|
Ngày 11 tháng 01 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 02/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế. Chỉ thị nêu rõ, từ nay đến năm 2021, mỗi năm Bộ, ngành, địa phương thực hiện giảm 1,5 đến 2% biên chế công chức, biên chế sự nghiệp được giao năm 2015.
Để đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện nhiệm vụ tăng cường công tác tuyên truyền về chủ trương tinh giản biên chế: Tổ chức triển khai, quán triệt tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW, Quyết định số 2218/QĐ-TTg và Nghị định số 108/2014/NĐ-CP đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức.
Về xây dựng Đề án tinh giản biên chế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bộ, ngành, địa phương) chưa xây dựng Đề án tinh giản biên chế thì phải khẩn trương xây dựng, phê duyệt Đề án tinh giản biên chế và kế hoạch tinh giản biên chế từ nay đến năm 2021 và của từng năm, trong đó phải xác định rõ tỷ lệ tinh giản biên chế.
Các Bộ, ngành, địa phương đã phê duyệt Đề án tinh giản biên chế nhưng kết quả thực hiện còn thấp, cần có giải pháp để thực hiện hiệu quả kế hoạch tinh giản biên chế được phê duyệt.
Về rà soát chức năng, nhiệm vụ; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc theo nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì; chuyển một số nhiệm vụ mà cơ quan nhà nước không cần thiết phải trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả sang các tổ chức ngoài nhà nước đảm nhận.
Rà soát, sắp xếp, kiện toàn mô hình tổ chức của Bộ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; xoá bỏ các tổ chức trung gian. Xem xét hợp nhất các vụ, cục chưa đáp ứng được tiêu chí thành lập. Không đưa cơ quan đại diện tại miền Trung và miền Nam vào cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; hạn chế đề xuất thành lập mới tổng cục, cục, vụ, chi cục, phòng; hạn chế thành lập phòng trong Vụ, bảo đảm tinh gọn bộ máy, hiệu lực, hiệu quả, cải cách hành chính.
Rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức cấu thành của cơ quan, đơn vị theo hướng thu gọn đầu mối, giảm bớt khâu trung gian, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Các Bộ, ngành tập trung hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực.
Các địa phương tập trung rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn; sắp xếp lại mạng lưới các trường, lớp, bảo đảm bố trí đủ sỹ số học sinh trên lớp theo các cấp, bậc học; sắp xếp lại mạng lưới các đơn vị sự nghiệp y tế theo hướng tinh gọn, hiệu quả đúng quy định.
Chỉ thị nêu rõ, từ nay đến năm 2021, mỗi năm Bộ, ngành, địa phương thực hiện giảm 1,5 đến 2% biên chế công chức, biên chế sự nghiệp được giao năm 2015. Các Bộ, ngành, địa phương chưa giảm được biên chế sự nghiệp năm 2016 so với biên chế được giao năm 2015 thì năm 2017 phải giảm tối thiểu 3% của biên chế được giao năm 2015.
Trường hợp phải thành lập tổ chức mới hoặc được giao nhiệm vụ mới thì Bộ, ngành, địa phương tự cân đối, điều chỉnh trong tổng biên chế công chức hoặc biên chế sự nghiệp được cấp có thẩm quyền giao.
Riêng đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, trường hợp thành lập mới trường, tăng số lớp và tăng số học sinh, Bộ, ngành, địa phương tự cân đối trong tổng số biên chế sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã được cấp có thẩm quyền giao; nếu không thể tự cân đối được thì có đề xuất gửi Bộ Nội vụ thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đối với lĩnh vực y tế, trường hợp thành lập mới cơ sở y tế, tăng số giường bệnh thực tế sử dụng, Bộ, ngành, địa phương tự cân đối trong tổng số biên chế sự nghiệp y tế đã được cấp có thẩm quyền giao; nếu không thể tự cân đối được thì có đề xuất gửi Bộ Nội vụ thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Thực hiện nghiêm túc việc quản lý và sử dụng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp đối với công chức, viên chức đã thực hiện tinh giản biên chế và nghỉ hưu, thôi việc theo quy định (giảm tối thiểu 50% số công chức, viên chức đã thực hiện tinh giản biên chế và nghỉ hưu, thôi việc theo quy định của Bộ, ngành, địa phương).
