63 tỉnh/thành cả nước về chỉ số cải cách hành chính.
Năm 2016, với quyết tâm vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nền hành chính công lại tiếp tục tạo ra những bứt phá mới, tạo được lòng tin trong dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Tại buổi tiếp đoàn công tác TW kiểm tra công tác CCHC năm 2016 vào cuối tháng 10 vừa qua, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng Nguyễn Xuân Bình đã khẳng định: Đối với Hải Phòng, CCHC chính là nguồn lực để phát triển. Năm 2016, Hải Phòng xác định chủ đề năm: “Tăng cường kỷ cương thu chi ngân sách - Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh” mà thực chất cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh chính là CCHC.
Quán triệt quan điểm đó, từ đầu năm đến nay, thành phố đã tập trung cao cho việc khắc phục các chỉ số còn thấp. Điều này rất có ý nghĩa đối với người dân, doanh nghiệp trong điều kiện nền hành chính nhà nước còn hạn chế. Song song với việc thường xuyên tổ chức đối thoại trực tuyến về CCHC nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thành phố đã nhìn nhận rõ tính bức thiết phải tạo ra bước đột phá mới trong cải cách thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy. Và sự ra đời, đi vào hoạt động của Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch chính là sự cụ thể hóa chủ trương đó.
Với tính năng ưu việt là đầu mối duy nhất giải quyết mọi TTHC mà trước đây thuộc thẩm quyền giải quyết của 4 sở (KH&ĐT, Tài chính, Xây dựng, TN&MT) như: tiếp nhận, trả kết quả TTHC, cấp giấy chứng nhận về đầu tư, GPMB, triển khai dự án... khi đi vào hoạt động, trung tâm đã trở thành mô hình “một cửa, một cửa liên thông” trong cấp phép đầu tư mới, đáp ứng yêu cầu giải quyết nhanh chóng các thủ tục về đầu tư cho doanh nghiệp.
Ngay trong hội nghị xúc tiến đầu tư được tổ chức vào trung tuần tháng 9 vừa qua, Hải Phòng đã thu hút sự tham gia của gần 500 đại biểu đại diện cho khoảng 300 doanh nghiệp trong, ngoài nước, tiến hành ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư, hợp đồng tín dụng lên tới 12,8 tỷ USD.
Hiện, 100% các sở, ban, ngành, UBND quận/huyện, xã/phường/thị trấn đã thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” giúp người dân, doanh nghiệp chỉ phải đến một cơ quan để giao dịch giải quyết TTHC thay vì phải đến 2,3 cơ quan như trước đây.
100% các sở, ngành, quận/huyện có Cổng thông tin điện tử trong hệ thống Cổng thông tin điện tử thành phố. 100% dịch vụ hành chính công được cung cấp trên Cổng đạt mức độ 2 trở lên; trong đó có tới 131 dịch vụ công đạt mức độ 3 và 39 dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 4. Cổng thông tin điện tử đã phát triển thêm 149 cổng thành phần cấp 3; thêm 4 chuyên trang tiếng nước ngoài (Nhật, Hàn, Anh, Trung).
Các cơ quan TW trên địa bàn thành phố cũng nỗ lực, chủ động trong việc cắt giảm những TTHC không cần thiết. Đơn cử, Cục Hải quan, Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế một cửa quốc gia tại cảng biển Quốc tế. Cục Thuế cắt giảm tổng mức thời gian làm thủ tục thuế cho doanh nghiệp xuống còn 117h/năm. CATP triển khai thí điểm cấp căn cước công dân; trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh cho triển khai hệ thống lấy số thứ tự, xếp hàng, giao giấy hẹn tự động.
Qua đó, vừa đáp ứng tốt yêu cầu tuyên truyền, quảng bá, thu hút đầu tư vừa đảm bảo tiến trình hội nhập quốc tế. Môi trường đầu tư, kinh doanh của thành phố theo đó đã được cải thiện đáng kể, nhiều dự án quan trọng được khởi công, khánh thành, đưa Hải Phòng trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI...
Không chỉ đi đầu trong xây dựng mô hình “một cửa về đầu tư”, Hải Phòng còn được cả nước biết đến là địa phương tiên phong trong xây dựng mô hình “Chính quyền điện tử”. Cấu trúc “Chính quyền điện tử” đang dần hình thành tại 2 quận Hồng Bàng, Ngô Quyền. Chính thức khai trương mô hình từ tháng 5/2015, ông Nguyễn Quốc Thái - Trưởng phòng Nội vụ quận Ngô Quyền chia sẻ: Hiện, hệ thống “một cửa điện tử” quận đã cung cấp 108/228 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3.
Đặc biệt, từ năm 2015 quận Ngô Quyền đã cập nhật được trên 124,2 nghìn cơ sở dữ liệu (CSDL) công dân; gần 6,4 nghìn CSDL doanh nghiệp lên hệ thống CSDL dùng chung phục vụ đắc lực cho quá trình xác nhận thông tin, giải quyết TTHC.
Vừa qua, quận đã tập trung cao cho việc triển khai dịch vụ công mức độ 4 đối với 3 lĩnh vực: chứng thực hộ tịch, đăng ký kinh doanh, nội vụ. Với tài khoản xác thực của mình, mọi công dân, tổ chức chỉ cần điền, gửi thông tin, hồ sơ và thanh toán trực tuyến là có thể nhận được kết quả ngay tại nhà không cần đến các cơ quan nhà nước thực hiện giao dịch. Mọi giao dịch sẽ được hệ thống “một cửa hiện đại” quản lý, xác thực, cập nhập, tái sử dụng trong những lần giao dịch tiếp theo.
Tại quận Hồng Bàng, bà Hoàng Thị Nhẫn - Phó Chủ tịch UBND quận cho biết: Hiện quận đã đưa vào sử dụng hệ thống phần mềm “một cửa điện tử hiện đại” gồm 72 thủ tục trên 10 lĩnh vực, đáp ứng 100% TTHC công đạt mức độ 3 được tích hợp. Dự kiến cuối năm nay, 100% dịch vụ hành chính công 11 phường trên địa bàn quận đạt mức độ 3 và liên thông quận - phường.
Quận đang tập trung xây dựng khung cơ sở dữ liệu để thực hiện số hóa, dự kiến trong năm 2017 sẽ hoàn thành kho cơ sở dữ liệu tập trung. “Tiện ích, thông thoáng, nhanh gọn” đó là ghi nhận của hầu hết người dân, doanh nghiệp khi đánh giá về mô hình đang được triển khai tại 2 quận.
Nhưng xác định muốn có “Chính quyền điện tử” phải có “Công dân điện tử” chính là yếu tố cần, đủ quyết định đến sự thành bại của mô hình, thời gian qua, Hồng Bàng và Ngô Quyền đã nỗ lực đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng mọi hình thức để toàn thể cán bộ, các tầng lớp nhân dân hiểu, ủng hộ chủ trương; chú trọng đào tạo ứng dụng phần mềm “một cửa hiện đại” cho đội ngũ CBCC. Hiện, quận Hồng Bàng đang tập trung cao cho việc triển khai cung cấp hộp thư điện tử công dân toàn quận nhằm từng bước xây dựng “Công dân điện tử”.
Bộ Nội vụ kiểm tra công tác cải cách hành chính tại Quảng Ngãi. Sáng 12.12, Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ do ông Lê Vĩnh Tân- Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm trưởng đoàn đã làm việc tại tỉnh Quảng Ngãi.
Tiếp và làm việc với Đoàn có Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Thanh Quang, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Ngọc Căng, Phó Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Minh cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành liên quan.
Xác định cải cách thủ tục hành chính (CCTTHC) là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác CCHC của tỉnh, năm 2016, UBND tỉnh đã tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống thể chế; đẩy mạnh CCTTHC; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hướng đến xây dựng chính quyền điện tử; tăng cường công tác giám sát công tác CCHC…
Đã thực hiện rà soát quy định, TTHC trọng tâm đối với 24 TTHC thuộc 9 lĩnh vực, trọng tâm là cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong năm 2016, đã tiếp nhận và kịp thời xử lý 27 phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân liên quan đến TTHC và chỉ đạo Thanh tra tỉnh giải quyết; xử lý kịp thời 342 đơn thư khiếu nại của tổ chức và cá nhân gửi đến.
Đến nay, toàn tỉnh có 18/22 sở, ban, ngành và 13/14 huyện, thành phố thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông, cơ chế một cửa theo hướng hiện đại; 172/184 xã, phường, thị trấn đơn vị thực hiện cơ chế một cửa.
Ông Đoàn Dụng- Giám đốc Sở Nội vụ cho biết, việc triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, một cửa theo hướng hiện đại thời gian qua từng bước hoàn thiện và nâng cao chất lượng, bước đầu khắc phục tình trạng chậm trễ, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; giảm bớt phiền hà, tiêu cực, nhũng nhiễu trong quá trình giải quyết công việc cho tổ chức, cá nhân, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Song việc thực hiện CCTTHC cũng còn nhiều hạn chế. Hiện Quảng Ngãi xếp thứ 60/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Thời gian tới, Quảng Ngãi tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thể chế theo hướng đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn; đơn giản hóa các TTHC; tổ chức rà soát, sắp xếp lại bộ máy theo hướng tinh gọn; thực hiện chính quyền điện tử; nâng cao chất lượng hoạt động và tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ công chức, viên chức.
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong công tác CCHC của tỉnh. Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân yêu cầu tỉnh cần tiếp tục triển khai mở rộng áp dụng mô hình bộ phận một cửa hiện đại đối với các sở, ngành; thí điểm ứng dụng phần mềm một cửa liên thông, chú trọng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 - 4.
Gắn thực hiện chủ trương tinh giản biên chế với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, đạo đức công vụ, có kiến thức chuyên môn chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Bộ Nội vụ sẽ xem xét cho tỉnh chủ trì tổ chức thi ngạch công chức lên ngạch chuyên viên chính để tỉnh chủ động bố trí, sử dụng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm đã được phê duyệt.
Trước đó, Đoàn công tác cũng đã làm việc với UBND TP. Quảng Ngãi và Sở KH - ĐT về công tác CCHC tại các đơn vị này.
“Cải cách chưa từng có trong lịch sử ngành Công Thương”. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh vừa ký quyết định phê duyệt phương án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước năm 2017.
Theo đó, Bộ bãi bỏ 15 thủ tục hàng chính và đơn giản hóa 108 thủ tục trong tổng số 443 thuộc phạm vi Bộ quản lý.
“Đây được xem là cuộc cải cách chưa từng có trong lịch sử ngành Công Thương nhiều năm nay”, báo cáo nói.
Các lĩnh vực đơn giản hoá gồm kiểm tra chất lượng thép sản xuất, nhập khẩu (5 thủ tục), thương mại quốc tế (3 thủ tục), công nghiệp nặng (2 thủ tục), sản xuất kinh doanh thuốc lá (6 thủ tục), kinh doanh khí (18 thủ tục), kinh doanh rượu (19 thủ tục), xăng dầu (15 thủ tục), an toàn thực phẩm (12 thủ tục), xuất nhập khẩu (8 thủ tục), xúc tiến thương mại (5 thủ tục)...
Bộ Công Thương cho biết, việc xóa bỏ và đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm thực hiện Nghị quyết số 19 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 35 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.
