|
Ngày 17 tháng 05 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư xây dựng cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu neo đậu, chuyển tải, luồng hàng hải phải tuân thủ các quy định tại Nghị định số 58/2017/NĐ-CP và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 58/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải bao gồm: Đầu tư xây dựng, khai thác cảng biển, luồng hàng hải, công trình hàng hải, báo hiệu hàng hải, thông báo hàng hải, hoạt động của hoa tiêu hàng hải và quản lý hoạt động của tàu thuyền tại cảng biển và trong vùng biển Việt Nam.
Về nguyên tắc đầu tư xây dựng, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư cảng biển, luồng hàng hải, Nghị định quy định tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư xây dựng cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu neo đậu, chuyển tải, luồng hàng hải phải tuân thủ các quy định tại Nghị định số 58/2017/NĐ-CP và các quy định khác có liên quan của pháp luật.
Việc đầu tư xây dựng cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu neo đậu, chuyển tải, luồng hàng hải phải phù hợp với quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển và các quy hoạch khác có liên quan đã được phê duyệt; trường hợp dự án đầu tư xây dựng cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu neo đậu, chuyển tải, luồng hàng hải có sự khác biệt so với quy hoạch phát triển cảng biển đã được phê duyệt, trước khi triển khai dự án, chủ đầu tư phải báo cáo và được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chấp thuận.
Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cảng biển, bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu neo đậu, chuyển tải chuyên dùng có trách nhiệm đầu tư xây dựng, thiết lập kết cấu hạ tầng cảng biển, luồng hàng hải chuyên dùng, khu nước, vùng nước trừ trường hợp luồng hàng hải công cộng, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, vùng quay trở hiện có tại khu vực đáp ứng được nhu cầu cho tàu thuyền hoạt động tại cảng chuyên dùng đó.
Việc quyết định chủ trương đầu tư cảng biển, bến cảng, cầu cảng và luồng hàng hải sử dụng nguồn vốn đầu tư công được thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công.
Việc quyết định chủ trương đầu tư đối với cảng biển, bến cảng, cầu cảng và luồng hàng hải không thuộc trường hợp quy định trên được thực hiện theo quy định của Luật đầu tư. Đối với các dự án thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư, phải có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Giao thông vận tải. (Tài Nguyên Và Môi Trường 16/5) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Chỉ thị nêu rõ, thời gian vừa qua, các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Để tăng cường giải pháp phòng, chống và xử lý kịp thời các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em, giảm tối đa các tổn hại và bảo đảm quyền, lợi ích của trẻ em, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đôn đốc, kiểm tra các bộ, ngành, địa phương thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ trẻ em, đặc biệt là việc phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em và kịp thời can thiệp, hỗ trợ cho trẻ em khi bị bạo lực, xâm hại; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức thực hiện tốt quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em; triển khai theo thẩm quyền việc hỗ trợ, can thiệp cho trẻ em khi bị bạo lực, xâm hại; rà soát, kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em.
Nội dung Chỉ thị nêu rõ, Bộ Công an chỉ đạo công an các cấp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, xử lý dứt điểm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em đang tồn đọng, chưa xử lý kịp thời; kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi bao che, chậm trễ, cố tình kéo dài hoặc không xử lý vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; hướng dẫn công an các cấp quy trình, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh đối với hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em; các biện pháp điều tra thân thiện đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em bị xâm hại tình dục; nâng cao năng lực, kỹ năng cho lực lượng công an các cấp về điều tra, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xử lý nghiêm các cơ quan, tổ chức, cá nhân che giấu, không thông báo, tố giác hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em hoặc thiếu trách nhiệm trong việc xử lý các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em.
Thủ tướng Chính phủ cũng đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, không để tồn đọng, kéo dài.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục, nhà trường thực hiện các biện pháp bảo vệ trẻ em; rà soát các tiêu chuẩn trường học bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em; tăng cường giáo dục kiến thức về giới và kỹ năng phòng tránh bạo lực, xâm hại trẻ em cho giáo viên và học sinh; chủ động phát hiện các trường hợp học sinh có dấu hiệu bị bạo lực, xâm hại, thông báo, cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc xử lý, điều tra, bảo vệ trẻ em.
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về giám định pháp y đối với trẻ em bị xâm hại tình dục, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời; chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ưu tiên tiếp nhận, điều trị, tư vấn chăm sóc sức khỏe cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại; nâng cao năng lực, kỹ năng cho cán bộ y tế trong việc chăm sóc, tư vấn sức khỏe đối với trẻ em bị bạo lực, xâm hại.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình; hướng dẫn gia đình kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em, phòng ngừa bạo lực, xâm hại trẻ em, trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí ưu tiên việc phổ biến kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em, phòng ngừa bạo lực, xâm hại trẻ em; phát hiện, lên án các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em; bảo đảm quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ em. (Quân Đội Nhân Dân 16/5) đầu trang(
Theo dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước, kinh phí hỗ trợ với hình thức bồi dưỡng sau tiến sỹ ở trong nước được đề xuất là 200 triệu đồng/toàn bộ thời gian bồi dưỡng.
Dự thảo nêu rõ về chi đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước. Đối với hình thức bồi dưỡng sau tiến sỹ: Người học trúng tuyển bồi dưỡng sau tiến sỹ ở trong nước (có đề cương nghiên cứu đã được Bộ Khoa học và Công nghệ xét chọn và được tiếp nhận bồi dưỡng tại một cơ sở nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ uy tín ở trong nước) được xem xét, hỗ trợ một khoản kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu theo đề cương được duyệt.
Mức kinh phí hỗ trợ tối đa không vượt quá 200 triệu đồng/toàn bộ thời gian bồi dưỡng.
Đối với hình thức bồi dưỡng nhân lực quản lý khoa học và công nghệ: Nội dung và định mức chi thực hiện theo quy định tại Thông tư số 139/2010/TT-BTC về việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Đối với chi phí thuê chuyên gia nước ngoài về nước giảng dạy: Yêu cầu về trình độ, năng lực của chuyên gia do nhu cầu từ các chương trình học cụ thể theo kế hoạch bồi dưỡng hàng năm của Bộ Khoa học và Công nghệ. Mức chi trả cho chuyên gia, giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy tại các khóa bồi dưỡng của Đề án 2395 sẽ do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định sau khi đã thỏa thuận với chuyên gia theo hợp đồng và trong phạm vi dự toán được phê duyệt.
Các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập và doanh nghiệp có người lao động được tuyển chọn cử đi bồi dưỡng về quản lý khoa học và công nghệ theo các chương trình do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức: Chi trả kinh phí đi lại và ăn ở cho người lao động của đơn vị mình trong thời gian bồi dưỡng. (Pháp Luật Và Xã Hội 16/5)
Bộ Tư pháp đang đề nghị xây dựng Nghị định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Bộ Tư pháp cho biết, ngày 20/6/2012, Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) được Quốc hội ban hành. Trên cơ sở quy định của Luật XLVPHC, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC, trong đó có đề cập đến việc kiểm tra một số nội dung thi hành pháp luật về XLVPHC như: (i) Tình hình ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến XLVPHC; (ii) Công tác phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, bố trí nguồn lực và các điều kiện khác để bảo đảm cho việc thi hành pháp luật XLVPHC trong phạm vi Bộ, ngành và địa phương; (iii) Việc áp dụng các quy định pháp luật về XLVPHC; (iv) Việc thực hiện chế độ thống kê về XLVPHC; (v) Việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về XLVPHC và cung cấp thông tin để tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia; (vi) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong XLVPHC.
Để thực hiện việc kiểm tra về các nội dung nêu trên, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP cũng quy định phương thức kiểm tra và báo cáo kết quả kiểm tra. Tuy nhiên, công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC còn thiếu nhiều quy định cơ bản, có tính chất xương sống, cụ thể như: 1- Chưa có các quy định về trình tự, thủ tục, hình thức, cách thức tổ chức kiểm tra, thực hiện kết luận kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC; 2- Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận kiểm tra; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra; 3- Các hành vi vi phạm của người có thẩm quyền trong thực thi công vụ, trong quá trình kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC; 4- Quy định về xử lý kỷ luật người có có thẩm quyền trong thực thi công vụ gắn với các hành vi, nhóm hành vi vi phạm điển hình.
Bên cạnh đó, một số quy định mặc dù đã có nội dung mang tính nguyên tắc nhưng chưa đầy đủ, toàn diện và chưa phù hợp với sự thay đổi của tình hình thực tế như: Các quy định về căn cứ kiểm tra, thẩm quyền kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC. Vì vậy, cần có sự nghiên cứu, bổ sung các quy định này để thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC.
Việc quy định cụ thể và bổ sung các nội dung còn thiếu về trình tự, thủ tục, hình thức, thẩm quyền, trách nhiệm… kiểm tra được căn cứ trên cơ sở các quy định pháp luật chung đã có; bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong khuôn khổ hệ thống pháp luật về thanh tra, kiểm tra nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung; việc quy định này không làm phát sinh chức danh mới, không tăng thẩm quyền của các chức danh đã có cũng như không tạo ra các quy định khác biệt so với pháp luật hiện hành.
Về vấn đề xử lý kỷ luật, Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản pháp luật có liên quan mặc dù đã quy định về các hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức vi phạm trong thi hành công vụ nói chung, Luật XLVPHC đã quy định một số hành vi nghiêm cấm nhưng cả hai Luật này chưa có quy định cụ thể, kết nối các hình thức xử lý kỷ luật này gắn với các hành vi vi phạm cụ thể của người có thẩm quyền là cán bộ, công chức, viên chức vi phạm trong thực hiện pháp luật về XLVPHC. Trong khi đó, XLVPHC là một lĩnh vực mang tính đặc thù, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân.
Về phương diện thực tế, theo Báo cáo công tác thi hành pháp luật về XLVPHC các năm 2014, 2015 và 2016 do Bộ Tư pháp tổng hợp, trình Chính phủ, trên cơ sở kế hoạch hoạt động chung về quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC, các Bộ, ngành và địa phương đã chủ động ban hành Kế hoạch thực hiện/quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC theo từng năm, Kế hoạch kiểm tra công tác thi hành pháp luật về XLVPHC theo từng năm, hoặc Quyết định thành lập các đoàn kiểm tra, kiểm tra liên ngành và tiến hành kiểm tra công tác thi hành pháp luật về XLVPHC.