Thực hiện tinh giản biên chế đối với những cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đạt tiêu chuẩn quy định (phẩm chất, năng lực, sức khỏe), những người dôi dư do xác định vị trí việc làm và sắp xếp tổ chức.
Chỉ đạo người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, phân loại công chức, viên chức hàng năm; thực hiện tinh giản biên chế phải bảo đảm đúng nguyên tắc, đối tượng, trình tự, thời hạn giải quyết tinh giản biên chế.
Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tự chủ, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp công lập hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ người dân. Cụ thể, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm chi thường xuyên được quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao.
Đối với các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi thường xuyên thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong tổng số người làm việc được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật bảo đảm thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Người đứng đầu Bộ, ngành, địa phương và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc Bộ, ngành, địa phương phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện tinh giản biên chế. Nếu không hoàn thành kế hoạch tinh giản biên chế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải bị xử lý trách nhiệm theo quy định của Đảng, Nhà nước.
Các cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng đẩy mạnh việc tuyên truyền chủ trương tinh giản biên chế, kịp thời động viên, nêu gương các tổ chức thực hiện tốt việc tinh giản biên chế, phê phán những hành vi vi phạm các quy định về tinh giản biên chế. (Báo Chính Phủ 9/1) đầu trang(
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 320/2016/TT-BTC quy định chế độ bồi dưỡng đối với người làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Thông tư này quy định về chế độ bồi dưỡng đối với người làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại các Trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân được quy định tại Điều 20 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân.
Thông tư nêu rõ chế độ bồi dưỡng được tính theo ngày làm việc theo quy định đối với cán bộ, công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo tại Trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP.
Chế độ bồi dưỡng được tính theo ngày làm việc thực tế đối với các đối tượng khác quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 21 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP.
Trường hợp các đối tượng này khi tham gia tiếp công dân xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân từ 50% thời gian tiêu chuẩn của ngày làm việc trở lên thì được hưởng toàn bộ mức chi bồi dưỡng, nếu dưới 50% thời gian tiêu chuẩn của ngày làm việc thì được hưởng 50% mức chi bồi dưỡng quy định tại Thông tư này.
Về mức chi, Thông tư quy định, các đối tượng được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 21 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP mà chưa được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề, khi làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân được bồi dưỡng 100.000 đồng/1 ngày/1 người; trường hợp đang được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề thì được bồi dưỡng 80.000 đồng/1 ngày/1 người.
Đối với cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền giao hoặc phân công làm nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân Trung ương được bồi dưỡng 150.000 đồng/1 ngày/1 người; trường hợp đang hưởng chế độ phụ cấp theo nghề được bồi dưỡng 120.000 đồng/1 ngày/1 người.
Các đối tượng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 21 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP được bồi dưỡng 50.000 đồng/1 ngày/1 người.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2017 và áp dụng cho năm ngân sách 2017. (Báo Chính Phủ 6/1) đầu trang(
QUẢN LÝ
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc Nhân dân”, “Thầy thuốc Ưu tú” lần thứ 12.
Chủ tịch Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc Nhân dân”, “Thầy thuốc Ưu tú” lần thứ 12 (Hội đồng) là Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến.
Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Ông Nguyễn Viết Tiến, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân, Thứ trưởng Bộ Y tế (Phó Chủ tịch thường trực); bà Trần Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương; ông Mai Đức Chính, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Hội đồng có 15 ủy viên là đại diện các Bộ, cơ quan: Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ.