Thời gian qua, Bộ Công Thương đã có nhiều cắt giảm các thủ tục hành chính trogn nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn, bãi bỏ và sửa đổi một số thủ tục hành chính như: kiểm tra formaldehyte và amin thơm đối với hàng dệt may tại cửa khẩu, nhập khẩu xe chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống, kinh doanh khí hóa lỏng, khai báo hóa chất, tiếp cận điện năng, dán nhãn năng lượng…
Tuy nhiên, là Bộ đa ngành đa lĩnh vực, Bộ Công Thương hiện quản lý tới 443 thủ tục hành chính tại 19 lĩnh vực, ở cả 4 cấp chính quyền (cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã), những nỗ lực đó được Bộ Công Thương đánh giá là chưa đủ.
Mặt khác, cải cách hành chính không chỉ là việc thủ tục đơn giản hơn mà còn cần minh bạch hóa và hiện đại hóa.
Bộ Công Thương cam kết sẽ tiếp thu, lắng nghe ý kiến cộng đồng doanh nghiệp, người dân để thực hiện công cuộc sửa đổi, đơn giản hoá thủ tục hành chính cho phù hợp.
Trước đó, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã ký quyết định lấy ý kiến về việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị trong Bộ Công Thương. Theo đó, Tổng cục Năng lượng tách thành một cục và hai vụ; Vụ Thị trường thương mại miền núi nhập vào Vụ Thị trường trong nước; Cục Hóa chất, Vụ Công nghiệp nhẹ, Vụ Công nghiệp nặng nhập thành Cục Công nghiệp; Vụ Tài chính tách một phần về Vụ Kế hoạch, một phần về Vụ Đổi mới phát triển doanh nghiệp.
Vụ Phát triển nguồn nhân lực (trước kia tách ra từ Vụ Tổ chức cán bộ), sẽ nhập lại về Vụ tổ chức cán bộ; Vụ Thi đua khen thưởng và Cục Công tác phía nam (trước kia là Văn phòng đại diện Bộ Công Thương tại Tp.HCM) nhập về thuộc Văn phòng Bộ Công Thương.
Các Vụ KV1, KV2, KV3, KV4 nhập lại thành hai Vụ châu Âu, Mỹ và Á Phi; Vụ Hợp tác Quốc tế nhập về hai Vụ Á, Phi và Âu Mỹ; Hai viện nghiên cứu (Thương mại và Chính sách công nghiệp) nhập thành một viện.
Đồng thời, Bộ cũng sẽ thành lập thêm Cục Phòng vệ thương Mại cho phù hợp xu thế hội nhập. Nâng cấp thành lập Tổng cục Quản lý thị trường từ Cục Quản lý Thị trường còn lại giữ nguyên.
Công an Nghệ An chủ động, linh hoạt trong cải cách hành chính. Với những nỗ lực trong cải cách hành chính (CCHC), Công an Nghệ An đã được Bộ Công an xếp loại 1 trong 103 đơn vị, địa phương trong lực lượng Công an nhân dân về CCHC.
Trung tuần tháng 11, ông Nguyễn Đức Long (56 tuổi, TP. Vinh), tới Bộ phận một cửa của Công an tỉnh để nhận CMND mới. Khuôn mặt lộ rõ vẻ hớn hở, ông Long cho hay, vài ngày trước ông có việc phải dùng đến CMND, tuy nhiên, sau khi lục lọi ông tá hỏa phát hiện chứng minh thư của mình đã cũ nát, không còn giá trị sử dụng. Lúc này, ông Long vội vã tới Công an tỉnh để xin cấp phát lại, hy vọng kịp cho công việc.
“Lúc đầu tôi cứ tưởng phải mất gần 1 tháng như trước đây mới nhận được CMND mới, nếu vậy thì trễ mất việc. Không ngờ chỉ mới 3 ngày đã có. Thật tiện lợi”, ông Long nói. Không chỉ ông Long, nhiều người dân có mặt tại Bộ phận một cửa Công an tỉnh cũng tỏ vẻ phấn khởi khi nhiều thủ tục hành chính đã được rút ngắn thời gian, quy trình.
Đó là những “thành quả” sau những nỗ lực CCHC của Công an tỉnh Nghệ An – đơn vị vừa được Bộ Công an xếp thứ nhất về CCHC trong 103 đơn vị và địa phương trong lực lượng Công an nhân dân.
Để có được những kết quả này, từ đầu năm 2016, Công an tỉnh đã chủ động đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính. Đặc biệt, ban lãnh đạo đã định hình rõ tầm nhìn cũng như tư tưởng chiến lược về công tác CCHC.
Theo lãnh đạo Công an tỉnh, trung bình hàng năm lực lượng này tiếp xúc, giải quyết thủ tục hành chính cho khoảng 600.000 lượt công dân về các lĩnh vực cư trú, đăng ký phương tiện giao thông, xuất nhập cảnh, cấp CMND, ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT, xác nhận không tiền án, lý lịch tư pháp.
Nếu 600.000 lượt công dân này không hài lòng về chất lượng, thái độ phục vụ thì đây là một mất mát lớn về niềm tin của nhân dân vào lực lượng trực tiếp bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, không lấy gì bù đắp nổi. Lãnh đạo Công an tỉnh xác định công tác CCHC là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có chiều sâu về chiến lược an dân, là một trong những nhiệm vụ cốt lõi phải tập trung cao độ trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Vì vậy, đích thân Giám đốc Công an tỉnh và Phó Giám đốc đã trực tiếp đi kiểm tra chuyên đề CCHC tại các đơn vị, địa phương có nhiệm vụ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân. Qua đó đã chỉ đạo giải quyết dứt điểm những tồn tại, hạn chế trong công tác CCHC.
Xác định rõ nhân tố con người là nhân tố quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của công tác CCHC, Công an tỉnh thường xuyên làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sỹ.
Ngoài ra, nhằm tăng cường hoàn thiện thể chế, làm nền tảng pháp lý, năm 2016, Ban Chấp hành Đảng bộ Công an tỉnh đã ban hành 4 nghị quyết liên quan trực tiếp đến công tác CCHC với mục tiêu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các mặt công tác công an, đưa công tác CCHC thực sự đi vào chiều sâu, hiệu quả.
Công an tỉnh cũng thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chương trình, kế hoạch CCHC theo chỉ đạo của Bộ Công an, UBND tỉnh Nghệ An đã đề ra. Bên cạnh đó, chủ động, linh hoạt đề ra các giải pháp CCHC.
Trong năm qua, lực lượng đã tổ chức 2 hội nghị đối thoại giữa đại tá Nguyễn Hữu Cầu - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Công an tỉnh với lực lượng trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính và lực lượng Cảnh sát giao thông. Với mục tiêu nâng cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm phục vụ người dân, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác cải cách hành chính.
Nếu như Bộ phận một cửa Công an tỉnh trước đây chỉ giải quyết nhu cầu cấp nhanh CMND cho công dân vào ngày thứ Bảy hàng tuần cho một số đối tượng ưu tiên như xuất khẩu lao động, đau ốm, vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh doanh, thân nhân và người có công với cách mạng… thì nay đã tổ chức tiếp dân vào 3 ngày mỗi tuần để cấp CMND cho tất cả công dân trong toàn tỉnh.
Đơn vị đã phải huy động hơn 5.500 lượt cán bộ, chiến sỹ làm thêm giờ vào buổi tối, ngày nghỉ để nhập các trường thông tin còn lại của hơn 2 triệu tờ khai CMND, phục vụ đắc lực cho công tác nghiệp vụ của ngành.
Với nhiều nỗ lực, các thủ tục hành chính đã được rút ngắn đến tối đa. Trước đây, việc cấp CMND nhanh cho công dân mất ít nhất 20 ngày, tuy nhiên hiện nay việc này đã được rút ngắn xuống còn 3 ngày tại Bộ phận một cửa.
Ngoài ra, đăng ký thường trú trước đây quy định giải quyết trong 15 ngày làm việc thì nay tại Công an cấp xã giải quyết ngay trong ngày; cấp giấy thông hành biên giới Việt - Lào quy định 3 ngày, giải quyết trong 1 ngày; cấp mới đăng ký xe quy định 2 ngày, giải quyết trong 1 ngày…
Không chỉ rút gọn các quy trình trong thủ tục hành chính, Công an tỉnh cũng đã ký thỏa thuận hợp tác với Bưu điện tỉnh về việc thu nộp tiền xử phạt vi phạm và chuyển trả giấy tờ tạm giữ trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo yêu cầu của công dân.
Công an các đơn vị, địa phương thường xuyên tổ chức xuống cơ sở, đến cơ sở y tế, trường học để giải quyết thủ tục hành chính về CMND, hướng dẫn đăng ký xe máy điện cho công dân. Công khai số điện thoại “đường dây nóng” chuyên tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính để người dân phản ánh khi có vướng mắc.
Là một trong những đơn vị địa phương được đánh giá cao trong công tác CCHC, những năm qua, Công an huyện Tương Dương đã trực tiếp xây dựng kế hoạch và cử cán bộ đến tận từng thôn, xóm, bản, trường học để làm các thủ tục cấp CMND cho người dân. CMND sau khi hoàn thiện được nhân viên bưu điện trả tận nhà cho công dân.
Tuy nhiên, theo trung tá Trần Phúc Tú - Trưởng Công an huyện, với đặc thù vùng miền núi việc trả CMND qua đường bưu điện nhiều lúc vẫn còn khó khăn. Vì vậy, đối với một số vùng sâu, đơn vị đã chủ động cử các chiến sỹ đến từng thôn bản để trả CMND cho người dân.
Ngoài ra, lãnh đạo Công an huyện cũng đã rà soát, thống kê những người có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách để cắt cử cán bộ đến từng hộ gia đình giúp người dân làm các thủ tục cấp mới, cấp đổi CMND. Nhiều trường hợp, đơn vị hỗ trợ hoàn toàn các chi phí trong thủ tục hành chính…
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tốt, CCHC tại Công an tỉnh vẫn còn một số hạn chế cũng như khó khăn, vướng mắc. Để dứt điểm những tồn tại này, Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh đã đặt ra một số phương hướng, nhiệm vụ trong năm 2017 như phải thường xuyên hơn, tập trung hơn, sâu sát hơn nữa trong lãnh đạo, điều hành; lấy mức độ hài lòng của người dân làm thước đo kết quả, chất lượng cải CCHC; tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sỹ…
Với kết quả đứng đầu toàn ngành về CCHC trong năm qua, có thể nói Công an Nghệ An đã cụ thể hóa khẩu hiệu của Đại hội Đảng bộ Công an tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020: “Hết lòng, hết sức xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, thật sự là hạt nhân lãnh đạo lực lượng Công an Nghệ An vững bước tiến lên chính quy hơn, tận tụy hơn, lễ phép hơn, quyết liệt hơn, uy tín hơn”.
Cải cách dịch vụ y tế công: Bộ Y tế đã làm gì?. Thực hiện Công văn số 773/BNV-CCHC ngày 23/02/2016 của Bộ Nội vụ theo sự phân công của Ban Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2011-2015, Bộ Y tế xin báo cáo tham luận: Đánh giá kết quả cải cách, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế công và kết quả triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công”.
