Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 12 năm 2016
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Thời gian vừa qua, một số văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014; các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013 và Luật Nhà ở 2014, đặc biệt Bộ luật dân sự năm 2015 đã tác động đến những nội dung của Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành về giao dịch bảo đảm cũng bộc lộ một số bất cập, hạn chế dẫn đến vướng mắc khi triển khai công tác đăng ký trên thực tế.
Do đó, việc xây dựng Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm trong bối cảnh hiện tại là cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với pháp luật liên quan, kịp thời khắc phục những bất cập, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, qua đó tạo lập và hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc ký kết, thực hiện giao dịch bảo đảm, thúc đẩy hoạt động cho vay có bảo đảm của nền kinh tế.
Dự thảo Nghị định tách bạch rõ 2 trường hợp: trường hợp phải đăng ký và trường hợp đăng ký theo yêu cầu. Cụ thể, các biện pháp bảo đảm phải đăng ký gồm: a- Thế chấp quyền sử dụng đất; b- Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng; c- Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; d- Thế chấp tàu biển; đ- Các trường hợp khác, nếu luật có quy định.
Các biện pháp bảo đảm được đăng ký khi tổ chức, cá nhân có yêu cầu, gồm: a- Thế chấp động sản, trừ tàu bay, tàu biển; b- Thế chấp tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; c- Bảo lưu quyền sở hữu; d- Các trường hợp khác. Trong đó bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm mới được quy định tại Điều 331 đến Điều 334 Bộ luật dân sự năm 2015.
Việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ, hợp đồng cho thuê tài chính và các giao dịch dân sự khác được đăng ký theo quy định của Nghị định này khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.
Về giá trị pháp lý, trên cơ sở quy định tại Điều 297 và Điều 298 Bộ luật dân sự năm 2015, dự thảo Nghị định quy định: Việc đăng ký biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Việc thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng, cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay, thế chấp tàu biển có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Việc đăng ký biện pháp bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký đến thời điểm xoá đăng ký theo đơn của người yêu cầu xoá đăng ký.
Dự thảo Nghị định sửa đổi quy định về thời điểm đăng ký cho phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013 theo hướng: Trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay, đăng ký thế chấp tàu biển thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào sổ đăng ký.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan đăng ký từ chối đăng ký đối với những hồ sơ đăng ký không hợp lệ, dự thảo Nghị định bổ sung căn cứ từ chối áp dụng cho các loại hình tài sản bảo đảm như: Không thuộc thẩm quyền đăng ký; nội dung đăng ký vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội; khi phát hiện thông tin trong hồ sơ đăng ký không đúng sự thật hoặc có giấy tờ giả mạo; tài sản bảo đảm không đủ điều kiện để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; tài sản bảo đảm đang có tranh chấp và đã có văn bản thụ lý việc giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; người yêu cầu đăng ký không nộp phí đăng ký; kê khai nội dung đăng ký không đúng quy định của pháp luật… Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 13/12) đầu trang(
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang dự thảo Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ.
Ngày 16/7/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Qua hơn 3 năm triển khai thực hiện, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề đã thay đổi: được mở rộng sau khi tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp đối với trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ; Luật giáo dục nghề nghiệp đã quy định nhiều nội dung đổi mới…
Do đó, việc xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg là rất cần thiết nhằm giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện tại; đảm bảo phù hợp với Luật giáo dục nghề nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý hoạt động giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực, hiệu quả.
Theo dự thảo, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp là tổ chức thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và tổ chức thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp trong phạm vi cả nước. Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, con dấu hình Quốc huy, là đơn vị dự toán ngân sách cấp II, có tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục như sau: Giúp Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu và các đề án, dự án về giáo dục nghề nghiệp.
Đồng thời, quản lý danh mục ngành, nghề đào tạo; danh mục ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, khó tuyển sinh; ngành, nghề được phép liên kết đào tạo với nước ngoài; danh mục dịch vụ sự nghiệp công; quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học tập nghề nghiệp ở nước ngoài và học sinh, sinh viên là người nước ngoài học tập tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam; quản lý khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia và hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia…
Dự thảo nêu rõ, cơ cấu, tổ chức của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp được kế thừa, giữ nguyên như Tổng cục Dạy nghề; thực hiện tiếp nhận, kiện toàn, bổ sung 01 đơn vị mới (là Vụ Đào tạo trung cấp) và đổi tên, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của một số đơn vị cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Cụ thể, 13 đơn vị gồm: Vụ Đào tạo cao đẳng; Vụ Đào tạo trung cấp; Vụ Đào tạo sơ cấp và thường xuyên; Vụ Nhà giáo và Cán bộ quản lý; Vụ Cơ sở vật chất và thiết bị; Vụ Công tác học sinh, sinh viên; Vụ Kỹ năng nghề; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch - Tài chính; Vụ Pháp chế - Thanh tra; Văn phòng; Cục Kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; Viện Khoa học giáo dục nghề nghiệp.
Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp có Tổng Cục trưởng và không quá 04 Phó Tổng Cục trưởng. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, đình chỉ công tác Tổng Cục trưởng sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. Các Phó Tổng Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển và cách chức theo quy định của pháp luật. (Báo Chính Phủ 13/12) đầu trang(

QUẢN LÝ
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án kiểm soát ngăn chặn hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất, kinh doanh sản phẩm tôm có tạp chất.
Một trong những nhiệm vụ và các giải pháp chính của Đề án là tuyên truyền phổ biến pháp luật, ký cam kết, phát hiện và tố giác tội phạm. Cụ thể, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phổ biến cho các đối tượng có liên quan về: Nguy cơ, tác hại của việc đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất kinh doanh tôm có tạp chất; cách thức nhận biết sản phẩm tôm có tạp chất và tố giác hành vi vi phạm tạp chất; các chế tài xử lý phải chấp hành khi bị phát hiện vi phạm tạp chất.
Riêng đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, chỉ đạo thành lập các đường dây nóng tiếp nhận thông tin tố giác hành vi vi phạm tạp chất trong tôm tại các sở, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp; chỉ đạo việc tổ chức ký cam kết không vi phạm tạp chất, công bố công khai danh sách các cơ sở đã ký cam kết theo địa bàn.
Bộ Công an, Bộ NN-PTNT, Bộ Công Thương phối hợp với các kênh phương tiện thông tin đại chúng đăng tải bản tin về tình hình bơm chích tạp chất vào tôm và công khai tên, địa chỉ và kết quả xử lý đối với tổ chức, cá nhân vi phạm về tạp chất. Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) rà soát, sửa đổi, hoàn thiện Chương trình Các doanh nghiệp chế biến tôm “nói không với tôm tạp chất” vận động các doanh nghiệp hội viên sản xuất chế biến tôm tham gia Chương trình.
Hội, hiệp hội ngành nghề khác có liên quan đến sản xuất, chế biến, xuất khẩu tôm (các hội/hiệp hội thủy sản các địa phương, Hội Nghề cá Việt Nam,…) tuyên truyền, phổ biến, vận động các hội viên tuân thủ các quy định pháp luật về kiểm soát, ngăn chặn hành vi đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu và sản xuất kinh doanh tôm có chứa tạp chất.
Về hoạt động kiểm tra thường xuyên, Bộ NN-PTNN tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định về kiểm soát, ngăn chặn tạp chất kết hợp kiểm tra, đánh giá điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định pháp luật... Bộ Công an tổ chức triển khai các biện pháp nghiệp vụ, thu thập thông tin, trinh sát để đấu tranh phòng ngừa và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định pháp luật....
Ngoài ra, tổ chức thanh tra theo kế hoạch và đột xuất, thanh kiểm tra liên ngành tăng cường tháng cao điểm nhằm phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm tạp chất.
Theo Đề án, mục tiêu đến hết năm 2017, 100% cơ sở nuôi tôm tại địa bàn 4 tỉnh trọng điểm: Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang ký cam kết không đưa tạp chất vào tôm trước khi tiêu thụ; 100% cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến tại địa bàn 4 tỉnh trọng điểm: Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang ký cam kết không đưa tạp chất vào tôm; không mua tôm tạp chất.
Đến hết năm 2018, cơ bản chấm dứt tình trạng đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu tại các tỉnh trọng điểm và trên phạm vi cả nước. (Sức Khỏe Và Đời Sống 13/12) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa ra thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Viện Y học biển, Bộ Y tế.