Hội đồng có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ xem xét, lựa chọn những cá nhân có đủ tiêu chuẩn, trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định tặng danh hiệu “Thầy thuốc Nhân dân”, “Thầy thuốc Ưu tú” lần thứ 12. (Báo Chính Phủ 9/1) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án tuyên truyền thực hiện chính sách, pháp luật về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh đến năm 2020.
Đề án sẽ tập trung tuyên truyền, phổ biến 6 nội dung sau:
1- Tuyên truyền sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế.
2- Các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội dung và kết quả thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án của Chính phủ, của các bộ, ngành trung ương và địa phương về kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
3- Tuyên truyền các công trình nghiên cứu, giải pháp sáng tạo, các mô hình bảo đảm quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kinh tế, các mô hình tổ chức phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là tại các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và phía Tây các tỉnh miền Trung, các địa bàn trọng yếu, dọc biên giới, bờ biển và hải đảo.
4- Tuyên truyền các khu kinh tế - quốc phòng; các mô hình tổ chức công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, vừa phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vừa phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh.
5- Tuyên truyền, biểu dương gương người tốt, việc tốt, nhân rộng điển hình tiên tiến trong phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển đảo của Tổ quốc, đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
6- Tuyên truyền việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Mục tiêu chung của Đề án nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, các ngành, của cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân trong việc triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhằm tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cụ thể, Đề án phấn đấu đến hết năm 2020 trên 80% cán bộ, công chức trực tiếp tham mưu xây dựng, ban hành, quản lý và kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở các bộ, ngành trung ương; các sở, ngành thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; trên 80% phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, xuất bản ở Trung ương và cấp tỉnh, cán bộ đài truyền thanh cấp huyện được bồi dưỡng cập nhật kiến thức và các chính sách, văn bản pháp luật mới về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh... (Báo Chính Phủ 9/1) đầu trang(
Tăng cường vận động, phát huy vai trò và thực hiện chế độ, chính sách đối với người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số, góp phần thực hiện tốt công tác dân tộc, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án "Tăng cường vai trò của người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số".
Theo đó, người có uy tín là người nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương nơi cư trú và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân; bản thân và gia đình gương mẫu, có đóng góp tích cực đối với cộng đồng; am hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán, tiếng nói của dân tộc ở nơi cư trú; có cách ứng xử, giải quyết tốt mối quan hệ trong gia đình, cộng đồng; là người tiêu biểu, có mối liên hệ chặt chẽ, có ảnh hưởng lớn và khả năng tập hợp đồng bào dân tộc ở những phạm vi nhất định, được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo.
Việc lựa chọn người có uy tín phải đảm bảo nguyên tắc: Đúng tiêu chí, tự nguyện, bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giữa các dân tộc.
Về trách nhiệm của người có uy tín, bản thân và gia đình người có uy tín phải nắm vững, gương mẫu thực hiện và tích cực tuyên truyền, giải thích, vận động đồng bào các dân tộc trên địa bàn thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; chủ động nắm tình hình dư luận xã hội, đời sống, sản xuất, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, phản ánh kịp thời về các cơ quan chức năng có liên quan; tham gia ngăn ngừa, hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự ở địa phương; tích cực hưởng ứng, ủng hộ, tham gia xây dựng nông thôn mới và các cuộc vận động, phong trào thi đua tại địa phương.
Căn cứ tình hình và điều kiện cụ thể, các địa phương có thể điều chỉnh hoặc quy định bổ sung trách nhiệm của người có uy tín cho phù hợp.
Quyết định nêu rõ, cần tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy Đảng, chính quyền, nâng cao vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên các cấp, tạo sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận xã hội trong công tác vận động, phát huy vai trò và thực hiện chế độ, chính sách đối với người có uy tín.
Bên cạnh đó, thực hiện phân cấp quản lý, phân công vận động người có uy tín. Cụ thể, người có uy tín chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của cấp ủy đảng, chính quyền và giữ mối quan hệ phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cùng cấp.