Theo quy định tại Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31/8/2012 của Chính phủ thì Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngành y tế đã nỗ lực phấn đấu để thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các đột phá chiến lược, các chương trình, đề án, chính sách nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế công, nhất là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trong Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2015 đã được triển khai thực hiện và thu được nhiều thành tựu quan trọng: Các dịch bệnh đã được ngăn chặn kịp thời, không để dịch lớn xảy ra; việc giảm quá tải, cam kết không nằm ghép của các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh đã đạt kết quả rõ rệt, chất lượng khám bệnh, chữa bệnh được nâng cao, nhiều kỹ thuật cao, kỹ thuật mới đã được áp dụng thành công trong ngành y tế như mổ nội soi rô bốt, đặc biệt là kỹ thuật ghép tạng từ bệnh nhân chết não; ngành Y tế cũng được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận đạt tiêu chuẩn cơ quan quản lý quốc gia về vắc xin, sinh phẩm y tế, đây là điều kiện quan trọng cho các cơ sở vắc xin, sinh phẩm y tế nâng cao sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Ngành Y tế cũng được quốc tế đánh giá cao, là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế. Hệ thống tổ chức y tế được kiện toàn đồng bộ từ Trung ương đến tuyến tỉnh, tuyến huyện, tuyến xã, đáp ứng nhu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển. Đặc biệt, trong thời gian qua, Bộ Y tế đã triển khai quyết liệt việc “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ, lấy người bệnh làm trung tâm hướng tới sự hài lòng của người bệnh” trong toàn ngành và đã đạt kết quả bước đầu đáng khích lệ được nhân dân ghi nhận và đồng tình ủng hộ.
Bộ Y tế đã đạt các chỉ tiêu được Quốc hội và Chính phủ giao như số lần khám bệnh, số bệnh nhân nội trú, ngoại trú, số ngày điều trị nội trú, ngoại trú, số phẫu thuật, thủ thuật, chuẩn đoán, xét nghiệm đều tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 75,3%, đạt mục tiêu Đảng và Quốc hội giao của ngành Y tế.
Để nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế công đặc biệt là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế đã tích cực triển khai các nhiệm vụ CCHC mà Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra.
Giảm nỗi lo cho doanh nghiệp. Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản yêu cầu các bộ, cơ quan phải đảm bảo việc tổ chức thanh - kiểm tra, kiểm toán về tài chính, thuế đối với DN một năm/lần, không trùng lắp, chồng chéo.
Cam kết cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho DN tiếp tục được người đứng đầu Chính phủ chỉ đạo cụ thể nhằm giúp các DN giảm bớt nỗi lo và những gánh nặng chi phí cho các đợt thanh - kiểm tra của cơ quan quản lý.
Theo công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2015 có đến 74% DN phải đón tiếp các đoàn thanh - kiểm tra thuộc tất cả các lĩnh vực. Trung bình, các DN nhỏ và vừa phải tiếp 1 - 2 đoàn thanh - kiểm tra/năm; các DN lớn phải tiếp 3 đoàn. Có 18% DN siêu nhỏ, 24% DN nhỏ, 43% DN quy mô vừa và 50% DN quy mô lớn đón tiếp ít nhất 3 đoàn kiểm tra trong năm gần nhất. Một DN có thể phải tiếp 16 – 17 đoàn thanh tra trong một năm; Tình trạng trùng lặp về nội dung thanh - kiểm tra cũng đáng báo động, đoàn thanh tra này vừa ra thì đoàn thanh tra khác lại vào…
DN nào “không biết điều”, “không chịu chi” sẽ bị kiểm tra thường xuyên,… là thực tế khiến việc thanh - kiểm tra luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng với nhiều DN. Bên cạnh việc ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, có nhiều cuộc thanh - kiểm tra đưa ra những kết luận không chính xác làm thiệt hại cho DN nhưng cơ quan thanh tra, kiểm tra lại không có ai phải chịu trách nhiệm.
Năm 2016, thực hiện Nghị quyết 19/NQ – CP và Nghị quyết 35/NQ – CP đã ghi nhận những chuyển biến tích cực về môi trường kinh doanh, tuy nhiên hoạt động thanh, kiểm tra vẫn có không ít ý kiến phản hồi gay gắt từ phía DN. Chính vì thế với việc ban hành văn bản yêu cầu chỉ tổ chức thanh - kiểm tra, kiểm toán DN một năm/lần, không trùng lắp, chồng chéo được cộng đồng DN đón nhận như một động thái tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của DN vượt qua những khó khăn để đưa kinh tế - xã hội phát triển.
Tuy nhiên, hạn chế những hành vi làm dụng quyền lực làm phiền, làm khó DN không đồng nghĩa với việc dung túng, bao che, thả lỏng hành vi vi phạm của DN. Cùng với quy định trên, Chính phủ cũng đã hoàn thiện và đưa website tiếp nhận mọi phản ánh của DN về khó khăn, vướng mắc trong hoạt động trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ. Đây là cầu nối quan trọng trước yêu cầu nóng bỏng về cải cách hành chính và cải cách tư pháp như hiện nay mà người đứng đầu Chính phủ gửi tới các DN.
Môi trường kinh doanh thông thoáng, công khai, minh bạch đi cùng với nâng cao hiệu quả công tác quản lý chỉ đạo điều hành và phục vụ được cụ thể hóa bằng những hành động quyết liệt nhằm giảm đi nỗi lo, gánh nặng cho người dân, DN.
Cải cách hành chính nhìn từ việc "lĩnh lương kiểu mới". Ngày mai 16/12, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ công bố Quyết định số 45/2016/Q Đ-TTg của Chính phủ về “tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích”. Trước đó, việc thử nghiệm giải quyết thủ tục hành chính qua bưu điện đã rất thành công.
Một ngày đầu đông tháng 12/2016, ông Nguyễn Văn Lịch (cán bộ hưu trí của tổ dân phố số 1, Phường Phú Đô, Quận Nam Từ Liêm, TP.Hà Nội) thong thả cầm phiếu lĩnh lương hưu ra Nhà văn hóa thôn Phú Đô lĩnh lương hưu. Chỉ mất khoảng 2-3 phút đưa sổ, làm thủ tục, ký nhận ông Lịch đã nhận được đầy đủ số lương hưu hàng tháng, thời gian còn lại, ông ngồi tán gẫu, đọc báo với mấy ông bạn già.
Trước lúc thực hiện việc “lĩnh lương kiểu mới”, cán bộ hưu trí như ông Lịch đã lĩnh lương theo kiểu cấp phát ủy quyền từ Bảo hiểm xã hội xuống cán bộ xã thôn, mất khá nhiều thời gian và công sức.
“Bây giờ cứ lúc nhận tiền nhân viên Bưu điện đưa luôn lịch phát lương tháng sau, trước lúc phát 1 ngày thì thông báo trên hệ thống phát thanh thôn xã, tiền thì họ chuẩn bị sẵn, lên chỉ đối chiếu người nhận, ký và lấy tiền ngay, không thiếu một xu! Lĩnh lương theo cách mới này chúng tôi thấy rất khoa học, hợp lý, đỡ phiền hà rất nhiều”, ông Lịch cho biết.
Với cách chi trả lương hưu mới qua nhân viên Bưu điện, 171 cán bộ hưu trí của tổ dân phố số 1, Phường Phú Đô chỉ nhận lương trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Nếu người lĩnh lương hưu trên 80 tuổi hoặc bị đau ốm, cán bộ Bưu điện sẽ đến tận nhà phát lương.
Bà Phạm Thị Xuân Mai, Phó Giám đốc Bưu điện Hà Nội cho biết, đến nay, Liên ngành Bảo hiểm Xã hội TP. Hà Nội đã phối hợp với Bưu điện TP. Hà Nội triển khai thành công công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH tại toàn bộ địa bàn 18 huyện, thị xã ngoại thành và 7 quận nội thành Hà Nội. Bình quân một tháng, Bưu điện phục vụ trên 325.000 người hưởng với tổng số tiền chi trả gần 1.200 tỷ đồng.
Còn theo báo cáo của của Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (Vietnam Post), đến nay, công tác chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH đã triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố. Tổng số điểm chi trả cơ quan bưu điện thực hiện là 14.426 điểm, số người hưởng là 2,9 triệu người, số tiền chi trả là 8.000 tỷ đồng/tháng. Trong đó, 62 tỉnh đã thực hiện ở tất cả các xã, phường trên địa bàn. Ở khu vực Hà Nội đã triển khai tại 25 quận/ huyện, dự kiến sẽ triển khai tại 5 quận/huyện còn lại vào Quý 1/2017.
Việc chi trả lương hưu qua Bưu điện chỉ là khởi đầu cho một chuỗi các dịch vụ mang hơi thở của cải cách hành chính sẽ được triển khai thời gian tới. Từ năm 2017, rất có thể, những dịch vụ như chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng, chi trả bảo trợ xã hội hàng tháng, chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng (1,3 triệu người, 30.000 tỷ đồng mỗi năm) sẽ được thực hiện 100%, nếu nhận được sự đồng thuận của người thụ hưởng và các địa phương.
Việc Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Vietnam Post thực hiện chi trả bảo hiểm, chế độ chính sách đã làm giảm thời gian chi trả, tiết kiệm chi phí chi trả, giảm được nguồn nhân lực thực hiện và mang lại lợi ích to lớn cho các bên.
Từ năm 2011 đến nay, Vietnam Post đã thực hiện nhiều cuộc thí điểm trong giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính như phát triển được một số dịch vụ bưu chính chuyển phát cũng như dịch vụ tài chính bưu chính trong lĩnh vực hành chính công như tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả phiếu lý lịch tư pháp, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, cấp đổi giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe, giấy thông báo trúng tuyển, hồ sơ tuyển sinh, hồ sơ xét tuyển, hồ sơ BHXH; thu, nộp các khoản lệ phí khi thực hiện chuyển phát thủ tục HCC; thu phí phạt vi phạm giao thông đường bộ, phí phạt vi phạm hành chính, thu thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán, phí môi trường, chi trả lương hưu, các chế độ bảo trợ, trợ cấp xã hội, đối tượng chính sách, Thu tiền BHXH, BHYT tự nguyện...
Theo đánh giá của Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Minh Hồng thì việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức qua dịch vụ bưu điện không chỉ tiết kiệm chi phí và giảm thời gian đi lại cho người dân, giải quyết yêu cầu bức xúc của người dân, mà còn giảm tình trạng tiêu cực, sách nhiễu trong giải quyết thủ tục hành chính.
Chỉ tính riêng năm 2015 toàn quốc đã có gần 9 triệu người dân đã thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến các phần việc gồm: cấp chứng minh nhân dân, phiếu lý lịch tư pháp, hộ chiếu, giấy phép lái xe, Bảo hiểm xã hội... với tổng kinh phí gần 1.840 tỷ đồng. Như vậy, việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ công đã tạo được thuận lợi, giảm chi phí cho người dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung cho cả cộng đồng, xã hội. Việc triển khai phương thức trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua bưu điện đến tận nhà cũng đã nhận được sự đồng thuận của đông đảo các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.
Ngày 19/10/2016 Thủ tướng Chính phủ đã han hành Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg về việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích. Quyết định có hiệu lực từ ngày 16/12/2016 trên toàn quốc.
Ông Phạm Anh Tuấn, Tổng giám đốc Vietnam Post cho biết, với mạng lưới gần 15.000 điểm giao dịch đến tận cấp xã, VietnamPost luôn sẵn sàng tham gia, phối hợp với các Bộ, ngành cung cấp dịch vụ hành chính công, triển khai cải cách thủ tục hành chính, phục vụ người dân trên khắp cả nước.
Theo ông Tuấn, VietnamPost cam kết sẽ thường xuyên nâng cao chất lượng dịch vụ trong việc tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại các bưu cục.Qua đó gia tăng sự lựa chọn của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện thủ tục hành chính đồng thờitạo chuyển biến mạnh mẽ trong giải quyết thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực.