Trong 15 năm qua, Viện Y học biển đã có những bước phát triển trong công tác nghiên cứu, đào tạo và chăm sóc sức khỏe trong một lĩnh vực còn mới ở Việt Nam là y học biển; góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bà con ngư dân, lực lượng lao động biển của 28 tỉnh, thành ven biển trên cả nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.
Việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân biển, đảo luôn là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của Đảng, Nhà nước. Y học biển cần tiếp tục nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân biển, đảo. Viện Y học biển là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học biển và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân biển, đảo.
Vì vậy, để phát triển y học biển trong thời gian tới, Viện cần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt chú trọng phát triển Viện Y học biển sớm trở thành cơ sở nghiên cứu, ứng dụng các khoa học công nghệ tiên tiến phục vụ chuyên ngành y học biển.
Viện Y học biển cần tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, giữ vị trí là đơn vị dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về y học biển trong phạm vi cả nước, sớm trở thành một trung tâm y học biển của khu vực, phấn đấu 100% công trình nghiên cứu khoa học, đề tài nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và phục vụ thiết thực cho việc hoạch định chính sách và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của ngư dân và lao động biển.
Đồng thời, phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học, hình thành được nhiều nhóm nghiên cứu mạnh, đủ năng lực tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến y học biển.
Viện cần hoàn thiện mô hình quản trị theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế. Cải thiện cơ sở vật chất để đáp ứng tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của ngư dân và lao động biển.
Thủ tướng cũng yêu cầu Viện Y học biển nâng cao chất lượng đào tạo, đa dạng hóa các chương trình, các hình thức đào tạo: Chú trọng đào tạo chính quy cho đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế làm công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của ngư dân và lao động biển, đủ khả năng để cấp cứu và điều trị cho các trường hợp nặng do đặc thù nghề nghiệp liên quan đến lao động biển, đảo. Đồng thời đào tạo các kỹ năng thiết thực, phù hợp với điều kiện sinh hoạt và lao động của người dân biển, đảo, đặc biệt là các ngư dân.
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực, chất lượng công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ngư dân và lực lượng lao động biển; tăng cường công tác kết hợp quân dân y để thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề xuất của Viện về việc thành lập Bệnh viện Y học biển với quy mô phù hợp, trực thuộc Viện Y học biển trên cơ sở Trung tâm tiếp nhận cấp cứu, khám, chữa bệnh hiện nay của Viện. Bệnh viện Y học biển là cơ sở thực hành của Viện Y học biển trong công tác nghiên cứu, đào tạo, đồng thời là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho bà con ngư dân.
Viện Y học biển xây dựng Đề án thành lập Bệnh viện, với mô hình quản trị tiên tiến, theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động, tổ chức bộ máy và tài chính, báo cáo Bộ Y tế trình Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2017. (Báo Chính Phủ 13/12) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TPHCM).
ĐHQG TPHCM là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học - công nghệ lớn đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, có uy tín trong nước và quốc tế, đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, mà trước hết là Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cả nước.
Trong những năm gần đây, ĐHQG TPHCM đạt được các kết quả quan trọng, căn bản, nhất là số đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo quốc tế tăng nhanh, chất lượng giáo dục - đào tạo nâng cao; từng bước phát triển thành một đô thị đại học đầu tiên của Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt được, ĐHQG TPHCM cần tập trung để sớm khắc phục những hạn chế: là cơ sở đào tạo lớn nhưng chưa phát huy mạnh mẽ vai trò, vị trí đầu tàu, chưa có ảnh hưởng lan tỏa nhiều trong hệ thống giáo dục của cả nước; sự đổi mới trong quản lý và hoạt động chuyên môn chưa cao; chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị gắn với nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước và địa phương; cơ sở vật chất chậm hoàn thiện, hiện đại hóa, đặc biệt công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu ĐHQG TPHCM cần tiếp tục đổi mới, sáng tạo, tiếp tục giữ vững vị thế là “cánh chim đầu đàn” trong hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam và hướng đến vị trí trong tốp đầu Châu Á, nơi hội tụ của khoa học, công nghệ, văn hóa và tri thức Việt Nam.
Về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ĐHQG TPHCM phải là đơn vị tiên phong trong khởi nghiệp, khởi nguồn của những ước mơ khởi nghiệp; nơi khuyến khích, ươm trồng những tài năng khởi nghiệp, kiến tạo nên những thế hệ danh nhân, nhà kỹ nghệ, nhà văn hóa, những con người xuất sắc ở các lĩnh vực khác nhau góp phần làm rạng danh nền giáo dục và đào tạo Việt Nam trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Trên tinh thần đó, ĐHQG TPHCM cần tiếp tục phát huy tốt những việc đã làm như phát huy hiệu quả khu công nghệ phần mềm, hệ sinh thái khởi nghiệp, môi trường dành cho nhà khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin; đề xuất các giải pháp cụ thể cho ý tưởng của các dự án khởi nghiệp. Khuyến khích khởi nghiệp là một trong các nhiệm vụ quan trọng của trường đại học góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
ĐHQG TPHCM cần phấn đấu đến năm 2020 trở thành một trong 100 trường đại học hàng đầu Châu Á; tăng gấp đôi số lượng công bố quốc tế so với hiện nay; có các chính sách cụ thể để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong đội ngũ cán bộ, giảng viên và sinh viên.
Về phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, Thủ tướng yêu cầu ĐHQG TPHCM cần tiếp tục tăng cường hội nhập, hợp tác với các trường đại học, các tổ chức giáo dục uy tín trên thế giới; xây dựng thí điểm mô hình thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao về tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại ĐHQG TPHCM.
Về phát triển mô hình đại học tự chủ, tiên tiến, tự chủ đại học là thuộc tính của trường đại học, là động lực và nguồn gốc cho phát triển đại học. Tự chủ phải gắn với trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội; không thể thực hiện tự chủ khi chưa chuẩn bị về nhận thức, năng lực, trách nhiệm xã hội. Cần xây dựng đại học tự chủ toàn diện trên các lĩnh vực: đào tạo, nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất, nghiên cứu khoa học, quan hệ đối ngoại để thực hiện sứ mệnh, hoàn thành nhiệm vụ của một trường đại học. Tự chủ tài chính chỉ là điều kiện để làm cho tự chủ của trường đại học được tốt nhất.
ĐHQG TPHCM chủ động xây dựng và hoàn thiện mô hình quản trị đại học hiện đại với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao theo thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện của Việt Nam; thực hiện phân cấp mạnh cho các trường, các viện thành viên. (Báo Chính Phủ 13/12) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Cục Chống tham nhũng - Thanh tra Chính phủ sẽ mở 2 đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh của người dân về hành vi tiêu cực, tham nhũng và tặng quà Tết trái quy định dịp Tết 2017.
Báo Dân trí đưa tin, ngày 13/12, ông Phạm Trọng Đạt - Cục trưởng Cục Chống tham nhũng (Thanh tra Chính phủ) xác nhận, Cục đã mở 2 số điện thoại đường dây nóng (080.48228 và 0902.386.999) để tiếp nhận phản ánh của người dân về hành vi tiêu cực, tham nhũng và tặng quà Tết trái quy định dịp Tết 2017.
Trong đó đường dây nóng 0902.386.999 là số điện thoại cá nhân của ông Phạm Trọng Đạt sẽ tiếp nhận mọi phản ánh của người dân về các hành vi tham nhũng, tiêu cực và dấu hiệu tặng quà Tết trái quy định 24/24h.
Theo thông tin trên báo Tiền phong, sắp tới Thanh tra Chính phủ sẽ có văn bản gửi tới các bộ ngành, địa phương đề nghị theo dõi, nắm bắt tình hình và sau Tết có văn bản gửi về Thanh tra Chính phủ để tổng hợp.
Trong dịp Tết Nguyên đán 2016 (tính từ ngày 2-16/2/2016), đường dây nóng của Cục Chống tham nhũng và Cục trưởng Cục Chống tham nhũng Phạm Trọng Đạt đã tiếp nhận được 156 nguồn tin (điện thoại trực tiếp và nhắn tin) tố giác tham nhũng. Trong đó có 66 nguồn tin có liên quan đến việc tặng quà, nhận quà sai với quy định; 50 nguồn tin có dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng.
Ngoài ra, có 40 nguồn tin phản ánh và kiến nghị về giải pháp lĩnh vực phòng chống tham nhũng nhằm đạt hiệu quả cao của cán bộ và nhân dân.