Tuy nhiên, qua kiểm tra công tác thi hành pháp luật về XLVPHC trên thực tế cũng như tổng hợp các báo cáo định kỳ 6 tháng và hàng năm công tác thi hành pháp luật về XLVPHC của các Bộ, ngành, địa phương cho thấy, các Bộ, ngành, địa phương còn rất lúng túng trong quá trình triển khai, thực hiện công tác kiểm tra.
Thậm chí, việc tiến hành công tác này ở các địa phương trên cả nước còn có sự khác nhau, nhất là trong điều kiện hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể trình tự, thủ tục kiểm tra và ban hành kết luận kiểm tra, kể cả Nghị định số 81/2013/NĐ-CP. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là hiện nay, các quy định về kiểm tra công tác thi hành pháp luật về XLVPHC chưa rõ ràng, cụ thể, chưa có sự thống nhất, nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn…
Vì vậy, theo Bộ Tư pháp, việc xây dựng và ban hành Nghị định của Chính phủ về kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về XLVPHC là cần thiết.
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến góp ý đối với đề nghị xây dựng Nghị định này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Quảng Ninh 16/5) đầu trang(
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác trong đó đề xuất nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với tổ hợp tác.
Dự thảo Nghị định nêu rõ, tổ hợp tác là tổ chức kinh tế hợp tác, không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác, gồm từ 03 cá nhân, pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng đóng góp vốn, sức lao động để thực hiện những công việc nhất định nhằm phục vụ nhu cầu chung của các thành viên, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.
Tổ hợp tác đăng ký hoạt động tại Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tổ hợp tác được tổ chức và hoạt động dựa trên các nguyên tắc cá nhân, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập và ra khỏi tổ hợp tác. Thành viên tổ hợp tác có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vào phần đóng góp trong việc quyết định tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác.
Tổ hợp tác chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình bằng tài sản chung của các thành viên và bằng tài sản riêng của các thành viên theo thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác. Thành viên tổ hợp tác có ý thức phát huy tinh thần xây dựng cộng đồng và hợp tác với nhau trong tổ hợp tác, trong cộng đồng xã hội, quan tâm và giúp đỡ nhau trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Tổ hợp tác có quyền tự do hoạt động, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức, pháp nhân trong nước và nước ngoài để mở rộng hoạt động, sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Về chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với tổ hợp tác, dự thảo đề xuất Nhà nước có các chính sách hỗ trợ sau đây đối với tổ hợp tác: Miễn phí, lệ phí đăng ký hoạt động của tổ hợp tác; miễn thuế trong 03 năm đầu hoạt động đối với các tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, dịch vụ môi trường.
Nhà nước có các chính sách hỗ trợ đối với tổ hợp tác như đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã như sau: Bồi dưỡng nguồn nhân lực; thành lập mới tổ hợp tác; tiếp thị, mở rộng thị trường, xây dựng tên hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu tập thể.
Ngoài ra còn có các chính sách hỗ trợ, ưu đãi khác theo quy định của pháp luật hiện hành. (Pháp Luật Và Xã Hội 16/5) đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Ngày 16-5, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã tiếp thân mật Ngài Man Uyn Khai Than, Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ tịch Thượng viện Mi-an-ma, đang có chuyến thăm chính thức Việt Nam.
Theo TTXVN, tại buổi tiếp Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhấn mạnh, Việt Nam trân trọng và đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt Việt Nam - Mi-an-ma thời gian qua.
Chủ tịch nước bày tỏ đồng tình và ủng hộ việc Quốc hội hai nước tăng cường hợp tác, cho rằng đây là cơ sở quan trọng để thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Mi-an-ma ngày càng phát triển. Chủ tịch nước nhấn mạnh, Việt Nam và Mi-an-ma cần duy trì các cơ chế hợp tác đã được thiết lập, tăng cường trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, đẩy mạnh giao lưu giữa các địa phương, giao lưu nhân dân.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang đề nghị Mi-an-ma tiếp tục tạo điều kiện, ủng hộ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh trong các lĩnh vực ngân hàng, hàng không, viễn thông, khoáng sản, du lịch, nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng... Chủ tịch nước cảm ơn Mi-an-ma đã ủng hộ Việt Nam ở các diễn đàn khu vực và quốc tế; mong muốn thời gian tới hai nước tăng cường tham vấn chính trị, phối hợp và ủng hộ nhau, trong khuôn khổ các tổ chức mà hai nước là thành viên.
Chủ tịch Quốc hội Man Uyn Khai Than bày tỏ vui mừng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Mi-an-ma sang Việt Nam tham dự Hội nghị chuyên đề của IPU khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thăm chính thức Việt Nam. Bày tỏ sự ngưỡng mộ về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua, Chủ tịch Quốc hội Man Uyn Khai Than nhận thấy có nhiều lĩnh vực Mi-an-ma cần học hỏi kinh nghiệm từ Việt Nam, nhất là về phát triển kinh tế.
Chủ tịch Quốc hội Man Uyn Khai Than đã giới thiệu một số nét về hoạt động của Quốc hội Mi-an-ma, đặc biệt trong lĩnh vực lập pháp. Chủ tịch Quốc hội Man Uyn Khai Than nhấn mạnh, Mi-an-ma đang tích cực triển khai quá trình sửa đổi luật để có thể sớm ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Công ty nước ngoài nhằm thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào Mi-an-ma, trong đó có các doanh nghiệp Việt Nam. (Nhân Dân 17/5) đầu trang(
QUẢN LÝ
Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Vĩnh Phúc giải trình làm rõ 6 vấn đề, trong đó có việc phá rừng phòng hộ làm nghĩa trang.
Tại buổi làm việc với UBND tỉnh Vĩnh Phúc vào sáng 16/5, Phó chủ nhiệm VPCP Nguyễn Cao Lục, Tổ phó Tổ công tác của Thủ tướng cho biết, thông qua Tổ công tác của Thủ tướng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu UBND tỉnh giải trình làm rõ 6 vấn đề.
Thứ nhất, về vấn đề cải cách hành chính; cải thiện, nâng cao môi trường đầu tư, kinh doanh. Tại hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu chính quyền địa phương phải “3 cùng” với doanh nghiệp (cùng trăn trở, tìm giải pháp hỗ trợ; cùng làm, bắt tay vào hành động để kiến tạo phát triển; cùng chia sẻ thành công cũng như những thất bại, động viên, tôn vinh kịp thời đối với doanh nghiệp).
Từ sau hội nghị trên đến nay, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục triển khai nhiều giải pháp nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2016 đã tụt 5 bậc so với năm 2015.
Vấn đề thứ hai, công tác quản lý tài nguyên và khai thác khoáng sản ở Vĩnh Phúc được phản ánh vẫn bộc lộ không ít bất cập, yếu kém, gây bức xúc cho nhiều người dân. Cụ thể như tình trạng khai thác cát ở sông Lô, có công ty khai thác cát sát bờ kè vượt quá khối lượng, gây những hố sâu tới 40 m, khiến bờ kè sạt lở. Một số khu vực đồi núi bị băm nham nhở, đục khoét suốt ngày đêm, không ít khu vực bị san phẳng, thậm chí “biến mất” vĩnh viễn... Ở một số nơi, chủ khai thác đã tự thỏa thuận với người dân có ruộng, đồi để khai thác đất đồi, đất sét làm gạch ngói, cát xây dựng, khiến một lượng lớn đất đai cho nông nghiệp bị tàn phá, khó khắc phục về sau.
Vấn đề thứ ba là việc Vĩnh Phúc đồng ý chủ trương phá rừng phòng hộ ở núi Ngang (huyện Tam Đảo) làm công viên nghĩa trang vấp phải sự phản đối của hàng trăm hộ dân thuộc huyện Tam Đảo và các chuyên gia. Chuyên gia bình luận chủ trương phá rừng phòng hộ làm nghĩa trang của tỉnh Vĩnh Phúc là không thể chấp nhận, vừa nguy hiểm do mất rừng, vừa phá hoại tiềm năng du lịch, đang đi ngược với khẳng định “không đánh đổi môi trường lấy kinh tế”. Trước phản ứng mạnh, hiện UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có văn bản xin dừng dự án và nhận được sự hoan nghênh, điều này cần rút kinh nghiệm.
Thứ tư là vấn đề ô nhiễm môi trường, như sông Phan ô nhiễm nghiêm trọng do hằng ngày đang phải gánh chịu hơn 20.000 m3 nước thải của hơn 200.000 hộ dân, 4.000 m3 nước thải từ các khu công nghiệp cùng hàng trăm hộ dân sản xuất liên quan tới hóa chất, sắt vụn… xả thải. Cùng với đó là tình trạng ô nhiễm trên sông Phó Đáy.
Thứ năm là vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, như vụ 7 người trú tại thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường phải nhập viện do bị ngộ độc rượu; giáo viên tại Trường Mầm non Hợp Lý, huyện Lập Thạch bị phát hiện sử dụng thịt bẩn để chế biến thức ăn cho học sinh, gây bức xúc. Tỉnh có nhiều trường học, khu công nghiệp lớn, cần quan tâm hơn nữa tới công tác này, nhất là về trách nhiệm của người đứng đầu các cấp.
Vấn đề thứ sáu là công tác bảo đảm an ninh trật tự, nổi lên một số vụ việc như việc thu hồi 256 ha đất nông nghiệp cho khu du lịch sinh thái Vĩnh Thịnh An Tường của Tập đoàn FLC, huyện Vĩnh Tường, người dân phản ứng mạnh vì họ cho rằng đây là đất tổ tiên, đất xương máu của họ.
Tại cuộc làm việc, ông Nguyễn Văn Trì, Chủ tịch UBND tỉnh và ông Vũ Chí Giang, Phó chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã lần lượt giải trình các vấn đề Thủ tướng yêu cầu.