Có thể nói rằng, nếu các dịch vụ chi trả lương hưu, các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả chính sách trợ giúp xã hội, chi trả trợ cấp ưu đãi người có công qua Bưu điện, tiếp nhận hồ sơ - trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích nếu được thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả và nhận được sự ủng hộ của toàn xã hội thì sẽ góp phần rất lớn vào tiến trình cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử mà Chính phủ đang thực hiện.
Theo các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết 36A về Chính phủ điện tử, trong ba năm 2015 - 2017 tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, bảo đảm rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa, chuẩn hóa nội dung hồ sơ, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính.
Phấn đấu đến hết năm 2016, một số dịch vụ công phổ biến, liên quan nhiều tới người dân, doanh nghiệp được cung cấp ở mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng (dịch vụ công trực tuyến mức độ 4).
Bộ Công Thương “đại phẫu” thủ tục hành chính và giấy phép con .Không chỉ bãi bỏ hàng trăm thủ tục theo hướng có lợi cho doanh nghiệp, người dân, kiện toàn bộ máy nhân sự, Bộ Công Thương vừa tuyên bố việc bãi bỏ và đơn giản hóa khoảng 123 thủ hành chính liên quan đến doanh nghiệp được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là một cuộc "đại phẫu" đối với ngành này.
Ông Trần Hữu Linh, Chánh Văn phòng Bộ Công Thương - chia sẻ, theo bảng xếp hạng par index của Bộ Công Thương, năm 2012 các chỉ số xếp hạng của bộ này mới đạt 02/19, năm 2013: 06/19, năm 2014: 12/19, năm 2015: 18/19, trong năm 2016, Bộ Công Thương cố gắng phấn đấu đạt top 10 về chỉ số xếp hạng par index trong các Bộ ngành.
Để đạt được mục tiêu này, theo ông Trần Hữu Linh, Bộ Công Thương cần phải nhìn nhận thẳng thắn vào những tồn tại đang gặp phải để nỗ lực phấn đấu đạt mục tiêu đề ra.
Cụ thể, trong thời gian qua, Bộ Công Thương chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm người đứng đầu gắn với công tác thi đua nên có tình trạng thủ trưởng đơn vị chưa quan tâm đúng mức; Công tác thông tin tuyên truyền hiệu quả chưa cao, chưa nhận được sự công nhận cao của dư luận, ảnh hưởng đến kết quả điều tra xã hội học; Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ thực hiện chưa đầy đủ; Một số văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách do Bộ ban hành hiệu quả còn chưa cao; Việc cập nhật, công bố thủ tục hành chính trên cơ sở dữ liệu quốc gia chưa kịp thời.
Chất lượng thủ tục hành chính qua điều tra xã hội học vẫn còn hạn chế về sự cần thiết, tính hợp lý cũng như mức độ thuận tiện trong thực hiện; Công tác kiểm tra tình hình tổ chức, hoạt động, công tác cải cách hành chính đối với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ chưa được thực hiện đầy đủ; Đề án xây dựng cơ cấu viên chức theo vị trí việc làm của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ chưa được Bộ Nội vụ phê duyệt; Đánh giá chất lượng công chức, viên chức qua điều tra xã hội học về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ còn hạn chế; Công tác tuyển dụng, bố trí và sử dụng công chức, viên chức của Bộ thời gian qua được báo chí phản ánh làm ảnh hưởng đến công tác điều tra xã hội học; Công tác đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức KHCN công lập qua điều tra xã hội học còn hạn chế; Cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ www.moit.gov.vn còn chưa đầy đủ, kịp thời như thông tin về mua sắm, đấu thầu, thông tin đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ, thông tin về doanh nghiệp...
Vấn đề đặt ra cho Bộ Công Thương trong thời gian tới để nâng cao chất lượng hiệu quả trong công tác Cải cách hành chính chính là vai trò của Bộ trưởng và Thủ trưởng của các đơn vị trong việc nghiêm túc thực hiện; Tiến độ xây dựng văn bản phát luật phải thiết thực và khả thi; Công khai, minh bạch và hiện đại hóa thủ tục hành chính trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ; Chế độ giám sát, kiểm tra và đôn đốc thực thi: xây dựng quy trình giám sát, kiểm tra, đôn đốc thực thi cải cách hành chính, họp rà soát tình hình hàng quý cho tới khi công tác cải cách hành chính đã thực sự đi vào nề nếp; Bố trí kinh phí...
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng giao cho từng đơn vị thuộc bộ nghiêm túc thực hiện cải cách hành chính.
Theo ông Ngô Quang Phát, Phó Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ cho biết, mục tiêu cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 nhằm xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN; Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch; Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả… Trong đó, trọng tâm là cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CB, công chức, viên chức; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
Để đạt được mục tiêu trên, các Bộ ngành phải bám sát được nội dung đánh giá cải cách hành chính. Cụ thể, nhóm 1: đánh giá kết quả trên 7 lĩnh vực. 31 tiêu chí với 89 tiêu chí thành phần; Nhóm 2: đánh giá tác động thông qua điều tra xã hội học; số tiêu chí, tiêu chí thành phần là 24. Thang điểm là 100; qua điều tra XHH là 40/100. Phương pháp điều tra là nhóm 1: Các bộ tự đánh giá; BNV tổng hợp; Hội đồng thẩm định; Nhóm 2: Điều tra XHH được tiến hành lấy ý kiến đánh gìá của các nhóm đối tượng khác nhau (qua phiếu đánh giá). Tổng hợp điểm qua điều tra xã hội học và điểm Hội đồng đánh giá là “Điểm đạt được”.
Ông Ngô Quang Phát cũng cho biết, 7 lĩnh vực thuộc nhóm tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện cải cách hành chính của bộ bao gồm: Công tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính bao gồm: Kế hoạch cải cách hành chính năm (Thời gian; chất lương; mức độ hoàn thành); Thực hiện công tác báo cáo (báo cáo cải cách hành chính; BC tự chấm điểm); Kiểm tra công tác cải cách hành chính (tỷ lệ; xử lý phát sinh); Công tác tuyên truyền cải cách hành chính (mức độ; sự đa dạng); Sáng kiến trong cải cách hành chính; Thực hiện các nhiệm vụ được CP, TTg giao.
Khách quan nhìn nhận, công tác cải cách hành chính của Bộ Công Thương còn gặp rất nhiều khó khăn, cản trở. Bộ quản lý đa ngành, lĩnh vực nên việc tổ chức triển khai thực hiện không thể tránh khỏi những sai sót dẫn đến kết quả điều tra xã hội học dễ bị mất điểm. Chính vì vậy, quan trọng nhất là sự tham gia của người đứng đầu sẽ đóng vai trò chủ chốt trong đổi mới cải cách hành chính, sau đó mới đến sự tham gia của mọi người, của các đơn vị và phòng ban.
Nghệ An: Đổi mới công tác cấp sổ BHXH, thẻ BHYT. Năm 2016, ngành BHXH tiếp tục tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC) theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Thực hiện chủ trương này, BHXH tỉnh Nghệ An đã triển khai đồng loạt các hoạt động cải cách trên nhiều lĩnh vực, trong đó, công tác cấp sổ BHXH, thẻ BHYT được tiếp tục phân cấp mạnh mẽ về BHXH cấp huyện, tạo được sự chủ động cho cả đối tượng, người lao động, đơn vị sử dụng lao động và cơ quan BHXH.
Ngoài phân cấp 100% đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BH thất nghiệp do BHXH huyện, thành phố quản lý, trực tiếp thu thì, các nhóm đối tượng do BHXH tỉnh trực tiếp thu như trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, người dân tộc thiểu số cũng được BHXH tỉnh ủy quyền cho BHXH cấp huyện in và phát hành thẻ BHYT.
Gần đây, tiếp tục phân cấp việc cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, xác nhận, chốt sổ BHXH và ghi thời gian đóng BH thất nghiệp đã được hưởng trợ cấp thất nghiệp cho người tham gia BHXH tại đơn vị do BHXH cấp huyện trực tiếp thu, người đã hưởng BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, BH thất nghiệp; cấp mới, cấp lại, đổi thẻ BHYT cho người tham gia BHYT do BHXH cấp huyện thu; cấp lại, đổi thẻ BHYT các trường hợp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tại huyện, thành phố; cấp giấy chứng nhận không cùng chi trả trong năm cho người tham gia BHYT thuộc các nhóm đối tượng được BHXH tỉnh phân cấp, ủy quyền. Đặc biệt, việc tác nghiệp các nội dung liên đới giữa BHXH cấp tỉnh và cấp huyện được thực hiện bằng các phần mềm liên thông đảm bảo nhanh chóng, chính xác, chặt chẽ.
Nhờ việc phân cấp mạnh nhiều hoạt động nghiệp vụ về cơ sở đã góp phần tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức và chi phí đi lại cho đối tượng, người lao động và đơn vị sử dụng lao động, nhất là việc cấp mới, cấp lại và đổi thẻ BHYT đảm bảo diễn ra nhanh chóng, kịp thời, góp phần giảm tải áp lực công việc cho BHXH cấp tỉnh, tập trung thời gian cải tiến, nâng cao chất lượng quản lý công tác sổ BHXH, thẻ BHYT phục vụ đối tượng trong toàn tỉnh. Cán bộ tác nghiệp là người chuyên quản tại địa bàn nên dễ nắm bắt thông tin của đối tượng, am hiểu cả cách viết tên riêng của người DTTS, giảm thiểu tối đa việc nhầm lẫn, sai sót, trùng thẻ, tạo được sự đồng thuận cao trong dư luận xã hội.
Bên cạnh hiệu quả mạng như đã nêu trên, việc phân cấp còn có điểm nổi bật nữa là khối lượng công việc được phân bố rộng, vừa đảm bảo "mắt xích" liên thông quản trị mạng giữa cấp tỉnh và cấp huyện, vừa tiện ích cho việc theo dõi thông tin bằng mô thức quản lý khu biệt trên diện hẹp, dễ kiểm soát, đối chiếu, nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trực tiếp tác nghiệp. Nhờ đó, công tác cấp sổ BHXH, xác nhận thời gian, mức đóng trên sổ đảm bảo chính xác, nhanh chóng, thuận lợi cho người lao động trong giải quyết các chế độ BHXH.
Năm 2016, toàn tỉnh Nghệ An có 22.156 người được cấp sổ BHXH, trong đó, cấp mới là 18.728 sổ, cấp lại 3.428 sổ, đảm bảo 100% người lao động được cấp sổ kịp thời khi có phát sinh mới hoặc do mất, hỏng, đổi sổ BHXH, thay đổi thông tin cá nhân. Bên cạnh đó, BHXH tỉnh đã tích cực, chủ động phối hợp với UBND các huyện, thành phố, thị xã tiến hành rà soát, đảm bảo thông tin chế độ BHXH cho 291 cán bộ không tái cử vào HĐND các cấp; tiến hành cấp sổ BHXH cho 220 hồ sơ của đối tượng Chủ nhiệm Hợp tác xã theo Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 29/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
Nhận định hiệu quả mang lại từ việc đẩy mạnh phân cấp về cơ sở trong lĩnh vực cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, ông Lưu Văn Hồng - Giám đốc Công ty Lưu Hồng (xã Quỳnh Giang, huyện Quỳnh Lưu) cho biết: “Trước phân cấp, mỗi khi công nhân đi khám chữa bệnh mà sai sót thông tin cá nhân trên thẻ thì phải liên hệ với BHXH huyện rồi chờ họ về BHXH tỉnh chỉnh sửa thông tin, mất rất nhiều thời gian. Gặp những trường hợp bệnh nặng đột xuất cần có thẻ gấp để chuyển tuyến điều trị mà phải đổi thẻ do sai thông tin là rất bất tiện.Nay, mọi thủ tục đều được giao dịch tại huyện, nên việc cấp mới, đổi lại thẻ cũng nhanh hơn, đỡ mất công và đỡ tốn kém, nhưng điều phấn khởi nhất là khỏi phải phiền toái... còn việc cấp sổ BHXH, bây giờ mọi thứ đều được thực hiện tại cơ sở vừa nhanh vừa tiện và hạn chế được sai sót thông tin cá nhân trên sổ, nhất là đối với tên riêng của công nhân là người dân tộc bản địa... Đó là điều đáng ghi nhận về chất lượng phục vụ của ngành BHXH trong lĩnh vực này”. đầu trang(
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
Nam Định: Xây dựng nông thôn mới mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Sau 5 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại Nam Định, bộ mặt nông thôn đã đổi thay sâu sắc và nơi đây trở thành một trong 5 địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới.