Cấp Trung ương trực tiếp quản lý và hỗ trợ cấp tỉnh vận động những người có phạm vi ảnh hưởng từ một tỉnh trở lên hoặc phạm vi ảnh hưởng hẹp hơn nhưng là địa bàn trọng điểm, xung yếu; cấp tỉnh trực tiếp quản lý, vận động những người có phạm vi ảnh hưởng từ một huyện trở lên, hoặc phạm vi ảnh hưởng hẹp hơn nhưng là địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự; những người có uy tín còn lại do cấp huyện trực tiếp quản lý, vận động hoặc giao cho cấp xã thực hiện.
Hàng năm cơ quan có thẩm quyền công nhận người có uy tín thực hiện việc rà soát, bổ sung hoặc thay thế người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số.
Ngoài ra, nghiên cứu sửa đổi, thay thế hoặc ban hành mới các chế độ, chính sách đối với người có uy tín cho phù hợp, đảm bảo thống nhất về nội dung và các mức chi tương ứng đối với cùng một đối tượng thụ hưởng. Các ngành Quốc phòng, Công an thực hiện chế độ, chính sách riêng đối với người có uy tín do ngành quản lý. (Báo Chính Phủ 9/1) đầu trang(
Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình vừa có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý kỷ luật đối với ông Lê Công Tuấn, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Đức Trọng do có sai phạm trong việc thu tiền sử dụng đất, giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị Lích (trú tại 93 Trần Hưng Đạo, tổ 13, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng).
Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Lâm Đồng xem xét trách nhiệm, tổ chức kiểm điểm, có hình thức xử lý kỷ luật đối với ông Lê Công Tuấn theo quy định của pháp luật và thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để có tác dụng góp phần hạn chế những vi phạm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai và giải quyết khiếu nại của công dân. (Báo Chính Phủ 9/1) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, làm suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đất nước, xã hội. Công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) được Đảng, Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài.
Thời gian qua, cùng với những thành tựu quan trọng đạt được về kinh tế - xã hội, đối ngoại, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, công tác PCTN có nhiều chuyển biến tích cực cả về phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Nhiều vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh(1). Tham nhũng bước đầu được kiềm chế, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Đạt được những kết quả trên đây là do có sự quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh PCTN; sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, ráo riết với nhiều quyết sách đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Quốc hội, Chính phủ; sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan tham mưu và của các cấp ủy, tổ chức đảng, bộ, ngành, địa phương, nhất là sự nỗ lực rất cao của các cơ quan, đơn vị có chức năng PCTN và các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương; sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và báo chí.
Tuy nhiên, công tác PCTN chưa đáp ứng được yêu cầu, tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng, với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, "làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong dư luận, là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ"(2).
Những hạn chế trên đây có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là: Giữa quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và hành động thực tế của một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn khoảng cách; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế, chính sách, pháp luật về kinh tế - xã hội và PCTN trên một số lĩnh vực còn sơ hở, chưa phù hợp với thực tiễn; cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện. Việc thực thi pháp luật nói chung và thực hiện các quy định về PCTN của Đảng và Nhà nước nói riêng chưa nghiêm.
Mô hình tổ chức các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng thiếu ổn định, quyền hạn chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, phương tiện, điều kiện làm việc còn bất cập, chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Chưa phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhân dân, báo chí và truyền thông trong PCTN.
Từ thực tiễn công tác PCTN thời gian qua, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm: (1) Phải biến quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN thành hành động thực tế của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu và quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác PCTN; (2) Phải kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; (3) Phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế về kinh tế - xã hội và PCTN đồng bộ, thống nhất, khả thi và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.
Chú trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn; xóa bỏ tình trạng đặc quyền, đặc lợi, “nhóm lợi ích”, kiểm soát có hiệu quả độc quyền của Nhà nước; (4) Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân, cơ quan truyền thông và báo chí, doanh nghiệp, doanh nhân trong PCTN.