Về việc phá rừng phòng hộ làm nghĩa trang, ông Giang cho biết: "Tỉnh chưa có lò hóa thân hoàn vũ. Bây giờ, người chết muốn hóa thì phải mang sang tỉnh khác để làm. Công viên nghĩa trang được quy hoạch ở tỉnh không có hung tán mà chỉ cát táng và hỏa táng. Vĩnh Phúc chỉ có 3 huyện đồng bằng nên không thể làm nghĩa trang ở các huyện này".
Trong khi đó, ông Trì cho biết, Vĩnh Phúc mới xin chủ trương quy hoạch công viên nghĩa trang chứ chưa xác định cụ thể sử dụng bao nhiêu diện tích đất rừng.
Theo thống kê, từ đầu năm 2016 tới nay, tỉnh Vĩnh Phúc được giao 760 nhiệm vụ, trong đó đã hoàn thành 637 nhiệm vụ. Còn 121 nhiệm vụ chưa hoàn thành trong hạn và có 2 nhiệm vụ quá hạn nhưng chưa hoàn thành. Điều này cho thấy nỗ lực lớn của tỉnh để kéo giảm số nhiệm vụ chậm trễ vì tính tới tháng 4, tỉnh vẫn còn 13 nhiệm vụ chậm trễ. (Giao Thông 16/5) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập.
Theo đó, từ ngày 1/7/2017 các hàng hóa sau nhập khẩu phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập gồm: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm (mã hàng 2401, 2402, 2403); rượu (mã hàng 2204, 2205, 2206, 2207, 2208); bia; xe ô tô chở người dưới 16 chỗ ngồi; tàu bay, du thuyền; xăng các loại; điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống; hàng hóa phải kiểm dịch động vật, hàng hóa phải kiểm dịch thủy sản theo Danh mục do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định; phế liệu theo Danh mục do Thủ tướng Chính phủ quy định ...
Quyết định nêu rõ, hàng hóa không thuộc Danh mục trên được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập hoặc các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu nhập theo quy định của Luật hải quan, Nghị định số 8/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ.
Trường hợp hàng hóa có nhiều chủng loại (thuộc Danh mục và không thuộc Danh mục), chung vận đơn thì phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập.
Hàng hóa nhập khẩu thuộc Danh mục được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập hoặc tại các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu nhập trong các trường hợp sau:
1- Thiết bị, máy móc, vật tư nhập khẩu để xây dựng nhà máy, công trình được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan nơi có nhà máy, công trình hoặc kho của nhà máy, công trình.
2- Nguyên liệu, vật tư, thiết bị, máy móc, linh kiện, phụ tùng để phục vụ gia công, sản xuất được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan nơi có nhà máy, cơ sở sản xuất.
3- Hàng hoá tạm nhập để dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan nơi có hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm.
4- Hàng hoá nhập khẩu vào cửa hàng miễn thuế được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan quản lý cửa hàng miễn thuế.
5- Hàng hoá nhập khẩu vào khu phi thuế quan được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan quản lý khu phi thuế quan.
6- Hàng hóa nhập khẩu phục vụ yêu cầu cứu trợ khẩn cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật hải quan được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan nơi xảy ra thiên tai, dịch bệnh hoặc yêu cầu cứu trợ khẩn cấp.
7- Hàng hóa chuyên dùng nhập khẩu phục vụ an ninh, quốc phòng theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật hải quan được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan theo đề nghị của người khai hải quan.
8- Xăng được đưa từ kho ngoại quan đến các địa điểm làm thủ tục hải quan nơi thương nhân có hệ thống kho xăng dầu.
9- Hàng hóa nhập khẩu đóng chung container đưa về địa điểm thu gom hàng lẻ được làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan quản lý địa điểm thu gom hàng lẻ.
10- Các trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. (Hải Quan 16/5) đầu trang(
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Văn phòng Chính phủ đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra thực trạng tem truy xuất nguồn gốc.
Trước đó, báo Tiền phong ngày 13/4/2017 phản ánh việc các hợp tác xã, đơn vị kinh doanh rau củ quả tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu thực trạng tem truy xuất nguồn gốc là do các Hợp tác xã và siêu thị tự in ấn, dán nhãn, kiểm tra...; có nơi phải in nhiều loại tem theo yêu cầu của doanh nghiệp, siêu thị; dẫn đến người tiêu dùng lo lắng trước nhiều loại tem truy xuất nguồn gốc.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra vấn đề này, gửi báo cáo về Văn phòng Chính phủ trong tháng 5/2017 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (VnMedia 17/5) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị toàn quốc về phát triển dược liệu Việt Nam. Trong đó nêu rõ 3 định hướng phát triển ngành dược liệu Việt Nam.
Một là, phải nhìn nhận lại vai trò của dược liệu trong phạm vi quốc gia, từng địa phương và từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt là ngành y tế để chú trọng phát triển. Phát triển công nghiệp dược với nguyên liệu là dược liệu trong nước phải là một chiến lược của ngành y tế.
Hai là, phát triển dược liệu phải gắn với nhu cầu thị trường, trước hết là đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu. Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện phát triển ngành dược liệu không đồng nghĩa với bao cấp đối với việc nuôi trồng, chế biến, sử dụng dược liệu. Phải đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất theo chuỗi, chế biến sâu, bảo đảm chất lượng; tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn để phát triển các doanh nghiệp trong lĩnh vực dược liệu; đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm dược liệu.
Ba là, phải tổ chức lại ngành dược liệu trong tất cả các khâu, trong đó chú ý khâu sản xuất, chế biến, sử dụng; tiếp tục khuyến khích khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ: Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, các bộ liên quan xây dựng, trình Chính phủ xem xét, ban hành chính sách đặc thù phát triển ngành dược liệu, công nghiệp dược.
Các thành phố trực thuộc Trung ương và các địa phương có tiềm năng dược liệu thu hút đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến tại các vùng dược liệu quy mô lớn. Nghiên cứu hình thành các trung tâm kinh doanh và thu mua dược liệu tại các vùng miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên; xây dựng các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối dược liệu.
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các bộ, ngành liên quan đề xuất, ưu tiên triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia về dược liệu, thuốc cổ truyền trong các Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm, trong đó chú trọng việc bảo tồn nguồn gen và phát triển dược liệu quý, hiếm, đặc hữu; có chính sách hỗ trợ phát hiện, đăng ký, công nhận sở hữu trí tuệ và thương mại hóa các bài thuốc cổ truyền.
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ lựa chọn một số sản phẩm từ dược liệu, thuốc cổ truyền đưa vào danh mục sản phẩm quốc gia hoặc được áp dụng các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi như đối với sản phẩm quốc gia để đầu tư phát triển theo chuỗi giá trị tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Bộ Y tế chủ trì, nghiên cứu, đề xuất chính sách tăng cường liên kết 5 nhà (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà quản lý và ngân hàng thương mại), liên kết giữa các địa phương, các vùng.
Về nuôi trồng, khai thác, chế biến, sử dụng dược liệu, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Y tế chủ trì, cùng Hiệp hội dược liệu Việt Nam xem xét lựa chọn 100 loại cây dược liệu có giá trị y tế và kinh tế cao để tập trung phát triển; thúc đẩy nuôi trồng chuyên canh quy mô lớn, sản xuất theo chuỗi, áp dụng quy trình quản lý chất lượng tiên tiến, công nghệ cao vào nuôi trồng. Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong việc công nhận và có tiêu chí đặc thù đối với việc công nhận giống cây dược liệu, bảo đảm chất lượng giống; khẩn trương ban hành các quy trình chuẩn trong nuôi trồng dược liệu.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dược liệu được hỗ trợ từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia để đổi mới công nghệ chế biến, bảo quản dược liệu sau thu hoạch. Khuyến khích nghiên cứu khoa học về chế biến dược liệu trước hết là đối với một số sản phẩm có giá trị kinh tế cao, chế biến dược liệu quy mô công nghiệp.
Bộ Y tế mở rộng Danh mục dược liệu, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế; xây dựng cơ chế thanh toán đặc thù cho thuốc nam, dược liệu tươi dùng trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; đơn giản hóa thủ tục thanh toán, thuận lợi cho người bệnh sử dụng kết hợp thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và thuốc hóa dược tại các tuyến; có chính sách đặc thù trong đấu thầu mua dược liệu, thuốc cổ truyền sản xuất từ dược liệu trong nước theo tiêu chuẩn GACP, dược liệu hữu cơ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo, điều hành, giao nhiệm vụ, bố trí nhân lực làm công tác quản lý nhà nước về dược liệu. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc bố trí cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về dược liệu tại các tỉnh, thành phố trọng điểm (gồm: thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Quảng Ninh, Hà Giang, Kon Tum, Quảng Nam, Lâm Đồng, An Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Long An, Đăk Nông).
UBND các tỉnh, thành phố, trước hết là các tỉnh, thành phố trọng điểm xây dựng kế hoạch để triển khai kịp thời các đề án, dự án trong quy hoạch phát triển dược liệu; bố trí diện tích phù hợp để trồng dược liệu, nhất là những dược liệu có thế mạnh của địa phương; tạo mọi điều kiện thuận lợi, trước mắt là về thủ tục hành chính và có chính sách hỗ trợ cần thiết đối với các dự án phát triển nuôi trồng dược liệu trên địa bàn; thúc đẩy đổi mới sáng tạo khởi nghiệp trong lĩnh vực dược liệu. (Kinh Tế Và Đô Thị 16/5) đầu trang(
Ngày 16-5, Văn phòng Chính phủ có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu chấn chỉnh công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp và giải quyết trùng lắp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.
Công văn nêu rõ, để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp; giải quyết việc chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16-5-2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp để kịp thời giải quyết các phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp về việc vẫn còn có quá nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra trong cùng một năm; tạo điều kiện hỗ trợ, phát triển và bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp; báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ trước ngày 17-5-2017.