Bên cạnh đó, Cục Chống tham nhũng đã kiến nghị thành lập một bộ phận chuyên tiếp nhận các nguồn tin về việc tặng quà, nhận quà tặng sai quy định và các hành vi có dấu hiệu vi phạm các quy định pháp luật về tham nhũng.
Trước đó, tại phiên họp Chính phủ tháng 11 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu lãnh đạo các tỉnh không về Hà Nội chúc Tết. Đặc biệt, Thủ tướng chỉ đạo ngay trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới, tất cả hệ thống hành chính không chúc Tết lãnh đạo, không biếu xén, không phong bao, phong bì, báo Tuổi trẻ thông tin. (Đời Sống Và Pháp Luật 14/12) đầu trang(
Được khởi công xây dựng từ giữa năm 2014, với tổng kinh phí dự kiến gần 31 tỷ đồng. Thế nhưng, dù đã hoàn thiện 80% các hạng mục hạ tầng, dự án Nhà máy nước sạch Hải Chánh vẫn phải dừng giữa chừng, bỏ hoang hơn 1 năm nay do thiếu vốn. Đồng nghĩa với đó, thực trạng hàng ngàn hộ dân “khô khát” sát công trình nước “đắp chiếu” này vẫn cứ tiếp diễn.
Dự án xây dựng công trình Hệ thống cấp nước sạch xã Hải Chánh (hay còn gọi là Nhà máy nước sạch Hải Chánh) với quy mô diện tích gần 11 nghìn m², đặt tại thôn Mỹ Chánh (xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) có tổng vốn đầu tư gần 31 tỷ đồng, trong đó 19 tỷ đồng từ vốn ngân sách, 3 tỷ đồng từ nguồn vốn của Cty TNHH MTV Cấp nước và Xây dựng Quảng Trị (gọi tắt là Cty CP Nước sạch Quảng Trị) và 8,5 tỷ đồng còn lại là nguồn vốn viện trợ của Chính phủ Italia.
Mục tiêu đầu tư của dự án nhằm cung cấp nước sạch hợp vệ sinh cho hơn 1.700 hộ dân trong xã Hải Chánh và các hộ dân lân cận ở xã Hải Sơn (huyện Hải Lăng). Công trình do Cty CP Nước sạch Quảng Trị làm chủ đầu tư, do liên doanh Cty Mai Linh và Cty Vĩnh Định đảm nhiệm thi công.
Qua tìm hiểu, công trình này được phê duyệt từ năm 2010 và kế hoạch ban đầu sẽ bàn giao vào năm 2012. Tuy nhiên, do chưa bố trí được nguồn vốn nên phải giữa năm 2014 dự án mới bắt đầu thi công và dự kiến hoàn thành và cuối năm 2015.
Thế nhưng, xây dựng được một thời gian và đã gần như hoàn thiện các hạng mục hạ tầng cơ bản gồm nhà điều hành, trạm bơm, công trình thu, bể xử lý bùn, bờ tường rào kiên cố bao quanh... thì đến tháng 3/2015 công trình tạm dừng, rồi rơi vào bỏ hoang. Hiện nhà máy nước không có người trông coi bảo quản, mặc cho mưa nắng hủy hoại. Không những vậy, công trình này dần biến thành nơi nuôi nhốt trâu bò của người dân địa phương.
Ghi nhận của phóng viên PLVN, hiện xung quanh khuôn viên công trình cát đá vung vãi, cỏ dại mọc quá đầu người. Các hạng mục mới xây xong phần thô chưa được tô vữa, chưa có nền nhà và cửa.
Một số bộ phận của công trình có dấu hiệu xuống cấp, những ống xả nước xuất hiện gỉ sét, bờ tường và đáy bể chứa rêu xanh bám đầy. Phần cổng chính vào nhà máy nước được rào tạm bằng tre nên trâu bò tự do ra vào ăn cỏ, phóng uế bừa bãi khắp khuôn viên. Trong các khu nhà, phân gia súc chất đầy dưới nền, bốc mùi hôi thối nông nặc...
Nhiều người dân ở đây khi được hỏi đến công trình nước sạch này chỉ biết thở dài chán ngán. Công trình “cha chung không ai khóc” này giờ không ai nhòm ngó đến, mà chỉ là nơi trú ngụ của đàn trâu bò quanh xóm.
“Hàng chục năm qua, chúng tôi luôn mong ngóng có nguồn nước sạch để ăn uống, tắm giặt thay cho cảnh ngày ngày tay xách nách mang can nhựa đi lấy nước sông về dùng. Hay tin xây dựng nhà máy nước chúng tôi vui mừng khôn xiết.
Thế nhưng, chờ đợi mãi công trình vẫn không thể khánh thành, mặc dù nhiều lần người dân đã kiến nghị cũng không thấy các cơ quan chức năng giải quyết nên chẳng ai hy vọng nữa” – bà Thảo, một người dân trong thôn chia sẻ.
Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Văn Sinh, Phó Chủ tịch xã Hải Chánh cho hay toàn xã có 11 thôn với hơn 1.700 hộ, 8.600 nhân khẩu. Ngoài 300 hộ dân thôn Mỹ Chánh không có nước sinh hoạt thường trực trong thời gian khoảng 6 tháng/năm, thì toàn xã có 8/11 thôn thiếu nước sạch sinh hoạt, phần do giếng đào không có nước, phần do nước giếng đào sâu bị nhiễm phèn, đục...
Đặc biệt, khu vực chợ Mỹ Chánh hiện nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, người dân sống quanh chợ phải bỏ tiền mua nước lọc từ huyện Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên Huế) và các xã gần địa bàn về để nấu ăn.
Với thực trạng thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng như thế, qua các kỳ họp, chính quyền xã cũng đề bạt ý kiến lên cấp trên mong công trình sớm hoàn thiện để cung cấp nước sạch cho bà con. Tuy nhiên, phía xã không phải là đơn vị quản lý nên cũng không biết khi nào công trình này mới hoàn thành và đưa vào sử dụng, phục vụ người dân.
Trước vấn đề này, phía chủ đầu tư dự án xây dựng nhà máy nước sạch Hải Chánh, ông Trần Quỳnh - Phó Giám đốc Cty CP Nước sạch Quảng Trị trình bày theo hợp đồng thì phía Chính phủ Italia sẽ tài trợ phần vật tư như đường ống, các thiết bị công nghệ cho nhà máy. Tuy nhiên, hiện phần vốn tài trợ này vẫn chưa được Bộ Tài chính phân bổ cho Quảng Trị nên chưa thể hoàn thiện các hạng mục khác.
Riêng phần vốn hơn 22 tỷ đồng còn lại hiện cũng chỉ mới bố trí giải ngân được hơn 7,5 tỷ đồng. Đó là lý do vì sao việc thi công phải tạm dừng giữa chừng suốt thời qua. (Pháp Luật + 13/12) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Thực hiện Công văn số 773/BNV-CCHC ngày 23/02/2016 của Bộ Nội vụ theo sự phân công của Ban Tổ chức Hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2011-2015, Bộ Y tế xin báo cáo tham luận: Đánh giá kết quả cải cách, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế công và kết quả triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công”.
Theo quy định tại Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31/8/2012 của Chính phủ thì Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngành y tế đã nỗ lực phấn đấu để thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các đột phá chiến lược, các chương trình, đề án, chính sách nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế công, nhất là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trong Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2015 đã được triển khai thực hiện và thu được nhiều thành tựu quan trọng: Các dịch bệnh đã được ngăn chặn kịp thời, không để dịch lớn xảy ra; việc giảm quá tải, cam kết không nằm ghép của các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh đã đạt kết quả rõ rệt, chất lượng khám bệnh, chữa bệnh được nâng cao, nhiều kỹ thuật cao, kỹ thuật mới đã được áp dụng thành công trong ngành y tế như mổ nội soi rô bốt, đặc biệt là kỹ thuật ghép tạng từ bệnh nhân chết não; ngành Y tế cũng được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận đạt tiêu chuẩn cơ quan quản lý quốc gia về vắc xin, sinh phẩm y tế, đây là điều kiện quan trọng cho các cơ sở vắc xin, sinh phẩm y tế nâng cao sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Ngành Y tế cũng được quốc tế đánh giá cao, là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế. Hệ thống tổ chức y tế được kiện toàn đồng bộ từ Trung ương đến tuyến tỉnh, tuyến huyện, tuyến xã, đáp ứng nhu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển. Đặc biệt, trong thời gian qua, Bộ Y tế đã triển khai quyết liệt việc “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ, lấy người bệnh làm trung tâm hướng tới sự hài lòng của người bệnh” trong toàn ngành và đã đạt kết quả bước đầu đáng khích lệ được nhân dân ghi nhận và đồng tình ủng hộ.