So với năm 2010, phần lớn hạ tầng kinh tế - xã hội của các xã trên địa bàn tỉnh Nam Định được tập trung sửa chữa, cải tạo, nâng cấp và xây mới khá đồng bộ theo quy hoạch, kết nối với hạ tầng kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Từng bước làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang, sạch đẹp, văn minh.
Điều kiện sống, sản xuất, đi lại, học tập, sinh hoạt của người dân nông thôn thuận lợi hơn, hiệu quả hơn. Môi trường nông thôn được cải thiện đáng kể: Các nhu cầu về điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân được đáp ứng tốt hơn; Hệ thống thông tin, truyền thông phát triển nhanh, đồng bộ, tạo điều kiện để người dân nông thôn tiếp cận tri thức mới nâng cao hiểu biết và áp dụng trong học tập, lao động, sản xuất.
Thông qua hệ thống thông tin truyền thông, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước, công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp, các ngành nhanh chóng đến với người dân nông thôn.
Trong sản xuất nông nghiệp, Nam Định đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa với quy mô, trình độ, hiệu quả cao hơn. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,1%/năm; Sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt 940 nghìn tấn; Giá trị sản suất bình quân trên 1 ha canh tác tăng từ 75,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 100 triệu đồng/ha.
Cùng với việc sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, Nam Định đã tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thời vụ; ứng dụng cơ giới hóa, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất; chuyển đổi các diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang các mô hình canh tác khác hiệu quả hơn.
Thông qua chương trình phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao tỷ lệ cơ giới hóa, trình độ thâm canh sản xuất của nông dân không ngừng được nâng lên. Ở các địa phương trong tỉnh xuất hiện ngày càng nhiều việc nông dân thuê gom, tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển kinh tế trang trại, gia trại; Từng bước hình thành các mô hình liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản giữa doanh nghiệp và nông dân.
Sản xuất công nghiệp - TTCN, ngành nghề nông thôn cũng phát triển khá; Một số nghề truyền thống được khôi phục, nhiều nghề mới được du nhập và phát triển. Đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất vào địa bàn nông thôn. Cơ cấu kinh tế nông thôn tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Cùng với phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế - xã hội, bức tranh kinh tế nông thôn Nam Định đa dạng hơn, sinh động hơn. Thúc đẩy mạnh việc thu hút đầu tư, tạo đà cho phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, công nghiệp - TTCN, ngành nghề nông thôn, thu hút và giải quyết được hàng chục nghìn việc làm mới, người nông dân có nhiều sinh kế hơn để lựa chọn và phát triển. Một bộ phận lao động nông nghiệp đã chuyển dịch sang làm công nghiệp, dịch vụ. Thu nhập ở khu vực nông thôn năm 2015 tăng 2,7 lần so với năm 2010.
Những kết quả đạt được trong xây dựng NTM đã làm cho đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn ngày càng phong phú, bản sắc dân tộc, truyền thống quê hương, ý thức cộng đồng, tình làng nghĩa xóm, các hoạt động nhân ái, từ thiện... tiếp tục được giữ gìn, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ; Nhận thức và sự hiểu biết về mọi mặt của người nông dân được nâng cao hơn; Mọi người tự tin hơn, chủ động hơn, tích cực hơn, trách nhiệm hơn khi tham gia các công việc của thôn, xóm.
Thông qua các quy ước, hương ước, các thiết chế văn hóa cơ sở và các phong trào thi đua, tính tự chủ, tự quản của cộng đồng dân cư được nâng cao hơn, nhất là trong việc quản lý, khai thác, tu sửa, nâng cấp các công trình phúc lợi, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường của thôn xóm; Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế phát triển toàn diện, Nam Định là tỉnh 21 năm liên tục đạt “Đơn vị tiêu biểu xuất sắc” trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; Chất lượng khám chữa bệnh cho người dân ngày càng được nâng cao; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng NTM” được đông đảo nhân dân trong tỉnh hưởng ứng và tích cực tham gia; chất lượng “gia đình văn hóa”, “làng văn hóa” được nâng cao. Các chính sách xã hội và an sinh xã hội được thực hiện kịp thời; Cuộc sống nông thôn ổn định, giàu bản sắc, là động lực phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
Thêm vào đó, hệ thống chính trị, bộ máy chính quyền các cấp được củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng chất lượng, hiệu quả hơn; Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở được thực hiện thực chất hơn. Thông qua các hoạt động thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức triển khai Chương trình xây dựng NTM từ tỉnh tới huyện, xã, thôn xóm, các ngành, các đoàn thể đã tự đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ tâm huyết, trách nhiệm, có kinh nghiệm, phương pháp, cách làm hay trong hướng dẫn, vận động người dân tham gia các hoạt động, giải quyết tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc ở cơ sở...
Từ đó làm cho phong trào xây dựng NTM ngày càng sâu, rộng và hiệu quả hơn. Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được triển khai sâu rộng, đạt kết quả tích cực; An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố, tăng cường, đảm bảo tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị quan trọng trên địa bàn tỉnh.
Có thể nói, 5 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nam Định với quyết tâm cao, đoàn kết, đồng thuận, sáng tạo, nỗ lực vượt qua khó khăn giành kết quả đáng ghi nhận trong xây dựng NTM; Là 1 trong những tỉnh dẫn đầu toàn quốc về xây dựng NTM, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất - Đây là yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương, làm cho người dân ngày càng tin tưởng hơn vào công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước.
Để có được những kết quả đó là do chúng ta có Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đặc biệt là Chương trình xây dựng NTM phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nên được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và tích cực tham gia.
Cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, quyết liệt, đồng bộ, sáng tạo, có trọng tâm, trọng điểm và có các giải pháp xây dựng NTM. Bằng ý chí quyết tâm cùng những quyết sách đúng đắn, cách làm phù hợp với thực tiễn của địa phương, đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở.
Đặc biệt là phát huy vai trò của chi bộ đảng, của thôn, xóm, vai trò của người đứng đầu các tổ chức cơ quan, đơn vị; Vai trò chủ thể của người dân nông thôn và sức mạnh của cộng đồng; Tạo được sự hưởng ứng, đồng thuận, đoàn kết chung sức, chung lòng, tích cực tham gia thực hiện Chương trình. Với sự kết hợp vừa chỉ đạo điểm, vừa sơ kết đánh giá, nhân rộng các mô hình hiệu quả để sức lan tỏa sâu rộng trong các địa phương; Tăng cường công tác tuyên truyền tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân; Huy động sự vào cuộc tích cực của những người có uy tín trong cộng đồng, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, của các Trưởng tộc, Trưởng họ, các chức sắc tôn giáo trong vận động xây dựng NTM. Trên cơ sở đó, tạo sự đồng thuận, tích cực tham gia, huy động cao các nguồn lực và đóng góp của nhân dân cả về trí tuệ, công sức và tài chính;
Cùng với việc đầu tư, ngân sách tỉnh hỗ trợ 10 tỷ đồng cho mỗi xã điểm, 8 tỷ đồng cho mỗi xã tham gia xây dựng NTM trong giai đoạn 2010-2015. Ngoài cơ chế khen thưởng của Trung ương, tỉnh Nam Định còn thưởng cho xã đạt chuẩn NTM năm 2013: 2 tỷ đồng/xã, năm 2014: 1,5 tỷ đồng/xã, năm 2015: 1 tỷ đồng/xã; Huyện đạt chuẩn NTM được thưởng 3 tỷ đồng,…từ đó đã tiếp thêm động lực cho các địa phương và người dân. Đến nay, trong 96 xã xây dựng NTM giai đoạn 2010-2015, đã có 74 xã đạt chuẩn, 22 xã cơ bản đạt chuẩn, huyện Hải Hậu đạt chuẩn huyện NTM.
Những kết quả đạt được trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM ở Nam Định đã thực sự mang lại những hiệu quả và lợi ích thiết thực, góp phần để Nam Định hoàn thành thắng lợi kế hoạch mục tiêu đến hết năm 2020, tỉnh Nam Định sẽ có tối thiểu 80% số xã đạt chuẩn quốc gia nông thôn mới; 80% số huyện, thành phố đạt chuẩn quốc gia nông thôn mới; tỉnh Nam Định đạt chuẩn Quốc gia tỉnh nông thôn mới.
5 năm liên tiếp Khánh Hòa đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Báo cáo tại kỳ họp thứ III Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa khóa VI, ngày 12/12, UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong năm nay của địa phương ước đạt 1,21 tỷ USD, tăng gần 8% so với năm ngoái.
Đây là năm thứ 5 liên tiếp Khánh Hòa có giá trị xuất khẩu hàng hóa vượt ngưỡng 1 tỷ USD và là năm đạt mức cao nhất.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu bao gồm: tàu biển đóng mới, các sản phẩm chế biến thủy hải sản, cà phê, yến sào, hàng dệt may, cát… Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu trong năm nay của Khánh Hòa ước đạt 720 triệu USD, qua đó tạo giá trị thặng dư thương mại gần 500 triệu USD.
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, trong 3 năm gần đây (2014 – 2016), giá trị nhập khẩu hàng hóa của địa phương tăng cao và luôn đạt mức trên 700 triệu USD/năm, chủ yếu nhập các mặt hàng như: thiết bị máy móc, thủy sản nguyên liệu, sợi, tơ… phục vụ sản xuất cho ngành công nghiệp.
Năm 2017, tỉnh Khánh Hòa phấn đấu đưa xuất khẩu hàng hóa đạt 1,32 tỷ USD. Tuy nhiên, công nghiệp đóng tàu dự kiến trong năm tới chỉ đóng mới 8 chiếc, giảm 4 chiếc so với năm 2016 (với 12 chiếc tàu đạt giá trị xuất khẩu 390 triệu USD). Do đó sẽ ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng công nghiệp nói chung và tình hình xuất khẩu của địa phương nói riêng.
Vì vậy, Khánh Hòa tập trung thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh; thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp.
Đồng thời thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng cường quảng bá sản phẩm… nhằm tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa.
Hiệu quả và tác động Chương trình SEQAP ở Bến Tre. Qua 6 năm tổ chức, triển khai và thực hiện, giáo dục Bến Tre nói chung và 48 trường tham gia Chương trình SEQAP nói riêng đã có sự chuyển biến tích cực, đó chính là hiệu quả và tác động từ Chương trình SEQAP.
Ông Trần Văn Liêm - Trưởng hòng Giáo dục tiểu học (Sở GD&ĐT Bến Tre) - cho biết: Năm học 2015-2016, Bến Tre có 48 trường, 829 lớp, 23.276 HS tham gia SEQAP.