Thủ tướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Kiểm toán Nhà nước rà soát để sửa đổi hoặc kiến nghị sửa đổi các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, kiểm toán; không để xảy ra sự chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán gây phiền hà, khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ trong quý II-2017. (Nhân Dân 16/5) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản gửi các Bộ ngành, UBND thành phố Hải Phòng và VCCI truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về thu phí sử dụng kết cấu hạ tầng cảng biển Hải Phòng.
Theo đó, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND TP Hải Phòng rà soát, đánh giá việc thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển Hải Phòng đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu; tổng hợp ý kiến, kiến nghị của các hiệp hội, doanh nghiệp và trình HĐND TP Hải Phòng tại kỳ họp gần nhất để cân nhắc, xem xét điều chỉnh mức thu phí, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật phí, lệ phí và pháp luật khác có liên quan.
Bộ Tài chính được yêu cầu thường xuyên theo dõi, giám sát các địa phương trong ban hành quy định về phí và lệ phí; kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện, đồng thời chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan liên quan thường xuyên tổ chức họp báo, cung cấp các tài liệu, báo cáo về chính sách và việc thực hiện các quy định của pháp luật phí và lệ phí kịp thời, đầy đủ đến các cơ quan báo chí để thông tin rộng rãi tới doanh nghiệp và người dân.
Trước đó vào hồi đầu năm nay, UBND quận Hải An (Đơn vị được UBND TP Hải Phòng giao nhiệm vụ thu phí cảng biển) có thông báo gửi các cơ quan, doanh nghiệp về việc thu phí cảng biển. Được biết, ngay khi thông báo này được chuyển đến các doanh nghiệp, đã có nhiều ý kiến phản đối vì căn cứ thu chưa hợp lý và gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Điểm chung là các ý kiến này đều quan ngại về tính cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi khi phí mới - phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển Hải Phòng được áp dụng sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp phải tăng giá dịch vụ. Điều đáng nói, trong khi Hải Phòng ban hành mức phí và tiến hành thu phí này thì các địa phương khác cũng có cảng biển chưa có động thái gì. (Giao Thông 16/5) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký Quyết định giao Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 484,26 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Kon Tum để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân trong thời gian giáp hạt đầu năm 2017.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum tiếp nhận và sử dụng số gạo được cấp bảo đảm hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng theo quy định. Trường hợp sau khi thực hiện nếu vẫn còn khó khăn, tỉnh báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, tiếp tục hỗ trợ. (Báo Chính Phủ 16/5) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Đó là 1 trong 6 nhóm nội dung ý kiến, kiến nghị chủ yếu của cử tri và nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ 3 của Quốc hội, dự kiến khai mạc ngày 22-5
Chiều 16-5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (QH) đã cho ý kiến về dự thảo báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân và báo cáo giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 2 của QH.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn, Ủy ban MTTQ Việt Nam đã nhận được 2.901 ý kiến, kiến nghị của cử tri; tập trung vào 6 nhóm vấn đề: sản xuất - kinh doanh; quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; y tế và an toàn thực phẩm; giáo dục - đào tạo và dạy nghề; an ninh trật tự, an toàn xã hội; đặc biệt là về đấu tranh, chống tham nhũng, lãng phí và công tác cán bộ.
Cử tri ghi nhận những kết quả đấu tranh phòng chống tham nhũng trong thời gian qua; đặc biệt là việc phát hiện, xử lý kỷ luật nhiều cán bộ, đưa ra xét xử nhiều vụ án nghiêm trọng. "Tuy nhiên, cử tri và nhân dân cho rằng việc phát hiện xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng còn chậm. Việc làm rõ trách nhiệm của các cấp, ngành, nhất là đối với người đứng đầu trong công tác quản lý đầu tư một số dự án lớn để thua lỗ, làm thất thoát lớn ngân sách nhà nước chưa được kịp thời" - ông Mẫn nói.
Theo ông Mẫn, cử tri yêu cầu các cơ quan, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng; kịp thời phát hiện, kiểm tra, xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, đảng viên có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; cần phát huy hơn nữa vai trò của MTTQ, báo chí và nhân dân tham gia phòng chống tham nhũng...
Trình bày về giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 2 của QH, Trưởng Ban Dân nguyện của QH Nguyễn Thanh Hải cho biết qua 2.073 cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau Kỳ họp thứ 2, QH khóa XIV của các đại biểu QH tại 63 tỉnh, thành trực thuộc trung ương, Ban Dân nguyện đã tổng hợp và chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, giải quyết 3.320 kiến nghị của cử tri.
Việc giải quyết kiến nghị cử tri của các bộ, ngành chưa được xem là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với bộ trưởng, trưởng ngành nên đến nay vẫn còn 133 kiến nghị chưa được giải quyết dứt điểm. Trong đó, một số bộ còn nhiều kiến nghị chưa giải quyết xong như: Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (32 kiến nghị), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (20 kiến nghị), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (17 kiến nghị)…
Đặc biệt, có những kiến nghị mà cử tri kiến nghị từ Kỳ họp thứ 8 QH khóa XIII (tháng 10-2014) tới nay vẫn chưa được giải quyết và cũng không có báo cáo gì thêm với cử tri về việc có tiếp tục giải quyết nữa hay không, lộ trình giải quyết như thế nào.
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của QH Võ Trọng Việt cho rằng cần tăng cường công tác giám sát trả lời kiến nghị của cử tri. Phần lớn những bức xúc của người dân ở tuyến tỉnh, xã (chiếm 80%). Các kiến nghị ở cấp trung ương chủ yếu rơi vào chính sách; còn của tỉnh, huyện, xã đều gắn với vấn đề an sinh xảy ra trên địa bàn.
"Tôi rất lo tất cả đơn thư vòng vo. Có tình trạng xảy ra ở địa bàn thì xã không giải quyết, đẩy lên huyện, huyện lên tỉnh, tất cả kiến nghị đó lên trung ương thì tỉnh đề nghị để xã giải quyết nhưng xã có giải quyết đâu. Làm dân khổ lắm! Vừa rồi, ở Quảng Bình có ông cụ 78 tuổi đến vái tôi vì giải quyết đất đai không thỏa đáng" - ông Việt nêu.
Theo ông Việt, những vụ việc bức xúc xảy ra vừa rồi nếu tập trung giám sát thì người dân rất đồng tình. Vì vậy, cần làm thế nào để kiến nghị đừng vòng vo, đừng làm "đẹp" lòng nhau khi bản chất khác, lên báo cáo lại khác. (Người Lao Động 16/5) đầu trang(
Sáng nay - 16/5, tại Bộ Ngoại giao tổ chức Hội nghị phổ biến kiến thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng tới tất cả cán bộ công chức, viên chức. Ông Nguyễn Minh Vũ, Trợ lý Bộ Trưởng Ngoại giao cùng ông Đinh Văn Minh, Viện trưởng Viện Khoa học thanh tra đã đến tham dự, phổ biến kiến thức pháp luật và tình hình thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng tại Hội nghị.
Ông Nguyễn Minh Vũ phát biểu khai mạc hội nghị, đánh giá tình hình thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua và đưa ra một số lưu ý khi thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng đối với cán bộ, công chức, viên chức và những nội dung dự kiến sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới.
Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, làm đảo lộn các giá trị, suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đất nước. Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng vừa cấp bách vừa thường xuyên, vừa khó khăn, phức tạp và lâu dài.
Ý thức được điều đó, công tác phòng, chống tham nhũng tại Bộ Ngoại giao luôn được Ban Cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ quan tâm và chỉ đạo sát sao. Đảng ủy Bộ đã xây dựng các chương trình, kế hoạch để quán triệt và thực hiện đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng và đặc biệt đã xây dựng “Quy định chuẩn mực đạo đức, cán bộ, đảng viên, quần chúng Bộ Ngoại giao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng của Bộ luôn chú trọng xây dựng và đôn đốc việc thực hiện Kế hoạch thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng hàng năm của Bộ; xây dựng và ban hành nhiều văn bản để hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng. Thanh tra Bộ cùng các đơn vị chức năng trong những năm qua đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để rà soát và đánh giá kết quả việc thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, sự liêm chính cùng ý thức, trách nhiệm của từng cán bộ, công chức tại các đơn vị thuộc Bộ.
Bộ cũng đã tích cực triển khai các giải pháp để phòng, ngừa tham nhũng như: Đẩy mạnh cải cách hành chính; công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị; công khai, minh bạch trong công tác tuyển dụng, đề bạt, luân chuyển, thi đua, khen thưởng và thực hiện chế độ, chính sách; thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong công tác mua sắm, đấu thầu, sử dụng ngân sách, tài sản; thực hiện nghiêm túc công tác kê khai và công khai bản kê khai tài sản; thường xuyên rà soát và bổ sung, sửa đổi các quy định cho phù hợp với tình hình thực tiễn; xây dựng và đôn đốc thực hiện Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp tại Bộ Ngoại giao… Nhờ việc thực hiện tốt các giải pháp này, công tác phòng, chống tham nhũng tại Bộ Ngoại giao thực sự đã phát huy được hiệu quả tích cực.
Bên cạnh đó, Bộ cũng rất quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cán bộ đối với công tác phòng, chống tham nhũng.
Để thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, ông Nguyễn Minh Vũ đề nghịcán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ Ngoại giao thực hiện 4 nhiệm vụ sau:
Một là: Các cấp ủy Đảng, Ủy viên Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng của Bộ, thủ trưởng các đơn vị nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm, gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các quy định này.
Hai là: Các đơn vị tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về phòng, chống tham nhũng.
Ba là: Các đơn vị chức năng thường xuyên đôn đốc, thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị trong Bộ thực hiện tốt các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Bốn là: Mỗi cán bộ, đảng viên và công chức, viên chức Bộ Ngoại giao tiếp tục thực hiện đầy đủ các các quy định của Đảng, của pháp luật về phòng, chống tham những và Quy tắc ứng xử của ngành trong thực thi công vụ.