Bộ Y tế đã đạt các chỉ tiêu được Quốc hội và Chính phủ giao như số lần khám bệnh, số bệnh nhân nội trú, ngoại trú, số ngày điều trị nội trú, ngoại trú, số phẫu thuật, thủ thuật, chuẩn đoán, xét nghiệm đều tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 75,3%, đạt mục tiêu Đảng và Quốc hội giao của ngành Y tế.
Để nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế công đặc biệt là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế đã tích cực triển khai các nhiệm vụ CCHC mà Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra. (Đất Việt 14/12) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản yêu cầu các bộ, cơ quan phải đảm bảo việc tổ chức thanh - kiểm tra, kiểm toán về tài chính, thuế đối với DN một năm/lần, không trùng lắp, chồng chéo.
Cam kết cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho DN tiếp tục được người đứng đầu Chính phủ chỉ đạo cụ thể nhằm giúp các DN giảm bớt nỗi lo và những gánh nặng chi phí cho các đợt thanh - kiểm tra của cơ quan quản lý.
Theo công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2015 có đến 74% DN phải đón tiếp các đoàn thanh - kiểm tra thuộc tất cả các lĩnh vực. Trung bình, các DN nhỏ và vừa phải tiếp 1 - 2 đoàn thanh - kiểm tra/năm; các DN lớn phải tiếp 3 đoàn. Có 18% DN siêu nhỏ, 24% DN nhỏ, 43% DN quy mô vừa và 50% DN quy mô lớn đón tiếp ít nhất 3 đoàn kiểm tra trong năm gần nhất. Một DN có thể phải tiếp 16 – 17 đoàn thanh tra trong một năm; Tình trạng trùng lặp về nội dung thanh - kiểm tra cũng đáng báo động, đoàn thanh tra này vừa ra thì đoàn thanh tra khác lại vào…
DN nào “không biết điều”, “không chịu chi” sẽ bị kiểm tra thường xuyên,… là thực tế khiến việc thanh - kiểm tra luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng với nhiều DN. Bên cạnh việc ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, có nhiều cuộc thanh - kiểm tra đưa ra những kết luận không chính xác làm thiệt hại cho DN nhưng cơ quan thanh tra, kiểm tra lại không có ai phải chịu trách nhiệm.
Năm 2016, thực hiện Nghị quyết 19/NQ – CP và Nghị quyết 35/NQ – CP đã ghi nhận những chuyển biến tích cực về môi trường kinh doanh, tuy nhiên hoạt động thanh, kiểm tra vẫn có không ít ý kiến phản hồi gay gắt từ phía DN. Chính vì thế với việc ban hành văn bản yêu cầu chỉ tổ chức thanh - kiểm tra, kiểm toán DN một năm/lần, không trùng lắp, chồng chéo được cộng đồng DN đón nhận như một động thái tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của DN vượt qua những khó khăn để đưa kinh tế - xã hội phát triển.
Tuy nhiên, hạn chế những hành vi làm dụng quyền lực làm phiền, làm khó DN không đồng nghĩa với việc dung túng, bao che, thả lỏng hành vi vi phạm của DN. Cùng với quy định trên, Chính phủ cũng đã hoàn thiện và đưa website tiếp nhận mọi phản ánh của DN về khó khăn, vướng mắc trong hoạt động trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ. Đây là cầu nối quan trọng trước yêu cầu nóng bỏng về cải cách hành chính và cải cách tư pháp như hiện nay mà người đứng đầu Chính phủ gửi tới các DN.
Môi trường kinh doanh thông thoáng, công khai, minh bạch đi cùng với nâng cao hiệu quả công tác quản lý chỉ đạo điều hành và phục vụ được cụ thể hóa bằng những hành động quyết liệt nhằm giảm đi nỗi lo, gánh nặng cho người dân, DN. (Kinh Tế Và Đô Thị 14/12) đầu trang(

KINH TẾ
Không còn là nhập khẩu tiểu ngạch,sau khi được Chính phủ cấp phép, hàng loạt những nông sản nổi tiếng của các quốc gia châu Á đã lần lượt xâm nhập thị trường Việt Nam theo con đường chính ngạch. Trong khi đó, dù được đánh giá là đất nước có tiềm năng lớn về nông sản, nhưng nông sản Việt Nam lại chưa tìm được đường xuất khẩu vì thiếu chỉ dẫn địa lý, cũng như chưa được đầu tư nâng cao chất lượng.
Từ ngày 18/12 này, táo chính gốc Aomori (Nhật Bản), do hệ thống siêu thị Intimex nhập khẩu trực tiếp từ Aomori, sẽ được bán rộng rãi trong tại chuỗi siêu thị Intimex, Big C và Unimart.
Đây là những trái táo được thu hoạch trong vụ mùa năm 2016; nhằm phục vụ nhu cầu sản phẩm sạch, chất lượng cao, đảm bảo nguồn gốc xuất xứ của người tiêu dùng. Điều đáng nói, theo các chuyên gia, đây là dòng sản phẩm táo đặc biệt tươi ngon và an toàn chính ngạch đầu tiên của vụ mùa 2016 tới với người tiêu dùng Việt Nam, sau khi Việt Nam chính thức cho phép nhập khẩu táo từ Nhật Bản vào cuối năm 2015.
"Trong bối cảnh vấn đề an toàn thực phẩm đang rất được quan tâm như hiện nay, việc táo chính gốc Aomori được nhập khẩu và phân phối trực tiếp tại Việt Nam sẽ giúp các bà nội trợ có thêm lựa chọn chăm sóc sức khỏe cho gia đình mình với sản phẩm siêu sạch, an toàn, tươi ngon đến từ một quốc gia nổi tiếng với uy tín sản phẩm, với chất lượng các loại táo đã được công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế, và hoàn toàn yên tâm về nguồn gốc xuất xứ với mức giá thành hợp lý, ông Đinh Tiến Thành, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam, đơn vị nhập khẩu chia sẻ.
"Thực sự không hề dễ dàng để Intimex nhập khẩu được sản phẩm táo từ Aomori, Nhật Bản vì những yêu cầu khắt khe về chất lượng. Chúng tôi đã mất gần 2 năm làm việc với với chính quyền Aomori, với nhà xuất khẩu, khảo sát quy trình thực hiện từ công tác chuẩn bị vụ mùa tới các khâu như thu hoạch, đóng gói theo các tiêu chuẩn chặt chẽ nhất để có thể mang được sản phẩm táo chính gốc Aomori – vùng đất vàng cho các dòng táo nổi tiếng thế giới về với người tiêu dùng Việt Nam", ông Thành cho biết thêm.
Aomori là vùng trồng táo nổi tiếng, nơi cung cấp đến 50% sản lượng táo tại Nhật Bản. Trước khi đến với người tiêu dùng, trái táo Aomori được trải qua nhiều công đoạn chăm sóc với tâm huyết của người nông dân Nhật Bản, trong đó những kỹ thuật tỉ mỉ như bọc trái kỹ càng khi còn ở trên cây, cắt bỏ hoa nhỏ và quả nhỏ để tập trung dinh dưỡng cho các trái lớn, hay sử dụng tấm phản quang giúp trái táo có màu sắc đều, đẹp.
Các trái táo được lựa chọn một cách nghiêm ngặt, phải trải qua công đoạn đo các chỉ số về màu sắc, độ lớn, độ ngọt, độ chua, độ chín của từng quả, từ đó đánh giá và phân loại táo. Việc phân tích thổ nhưỡng, phân tích dư lượng thuốc trừ sâu hay phân tích độ phóng xạ cũng được thực hiện kỹ càng để đảm bảo chất lượng từng trái táo.
Cùng với đó, bắt đầu từ ngày 13/12, dâu tây Hàn Quốc cũng đã chính thức được nhập khẩu về Việt Nam, thông qua Trung tâm aT Hà Nội, thuộc Tổng cục Nông Thủy sản và Thực phẩm Hàn Quốc (Korea Agro-Fisheries & Food Trade Corporation - trực thuộc Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Nông thôn Hàn Quốc).