Các giải pháp PCTN phải phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; (5) Chú trọng phát huy vai trò nòng cốt của các cơ quan, đơn vị có chức năng PCTN, trước hết là các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng trong các cơ quan tiến hành tố tụng; tăng cường hợp tác quốc tế về PCTN.
Để tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, cần quán triệt, thực hiện tốt một số quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Về quan điểm: Cần nhận thức sâu sắc quan điểm PCTN trong giai đoạn hiện nay để khắc phục khuynh hướng tả khuynh, nóng vội hoặc hữu khuynh, trì trệ, cầm chừng, thiếu quyết liệt, đó là: (1) Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng; không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai; (2) Phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động, và có trọng tâm, trọng điểm. Gắn PCTN với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; gắn PCTN, lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân; (3) Kiên quyết, kiên trì, khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị để không dám tham nhũng; cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng.
2. Về nhiệm vụ, giải pháp:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để bảo đảm công tác PCTN có hiệu lực, hiệu quả, nhất là xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu; xây dựng và hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế - xã hội và thể chế về PCTN theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo bổ sung, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành thể chế thuộc phạm vi phụ trách, quản lý của cơ quan, tổ chức, bộ, ngành, địa phương mình. Trước hết, sửa đổi toàn diện Luật PTCN; hoàn thiện các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức; các quy định của pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, giám định tư pháp, thanh tra, kiểm toán, giải quyết tố cáo; các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội đối với các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng…, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả. Cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”. Hệ thống thể chế phải bảo đảm tạo ra một “cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; một cơ chế trừng trị, răn đe, để không dám tham nhũng”(3) và “một cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng”(4).
Hai là, nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm và tính tiên phong, gương mẫu của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong PCTN. Đấu tranh PCTN là cuộc đấu tranh ngay trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị, đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi con người.
Người đứng đầu phải nêu cao trách nhiệm, gương mẫu, đi đầu, quyết tâm, quyết liệt, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN, trước hết là trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình phụ trách. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Nhà nước về PCTN; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ càng cao càng phải gương mẫu.
Ba là, tăng cường quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên; hoàn thiện, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ phục vụ PCTN. Khắc phục những sơ hở, bất cập trong công tác tổ chức, cán bộ, quản lý đảng viên. Tăng thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm, xác minh, kết luận, xử lý khi có dấu hiệu vi phạm. Thực hiện nghiêm việc xử lý, điều chuyển, miễn nhiệm, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có biểu hiện tham nhũng gây nhiều dư luận, uy tín thấp.
Thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương; không bố trí những người có quan hệ gia đình cùng làm một số công việc dễ xảy ra tham nhũng. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, bảo đảm thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.
Bốn là, thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện đầu tiên để kiểm soát quyền lực, tạo điều kiện cho các chủ thể giám sát có hiệu quả công tác PCTN, không có vùng tối, vùng trống, vùng cấm trong PCTN.
Hoàn thiện quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, nhất là các nội dung về công khai, quản lý, kiểm tra, giám sát, xác minh bản kê khai; trách nhiệm giải trình, chế tài xử lý vi phạm trong kê khai và xử lý tài sản tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý. Hoàn thiện quy định và hệ thống cơ sở hạ tầng để tiến tới thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt.
Năm là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Các cơ quan chức năng phải có các giải pháp phù hợp, thuận lợi, an toàn để khuyến khích người dân phát hiện, dễ dàng phản ánh, tố giác tham nhũng.
Quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tham nhũng phải "tích cực, khẩn trương; làm rõ đến đâu xử lý đến đó; không phân biệt người có hành vi tham nhũng là ai, đã có dấu hiệu tội phạm thì phải khởi tố điều tra và đã kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử"(5); vụ việc chưa đến mức xử lý hình sự thì phải xử lý kỷ luật nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xử lý nghiêm cả những người bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng.