Qua hội nghị lần này, học viên sẽ nắm bắt được những nội dung cơ bản của công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới: Những mục tiêu, quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng đã được xác định một cách có hệ thống trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI), Kết luận 21 Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) và Văn kiện Đại hội XII của Đảng; được cụ thể hóa và thể chế hóa bởi nhiều quy định của Đảng và Nhà nước, như: Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Cán bộ, công chức và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. (Thanh Tra 16/5) đầu trang(
Nhũng lạm, ngoài chính bản thân con người còn có nguyên nhân khác là kẽ hở của cơ chế tạo cơ hội cho quan tham đục khoét. Song dù quy định có chặt chẽ thế nào cũng không thể bao quát hết được nên trước hết vua, quan phải là tấm gương.
Vua Lý Nhân Tông sắp băng hà đã để lại di chiếu nhắc nhở việc tang lễ phải tiết kiệm. Vua Lê Thánh Tông thấy con dân của mình khốn khó đã triệt bỏ đồ nhạc, giảm bớt thức ăn. Thời Trần có Trần Thời Kiến nổi tiếng thanh liêm được vua ban cho cái hốt với bài minh ca ngợi, còn Vũ Tụ thời Lê Sơ làm quan to nhưng vẫn sống thanh bần được vua ban cho thẻ bài “Liêm tiết”.
Lê Thánh Tông rất đề cao quan thanh liêm, thấy người tài đức, vua đã ra sắc lệnh: “Từ nay, Cấp sự trung trong Lục khoa và Giám sát ngự sử nếu có khuyết ngạch thì Bộ Lại chọn các quan trong kinh sư, ngoài các đạo... là người liêm khiết, cần mẫn, cứng rắn, ngay thẳng, có thành tích về chính trị, thì cất nhắc lựa bổ”. Người được đề cử vào chức vụ ấy sẽ thử việc trong một năm, nếu xứng thì giữ nguyên, không đổi sang chức khác. Với quan miền viễn biên, nếu thanh liêm, “hết lòng vỗ về thương yêu dân, không nhũng nhiễu” và việc thu thuế vẫn đầy đủ khi mãn hạn 6 năm, hoàn thành tốt công việc sẽ cho chuyển về nơi tốt hơn.
Và không chỉ vậy, Lê Thánh Tông còn thưởng tiền bạc.“Nhà ngươi (quan Nguyễn Thiện) làm bầy tôi, hết lòng thành lo việc nước, thường dâng lời nói phải, có lúc trẫm dùng uy quyền để lấn át cũng chưa thấy nhà ngươi nao núng. Thật là đáng khen. Vậy đặc cách sai viên Ty lễ giám đem sắc dụ đến ban khen thưởng cho bạc lạng”. Nguyễn Phục luôn ăn nói ngay thẳng do đó đã được thăng làm Tham chính Thanh Hóa và thưởng nhiều vàng bạc.
Về dùng hiền tài thời Trần có chuyện như sau: Khi người thân có ý muốn đưa người nhà ra làm quan, Trần Thủ Độ biết rõ người đó tài trí ra sao đã nói rằng phải chặt ngón tay, người thân hỏi sao làm vậy, ông trả lời triều đình đã có quy định về chọn người làm quan, chặt ngón tay để phân biệt quan giỏi và quan kém cỏi. Thế là người thân không dám xin xỏ nữa.
Đầu năm 1428, Đại Việt sạch bóng quân xâm lăng, Lê Lợi lên ngôi vua. Trải qua hai mươi năm bị ngoại xâm, chiến tranh tàn phá, đất nước chìm ngập trong khó khăn chồng chất nên Lê Thái Tổ đã dồn hết tâm lực để giải quyết những công việc quốc gia đại sự. Mặc dù vậy, Lê Thái Tổ vẫn luôn canh cánh nỗi lo giữ nghiêm phép nước.
Ngày 26.2.1429, Lê Thái Tổ ra lệnh cho các đại thần và các quan hành khiển xem lại các điều lệnh của ông có gì phương hại đến việc quân, việc nước, hoặc giả là việc sai dịch không. Ngày 18.10.1429, ông lại ra lệnh cho các đại thần, tổng quản và các quan từ hành khiển trở xuống: “Người xưa có câu: Vua không chọn tướng mà dùng thì có khác gì đem dâng nước mình cho giặc. Trẫm không lúc nào không suy nghĩ đến điều đó. Bởi đêm ngày lo nghĩ nên mới đem việc quân, việc nước quan trọng mà trao cho các khanh. Thế mà các khanh cứ điềm nhiên như không, trên thì phụ lòng tin dùng của triều đình, dưới thì chẳng chút đoái thương đến quân dân, sao mà biếng nhác việc quan đến thế? Nay, ta ra chiếu này để răn báo, nếu không biết tự mình sửa lỗi, lại còn tái phạm, thì phép nước còn chờ đó, khi ấy đừng nói là trẫm phụ bề tôi cũ có nhiều công lao”.
Nói ra điều ấy Lê Lợi muốn bách quan nghiêm giữ phép nước nhưng trước hết quan lại, nhất là các bậc khai quốc công thần, trước phải tự làm gương. Nước thịnh hay loạn cốt ở trăm quan, được người giỏi thì nước trị, dùng người xấu thì nước loạn.
Quy chế về bảo cử, tiến cử được tiến hành rất tốt và nghiêm túc dưới thời Lê Thánh Tông. Nhiều trường hợp tiến cử, bảo cử không đúng đã bị bác bỏ như trường hợp Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Như Đỗ đề cử Nguyễn Thế Mỹ và 8 người ứng tuyển vào các vị trí nhưng xét thấy họ đều mới ra làm quan, tài cán tầm thường nên Lê Thánh Tông lại hạ lệnh cho cử 10 người hiện làm quan trong kinh từ hàng ngũ phẩm trở xuống. Thậm chí trường hợp của Lê Niệm tiến cử người không xứng chức đã bị bãi miễn.
Không chỉ ra quy định về chọn quan, năm 1471, Lê Thánh Tông đặt Lục khoa (cơ quan thanh tra, giám sát) bên cạnh Lục bộ, Lục tự, có trách nhiệm xem xét hành vi sai trái của quan lại. Ngay cả Bộ Lại, bộ có quyền hành cao nhất trong việc tuyển bổ, thăng giáng mà không đúng thì cơ quan thanh tra có quyền tố cáo, giới thiệu người khác để cho “lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, khinh trọng cùng ràng buộc nhau, khinh trọng cùng kiềm chế nhau, uy quyền không giảm mà lẽ nước khó lay suy”.
Sớm có ý thức kiến thiết, xây dựng đội ngũ quan lại nên Lê Thánh Tông đã tỏ rõ quan điểm của mình: “Nhân được thời mà ra trị nước, tất phải đặt quan, phân chức, xây dựng kỷ cương, định rõ chế độ cho một đời, mở nền thái bình cho muôn thuở”. (Thanh Niên 16/5) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Theo đánh giá của Bộ KH&ĐT, sau gần một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020, bộ máy công quyền đã có sự chuyển biến về tư tưởng, nhận thức với tinh thần phục vụ và hỗ trợ phát triển DN. Theo đó, kết quả quan trọng nhất là Nghị quyết đã góp phần tạo dựng niềm tin của cộng đồng DN.
Bộ KH&ĐT vừa có Báo cáo Sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020. Theo đó, đánh giá chung về kết quả đạt được, Bộ KH&ĐT cho rằng, kết quả đầu tiên và quan trọng nhất được hầu hết các DN, tổ chức trong nước và quốc tế đánh giá cao và ghi nhận là Nghị quyết đã góp phần tạo dựng niềm tin của cộng đồng DN, thể hiện những cam kết của Chính phủ đối với cộng đồng DN, truyền đi thông điệp mạnh mẽ về Chính phủ kiến tạo, phục vụ, hỗ trợ và thúc đẩy DN phát triển, coi DN là động lực phát triển kinh tế..
Về tình hình thực hiện các nhóm giải pháp hỗ trợ DN, trước hết, nhóm giải pháp cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho DN đã đạt được những kết quả được cộng đồng DN ghi nhận. Cụ thể, với việc cải thiện môi trường kinh doanh, gia nhập thị trường cho DN, Bộ KH&ĐT cho rằng, nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là điểm đáng ghi nhận trong thời gian qua.
Chính phủ đã ban hành 50 nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư và Luật DN, trong đó tập trung cắt giảm nhiều thủ tục, giấy phép, tạo thuận lợi cho DN.
Một số lĩnh vực được cải thiện rõ rệt về thủ tục hành chính, điển hình là thủ tục về thuế và hải quan đã được đẩy mạnh thông qua việc áp dụng hiện đại hoá, giảm thủ tục, thời gian và chi phí cho DN. Hệ thống khai thuế qua mạng, nộp thuế điện tử đã được triển khai tại 63 Cục thuế và 100% chi cục thuế trực thuộc. DN kê khai điện tử đạt tỷ lệ 99,64 % và được hỗ trợ nộp thuế XNK bằng phương thức điện tử. Số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế năm 2016 đã giảm 85 thủ tục so với 2015…
Bên cạnh đó, cơ chế một cửa quốc gia của Việt Nam đã kết nối kỹ thuật thành công với 4 nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Singapore) để trao đổi Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D cho hàng hóa XK có xuất xứ ASEAN. Cơ chế một cửa quốc gia đã kết nối chính thức với 11/14 Bộ. Ngoài thủ tục thông quan hàng hóa (Bộ Tài chính), 37 thủ tục hành chính của 9 Bộ còn lại đã được thực hiện thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Tổng số bộ hồ sơ hành chính đã được xử lý trên cổng là 264 nghìn bộ hồ sơ, với sự tham gia của hơn 8,2 nghìn DN.
Cũng theo Bộ KH&ĐT, các giải pháp nhằm cải cách thủ tục hành chính đã đạt được một số kết quả nhất định, theo đó, có 4.527/4.723 thủ tục hành chính (đạt tỷ lệ 95,85%) đã được đơn giản hoá. Chính phủ điện tử được triển khai nghiêm túc để công khai, minh bạch tạo điều kiện cho DN giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước qua môi trường mạng, công bố kết quả giải quyết kiến nghị của DN.
Đối với vấn đề tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, Bộ KH&ĐT cho biết, hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của DN trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (tại địa chỉ http://doanhnghiep.chinhphu.vn) do Văn phòng Chính phủ điều hành đã tiếp nhận tổng cộng 586 phản ánh, kiến nghị của DN.