“Đây là sự kiện nhằm quảng bá những ưu thế của quả dâu tây Hàn Quốc – một sản phẩm mới được Chính phủ Việt Nam cấp phép kiểm dịch và bắt đầu được nhập khẩu vào Việt Nam từ năm nay. Dâu tây là sản phẩm có sức cạnh tranh cao của Hàn Quốc nhờ hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt và đang được xuất khẩu đi 20 nước trên thế giới như Hong Kong (Trung Quốc), Singapore, Malaysia, Thái Lan…”, đại diện Trung tâm aT cho biết.
Tại Hàn Quốc, dâu tây được trồng ở nhà kính thông minh (smart farm), hoàn toàn tự động hóa từ trồng cho đến chăm sóc nhằm giảm tối đa việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo đúng quy trình quản lý thực hành nông nghiệp tốt (GAP - Good Agricultural Practice). Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc còn có các chương trình hỗ trợ đào tạo về kỹ thuật trồng và quản lý sản xuất nhằm mục đích nâng cao chất lượng và độ ngọt của sản phẩm, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng này.
Mặt khác, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được đảm bảo nhờ các chương trình đào tạo về an toàn và vệ sinh do Viện Quản lý Chất lượng Nông sản Hàn Quốc thực hiện liên tục. Theo đó, dâu tây sau khi thu hoạch được phân loại, đóng gói bằng công nghệ xử lý CO2 nồng độ cao với bao bì chuyên dụng và vận chuyển bằng đường hàng không. Chỉ 2 ngày sau khi thu hoạch, sản phẩm sẽ có mặt tại Việt Nam với độ tươi ngon tương đương các sản phẩm được bán cho người tiêu dùng Hàn Quốc.
Ông Kim Dong Kwan, Trưởng đại diện aT Hà Nội cho biết: “Trong điều kiện Việt Nam đang chú trọng phát triển nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm đồng thời đa dạng hóa sản phẩm thực phẩm cho người dân, việc sản phẩm dâu tây Hàn Quốc được cấp phép kiểm dịch và chính thức nhập khẩu vào Việt Nam lần này sẽ góp phần tăng thêm cơ hội cho người tiêu dùng Việt Nam tiếp cận với một loại nông sản Hàn Quốc chất lượng cao, đảm bảo an toàn và tốt cho sức khỏe”.
Là một cường quốc về xuất khẩu nông - lâm - thủy sản, nhưng 80% sản phẩm nông sản xuất khẩu hiện nay không có thương hiệu… khiến giá trị xuất khẩu hàng năm của nông sản Việt Nam luôn đạt mức rất thấp và ngày càng lo đối mặt với sự “ghẻ lạnh” của ngay chính người tiêu dùng trong nước.
“Xu hướng chung của thị trường hiện nay đòi hỏi sản phẩm phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, nhãn hiệu hàng hóa được các cơ quan Nhà nước bảo hộ. Để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho các sản phẩm, việc phát triển thị trường, bắt tay xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nông sản có ý nghĩa sống còn trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay”, đại diện chuyên gia cho biết.
Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Doãn Toản, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội khẳng định: Việt Nam là một nước nông nghiệp nhiệt đới rất giàu tiềm năng về nông sản, là một trong những nước dẫn đầu thế giới về sản xuất, xuất khẩu gạo cà phê, tiêu và dồi dào, phong phú các loại trái cây, cây công nghiệp, thủy hải sản. Hầu như địa phương nào cũng có những đặc sản nổi tiếng gắn liền với địa danh như nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, Chè Thái Nguyên, cốm Làng Vòng, tỏi Lý Sơn, chuối Ngự Đại Hoàng…
Việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông sản đã đạt được những kết quả nhất định trong những năm gần đây, đặc biệt là tư khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Tuy vậy, vẫn còn nhiều nhà sản xuất, doanh nghiệp, tổ chức và địa phương chưa quan tâm đến bảo hộ sở hữu trí tuệ cho nông sản và rất ít nhãn hiệu sản phẩm nông sản Việt Nam đạt được uy tín ở tầm quốc tế. Kết quả điều tra của các cơ quan chức năng cho thấy, tới 90% lượng nông sản Việt Nam xuất khẩu dưới nhãn hiệu của nước ngoài, mới khoảng 50 chỉ dẫn địa lý và 140 nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể được đăng ký xác lập, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chỉ một số ít trong đó được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài.
Tồn tại trên có nguyên nhân từ nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, năng lực hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp còn thấp. sự liên kết giữa chính quyền địa phương, người dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, kỹ năng kinh doanh thương mại và tiếp thị, phát triển sản phẩm của người sản xuất còn hạn chế, mang tính tự phát, chính quyền cơ sở và người nông dân chưa ý thức được tầm quan trọng của việc phát triển thị trường, xây dựng và đăng ký xác lập bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và nhãn hiệu nông sản.
Để có thể phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm, đặc biệt là để đặc sản các vùng miền Việt Nam giữ vững thị trường trong nước, tiến tới mở rộng, chiếm lĩnh thị trường quốc tế trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do, vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết.
“Xu hướng chung của thị trường hiện nay đòi hỏi sản phẩm phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, nhãn hiệu hàng hóa được các cơ quan chức năng Nhà nước bảo hộ, do đó, để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho các sản phẩm; việc tăng cường phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm là hết sức quan trọng, cần thiết”, một chuyên gia chia sẻ.
Sự xuất hiện của táo Nhật và dâu tây Hàn Quốc xem ra là những bài học để nông sản Việt Nam có thể học theo, qua đó tìm đường "xuất ngoại" cho mình. (Tin Tức 13/12) đầu trang(
Thay vì phải chạy đôn chạy đáo tìm đường xuất khẩu, bất chấp giá cả, chất lượng… như hiện nay, Việt Nam cần định dạng lại sản lượng gạo hàng hóa xuất khẩu với định hướng trong ngắn hạn đến năm 2020,
“Thay vì phải chạy đôn chạy đáo tìm đường xuất khẩu, bất chấp giá cả, chất lượng… như hiện nay, Việt Nam cần định dạng lại sản lượng gạo hàng hóa cho xuất khẩu với định hướng trong ngắn hạn đến năm 2020, chỉ nên xuất khẩu ở mức 2 – 3 triệu tấn/năm thay vì 7 – 8 triệu tấn/năm như hiện nay”.
Đây là một trong những giải pháp đáng chú ý được Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đưa ra tại Hội thảo về định hướng phát triển thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam , do Bộ Công Thương tổ chức tại Tp.Hồ Chí Minh ngày 13/12.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu mỗi năm của Việt Nam được bán tại thị trường châu Á, trong đó Trung Quốc là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất, tiếp đến là các quốc gia trong khu vực ASEAN gồm Philippines, Indonesia và Malaysia. Tuy nhiên, hiện xuất khẩu gạo của Việt Nam sang những thị trường này đang chững lại.
Ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch VFA phân tích, những năm trước đây, 3 nước trong khu vực ASEAN nói trên đã nhập khoảng 2-3 triệu tấn gạo từ Việt Nam nhưng năm nay, lượng gạo xuất khẩu sang cả ba thị trường này chỉ còn khoảng 10%. Nguyên nhân chủ yếu là do Chính phủ các nước này có những chính sách quyết đoán về an ninh lương thực và đã đạt được những kết quả nhất định ban đầu; từng bước tự cân đối lương thực trong nước, giảm phụ thuộc vào gạo nhập khẩu.
Riêng thị trường Trung Quốc, với những chính sách về kiểm dịch mới được đưa ra, đặc biệt là Nghị định thư về xuất khẩu gạo và cám gạo giữa Việt Nam – Trung Quốc vừa được công bố giữa năm nay thì đây không còn là thị trường dễ tính nữa.
Đồng quan điểm trên, ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho biết, trên thị trường thế giới, gạo là một mặt hàng rất hạn chế, gặp nhiều khó khăn trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Đa số các nước đều có biện pháp bảo hộ đối với mặt hàng này và thuế nhập khẩu thường ở mức cao nhất. Đơn cử như Hàn Quốc thuế nhập khẩu gạo lên đến 500%, Nhật Bản là 800%. Không chỉ vậy, các quy định về hạn ngạch thuế quan, an toàn vệ sinh thực phẩm, hàng rào kỹ thuật… là những lý do được các nước đưa ra nhằm bảo hộ sản xuất trong nước.
Mặt khác, hiện 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là từ Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, vụ Đông Xuân 2015-2016 vừa qua, hạn hán, xâm nhập mặn đã khiến sản lượng sụt giảm trên 1 triệu tấn. Với sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng kèm theo những đập thủy điện đang được xây ở thượng nguồn sông Mê Kông như hiện nay, sản xuất lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sản xuất cũng như xuất khẩu của ngành lúa gạo nếu Việt Nam không định dạng lại ngành hàng này trong thời gian tới.