Các trường được chọn tham gia Chương trình SEQAP đều đạt các tiêu chí qui định. Cán bộ, giáo viên và nhân viên các trường có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác, chấp hành tốt sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo. Đa số các trường đã có tổ chức dạy 2 buổi/ngày.
Tuy nhiên, các trường cũng gặp nhiều khó khăn khi cán bộ, giáo viên, nhân viên và cộng đồng chưa hiểu rõ về mô hình dạy học cả ngày, hiểu về quan điểm, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cả ngày. Một số cha mẹ học sinh không đồng tình cho con em học 2 buổi/ngày.
Đa số các trường chỉ có một số lớp học 2 buổi/ngày, tỉ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày còn thấp. Việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cũng còn hạn chế do không đủ thời gian, chủ yếu chỉ tập trung dạy - học các môn văn hóa.
Trên cơ sở công văn chỉ đạo của Chương trình, hằng năm Sở có công văn hướng dẫn các phòng giáo dục chỉ đạo triển khai dạy học cả ngày, trong đó tập trung quán triệt trong đội ngũ giáo viên nhà trường về lộ trình chuyển đổi từ dạy học nửa ngày sang dạy học cả ngày.
Sở GD&ĐT cũng tổ chức tuyên truyền rộng rãi trong cha mẹ học sinh và cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau như các bản tin trên đài truyền thanh xã, phổ biến trong các phiên họp Ban Đại diện cha mẹ học sinh, Đại hội cha mẹ học sinh… nhằm giúp mọi người nắm được tầm quan trọng, sự cần thiết phải chuyển sang dạy học cả ngày.
Các trường chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất như phòng học, chỗ ăn, chỗ nghỉ trưa, chỗ để học sinh tham gia sinh hoạt các nhóm sở thích. Thêm vào đó là sự chuẩn bị về nhân lực, về tài chính... để tổ chức hoạt động dạy học cả ngày.
Các trường cũng thực hiện nhiều giải pháp nâng cao chất lượng dạy - học, đảm bảo mục tiêu phát triển toàn diện cho học sinh; đặc biệt quan tâm tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa, tổ chức tốt các hoạt động trong giờ nghỉ trưa tại trường cho học sinh.
Đồng thời tạo sự tin tưởng của cha mẹ học sinh trong việc hỗ trợ cùng với nhà trường ủng hộ cho con em tham gia học cả ngày, thực hiện tốt kế hoạch chuyển từ học nửa ngày sang học cả ngày.
Bàn về hiệu quả khi thực hiện Chương trình SEQAP, ông Trần Văn Liêm nhận định: Sau 5 năm thực hiện chương trình, hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức đúng về việc chuyển đổi sang dạy học cả ngày là phù hợp với nhu cầu thực tế và định hướng phát triển giáo dục Việt Nam.
Ngoài ra, chương trình hỗ trợ cơ sở vật chất, bữa ăn trưa cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tổ chức nhiều hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp... góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Năng lực của cán bộ quản lý được nâng lên thông qua việc vận dụng các mô-đun đã tập huấn để xây dựng kế hoạch, quản lý hoạt động dạy học phù hợp thực tế của đơn vị.
Giáo viên hiểu và vận dụng tốt “kỹ thuật dạy học” vào việc giảng dạy ở trường, lớp phụ trách. Thực hiện việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng lấy HS làm trung tâm, tổ chức câu lạc bộ học sinh ở trường học một cách có hiệu quả, góp phần nâng chất lượng dạy và học.
Bên cạnh đó, phương pháp “Bàn tay nặn bột” đặc biệt được giáo viên và cán bộ quản lý quan tâm. Thông qua các hoạt động thực hành, học sinh là người chủ động trong hoạt động học tập, tự xây dựng kiến thức thông qua khám phá, thử nghiệm, thảo luận, hợp tác với bạn, dưới sự định hướng, giúp đỡ của giáo viên.
Qua đó, học sinh nắm vững kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và tư duy sáng tạo, phát triển năng lực quan sát, thực hành; kỹ năng làm việc hợp tác theo nhóm… góp phần phát triển năng lực tự học. Rèn kỹ năng diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết, giúp học sinh phát triển khả năng diễn đạt, ngôn ngữ khoa học.
Qua việc tích cực tham gia các hoạt động, học sinh hình thành tác phong và thói quen làm việc khoa học, thói quen độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong hành động, có lợi cho việc học tập và nghiên cứu sau này. Học sinh cũng được bồi dưỡng lòng yêu thích và say mê khoa học.
Chất lượng giáo dục hàng năm của các trường tham gia SEQAP từng bước được kéo giảm cách biệt so bằng với mặt bằng chung của tỉnh.
Mặc dù các trường tham gia Chương trình SEQAP là những trường khó khăn trong tỉnh nhưng đến cuối Chương trình chất lượng giáo dục đạt được cao hơn mặt bằng chung của tỉnh.
Qua việc tổ chức cho HS ăn nghỉ trưa tại trường, sinh hoạt ngoại khóa... đã tạo cơ hội cho HS xây dựng mối quan hệ nhóm, tập thể, có điều kiện để trải nghiệm bản thân, đặc biệt HS được nâng cao kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự phục vụ, phát triển năng khiếu, sở trường cá nhân... đã giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách tốt nhất, nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện.
Có nhiều học sinh đạt giải trong các kỳ thi: Olympic Toán, Violympic Tiếng Anh, Hội thi Kể chuyện sách, Hội thi Vẽ tranh, Hội thi “Tiếng hát hoa phượng đỏ”...
Nhờ tổ chức bán trú, có những phần thưởng động viên khích lệ cho học sinh đi học đều, thưởng học sinh học giỏi nên số học sinh nghỉ học, bỏ học ngày càng được kéo giảm. Đến cuối Chương trình thì các trường tham gia SEQAP đều không có học sinh bỏ học.
Cô Nguyễn Thị Mỹ Dung - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Vĩnh Thành B, 1 trong 5 trường của huyện Chợ Lách tham gia Chương trình - chia sẻ:
Chương trình đã mang lại hiệu quả tích cực, bước đầu giải quyết được nhiều khó khăn, đặc biệt là phát huy được hiệu quả trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Hiện nay, khi tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các trường thường không có kinh phí, trong khi đây lại là 1 trong 2 hoạt động chính để nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần phát triển toàn diện cho học sinh bậc tiểu học.
Hiện tại, nhà trường tổ chức ăn trưa, bán trú cho 200 học sinh. Quỹ giáo dục hỗ trợ 150 học sinh nghèo (số còn lại xã hội hóa) mỗi tuần 2 suất ăn với số tiền 15 ngàn đồng/suất ăn.
Với kinh phí hỗ trợ, trường nấu ăn cho học sinh nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có điều kiện đổi khẩu phần ăn thường xuyên giúp các em ăn ngon miệng, đảm bảo chất lượng bữa ăn.
Phát huy những kết quả đã đạt được từ sự hỗ trợ của Chương trình SEQAP, Sở GD&ĐT Bến Tre tiếp tục chỉ đạo duy trì mô hình dạy học cả ngày ở các trường tham gia SEQAP, đồng thời nhân rộng ra tất cả các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh.
Phấn đấu đến năm 2020, 100% học sinh các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Bến Tre đều được học 2 buổi/ngày và có tổ chức bán trú ở những trường có điều kiện.
Cao tốc Hạ Long - Vân Đồn, Hạ Long - Hải Phòng: Mở cánh cửa liên kết vùng. Với vị trí cửa ngõ kết nối giao thương giữa ASEAN với Trung Quốc, một trong 3 cực tăng trưởng của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Quảng Ninh đang tích cực xây dựng mới, nâng cấp hàng loạt công trình giao thông trọng điểm, nhằm tạo nên cánh cửa liên kết vùng mời gọi doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã tạo ra những bước phát triển mới mang tính đột phá, khai thác những thế mạnh đặc biệt của tỉnh. Một trong ba đột phá chiến lược Quảng Ninh đang chú trọng thực hiện tốt là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về hạ tầng, trong đó, trọng tâm là hạ tầng giao thông, giải quyết điểm nghẽn về khoảng cách địa lý, hạ tầng kém, chưa đồng bộ... vốn là những cản trở ảnh hưởng trực tiếp đến các kế hoạch phát triển, đặc biệt là kêu gọi đầu tư nước ngoài.
Khắc phục hạn chế này, Quảng Ninh đã chủ động đa dạng hóa nguồn lực ưu tiên phát triển hệ thống giao thông như: Dự án Cao tốc Hạ Long – Hải Phòng, Dự án Cao tốc Hạ Long – Vân Đồn, Cảng hàng không Quảng Ninh, cầu Bạch Đằng, Bến du thuyền Tuần Châu... Trong năm 2015, tỉnh đã thu hút được trên 53.000 tỷ đồng đầu tư vào các dự án trên, góp phần làm thay đổi bộ mặt đô thị, cũng như mở ra sức hút mới trong đầu tư của Quảng Ninh.
Đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng được khởi công từ tháng 9/2014, vốn đầu tư gần 14.000 tỷ đồng. Theo thiết kế, đường dài 25,2 km, quy mô 4 làn xe, vận tốc thiết kế 100 km/h. Dự kiến, đến tháng 6/2017, tuyến đường sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác, rút ngắn quãng đường Hải Phòng - Quảng Ninh từ hơn 60 km xuống 25 km, tiết kiệm ít nhất gần một giờ di chuyển so với hiện tại. Đây sẽ là điều kiện rất thuận lợi cho các nhà đầu tư tìm đến vùng đất nhiều tiềm năng này.
Trong dự án thành phần, Dự án Đường nối TP. Hạ Long - Cầu Bạch Đằng là một trong hai dự án độc lập do Sở Giao thông - Vận tải Quảng Ninh làm chủ đầu tư. Đây là công trình đường cao tốc đầu tiên do một địa phương tự cân đối vốn đầu tư. Điểm đầu của Dự án Cao tốc Hạ Long - Hải Phòng giao với quốc lộ 18 tại Km102+300 thuộc phường Đại Yên (TP. Hạ Long).
Điểm cuối dự án tại Km 19+800 (là điểm đầu Dự án Cầu Bạch Đằng, đường dẫn và nút giao cuối tuyến). Đây là loại công trình giao thông cấp 1, quy mô đường cao tốc vận tốc thiết kế 100 km/h theo tiêu chuẩn kỹ thuật đường cao tốc. Tổng mức đầu tư của dự án là 6.416 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư ngân sách tỉnh và các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác. Công trình dự kiến đưa vào khai thác vào năm 2017.
Một hạng mục quan trọng khác là Dự án Xây dựng cầu Bạch Đằng, chiều dài dự án 5,411 km, tổng mức đầu tư 7.388 tỷ đồng. Dự án này đã được tỉnh Quảng Ninh trao cho Tập đoàn SE (Nhật Bản) đầu tư theo hình thức BOT, dự kiến sẽ vay vốn ưu đãi từ Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản.
Cùng với Dự án Cao tốc Hạ Long – Hải Phòng, Dự án Cao tốc Hạ Long - Vân Đồn cũng là dự án quan trọng. Theo thiết kế, đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn dài gần 60 km, bắt đầu tại điểm đầu của Dự án Cao tốc Hạ Long - Hải Phòng, điểm cuối giao với đường trục chính vào sân bay Vân Đồn (huyện Vân Đồn). Đường có tốc độ thiết kế 100 km/h với chiều rộng 4 làn xe hạn chế, chiều rộng nền đường 24,5 m và tổng mức đầu tư khoảng 12.000 tỷ đồng. Hiện nhà đầu tư đã thi công các hạng mục đầu tiên. Xác định đây là dự án động lực, tỉnh Quảng Ninh quan tâm đặc biệt đến tiến độ thực hiện, chỉ đạo sát sao để dự án hoàn thành trong thời gian sớm nhất, chất lượng tốt nhất.