Trong đó, Văn phòng Chính phủ đã phân loại, chuyển 489 phản ánh, kiến nghị tới các Bộ ngành, địa phương để xem xét, xử lý theo thẩm quyền. Đến nay, đã có 372 phản ánh, kiến nghị đã được các Bộ ngành, địa phương xử lý và trả lời, đạt tỷ lệ 76,1%.
Tại các địa phương, đường dây nóng được công khai, tổ chức hỏi đáp trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố để tiếp nhận và giải đáp khó khăn của DN. Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố đã tổ chức đối thoại, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN…
Nhiều địa phương triển khai nhiều sáng kiến trong đối thoại với DN như cà phê doanh nhân (Quảng Ninh, Trà Vinh, An Giang, Sóc Trăng…), khởi nghiệp - doanh nhân (Kon Tum), mô hình Bác sĩ DN (Bắc Ninh), thành lập Tổ điều hành thực hiện Nghị quyết 35 (Bà Rịa - Vũng Tàu), Tổ tư vấn, hỗ trợ khởi sự DN và phát triển DN (Trà Vinh), Tổ công tác hỗ trợ DN…
Đối với vấn đề tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ DN khởi nghiệp, DN đổi mới sáng tạo, theo Bộ KH&ĐT, tinh thần quyết tâm thúc đẩy khởi nghiệp, lập nghiệp của Thủ tướng Chính phủ không chỉ được các cơ quan nhà nước, địa phương hưởng ứng mạnh mẽ mà đã lan toả sang cả khu vực tư nhân.
Trong năm 2016, hàng trăm hội nghị, hội thảo, sự kiện, cuộc thi về khởi nghiệp được tổ chức. Có 28 không gian làm việc chung và sáng tạo ra đời, đa số của tổ chức tư nhân, mạng lưới các nhà đầu tư cá nhân cho khởi nghiệp bắt đầu được hình thành, nhận thức của cả xã hội về khởi nghiệp đã được nâng lên đáng kể.
Bên cạnh đó, các chính sách, biện pháp hỗ trợ DNNVV, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo đã được rà soát, đánh giá và đề xuất lồng ghép vào Luật Hỗ trợ DNNVV.
Đánh giá về các giải pháp giảm chi phí kinh doanh cho DN, Bộ KH&ĐT cho biết, để rà soát các quy định pháp luật về đất đai theo hướng điều chỉnh giảm tiền thuê đất, chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các chi phí khác của DN, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ cho triển khai biện pháp mở rộng phạm vi áp dụng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất cho DN.
Bên cạnh đó, về các khoản phụ thu bất hợp lý đối với hàng XNK, Bộ GTVT đã chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan lập tổ công tác liên ngành về việc các hãng tàu nước ngoài thu các khoản phụ thu bất hợp lý đối với hàng XNK của Việt Nam, đồng thời đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý, giám sát đối với giá, phụ thu ngoài giá dịch vụ vận chuyển bằng đường biển của DN vận tải biển.
Bên cạnh những kết quả đạt được kể trên, qua một năm thực hiện Nghị quyết 35, Bộ KH&ĐT cũng nhận thấy vẫn còn rất nhiều hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới.
Theo đó, việc bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của DN là một trong những vấn đề còn tồn tại nhiều bất cập.
Đơn cử, trong lĩnh vực mua sắm công, tháng 4/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư phát triển và hoạt động mua sắm thường xuyên sử dụng vốn nhà nước. Việc ban hành Chỉ thị sẽ góp phần đẩy mạnh sản xuất và tiêu dùng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước, giúp các DN và sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nâng cao sức cạnh tranh trước áp lực về hội nhập khi thực thi các cam kết quốc tế.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện đấu thầu qua mạng nhằm công khai, minh bạch các dự án mua sắm công, tạo cơ hội tham gia của DN (đặc biệt là các DNNVV) chưa đảm bảo lộ trình theo yêu cầu của Chính phủ. Theo báo cáo, có đến 65/119 Bộ, ngành, địa phương không thực hiện gói thầu nào qua mạng, các đơn vị còn lại có thực hiện, nhưng tỷ lệ rất thấp. Tỷ lệ các gói thầu chào hàng cạnh tranh áp dụng đấu thầu qua mạng chỉ đạt 5,74%, đấu thầu rộng rãi áp dụng đấu thầu qua mạng chỉ đạt 4,42%, thấp hơn nhiều so với lộ trình quy định.
Cũng theo đánh giá từ cộng đồng DN, vấn đề tiếp cận đất sản xuất kinh doanh của DN còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt là DN trong nước, do giá thuê cao, diện tích cho thuê lớn so với nhu cầu của DN. Việc thu hồi đất và tính giá đất còn rườm rà, phức tạp, thiếu tính thực tiễn, việc tính giá đền bù chưa sát với thực tế thị trường. Quy hoạch không trùng khớp, thiếu nhất quán hoặc thông tin quy hoạch không rõ ràng, dẫn đến việc chấp thuận chủ trương đầu tư của DN gặp khó khăn.
Theo kết quả kiểm tra, khảo sát tại một số địa phương của Văn phòng Chính phủ về việc triển khai Nghị quyết 35/NQ-CP thì các DN, đặc biệt là các DNNVV rất khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng. Qua làm việc và trao đổi trực tiếp với một số UBND tỉnh, thành phố, Hiệp hội DN và DN các tỉnh, thành phố thì rất ít DNNVV tiếp cận được bảo lãnh tín dụng từ các Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV ở các địa phương. Việc rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về bảo lãnh tín dụng cho DNNVV còn gặp nhiều lúng túng, đến nay vẫn chưa rõ cơ chế giải quyết. (Hải Quan 17/5) đầu trang(
Với việc triển khai có hiệu quả các chương trình cải cách, Cục Thuế TP Hà Nội đã góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nhằm thực hiện tốt mục tiêu cải cách hành chính thuế, Cục Thuế TP Hà Nội đã đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, đảm bảo công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT), người dân dựa trên 3 nền tảng cơ bản:
Thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính (TTHC) thuế đơn giản, khoa học và phù hợp với thông lệ quốc tế;
Nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao.
Trong quá trình triển khai nhiệm vụ, Cục Thuế TP Hà Nội lấy sự hài lòng của NNT và Nhân dân làm mục tiêu chính để cải cách.
Chính vì vậy đã có 97% doanh nghiệp kê khai qua mạng và trên 95% số tiền thuế nộp theo phương thức điện tử đã vượt chỉ tiêu Nghị quyết 19/NQ-CP đề ra, đã giảm thời gian, chi phí cho NNT và cho cả cơ quan thuế trong kê khai, nộp thuế.
Đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp (cấp độ 4) cấp mã số thuế tự động trong thời gian không quá 30 phút giảm 87,5% thời gian thực hiện so với quy định là 4 tiếng đồng hồ;
Đã rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ từ 5 ngày xuống 3 ngày trong việc giải quyết TTHC liên quan đến đất đai…
Bênh cạnh đó, với tư cách là thành viên tích cực trong Ban chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động SXKD cho doanh nghiệp,
Cục Thuế luôn chủ động nghiên cứu, phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc xây dựng các kênh thông tin để nắm bắt các khó khăn, vướng mắc của NNT,
Từ đó tham mưu, kiến nghị cơ chế chính sách thuế phù hợp thực tiễn giúp cộng đồng doanh nghiệp, NNT tiếp tục duy trì, ổn định, phát triển SXKD, thu hút đầu tư, tạo nguồn thu bền vững cho Ngân sách Nhà nước.
Riêng năm 2016 Cục thuế TP Hà Nội đã tổ chức 108 lớp tập huấn miễn phí cho 17.961 NNT trên địa bàn và 03 lớp tập huấn cho 990 CBCC...
Song song với việc tuyên truyền chính sách, pháp luật về thuế, Cục Thuế đã tập trung nhân lực, tài lực để hỗ trợ tối đa cho NNT thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, nhất là tại bộ phận “Một cửa” của cơ quan Thuế.
Đã tổ chức 46 buổi đối thoại cho 7.504 người nộp thuế trên địa bàn.
Với việc triển khai chỉ đạo có hiệu quả, kịp thời các chương trình cải cách, Cục Thuế TP Hà Nội đã góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đặc biệt, rõ nét nhất là năm 2016 chỉ số CPI của Hà Nội tăng 10 bậc (theo công bố của VCCI). (Thời Báo Doanh Nhân 16/5) đầu trang(
KINH TẾ
Doanh nghiệp Trung Quốc đang đầu tư xây dựng khu nhập khẩu trái cây tươi 8.000 tấn/ngày sẵn sàng nhập hàng từ Việt Nam từ tháng 8/2017.
Với việc đẩy mạnh đầu tư hạ tầng cửa khẩu và giao thông, thời gian vận chuyển hàng được rút ngắn… là những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, trái cây tươi từ Việt Nam sang Trung Quốc. Đây là nhận định được đưa ra tại Hội nghị kết nối thương nhân xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam với thị trường Trung Quốc, do Bộ Công Thương và UBND tỉnh Cao Bằng tổ chức ngày 16/5 tại Cao Bằng.
Trung Quốc là đối tác thương mại song phương lớn nhất của Việt Nam, kim ngạch thương mại hai chiều Việt – Trung không ngừng tăng nhanh với tốc độ trung bình khoảng 30 - 40% /năm. Trong những năm qua, với các cơ chế hợp tác song phương giữa 2 nước được đẩy mạnh, kim ngạch thương mại biên giới tăng trưởng cao, các mặt hàng trao đổi qua biên giới được mở rộng, hạ tầng cửa khẩu biên giới được đầu tư phát triển.