Trong bối cảnh đó, đại diện VFA cho rằng, Việt Nam cần định dạng lại sản lượng gạo hàng hóa cho xuất khẩu. Với định hướng trong ngắn hạn đến năm 2020, chỉ nên xuất khẩu ở mức 2 - 3 triệu tấn/năm thay vì 7 - 8 triệu tấn/năm như hiện nay.
Việc định dạng lại thị trường cũng được các doanh nghiệp trực tiếp làm công tác xuất khẩu đồng tình. Dưới góc độ của doanh nghiệp, ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty TNHH Trung An (Cần Thơ) cho rằng, trước đây, do bối cảnh lịch sử nên nền sản xuất lúa gạo chỉ tập trung vào năng xuất, sản lượng mà bỏ quên vấn đề chất lượng và thị trường.
“Muốn phát triển được thị trường, Việt Nam phải có những sản phẩm gạo có tính cạnh tranh, đảm bảo 3 yếu tố: ngon, sạch và rẻ. Đặc biệt, gạo sạch là xu thế tiêu dùng không chỉ của thế giới mà ngay cả người dân trong nước. Thời gian gần đây, nhiều người tiêu dùng trong nước chọn mua gạo Campuchia vì tin rằng đó là gạo sạch, dù giá đắt hơn so với nhiều loại gạo sản xuất trong nước”, ông Bình nói.
Để đảm bảo 3 tiêu chí trên, theo ông Phạm Thái Bình, phải bắt nguồn từ khâu sản xuất, có những cánh đồng lớn và vùng nguyên liệu ổn định để sản xuất theo chuỗi giá trị gia tăng. Để làm được điều này, không cần phải tìm giải pháp nào khác, chỉ cần làm đúng chủ trương theo Quyết định 62 của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn.
Ngoài việc định dạng lại sản lượng hàng hóa, ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch VFA nhấn mạnh, để tháo gỡ khó khăn cho ngành lúa gạo hiện nay, cần tổ chức lại sản xuất ngành hàng lúa, gạo theo hướng đi vào chiều sâu là nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong ngắn hạn, cần xây dựng vùng nguyên liệu an toàn và có thể truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, cân đối sản lượng lúa, gạo hàng hóa phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường và vượt qua thách thức kép về nước.
Từ đó, định dạng lại 3 vùng sinh thái có tiềm năng lợi thế sản xuất lúa, gạo; trong đó, khai thác triệt để 2 vùng sinh thái nước ngọt (Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười) và vùng luân canh lúa - tôm (vùng giữa sông Tiền - sông Hậu (ven biển).
Tham dự chỉ đạo hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Tương Trần Quốc Khánh cho rằng, trong thời gian tới, ngành lúa gạo phải thay đổi tư duy sản xuất lúa gạo, định dạng lại sản lượng tối ưu, thay vì kiểu tự hào “xuất khẩu nhiều nhất” như hiện nay. Nhìn lại toàn cảnh thị trường thế giới, nếu một năm chỉ sản xuất dành cho xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn, nhưng nếu giá trị tốt thì cũng mang lại giá trị tương đương với 6-7 triệu tấn.
Đồng thời, việc sản xuất phải hướng đến đảm bảo theo yêu cầu, tiêu chuẩn của từng thị trường. Bởi lúa gạo là ngành hàng được bảo hộ lớn nhất hiện nay nên mỗi thị trường có những quy định khác nhau về điều kiện nhập khẩu. (Bnews 13/12) đầu trang(

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Lần đầu tiên Bộ Chính trị ra nghị quyết riêng về tinh giản biên chế (Nghị quyết 39), cho thấy tính cấp thiết của vấn đề.
Ngay sau khi Nghị quyết ra đời, rất nhiều Bộ, ngành địa phương quyết liệt vào cuộc triển khai. Đã có nhiều cách làm hay, thu được hiệu quả bước đầu. Không ít địa phương đã chỉ mặt, điểm tên đối tượng cần tinh giản. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề rất khó khăn.
Nếu không cấp tốc giảm đi những công chức “cắp ô” trong nền công vụ thì không chỉ tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước, mà sự cồng kềnh của bộ máy từ Trung ương đến địa phương sẽ làm bộ máy hành chính hoạt động thiếu hiệu quả. Vì thế,, từ năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định 132/2007/NĐ-CP về tinh giản biên chế. Nhưng sau 5 năm thực hiện, năm 2012 tổng số cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp huyện tăng 42.000 người, cán bộ công chức cấp xã tăng 14.000 người. Sau 5 năm tinh giản nhưng kết quả lại là con số âm. Tổng biên chế cả nước năm 2013 cũng tăng hơn năm 2012. Tinh giản, nhưng rút cục biên chế năm sau luôn cao hơn năm trước, đó là điều khó chấp nhận.
Vậy thì vì lý do gì công cuộc tinh giản biên chế vẫn cứ cài số lùi như vậy? Người ta đã phân tích rất nhiều nguyên nhân: Công tác đánh giá cán bộ thì làm lấy lệ, vị trí việc làm thì chưa xác định được, rất nhiều đơn vị hành chính hết nhập lại tách khiến bộ máy tăng thêm. Chưa kể không ít ngành, lĩnh vực mới ra đời không thể không có người để làm việc. Trong khi đó, muốn giảm biên chế mà Bộ, ngành, địa phương nào cũng có chưa đến 1% công chức “cắp ô” thì giảm ai, ai giảm?
Tinh giản biên chế như vậy chẳng khác nào đuổi hình bắt bóng nên không hiệu quả. Mấu chốt của việc tinh giản phải tìm được đối tượng để giảm. Mà đối tượng giảm lại cứ mờ mờ ảo ảo do cách đánh giá duy tình, nể nang, né tránh “tôi đánh giá tốt cho anh, anh cũng không nỡ đánh giá xấu tôi” thì khó truy ra công chức không làm được việc trong nền công vụ. Thế nên mới có chuyện nhìn vào số lượng tinh giản biên chế ở nhiều địa phương tưởng nhiều mà hóa ít vì đa phần đối tượng tinh giản lại là người nghỉ hưu hoặc do có vấn đề sức khỏe chứ không phải vì trình độ, năng lực, đạo đức!
Chắc chắn phải đổi mới công tác đánh giá cán bộ. Tuy nhiên, muốn đánh giá cán bộ sát thực phải cả một quá trình dài. Tuy nhiên, nếu các cơ quan, đơn vị muốn giải cho được bài toán tinh giản không phải không có đáp án.
Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị nêu rất rõ: Tinh giản biên chế gắn với việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Nhưng tại sao chúng ta cứ mải lo phần ngọn là loại được bao nhiêu biên chế ra khỏi nền công vụ mà không lo phần gốc, qua sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ chúng ta sẽ tìm ra đối tượng để giảm. Mà phần ngọn cũng không làm đến nơi đến chốn.
Đã có không ít địa phương tìm cách giải bài toán tinh giản biên chế thông qua việc cơ cấu lại đội ngũ, Quảng Ninh là ví dụ điển hình.  Chỉ sau một năm thực hiện Đề án 25 (Đề án Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế), Quảng Ninh đã giảm được 1.605 công chức, viên chức; cắt chi trả phụ cấp thường xuyên đối với 18.919 người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở (gồm hàng ngàn tổ trưởng dân phố, trưởng khu dân cư…); giảm 2 đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh; 118 phòng, đơn vị, đầu mối trực thuộc các sở - ban - ngành, đoàn thể tỉnh và các địa phương... Hiệu quả từ đề án này đã tiết kiệm chi thường xuyên được gần 300 tỉ đồng/năm và hàng trăm tỉ đồng từ cơ sở vật chất.
Cũng áp dụng cách làm này, hiện Hà Nội cũng đã “vào mùa” trong việc thu gọn đầu mối, giảm biên chế. Tính đến thời điểm này, TP Hà Nội đã giảm 59 phòng ban, giảm 39 trưởng phòng, 143 phó phòng, ban; giảm 130 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở; giảm 27 Ban Quản lý dự án, 2 Quỹ, 30 cấp trưởng phòng, 69 cấp phó phòng. Hà Nội cũng sắp xếp các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở từ 401 còn 280 đơn vị. Điều đáng nói là các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp đều hoạt động hiệu quả, chất lượng, khối lượng công việc được cải thiện.