Có thể nói, với 2 con đường “xương sống” này, Quảng Ninh khẳng định vị trí quan trọng trong vai trò cửa ngõ kết nối giao thương với Trung Quốc, đồng thời, rút ngắn thời gian lưu thông, tạo thuận lợi trong vận chuyển hàng hoá giữa Quảng Ninh với các tỉnh, thành phố lân cận. Khắc phục hạn chế khiến nhiều năm qua, Quảng Ninh chưa thể tạo sự gắn kết và trở thành “cánh tay nối dài” trong giao thương quốc tế.
Những dự án này sẽ mang lại hiệu quả lớn cho sự phát triển, không chỉ của Quảng Ninh mà cho cả vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, mang đến cho Quảng Ninh bước chuyển mình mới, giúp hiện thực hoá mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ - công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. đầu trang(
SAI PHẠM
Cán bộ Bộ Công thương bỏ trốn ra nước ngoài: Nhiều điểm chung đáng nghi ngờ. Bà Trần Thị Quốc Khánh - ĐBQH Hà Nội cho rằng những người này sai càng thêm sai khi đã làm sai lại bỏ trốn ra nước ngoài, không hợp tác với cơ quan điều tra.
Gần đây, việc hàng loạt các cán bộ của Bộ Công thương viện cớ ra nước ngoài rồi bỏ trốn đang khiến dư luận bàn tán, xôn xao. Điển hình là việc ông Trịnh Xuân Thanh (một cựu cán bộ của Bộ Công thương) sau khi được luân chuyển làm Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, đã bị phát hiện có những dấu hiệu vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong khi chờ xem xét, kỷ luật ông này đã bỏ trốn ra sang châu Âu.
Tiếp đến là việc Bộ Công thương đã quyết định kỷ luật đối với ông Vũ Đình Duy, thành viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Hoá chất Việt Nam (Vinachem), nguyên Tổng giám đốc PVTex. Nguyên do bởi, ông Duy đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật lao động và vi phạm quy định về quản lý đoàn đi nước ngoài.
Rồi đến việc ông Lê Chung Dũng, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực dầu khí (đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) đã nhận các quyết định kỷ luật khi đi Singapore, vắng mặt nhiều ngày tại cơ quan.
Đưa ra quan điểm trước vấn đề này, ông Nguyễn Minh Quang - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương nhận định: “Đây là một sự tha hóa xảy ra tương đối phổ biến thời gian gần đây. Đặc biệt những trường hợp này lại xảy ra ở Bộ Công Thương và bản thân những cán bộ đã từng quản lý nguồn vốn của nhà nước không hề nhỏ. Dư luận hiện nay đang nói những nguồn tài chính đó có vấn đề, chưa sử dụng đúng.
Các cán bộ trên bỏ đi và không thực hiện đúng kỷ luật lao động, vi phạm Luật công chức. Anh từng là lãnh đạo mà lại vi phạm Luật công chức, điều đó là không thể chấp nhận được".
Ông Quang nhấn mạnh, những cán bộ của Bộ Công Thương đã vi phạm nghiêm trọng Luật cán bộ công chức.
Theo ông, việc này chứng tỏ quá trình quản lý còn lỏng lẻo, hệ quả của cán bộ thoái hóa biến chất. Quản lý giáo dục cán bộ ở Bộ đó có vấn đề, dù kiểm tra, giám sát nhưng không phát hiện được sai phạm.
Dưới góc nhìn khác, bà Trần Thị Quốc Khánh, ĐBQH Hà Nội cho rằng giữa những cán bộ này có nhiều điểm chung đáng nghi ngờ cần phải điều tra, làm rõ.
Nói cụ thể hơn, vị ĐBQH thẳng thắn liệt kê: “Thứ nhất, có điểm trùng hợp là những người này cùng làm trong cơ quan về dầu khí của Bộ Công Thương. Thứ hai việc bỏ trốn xảy ra sau khi dư luận có những ý kiến về những vấn đề tiêu cực trong điều hành quản lý. Tôi cho rằng chắc chắn những người này có liên quan đến nhau.
Thứ ba, tôi cho rằng có thể tồn tại đường dây bao che lẫn nhau. Những người này đi theo cách đó để tránh trách nhiệm, tránh sự hỏi han, truy tìm của các cơ quan quản lý nhà nước. Hoặc cũng có thể do những người lãnh đạo muốn trốn tránh việc bị cấp dưới khai ra nên đã dùng mọi cách để đưa cấp dưới ra nước ngoài”.
Bà cho rằng những người này sai càng thêm sai khi đã làm sai lại bỏ trốn ra nước ngoài, không hợp tác với cơ quan điều tra.
Mặt khác, theo bà, những người trong gia đình các cán bộ này phải hiểu biết về pháp luật. Từ đó, họ phải có trách nhiệm khuyên bảo để các cán bộ đang bỏ trốn trình diện trước cơ quan điều tra cũng các cơ quan nhà nước.
"Không nên chạy trốn đi đâu cả mà nên thể hiện một sự ăn năn, xám hối và thành tâm hợp tác với cơ quan tư pháp thì tội nặng có thể thành nhẹ”, bà Khánh nhấn mạnh.
Lý giải trước thực trạng một số cán bộ bỏ trốn ra nước ngoài hiện nay, theo vị ĐBQH, những vi phạm trên của cán bộ viên chức xuất phát từ việc các doanh nghiệp nhà nước nhận được quá nhiều ưu đãi thời gian qua.
Bà Khánh nhận định: “Hệ thống pháp luật của chúng ta đã tạo cho doanh nghiệp nhà nước quá nhiều lợi thế. Doanh nghiệp tư nhân phải cân đo đong đếm, tính toán cụ thể trước khi chi tiêu.
Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước được quyền tiêu xài dẫn đến chi dùng không hợp lý, lãng phí. Đây là lỗ hổng trong hệ thống pháp luật để những cán bộ có biểu hiện tha hóa lợi dụng, tìm cách thao túng. Đạo đức công vụ của những người này không thực tâm làm việc vì nhân dân, đất nước mà vì lợi ích của bản thân, lợi ích nhóm”.
Trong tình huống này, nữ ĐBQH Hà Nội cho rằng chạy trốn không phải là biện pháp có thể giải quyết được vấn đề.
“Những cán bộ này cần phải trở về nước. Khi cần thì khai báo cho đúng, sai đến đâu sửa đến đó. Không nên để sai phạm kéo dài và liên tiếp. Bộ Công thương cần phối hợp với các cơ quan để giải quyết việc này. Đã có những người chạy trốn như vậy thì bây giờ phải có những hành động cụ thể và biện pháp ngăn chặn kịp thời”, bà Khánh nói.
Còn theo Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương, đã đến lúc các cơ quan nhà nước xem xét và tính đến việc sửa chữa lại các Luật quy định cho phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay tại Việt Nam. Việc này là rất cấp bách.
Ông Quang thẳng thắn, nếu không thay đổi thì dù chúng ta có nêu cao các khẩu hiệu hay yêu cầu cán bộ thực hiện theo đúng Luật công chức cũng không giải quyết được tận gốc vấn đề. Khi đó, có thể thủ trưởng, những người đứng đầu xấu nhưng khi lên phát biểu vẫn giảng đạo đức cho người khác.
Lào Cai: Chính quyền huyện Sa Pa bị “tố” thu hồi đất trái pháp luật. 4.089m2 “đất vàng” có giá khoảng 40 tỷ đồng, không nằm trong diện bị quy hoạch để xây dựng Trường Dân tộc nội trú nhưng vẫn bị thu hồi. Việc thu hồi đất đã kéo dài 5 năm nhưng cơ quan có thẩm quyền không hề công bố quy hoạch sử dụng đất.
Thời gian qua, báo Nhà báo & Công luận liên tục nhận được phản ánh của ông Lê Bảo Khánh- Giám đốc Cty TNHH Thương mại XNK Bảo Khánh (Lào Cai) khiếu nại toàn bộ nội dung kết luận số 96/KL- UBND ngày 22/7/2016 của UBND tỉnh Lào Cai, khi đã căn cứ vào báo cáo sai sự thật số 120/BC-TT ngày 07/7/2016 của Thanh tra tỉnh.
Được biết, toàn bộ diện tích 4.089m2 nằm ngay trên QL 4D cách thị trấn Sa Pa khoảng 1,5km, không thuộc diện bị thu hồi để xây dựng Trường Dân tộc nội trú liên cấp tại tổ 11A thị trấn Sa Pa. Không chấp nhận việc mất đất một cách vô lý, ông Lê Bảo Khánh đã có đơn tố cáo ông Lê Tân Phong – Phó Chủ tịch UBND huyện kiêm Chủ tịch Hội đồng GPMB huyện Sa Pa ra quyết định thu hồi đất trái pháp luật.
Từ đơn tố cáo của ông Khánh, ngày 25/5/2016, UBND tỉnh Lào Cai đã thụ lý giải quyết theo quyết định số 1528/ QĐ–UBND; giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên & môi trường tổ chức kiểm tra, xác minh trong vòng 30 ngày và báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định. Ngày 07/7/2016, Thanh tra tỉnh đã có báo cáo số 120 /BC–TT về kết quả xác minh nội dung tố cáo.
Ngày 22/7/2016, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành kết luận số 96/ KL-UBND trả lời đơn thư tố cáo của ông Khánh. Kết luận của UBND tỉnh Lào Cai khẳng định toàn bộ diện tích đất của ông Khánh nằm trong Dự án xây dựng trường nội trú liên thông THCS & THPT huyện Sa Pa (giai đoạn 1).
Trước đó, ngày 27/6/2014, ông Lê Tân Phong- Phó chủ tịch UBND huyện SaPa đã ra quyết định thu hồi đất số 606/QĐ-UBND theo quyết định số 502/QĐ-UBND ngày 14/3/2012 của UBND tỉnh Lào Cai “V/v phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình trường nội trú liên thông THCS&THPT huyện Sa Pa (giai đoạn 1)”. Tuy nhiên lại không có quyết định thu hồi đất tổng thể để thực hiện dự án.
Vì căn cứ quy định tại khoản 3, Điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì tất cả các trường hợp thu hồi đất tại khoản 1, 2 điều này (thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) đều phải nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết). Quyết định thu hồi đất tổng thể của dự án mới là căn cứ để thu hồi đất và bàn giao đất theo Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai.
Việc thu hồi đất của ông Khánh có dấu hiệu “mập mờ” khi căn cứ vào kết luận số 17/KL–TT ngày 28/10/2013 của cơ quan thanh tra về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án tại UBND huyện Sa Pa: Tổng diện tích xây dựng Trường học được cấp là 90.636m2 trong đó đất lâm nghiệp của rừng phòng hộ 661 là 87.580m2; còn lại lấy của các hộ dân là 3.056m2. Trong khi đó, quyết định số 606/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 lại thu hồi đất của ông Khánh 8.516,2m2 (trong đó 4.089m2 là diện tích đất ông Khánh đang khiếu nại); diện tích còn lại thuộc dự án trường thì ông Khánh đã bàn giao.
Bên cạnh đó, khi ông Khánh yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền cung cấp một số văn bản (như Quy hoạch sử dụng đất chi tiết, bản đồ quy hoạch đất chi tiết của dự án trường liên cấp đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật…) để làm căn cứ xem xét khi thu hồi đất, thì yêu cầu chính đáng này của ông đã bị từ chối thẳng thừng.