Tuy nhiên, thời gian qua, hoạt động xuất nhập khẩu hàng nông, lâm, thủy sản qua qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung còn một số khó khăn, vướng mắc. Đó là công tác quản lý, điều hành và cơ cấu hàng hóa trong thương mại biên giới còn nhiều bất cập; Kim ngạch thương mại biên giới tăng chưa ổn định, hạ tầng các khu cửa khẩu chưa đồng bộ, một số chính sách liên quan đến xuất nhập khẩu nông sản chưa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Ông Chu Thế Huy, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thủy Dương, ở Thái Bình - một trong những doanh nghiệp được cấp phép xuất khẩu gạo của phía Bắc chia sẻ: “Hoạt động xuất khẩu gạo sang Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn. Trước đây gạo được xuất qua các lối mở qua Cao Bằng nhưng gần đây đóng cửa, nhiều người nhập hàng về nhưng không xuất được, để trong kho lâu giảm chất lượng. Các cơ quan ban ngành hai nước cần tạo điều kiện để doanh nghiệp được phép xuất khẩu qua lối mở như Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang… tạo điều kiện xuất khẩu gạo thuận lợi hơn”.
Trao đổi về cơ hội hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước trong thời gian tới, đại diện một số doanh nghiệp Trung Quốc cho biết, rất quan tâm và muốn nhập khẩu mặt hàng hoa quả tươi ở Việt Nam như thanh long, xoài, vải thiều, chôm chôm, chanh không hạt…nhưng do thời gian vận chuyển lâu, hạn chế về kho bãi, nên khó bảo quản, ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, từ tháng 4 năm nay, một tuyến đường sắt chuyên dùng (vận chuyển hàng đông lạnh) để vận chuyển rau quả từ Bách Sắt đi Bắc Kinh (Trung Quốc) sẽ có thể rút ngắn thời gian vận chuyển 15 ngày so với trước đây. Do đó, việc vận chuyển rau quả tươi vào thị trường nội địa Trung Quốc sẽ thuận lợi hơn, góp phần đẩy mạnh nhập khẩu các mặt hàng này từ Việt Nam.
Ông Nguyễn Văn Hội, Phó Vụ trưởng Vụ Thương mại biên giới và miền núi (Bộ Công Thương) cho biết, năm 2016, Trung Quốc chỉ định cho phép cửa khẩu Thủy Khẩu đối diện Tà Lùng và Long Bang đối diện Trà Lĩnh được nhập khẩu trái cây tươi của Việt Nam. Hiện công ty Vạn Sinh Long của Trung Quốc cũng đang đầu tư một khu nhập khẩu trái cây tươi, với công suất 8.000 tấn/ngày, sẵn sàng nhập khẩu từ Việt Nam bắt đầu từ tháng 8/2017.
Tại hội nghị, các đại biểu kiến nghị, các địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích doanh nghiệp; Chủ động điều tiết lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới, kịp thời nắm bắt tình hình về thông quan hoa quả nông sản vào chính vụ, để tránh ùn tắc hàng hóa…Đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc tăng cường hợp tác và liên kết, tổ chức hệ thống phân phối vào sâu trong thị trường nội địa hai nước.
Ông Nguyễn Văn Hội cho rằng, trong hoạt động xuất nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới, đặc biệt là lấy cửa khẩu biên giới làm cửa ngõ để phân phối hàng hóa sang thị trường Trung Quốc thì doanh nghiệp phải là lực lượng nòng cốt. Các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm hiểu, nắm bắt thông tin để kết nối đẩy mạnh xuất khẩu nông lâm thủy sản trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần sự hỗ trợ của cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp:
“Năm 2016, Hiệp định thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc được ký kết mở ra hướng đảm bảo sự ổn định bền vững cho các doanh nghiệp liên kết với nhau, từ vùng sản xuất trong phía Nam đến cửa khẩu biên giới Việt – Trung. Nhiều doanh nghiệp không chỉ Quảng Tây, Vân Nam mà còn các tỉnh Trùng Khánh, Hàng Châu, Bắc Kinh…cũng đang rất quan tâm. Với sự phát triển nhanh chóng của hạ tầng giao thông, sẽ tạo lợi thế cho xuất khẩu nông thủy sản, đặc biệt hàng hoa quả trái cây tươi của Việt Nam vào sâu thị trường Trung Quốc”, ông Hội nói.
Tại hội nghị cũng diễn ra Lễ ký biên bản ghi nhớ giữa Sở Công Thương Cao Bằng và Cục Thương vụ thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc và ký kết thỏa thuận giữa doanh nghiệp 2 nước Việt Nam - Trung Quốc. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 17/5) đầu trang(
Từ 1/1/2018 - thời điểm thuế suất ô tô các nước trong khu vực ASEAN về 0% đang tới gần. Doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất ô tô trong nước đang đếm ngược thời gian để quyết định có tiếp tục sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam hay chuyển hướng nhập khẩu, kiếm lời; riêng dân mê “xế hộp” thì chờ đợi xem tới đây có được chơi xe giá rẻ vì thuế hạ?
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, lượng xe nguyên chiếc nhập khẩu từ ASEAN (thực chất chỉ từ Thái Lan, Indonesia) có xu hướng tăng dần từ năm 2014 đến nay. Mới nhất, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 3 tháng đầu năm 2017, lượng ôtô dưới 9 chỗ nguyên chiếc nhập khẩu có xuất xứ từ các quốc gia trong khu vực ASEAN lên đến 14.460 chiếc, tăng 68% so với cùng kỳ năm 2016.
Từ các số liệu thống kê có thể thấy, ngay sau khi thuế suất từ thị trường ASEAN giảm còn 30%, số lượng xe nhập khẩu từ các nước này đã tăng mạnh. Như vậy, có thể đoán được, số lượng nhập khẩu ô tô từ ASEAN sẽ chiếm một số lượng lớn như thế nào vào năm 2018, khi thuế suất về 0%.
Bởi nêu một số ví dụ cụ thể tương ứng với các dòng xe đang nhập khẩu từ ASEAN vào Việt Nam cho thấy, với mức thuế suất về 0%, mỗi một dòng xe có thể giảm từ 130-140 triệu/xe. Cộng thêm việc nhiều mẫu xe có dung tích xi lanh từ 1.5L trở xuống sẽ được giảm thêm 5% thuế tiêu thụ đặc biệt từ ngày 1/1/2018 (từ 40% hiện nay xuống còn 35%) thì giá xe sẽ giảm xuống nữa.
Bức tranh nhập khẩu ô tô vào năm 2018 đang được nhìn nhận rất thu hút và ăn khách. Tuy nhiên, thực tế, thị trường ô tô lại đang chững lại với rất nhiều ý kiến ngờ vực từ những người được cho rằng trực tiếp hưởng lợi từ khi Hiệp định AFTA có hiệu lực. Bởi hầu hết các ý kiến ghi nhận đều cho rằng, dù cho giảm thuế, giá xe chắc chắc sẽ… đứng im!
Tất cả những khách hàng mà chúng tôi tiến hành khảo sát tại các showroom ô tô thời điểm này đều cho biết họ không đợi chờ đến năm 2018, khi các dòng xe nhập khẩu hiện đang chiếm ưu thế tại thị trường Việt Nam có thể sẽ được giảm giá tới 30% (do thuế suất về 0%) mới tiến hành mua xe, vì họ đã quá hiểu thị trường ô tô trong nước.
Anh Nguyễn Văn Sơn - Trưởng đại diện một công ty công nghệ của Pháp tại Việt Nam cho rằng, với tình trạng đường phố kẹt xe như hiện nay, chắc chắn các nhà hoạch định chính sách ngành ô tô Việt Nam sẽ phải làm một động thái gì đó để tăng thuế, phí, bù lại giá trị bị mất khi thuế suất về 0%.? “Còn nếu không thì chắc Hà Nội sẽ chẳng còn chỗ trống mà đi khi giá xe xuống thấp”, anh Sơn nhận định.
Ý kiến này được nhiều quản lý showroom đồng tình, như chia sẻ. Anh Đàm Việt Anh - Trưởng nhóm bán hàng của một showroom ô tô trên phố Lê Văn Lương (Hà Nội) cho rằng: “Tất cả những người hiểu biết và có nhu cầu về xe cộ đều đã trải qua rất nhiều lần mừng hụt do đợi chờ thuế nọ giảm, thuế kia giảm nhưng cuối cùng, chính sách thuế, phí sẽ tăng lên một loại nào đó, để giá xe vẫn ở mức… cao ngất ngưởng so với giá trị thật của nó”.
Tuy tâm lý háo hức đợi chờ mua xe nhập khẩu giá rẻ gần như không xuất hiện ở phần đông khách hàng, thậm chí đã có nhiều ý kiến lo ngại cho rằng, khi thuế suất về 0%, thực trạng nền công nghiệp ô tô non trẻ của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ chính sách này. Một số còn đồn đoán rằng, nhiều hãng sản xuất sẽ giảm mức sản xuất trong nước, tăng cường nhập khẩu để giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận.
“Với tình trạng đường phố kẹt xe như hiện nay, chắc chắn các nhà hoạch định chính sách ngành Ô tô Việt Nam sẽ phải có một động thái gì đó để tăng thuế, phí, bù lại giá trị bị mất khi thuế suất về 0%?”, anh Nguyễn Văn Sơn - Trưởng đại diện một công ty công nghệ của Pháp tại Việt Nam. (Pháp Luật Việt Nam 17/5) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Việc thực thi đề án xây dựng thành phố thông minh giúp người dân tiếp cận thông tin về môi trường hàng ngày, đảm bảo đời sống an sinh xã hội đầy đủ hơn.
Chỉ cần ngồi ở nhà, bạn cũng có thể tiếp cận đến kho dữ liệu khổng lồ trên internet thông qua chiếc máy tính hoặc điện thoại, từ các thông tin y tế, sức khỏe, giao thông, môi trường… Sự bùng nổ của công nghệ thông tin ở thời đại mới đã trở nên gắn bó mật thiết hơn với đời sống con người.
Tại buổi khai mạc Hội chợ Công nghệ thông tin - Điện tử - Viễn thông TP.HCM lần 1 năm 2017 do UBND TP.HCM tổ chức, Sở TT&TT TP.HCM chủ trì vừa diễn ra tuần qua, ông Trần Vĩnh Tuyến, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM cho biết thành phố (TP) mong muốn đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá, giới thiệu đề án xây dựng TP.HCM trở thành TP thông minh… Hiện TP đã chỉ đạo đề án này và đang chờ ý kiến của hội đồng tư vấn. Được biết, mục tiêu của đề án là nâng cao chất lượng phục vụ người dân, quản lý đô thị hiệu quả. Các lĩnh vực được tập trung thực hiện là giao thông, an ninh, y tế, du lịch và môi trường. Qua việc thực thi đề án này, người dân được phục vụ tốt, tiếp cận thông tin về môi trường hàng ngày, đảm bảo đời sống an sinh xã hội đầy đủ hơn. Đặc biệt, đề án giúp chính quyền TP vận hành linh hoạt hơn.