Hóa ra, chỉ cần rà soát, thống kê lại các đơn vị công trên địa bàn, nhiều địa phương đã truy ra không ít số người, số chức danh, số phòng, ban dư thừa trong bộ máy. Hà Nội chẳng hạn. Đã loại được phòng Dân tộc tại các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức do có số xã miền núi ít; hay chấm dứt hoạt động của Hội Nông dân ở nhiều quận trên địa bàn chứ không “mặc chung một áo” cho tất cả các đơn vị trong thành phố như trước.
Qua rà soát mới thấy cần sáp nhập nhiều cơ quan trùng lắp về nhiệm vụ mà ngốn không ít biên chế. Phải rà soát mới thấy hóa ra không phải chính quyền cấp trên có phòng, ban nào thì phải sao ra nhiều bản áp dụng cho tất cả chính quyền cấp dưới, qua đó kéo theo hàng loạt biên chế mà họ chẳng biết làm gì để tiêu hết khoảng thời gian dư thừa ở nhiệm sở. Đó là chưa kể, trong bộ máy của chúng ta còn tồn tại không ít cơ quan chồng chéo, giẫm chân lên nhau do chưa xác định được vị trí việc làm.
Rõ ràng, tinh giản biên chế không chỉ đơn thuần là giảm về số lượng người mà còn góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức qua việc sàng lọc. Không để tình trạng công chức “cắp ô” tồn tại trong nền công vụ cũng khiến việc tuyển dụng công chức công khai, minh bạch hơn, tìm được những người đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu của mỗi vị trí việc làm qua đó tăng hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính, như vậy mới gọi là giản mà tinh. Muốn thực hiện tốt chủ trương tinh giản biên chế phải rà soát, sắp xếp lại bộ máy, xác định vị trí việc làm. Phải dứt khoát đổi mới công tác đánh giá cán bộ.
Đặc biệt, để cổ vũ cho tinh giản biên chế, cần hiện đại hóa chính quyền, áp dụng chính phủ điện tử; tập trung xã hội hóa cung cấp dịch vụ công để Nhà nước đỡ phải ôm đồm cũng như dần xóa bỏ tâm lý ai cũng muốn trở thành người nhà nước.
Đối tượng giảm mờ mờ ảo ảo do cách đánh giá duy tình, nể nang, né tránh “tôi đánh giá tốt cho anh, anh cũng không nỡ đánh giá xấu tôi” thì khó truy ra công chức không được việc trong nền công vụ. Thế nên mới có chuyện nhìn vào số lượng người tinh giản biên chế ở nhiều địa phương tưởng nhiều mà hóa ít vì đa phần đối tượng tinh giản lại là người nghỉ hưu, hoặc do có vấn đề sức khỏe chứ không phải vì trình độ, năng lực, đạo đức! (Đại Đoàn Kết 13/12) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Qua 6 năm tổ chức, triển khai và thực hiện, giáo dục Bến Tre nói chung và 48 trường tham gia Chương trình SEQAP nói riêng đã có sự chuyển biến tích cực, đó chính là hiệu quả và tác động từ Chương trình SEQAP.
Ông Trần Văn Liêm - Trưởng hòng Giáo dục tiểu học (Sở GD&ĐT Bến Tre) - cho biết: Năm học 2015-2016, Bến Tre có 48 trường, 829 lớp, 23.276 HS tham gia SEQAP.
Các trường được chọn tham gia Chương trình SEQAP đều đạt các tiêu chí qui định. Cán bộ, giáo viên và nhân viên các trường có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác, chấp hành tốt sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo. Đa số các trường đã có tổ chức dạy 2 buổi/ngày.
Tuy nhiên, các trường cũng gặp nhiều khó khăn khi cán bộ, giáo viên, nhân viên và cộng đồng chưa hiểu rõ về mô hình dạy học cả ngày, hiểu về quan điểm, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cả ngày. Một số cha mẹ học sinh không đồng tình cho con em học 2 buổi/ngày.
Đa số các trường chỉ có một số lớp học 2 buổi/ngày, tỉ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày còn thấp. Việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cũng còn hạn chế do không đủ thời gian, chủ yếu chỉ tập trung dạy - học các môn văn hóa.
Trên cơ sở công văn chỉ đạo của Chương trình, hằng năm Sở có công văn hướng dẫn các phòng giáo dục chỉ đạo triển khai dạy học cả ngày, trong đó tập trung quán triệt trong đội ngũ giáo viên nhà trường về lộ trình chuyển đổi từ dạy học nửa ngày sang dạy học cả ngày.
Sở GD&ĐT cũng tổ chức tuyên truyền rộng rãi trong cha mẹ học sinh và cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau như các bản tin trên đài truyền thanh xã, phổ biến trong các phiên họp Ban Đại diện cha mẹ học sinh, Đại hội cha mẹ học sinh… nhằm giúp mọi người nắm được tầm quan trọng, sự cần thiết phải chuyển sang dạy học cả ngày.
Các trường chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất như phòng học, chỗ ăn, chỗ nghỉ trưa, chỗ để học sinh tham gia sinh hoạt các nhóm sở thích. Thêm vào đó là sự chuẩn bị về nhân lực, về tài chính... để tổ chức hoạt động dạy học cả ngày.
Các trường cũng thực hiện nhiều giải pháp nâng cao chất lượng dạy - học, đảm bảo mục tiêu phát triển toàn diện cho học sinh; đặc biệt quan tâm tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa, tổ chức tốt các hoạt động trong giờ nghỉ trưa tại trường cho học sinh.
Đồng thời tạo sự tin tưởng của cha mẹ học sinh trong việc hỗ trợ cùng với nhà trường ủng hộ cho con em tham gia học cả ngày, thực hiện tốt kế hoạch chuyển từ học nửa ngày sang học cả ngày.
Bàn về hiệu quả khi thực hiện Chương trình SEQAP, ông Trần Văn Liêm nhận định: Sau 5 năm thực hiện chương trình, hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên nhận thức đúng về việc chuyển đổi sang dạy học cả ngày là phù hợp với nhu cầu thực tế và định hướng phát triển giáo dục Việt Nam.
Ngoài ra, chương trình hỗ trợ cơ sở vật chất, bữa ăn trưa cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tổ chức nhiều hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp... góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Năng lực của cán bộ quản lý được nâng lên thông qua việc vận dụng các mô-đun đã tập huấn để xây dựng kế hoạch, quản lý hoạt động dạy học phù hợp thực tế của đơn vị.
Giáo viên hiểu và vận dụng tốt “kỹ thuật dạy học” vào việc giảng dạy ở trường, lớp phụ trách. Thực hiện việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng lấy HS làm trung tâm, tổ chức câu lạc bộ học sinh ở trường học một cách có hiệu quả, góp phần nâng chất lượng dạy và học.
Bên cạnh đó, phương pháp “Bàn tay nặn bột” đặc biệt được giáo viên và cán bộ quản lý quan tâm. Thông qua các hoạt động thực hành, học sinh là người chủ động trong hoạt động học tập, tự xây dựng kiến thức thông qua khám phá, thử nghiệm, thảo luận, hợp tác với bạn, dưới sự định hướng, giúp đỡ của giáo viên.
Qua đó, học sinh nắm vững kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và tư duy sáng tạo, phát triển năng lực quan sát, thực hành; kỹ năng làm việc hợp tác theo nhóm… góp phần phát triển năng lực tự học. Rèn kỹ năng diễn đạt qua ngôn ngữ nói và viết, giúp học sinh phát triển khả năng diễn đạt, ngôn ngữ khoa học.
Qua việc tích cực tham gia các hoạt động, học sinh hình thành tác phong và thói quen làm việc khoa học, thói quen độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong hành động, có lợi cho việc học tập và nghiên cứu sau này. Học sinh cũng được bồi dưỡng lòng yêu thích và say mê khoa học.
Chất lượng giáo dục hàng năm của các trường tham gia SEQAP từng bước được kéo giảm cách biệt so bằng với mặt bằng chung của tỉnh.
Mặc dù các trường tham gia Chương trình SEQAP là những trường khó khăn trong tỉnh nhưng đến cuối Chương trình chất lượng giáo dục đạt được cao hơn mặt bằng chung của tỉnh.
Qua việc tổ chức cho HS ăn nghỉ trưa tại trường, sinh hoạt ngoại khóa... đã tạo cơ hội cho HS xây dựng mối quan hệ nhóm, tập thể, có điều kiện để trải nghiệm bản thân, đặc biệt HS được nâng cao kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự phục vụ, phát triển năng khiếu, sở trường cá nhân... đã giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách tốt nhất, nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện.