Kịp thời áp dụng các biện pháp kê biên, tạm giữ tài sản, phong tỏa tài khoản và xử lý tài sản tham nhũng ngay trong quá trình thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tăng cường phương tiện làm việc, nâng cao chất lượng cán bộ, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng; nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan chuyên trách chống tham nhũng theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm và tính độc lập tương đối trong thực hiện nhiệm vụ.
Sáu là, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng để ngăn chặn từ gốc nguyên nhân phát sinh tham nhũng.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác phát hiện, xử lý tham nhũng; thực hiện các giải pháp PCTN ngay trong các cơ quan chống tham nhũng. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí; thiết lập bằng được một cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn thật sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng.
Xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, trước hết là: Xây dựng ý thức tự giác chấp hành, thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về PCTN, lãng phí; chủ động xử lý khi có xung đột lợi ích; xây dựng, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; phê phán, lên án, đấu tranh với tham nhũng, lãng phí; trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân tham nhũng, lãng phí.
Bảy là, từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra khu vực ngoài Nhà nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về PCTN. Sự cấu kết giữa những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất trong khu vực Nhà nước với những đối tượng hoạt động ngoài khu vực Nhà nước là một dấu hiệu có tính phổ biến của tội phạm tham nhũng.
Do đó, phải từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra ngoài khu vực Nhà nước để nâng cao hiệu quả. Mặt khác, tham nhũng là vấn nạn của các quốc gia, cần đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp, các thỏa thuận về hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm với các nước; truy bắt, dẫn độ số đối tượng phạm tội tham nhũng lẩn trốn, chuyển giao tài liệu, chứng cứ và thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài. Nội luật hóa và thực thi Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng theo đúng lộ trình, phù hợp với điều kiện và pháp luật của Việt Nam. (Nhân Dân 10/1) đầu trang(
Tại hội nghị tổng kết và triển khai công tác của Sở Quy hoạch kiến trúc thành phố vừa qua, người đứng đầu UBND thành phố Hà Nội chỉ rõ: Quy hoạch của Hà Nội nói chung, kể cả quy hoạch lõi đang có vấn đề và đang đi chệch hướng. Chúng ta đang phải trả giá vì đã làm quy hoạch “băm nát” Hà Nội…
Gần đây, Chính phủ cũng có nhiều cảnh báo về hiện tượng hàng loạt chung cư cao tầng đã mọc lên giữa nội đô một số thành phố lớn, khiến giao thông lâm vào cảnh quá tải trầm trọng và nhấn mạnh: việc tham mưu, đề xuất các chính sách phải vì nhân dân, tuyệt đối tránh “lợi ích nhóm” và chống “tham nhũng chính sách”; Không được cài cắm vào luật những nội dung không vì lợi ích chung, mà vì lợi ích riêng của đơn vị, ngành hay một nhóm người nào đó…
Thực tế cho thấy, thời gian qua, công tác quản lý nhà nước ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, trong đó có hoạt động xây dựng, thẩm định và thực thi văn bản quy phạm pháp luật theo hướng bảo đảm tiến độ và đề cao lợi ích quốc gia, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, khuyến khích khởi nghiệp, thúc đẩy đầu tư và hỗ trợ kinh doanh, tạo công bằng xã hội.