Chiều ngày 13/12/2016, Phóng viên báo Nhà báo & Công luận đã có mặt tại UBND huyện Sa Pa để xác minh khiếu nại của ông Khánh. Tuy nhiên người phát ngôn của UBND huyện viện lý do “bận việc”, đề nghị chúng tôi làm việc với Phòng Tài nguyên & môi trường huyện.
Tại buổi làm việc, ông Trần Văn Hùng- Phó trưởng Phòng Tài nguyên & môi trường huyện cho biết: Toàn bộ diện tích đất 8.516,2m2 của ông Khánh bị thu hồi thuộc Dự án xây dựng trường Dân tộc nội trú liên cấp tại tổ 11A thị trấn Sa Pa. Theo lời ông Hùng, khung giá đất tại vị trí trắc địa này (nơi đây được xem là đất vàng vì nằm đối diện với cáp treo) khoảng 4-5 triệu đồng/m2, còn giá thị trường thì có thể hơn 10 triệu/m2. Ông Hùng đã cung cấp cho PV danh sách những hộ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó hộ ông Lê Bảo Khánh được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi 8.516,2 m2 là hơn 2 tỷ đồng.
Liên quan đến việc thực hiện Dự án, khi PV yêu cầu ông Hùng cung cấp bản quy hoạch sử dụng đất chi tiết, bản đồ quy hoạch đất chi tiết của dự án trường liên cấp đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì ông Hùng trả lời là “đã nhìn thấy”, nhưng lại… “không có”(?) để cung cấp cho PV.
Thiết nghĩ, đã đến lúc lãnh đạo UBND tỉnh Lào Cai, UBND huyện Sa Pa nên kiểm tra, xem xét lại vụ việc theo nội dung đơn thư của ông Lê Bảo Khánh, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. đầu trang(
TRÁI KHOÁY
Lần đầu tiên Bộ Chính trị ra nghị quyết riêng về tinh giản biên chế (Nghị quyết 39), cho thấy tính cấp thiết của vấn đề.
Ngay sau khi Nghị quyết ra đời, rất nhiều Bộ, ngành địa phương quyết liệt vào cuộc triển khai. Đã có nhiều cách làm hay, thu được hiệu quả bước đầu. Không ít địa phương đã chỉ mặt, điểm tên đối tượng cần tinh giản. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề rất khó khăn.
Nếu không cấp tốc giảm đi những công chức “cắp ô” trong nền công vụ thì không chỉ tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước, mà sự cồng kềnh của bộ máy từ Trung ương đến địa phương sẽ làm bộ máy hành chính hoạt động thiếu hiệu quả. Vì thế,, từ năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định 132/2007/NĐ-CP về tinh giản biên chế. Nhưng sau 5 năm thực hiện, năm 2012 tổng số cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp huyện tăng 42.000 người, cán bộ công chức cấp xã tăng 14.000 người. Sau 5 năm tinh giản nhưng kết quả lại là con số âm. Tổng biên chế cả nước năm 2013 cũng tăng hơn năm 2012. Tinh giản, nhưng rút cục biên chế năm sau luôn cao hơn năm trước, đó là điều khó chấp nhận.
Vậy thì vì lý do gì công cuộc tinh giản biên chế vẫn cứ cài số lùi như vậy? Người ta đã phân tích rất nhiều nguyên nhân: Công tác đánh giá cán bộ thì làm lấy lệ, vị trí việc làm thì chưa xác định được, rất nhiều đơn vị hành chính hết nhập lại tách khiến bộ máy tăng thêm. Chưa kể không ít ngành, lĩnh vực mới ra đời không thể không có người để làm việc. Trong khi đó, muốn giảm biên chế mà Bộ, ngành, địa phương nào cũng có chưa đến 1% công chức “cắp ô” thì giảm ai, ai giảm?
Tinh giản biên chế như vậy chẳng khác nào đuổi hình bắt bóng nên không hiệu quả. Mấu chốt của việc tinh giản phải tìm được đối tượng để giảm. Mà đối tượng giảm lại cứ mờ mờ ảo ảo do cách đánh giá duy tình, nể nang, né tránh “tôi đánh giá tốt cho anh, anh cũng không nỡ đánh giá xấu tôi” thì khó truy ra công chức không làm được việc trong nền công vụ. Thế nên mới có chuyện nhìn vào số lượng tinh giản biên chế ở nhiều địa phương tưởng nhiều mà hóa ít vì đa phần đối tượng tinh giản lại là người nghỉ hưu hoặc do có vấn đề sức khỏe chứ không phải vì trình độ, năng lực, đạo đức!
Chắc chắn phải đổi mới công tác đánh giá cán bộ. Tuy nhiên, muốn đánh giá cán bộ sát thực phải cả một quá trình dài. Tuy nhiên, nếu các cơ quan, đơn vị muốn giải cho được bài toán tinh giản không phải không có đáp án.
Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị nêu rất rõ: Tinh giản biên chế gắn với việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Nhưng tại sao chúng ta cứ mải lo phần ngọn là loại được bao nhiêu biên chế ra khỏi nền công vụ mà không lo phần gốc, qua sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ chúng ta sẽ tìm ra đối tượng để giảm. Mà phần ngọn cũng không làm đến nơi đến chốn.
Đã có không ít địa phương tìm cách giải bài toán tinh giản biên chế thông qua việc cơ cấu lại đội ngũ, Quảng Ninh là ví dụ điển hình. Chỉ sau một năm thực hiện Đề án 25 (Đề án Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế), Quảng Ninh đã giảm được 1.605 công chức, viên chức; cắt chi trả phụ cấp thường xuyên đối với 18.919 người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở (gồm hàng ngàn tổ trưởng dân phố, trưởng khu dân cư…); giảm 2 đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh; 118 phòng, đơn vị, đầu mối trực thuộc các sở - ban - ngành, đoàn thể tỉnh và các địa phương... Hiệu quả từ đề án này đã tiết kiệm chi thường xuyên được gần 300 tỉ đồng/năm và hàng trăm tỉ đồng từ cơ sở vật chất.
Cũng áp dụng cách làm này, hiện Hà Nội cũng đã “vào mùa” trong việc thu gọn đầu mối, giảm biên chế. Tính đến thời điểm này, TP Hà Nội đã giảm 59 phòng ban, giảm 39 trưởng phòng, 143 phó phòng, ban; giảm 130 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở; giảm 27 Ban Quản lý dự án, 2 Quỹ, 30 cấp trưởng phòng, 69 cấp phó phòng. Hà Nội cũng sắp xếp các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở từ 401 còn 280 đơn vị. Điều đáng nói là các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp đều hoạt động hiệu quả, chất lượng, khối lượng công việc được cải thiện.
Hóa ra, chỉ cần rà soát, thống kê lại các đơn vị công trên địa bàn, nhiều địa phương đã truy ra không ít số người, số chức danh, số phòng, ban dư thừa trong bộ máy. Hà Nội chẳng hạn. Đã loại được phòng Dân tộc tại các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức do có số xã miền núi ít; hay chấm dứt hoạt động của Hội Nông dân ở nhiều quận trên địa bàn chứ không “mặc chung một áo” cho tất cả các đơn vị trong thành phố như trước.
Qua rà soát mới thấy cần sáp nhập nhiều cơ quan trùng lắp về nhiệm vụ mà ngốn không ít biên chế. Phải rà soát mới thấy hóa ra không phải chính quyền cấp trên có phòng, ban nào thì phải sao ra nhiều bản áp dụng cho tất cả chính quyền cấp dưới, qua đó kéo theo hàng loạt biên chế mà họ chẳng biết làm gì để tiêu hết khoảng thời gian dư thừa ở nhiệm sở. Đó là chưa kể, trong bộ máy của chúng ta còn tồn tại không ít cơ quan chồng chéo, giẫm chân lên nhau do chưa xác định được vị trí việc làm.
Rõ ràng, tinh giản biên chế không chỉ đơn thuần là giảm về số lượng người mà còn góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức qua việc sàng lọc. Không để tình trạng công chức “cắp ô” tồn tại trong nền công vụ cũng khiến việc tuyển dụng công chức công khai, minh bạch hơn, tìm được những người đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu của mỗi vị trí việc làm qua đó tăng hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính, như vậy mới gọi là giản mà tinh. Muốn thực hiện tốt chủ trương tinh giản biên chế phải rà soát, sắp xếp lại bộ máy, xác định vị trí việc làm. Phải dứt khoát đổi mới công tác đánh giá cán bộ.
Đặc biệt, để cổ vũ cho tinh giản biên chế, cần hiện đại hóa chính quyền, áp dụng chính phủ điện tử; tập trung xã hội hóa cung cấp dịch vụ công để Nhà nước đỡ phải ôm đồm cũng như dần xóa bỏ tâm lý ai cũng muốn trở thành người nhà nước.
Đối tượng giảm mờ mờ ảo ảo do cách đánh giá duy tình, nể nang, né tránh “tôi đánh giá tốt cho anh, anh cũng không nỡ đánh giá xấu tôi” thì khó truy ra công chức không được việc trong nền công vụ. Thế nên mới có chuyện nhìn vào số lượng người tinh giản biên chế ở nhiều địa phương tưởng nhiều mà hóa ít vì đa phần đối tượng tinh giản lại là người nghỉ hưu, hoặc do có vấn đề sức khỏe chứ không phải vì trình độ, năng lực, đạo đức! (Đại Đoàn Kết 13/12) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Iceland: Tăng lương để chống tham nhũng. Để tăng cường phòng ngừa tham nhũng, Quốc hội Iceland vừa thông qua nghị quyết được cho là khá bất ngờ là tăng thêm 44% lương cho tất cả các nghị sĩ của nước này.
Theo nghị quyết, lương của các nghị sĩ sẽ tăng từ 6.300 euro lên thành 9.000 euro mỗi tháng (cao gấp đôi so với thu nhập bình quân của người dân Iceland). Tất cả những phụ cấp khác vẫn giữ nguyên như trước đây. Nghị quyết này có hiệu lực bắt đầu từ tháng 1/2017.
Nghị sĩ Brynjar Nielsson cho biết, quyết định này của Quốc hội là rất sáng suốt và thực sự cần thiết. "Việc tăng lương này là rất quan trọng, vì nó sẽ thu hút được nhiều người tài. Lương cao, các nghị sĩ sẽ không phải làm thêm, họ sẽ dành toàn bộ thời gian, tâm trí vào công việc để đưa ra những chính sách tích cực hơn, có lợi hơn cho người dân và cho đất nước. Hơn nữa, khi lương cao thì bản thân các nghị sĩ cũng sẽ ít quan tâm hơn đến những lợi ích vật chất khác (thông qua các hình thức như tham nhũng, nhận hối lộ, biển thủ…). Đó cũng là một cách phòng ngừa tham nhũng hiệu quả", nghị sĩ Brynjar Nielsson cho biết thêm.
Tuy nhiên, vấn đề tăng lương của các nghị sĩ đang vấp phải làn sóng phản đối của người dân. Một người dân chia sẻ: "Thật nực cười. Ai dám chắc các nghị sĩ được tăng lương sẽ ít tham nhũng hơn. Điều quan trọng là họ phải nghĩ ra hình phạt nào đó khiến các nghị sĩ sợ không dám tham nhũng, đằng này họ lại lấy thêm tiền thuế của dân để "câu" các nghị sĩ mà không dám chắc sẽ không có nghị sĩ nào tham nhũng nữa. Thật không thể chấp nhận được". ./. đầu trang(
|
|||