Là một trong những đơn vị đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình vận hành, Sở TN&MT TP.HCM đang từng bước nỗ lực nhằm góp phần hoàn chỉnh đề án xây dựng TP thông minh.
Năm 2016, Sở kết hợp với Sở TT&TT TP.HCM thí điểm hệ thống phần mềm Một cửa điện tử quản lý đất đai theo mô hình tập trung trên toàn TP. Hệ thống này hướng tới sự minh bạch, một cửa trong giải quyết hồ sơ nhà đất. Phần mềm nhằm thực hiện tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ đất đai theo quy trình thống nhất, liên thông ba cấp chính quyền (phường – xã, quận – huyện, TP), đảm bảo quản lý, giám sát chặt chẽ thông tin về tình trạng, tiến độ xử lý hồ sơ đất đai. Thông qua website http://motcuadatdai.tphmc.gov.vn, người dân có thể sử dụng mã hồ sơ để tra cứu tiến độ giải quyết hồ sơ, cần bổ sung giấy tờ gì.
Cùng nằm trong chương trình xây dựng TP.HCM trở thành TP thông minh, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý vận hành, mới đây, Sở TN&MT TP.HCM phối hợp với Trung tâm Quản lý đường hầm sông Sài Gòn trực thuộc Sở GT&VT TP.HCM đã ký kết Quy chế phối hợp về cung cấp thông tin kết quả quan trắc môi trường lên bảng thông tin giao thông điện tử. Chương trình nhằm cung cấp thông tin về chất lượng môi trường (không khí, nước sông, kênh rạch) đến cộng đồng một cách nhanh chóng, góp phần đẩy mạnh hiệu quả bảo vệ môi trường.
Ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở TN&MT TP.HCM cho biết đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu cột mốc trong công tác bảo vệ môi trường, giúp người dân có thể dễ dàng tiếp cận, nắm rõ hiện trạng môi trường TP. Việc cung cấp thông tin về kết quả quan trắc chất lượng môi trường đến cộng đồng dân cư nhanh chóng, kịp thời là việc làm hết sức cần thiết.
Được biết, trên các bảng thông tin điện tử, bạn có thể thấy năm thông số đối với chất lượng môi trường không khí của khu vực cụ thể, bao gồm NO2, CO, bụi tổng, bụi PM10 và tiếng ồn; bốn thông số đối với chất lượng môi trường nước gồm pH, DO, BOD5, COD. Hàng tháng, hàng năm, Sở TN&MT TP đều công bố kết quả quan trắc chất lượng môi trường. Vì vậy, khi các chỉ số này được đăng tải rộng rãi thì nhận thức của người dân trong việc xây dựng TP hiện đại, thông minh, sạch đẹp trở nên rõ ràng hơn. (Pháp Luật TP.HCM 17/5) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Việc có tăng thuế môi trường cho mặt hàng xăng dầu từ mức tối thiểu 1.000 và tối đa 4.000 đồng/lít như qui định hiện nay lên mức tối thiểu 3.000 đồng/lít, tối đa 8.000 đồng/lít hay không sẽ được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội tại kỳ họp tới.
Những người ủng hộ cho rằng việc tăng thuế xăng dầu là cần thiết bởi hiện nay, giá của mặt hàng này thấp so với các nước trong khu vực, thuế nhập khẩu giảm tiếp xuống 0% thì phải tăng thuế khác để bù...
Riêng Bộ Tài chính đưa ra 4 lý do để bảo vệ cho việc cần phải tăng thuế này.
Một, nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của tổ chức, cá nhân về bảo vệ môi trường, góp phần hạn chế sử dụng hàng hóa gây ô nhiễm. Hai, đảm bảo tính ổn định của chính sách. Ba, phù hợp với lộ trình dài, thay thế thuế nhập khẩu phải cắt giảm dần theo cam kết quốc tế. Bốn, phù hợp với mức thu của các nước xung quanh nhằm hạn chế tình trạng buôn lậu xăng dầu.
Ngược lại, nhiều ý kiến không đồng tình với việc tăng giá này. Đại diện của Phòng Công nghiệp & Thương mại Việt Nam cho rằng xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, do đó, việc tăng giá đối với xăng dầu không làm ảnh hưởng nhiều đến tổng lượng tiêu thụ của người dân. Tức là nếu mục tiêu để hạn chế tác động môi trường thông qua việc hạn chế tiêu thụ thì việc tăng thuế không mang lại hiệu quả đáng kể.
Việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với xăng dầu theo các cam kết quốc tế có thể làm giảm nguồn thu ngân sách, nhưng không nên bù bằng cách tăng Thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu.
TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương bày tỏ: “Cách điều hành chỉ nhìn vào việc thuận lợi trong quản lý của bộ máy chứ chưa nhìn về việc kiến tạo một môi trường kinh doanh thông thoáng cho thị trường, doanh nghiệp"
Ông Nguyễn Tiến Thoả - nguyên Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho rằng, cần phải có cái nhìn tổng quát hơn khi tính tới việc tăng thuế bảo vệ môi trường: “Khi thuế giảm sẽ giúp thị trường tăng cung, sản xuất nhiều hơn, giá thành những sản phẩm thụ hưởng từ xăng dầu sẽ rẻ hơn, giải quyết công ăn việc làm bền vững”.
Có thể nói nhiều tháng qua, phương án tăng thuế môi trường xăng dầu là chủ đề nóng bỏng của cả dư luận xã hội đồng thời nhận được rất nhiều ý kiến phân tích từ các chuyên gia kinh tế. Tuy là dân “ngoại đạo”, người viết bài này cũng băn khoăn bởi mấy câu hỏi.
Thứ nhất, không biết các nhà hoạch định chính sách đã đánh giá hết những tác động to lớn của việc tăng thuế (cũng là tăng giá) mặt hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế này hay chưa?
Thứ hai, theo cách hiểu thì thuế môi trường tất nhiên là để bảo vệ môi trường. Vậy mỗi một lít xăng dầu có cần đến 8.000 đồng để bảo vệ môi trường hay nói cách khác, nó có làm ô nhiễm đến mức cần tới 8.000 đồng để bảo vệ môi trường do nó gây ra?
Thứ ba, không khó để nhận thấy nhiều mặt hàng khác cũng tác động đến môi trường rất lớn, tại sao lại chỉ đổ lên xăng dầu?
Thứ tư, cũng nên công khai, minh bạch việc thu chi cho bảo vệ môi trường một cách chi tiết, cụ thể và cuối cùng, thật lòng người viết bài này không thể tưởng tượng được giá xăng hiện nay đang khoảng 17 ngàn đồng, khi lên 25 ngàn đồng (tất nhiên là theo lộ trình) thì sẽ như thế nào? Đấy là chưa kể hiện tại, giá xăng dầu đang ở mức thấp.
Song, còn có một sự ngạc nhiên là tại một cuộc hội thảo, ông Chủ tịch Hiệp hội Xăng Dầu Việt Nam Phan Thế Ruệ không chỉ đồng tình với việc tăng thế mà còn nhấn mạnh, việc tăng thuế xăng dầu là “trách nhiệm của công dân đối với đất nước”.
Ngạc nhiên bởi là người đại diện cho doanh nghiệp, ông Ruệ lại sốt sắng lo cho ngân sách quốc gia đến vậy là hiếm, hiếm lắm. Ngạc nhiên bởi chẳng hiểu sao ông Ruệ lại cho rằng đồng tình với việc này là “trách nhiệm của công dân đối với đất nước”.
Càng ngạc nhiên vì sắp tới, theo nghị trình, Quốc hội sẽ bàn và quyết định về vấn đề này. Nói như ông Ruệ, chả lẽ những đại biểu không bỏ phiếu đồng tình với việc tăng thuế môi trường xăng dầu tức là không có “trách nhiệm đối với đất nước”? (Nông Nghiệp Việt Nam 17/5) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Cựu Tổng thống Brazil Lula da Silva vừa bác bỏ những cáo buộc về việc nhận hối lộ của Công ty Xây dựng OAS.
Theo những cáo buộc này, ông Lula da Silva đã nhận hối lộ của OAS một căn hộ hạng sang tại thị trấn nghỉ dưỡng Guaruja, bang Sao Paulo, vì đã giúp công ty này trong các hợp đồng làm ăn với Petrobras - tâm điểm của vụ điều tra tham nhũng từ năm 2014 tại Brazil.
Cựu Tổng thống bác bỏ mọi cáo buộc về sự liên quan của cá nhân cũng như các thành viên trong gia đình.
Phát biểu với những người ủng hộ sau khi ra trình diện và khai báo trước tòa án tại TP Curitiba, ông tái khẳng định sẽ tiếp tục ra tòa để chứng minh sự vô tội của mình.
Những cáo buộc cựu Tổng thống Lula da Silva tham nhũng, nhận hối lộ được đưa ra trong bối cảnh ông có ý định tái tranh cử trong cuộc bầu cử Tổng thống năm tới. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy ông là ứng cử viên nặng ký trong cuộc đua giành quyền lực này. Trong khi đó, Tổng thống đương nhiệm Michel Temer không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các cử tri sau thời gian điều hành đất nước vừa qua.
Thậm chí tỷ lệ ủng hộ chính khách này có thời điểm còn thấp hơn cả người tiền nhiệm là bà Dilma Rousseff. Vì vậy, những cáo buộc liên quan bê bối tham nhũng nhằm vào ông Lula da Silva được nhìn nhận là nhằm bôi xấu uy tín của cựu lãnh đạo này, biến ông trở thành nạn nhân của một vụ “ám sát" chính trị. (Thanh Tra 16/5) đầu trang(./.
|
|||