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy công tác tham mưu và xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật còn không ít hạn chế. Chất lượng một số văn bản luật còn thấp, cho nên hay phải sửa đổi, bổ sung, thiếu ổn định. Đáng chú ý, tình trạng cài cắm lợi ích nhóm, ngành trong khi tham mưu, xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật chưa được nhận diện đầy đủ và khắc phục triệt để, với những biểu hiện rất đa dạng và có mặt ở mọi cấp độ, lĩnh vực, từ công tác quản lý cán bộ, quy hoạch đầu tư công và ngân sách nhà nước, đến các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp…Không ít cán bộ được bổ nhiệm thiếu minh bạch hoặc chỉ tuân thủ quy trình một cách hình thức và không đáp ứng được cả về năng lực và trách nhiệm công vụ. Nhiều dự án đầu tư công không hiệu quả, gây thua lỗ, thất thoát, lãng phí và làm tăng nợ công hàng nghìn tỷ đồng. Một số quy hoạch xây dựng bị phá vỡ và mất phương hướng, méo mó trong triển khai. Những yêu cầu quản lý bảo đảm an toàn và hài hòa lợi ích phát triển bền vững bị coi thường, tạo thêm áp lực quá tải hạ tầng và hệ lụy môi trường, cũng như các chi phí khắc phục đắt đỏ về sau…
Có thể nói, “quốc nạn tham nhũng” với biểu hiện mới cài cắm lợi ích riêng, lợi ích nhóm trong công tác tham mưu, xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật đã, đang và sẽ sớm hay muộn, trực tiếp và gián tiếp là nguyên nhân của hàng loạt vấn đề không chỉ gây bức xúc xã hội, mà còn làm sai lệch bản chất chế độ, tha hóa cán bộ, đe dọa sự phát triển ổn định hệ thống thể chế và sự lành mạnh nền kinh tế - tài chính quốc gia.
Các doanh nghiệp phải gồng mình với các gánh nặng chi phí đủ loại và nguy cơ bỏ lỡ cơ hội hoặc chậm cải thiện sức cạnh tranh kinh doanh. Năng suất lao động và hiệu quả đầu tư xã hội chậm được cải thiện, trong khi phân hóa và bất bình đẳng xã hội tăng lên. Sự đoàn kết và đồng thuận xã hội bị tổn thương; lòng dân không yên; năng lực, hiệu lực và uy tín quản lý nhà nước bị hạn chế, bị khai thác lạm dụng hoặc vô hiệu hóa…
Để pháp luật vì lợi ích chung xã hội, cần coi trọng hoàn thiện và tuân thủ nghiêm túc quy trình xây dựng luật; bảo đảm vừa tăng tính chuyên nghiệp, khách quan, vừa tăng tính liên ngành và trách nhiệm cá nhân trong tham mưu, dự thảo, thẩm định, phản biện, đánh giá tác động hai mặt và thực thi các chính sách và luật định, giảm dần tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”.
Đáng chú ý, việc trao quyền luôn phải gắn với làm rõ trách nhiệm cá nhân và cơ chế kiểm soát quyền lực thực tế. Việc hoàn thiện pháp luật phải gắn với tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước.
Luật pháp, chính sách phải phản ứng kịp thời hơn với mọi thay đổi, biến động của đời sống xã hội, thật sự trở thành động lực quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước, bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi, giảm thủ tục hành chính, các rào cản để giảm chi phí thực thi cho người dân, doanh nghiệp.
Thực tiễn đã, đang và sẽ luôn đòi hỏi cần có cơ chế hiệu lực và hiệu quả thực tế cao chống lại mọi sự cài cắm lợi ích riêng, lợi ích nhóm, tăng cường bảo vệ lợi ích quốc gia, toàn xã hội trong quá trình tham mưu, xây dựng và thực thi luật pháp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế ngày càng đầy đủ, sâu, rộng hơn. (Nhân Dân 10/1) đầu trang(
Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán Nhà nước (KTNN) và TAND Tối cao diễn ra chiều 9/1.
Theo Quy chế này, hai bên còn phối hợp chuẩn bị các văn bản trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với những vấn đề lớn, những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và những vấn đề pháp luật chưa quy định có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của KTNN và TAND Tối cao.
KTNN và TANDTC sẽ trao đổi về việc bắt giam, khởi tố, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp quản lý đối với các vụ do KTNN phát hiện.
Ngoài ra, hai cơ quan theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện các chủ trương về phòng chống tham nhũng. Tham mưu, đề xuất về phòng chống tham nhũng. Phòng ngừa, phát hiện, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của KTNN quy định tại quy chế là khi chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra thì đồng thời gửi TAND Tối cao.