Có nhiều học sinh đạt giải trong các kỳ thi: Olympic Toán, Violympic Tiếng Anh, Hội thi Kể chuyện sách, Hội thi Vẽ tranh, Hội thi “Tiếng hát hoa phượng đỏ”...
Nhờ tổ chức bán trú, có những phần thưởng động viên khích lệ cho học sinh đi học đều, thưởng học sinh học giỏi nên số học sinh nghỉ học, bỏ học ngày càng được kéo giảm. Đến cuối Chương trình thì các trường tham gia SEQAP đều không có học sinh bỏ học.
Cô Nguyễn Thị Mỹ Dung - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Vĩnh Thành B, 1 trong 5 trường của huyện Chợ Lách tham gia Chương trình - chia sẻ:
Chương trình đã mang lại hiệu quả tích cực, bước đầu giải quyết được nhiều khó khăn, đặc biệt là phát huy được hiệu quả trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Hiện nay, khi tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các trường thường không có kinh phí, trong khi đây lại là 1 trong 2 hoạt động chính để nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần phát triển toàn diện cho học sinh bậc tiểu học.
Hiện tại, nhà trường tổ chức ăn trưa, bán trú cho 200 học sinh. Quỹ giáo dục hỗ trợ 150 học sinh nghèo (số còn lại xã hội hóa) mỗi tuần 2 suất ăn với số tiền 15 ngàn đồng/suất ăn.
Với kinh phí hỗ trợ, trường nấu ăn cho học sinh nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có điều kiện đổi khẩu phần ăn thường xuyên giúp các em ăn ngon miệng, đảm bảo chất lượng bữa ăn.
Phát huy những kết quả đã đạt được từ sự hỗ trợ của Chương trình SEQAP, Sở GD&ĐT Bến Tre tiếp tục chỉ đạo duy trì mô hình dạy học cả ngày ở các trường tham gia SEQAP, đồng thời nhân rộng ra tất cả các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh.
Phấn đấu đến năm 2020, 100% học sinh các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Bến Tre đều được học 2 buổi/ngày và có tổ chức bán trú ở những trường có điều kiện. (Giáo Dục Và Thời Đại 14/12) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được ví như làm lại một cái nhà to đẹp hơn, nhưng có DN khi bán vốn Nhà nước lại làm cho ngôi nhà xấu đi. Tiến trình cổ phần hóa DNNN dù rất quyết liệt, nhưng tiếc thay lại chưa được như ý, dù các chỉ thị, chỉ đạo liên tiếp được đưa ra.
Theo chỉ đạo mới nhất từ Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, trước ngày 15/12 (tức là còn đúng 1 ngày nữa) Bộ Tài chính phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Đề án tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016-2020.
Cụ thể, để hoàn thiện Đề án và dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016-2020, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu Bộ Tài chính bổ sung đánh giá kết quả thực hiện theo nội dung quy định tại Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hoàn thành mục tiêu tái cơ cấu đã đề ra; việc thoái vốn nhà nước ở công ty cổ phần mà Nhà nước không cần chi phối; việc hoàn thành nhiệm vụ của DN công ích; nhiệm vụ tái cơ cấu theo ngành, lĩnh vực không phân biệt cấp, cơ quan quản lý.
Bộ Tài chính bám sát Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 1/11/2016 về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, Nghị quyết số 24/2016/QH14 của Quốc hội về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.
Đồng thời rà soát, đối chiếu với nội dung tái cơ cấu DNNN nêu trong Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế 2016-2020 của Chính phủ để bổ sung thêm các đánh giá, nhận định; cụ thể hóa các nội dung về mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2016-2020.
Quan điểm chỉ đạo quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa DNNN trong thời gian tới cũng đã được nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN, trọng tâm là tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Xác định cụ thể phạm vi, ngành nghề đầu tư, sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, cơ cấu lại danh mục vốn đầu tư nhà nước trong các ngành, nghề theo quy định.
Tiếp tục đẩy mạnh CPH, thoái vốn đầu tư của Nhà nước một cách công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước; có cơ chế kiểm soát phù hợp nguồn vốn mua bán, sáp nhập DN; các DN cổ phần hoá phải niêm yết trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành cổ phiếu lần đầu; thu hút nhà đầu tư chiến lược có năng lực, giảm tỉ lệ sở hữu nhà nước xuống mức đủ để thay đổi quản trị doanh nghiệp một cách thực chất.
Thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với DNNN để sớm xoá bỏ chức năng đại diện sở hữu của các bộ, UBND đối với vốn, tài sản nhà nước tại các DN; đổi mới quản trị DNNN theo nguyên tắc thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp theo nguyên tắc và cơ chế thị trường; xem xét, thực hiện biện pháp phá sản DNNN theo quy định của pháp luật.
Báo cáo tại Hội nghị của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới DNNN vừa diễn ra đầu tuần, Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN cho biết, nếu tính cả số DN sắp xếp trong 10 tháng đầu năm 2016 là 60 DN, trong đó CPH 48 DN thì đến nay tổng số DNNN xếp lại là 6.010 DN, trong đó CPH 4.508 DN.
Sau 15 năm (từ năm 2001), từ chỗ cả nước có khoảng 6.000 DNNN, dàn trải trên 60 ngành, lĩnh vực, thì đến hết tháng 10-2016, chỉ còn 718 DNNN, hoạt động trong 19 ngành, lĩnh vực.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, theo đánh giá, tiến độ cổ phần hóa DNNN vẫn chậm, việc thoái vốn đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh mới đạt 42% kế hoạch, thoái vốn trong lĩnh vực ngân hàng còn phụ thuộc vào quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, một số bộ, ngành, địa phương chưa tích cực, chủ động, chưa quyết liệt chỉ đạo triển khai thực hiện tái cơ cấu DNNN.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhận xét, việc cổ phần hóa DNNN vẫn rất chậm. Một nguyên nhân quan trọng là lợi ích cục bộ đang là rào cản lớn của CPH, chưa tạo được động lực CPH. Chưa kể yếu tố con người cũng kéo ỳ quá trình CPH bởi khi làm một ông chủ bằng tiền Nhà nước chỉ cần bảo toàn vốn, chứ không bị áp lực chia cổ tức cho cổ đông. Điều này tạo nên tâm lý trì hoãn việc CPH.
Giới chuyên gia cho rằng, đề án, nghị quyết lẫn các chỉ thị đã có nội dung rất rõ ràng, điều cốt lõi là có làm không. Tái cơ cấu DNNN muốn hiệu quả phải gắn liền tăng cường thông tin, đẩy mạnh việc minh bạch, công khai hóa thông tin về quá trình CPH; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với quá trình cổ phần hóa các DNNN.
Phía Bộ Tài chính cũng cho rằng, tổ chức thực hiện tái cơ cấu DNNN trong thời gian tới cần quyết tâm và quyết liệt hơn. Xử lý nghiêm đối với lãnh đạo DN không thực hiện hoặc không thực hiện có hiệu quả công tác CPH. Đồng thời nghiêm túc thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các DN đã CPH về Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo đúng quy định. (Đại Đoàn Kết 14/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Cảnh sát Israel cho biết, họ vừa tiến hành lệnh bắt giữ đối với Amnon Cohen - cựu nghị sĩ Đảng Shas - vì cáo buộc nhận hối lộ.
Theo thông tin ban đầu, Amnon Cohen (nghị sĩ Đảng Shas nhiệm kỳ 1999 - 2015) bị nghi ngờ gian lận, lạm dụng chức vụ quyền hạn, nhận hối lộ (bằng tiền mặt và bằng người đẹp) của 1 doanh nhân để giúp cho doanh nhân này nhận được những ưu đãi từ các chính sách của Quốc hội Israel.
Mặc dù phía cảnh sát không tiết lộ danh tính của doanh nhân hối lộ, nhưng theo điều tra riêng của kênh truyền hình Uvda, doanh nhân hối lộ cho cựu nghị sĩ Amnon Cohen không ai khác chính là Daniel Milkandov - một tỷ phú rất có tiếng trong ngành môi giới tài chính ở Israel. Thậm chí, doanh nhân này còn tìm cách len lỏi được vào hàng ngũ các nghị sĩ trong Quốc hội Israel khi tìm được 1 vị trí trong Ủy ban Tài chính của Quốc hội Israel. (Thanh Tra 14/12) đầu trang(./.