Cơ quan này cũng tiếp nhận thông tin, tài liệu về việc cơ quan, tổ chức có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn tố cáo về sai phạm trong quản lý, sử dụng tài chính công do TANDTC chuyển sang để chỉ đạo tổ chức kiểm toán, làm rõ.
Định kỳ hoặc đột xuất, KTNN sẽ trao đổi thông tin, cung cấp báo cáo về tình hình và kết quả công tác phòng chống tham nhũng; hồ sơ, tài liệu kiểm toán khi có yêu cầu để thực hiện tố tụng.
Ông Nguyễn Hòa Bình, Bí thư TƯ Đảng, Bí thư cán sự Đảng, Chánh án TAND Tối cao, cho hay, hai cơ quan đều là thành viên Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng.
“Nếu KTNN phát hiện vụ việc, mở đầu cho việc đấu tranh chống tham nhũng thì TAND Tối cao là khâu kết thúc, thực hiện kiến nghị của KTNN. Vì thế, chất lượng của khâu kiểm toán ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phát xét của khâu kết thúc”, ông Nguyễn Hòa Bình nói.
Theo ông Hồ Đức Phớc, Tổng KTNN, cơ quan này hiện có 32 đơn vị trực thuộc, 8 cơ quan chuyên ngành với 2.300 nhân viên, mỗi năm thực hiện trên 200 cuộc kiểm toán.
Riêng năm 2016 triển khai 274 cuộc kiểm toán, dự kiến xử lý tài chính 40.000 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi cho ngân sách gần 20.000 tỷ đồng. Năm nay, KTNN cũng chuyển cơ quan điều tra 3 hồ sơ vụ việc.
Tuy nhiên, ông Phớc cho hay trước đây khi chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra thường không có hồi âm. Ông tin tưởng sau khi có quy chế phối hợp với TANDTC, việc phối hợp và xử lý các vụ việc sẽ tốt hơn. (Vietnamnet 9/1) đầu trang(
Phân bố ngân sách sai kế hoạch, phê duyệt 328 dự án khởi công mới khi bố trí kế hoạch vốn chưa đảm bảo đủ để thanh toán khối lượng đã hoàn thành… hàng loạt vấn đề của UBND tỉnh Bình Dương vừa bị thanh tra Bộ Tài chính phát hiện.
Kết luận thanh tra công tác quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng của tỉnh Bình Dương do Thứ trưởng Bộ Tài chính ký ngày 6.12.2016 đã nêu ra hàng loạt vấn đề chưa đúng quy định của tỉnh Bình Dương khi phân bổ ngân sách, phê duyệt dự án hay triển khai dự án xây dựng, mua sắm trang thiết bị cho tỉnh.
Chẳng hạn, UNBD tỉnh Bình Dương đã bố trí kế hoạch vốn vượt quá thời gian theo chế độ quy định, bố trí vốn cho 328 dự án khởi công mới với số tiền 2.033,753 tỉ đồng trong khi kế hoạch vốn chưa đảm bảo đủ để thanh toán khối lượng đã hoàn thành.
Cụ thể, năm 2015 và 2016, UBND tỉnh và UBND các huyện thị xã chưa bố trí kế hoạch vốn cho các dự án còn nợ giá trị khối lượng hoàn thành số tiền là 108,34 tỉ đồng trong đó nợ khối lượng xây dựng cơ bản đến ngày 31.12.2014 là 885,433 tỉ đồng.
Trong khi đó, tỉnh bố trí kế hoạch vốn cho 52 dự án quá thời gian quy định gồm 28 dự án nhóm B quá 5 năm và 24 dự án nhóm C quá 3 năm.
Và dù còn nợ đọng nhiều dự án cũ, nhưng UBND tỉnh và các huyện đã bố trí kế hoạch vốn cho 328 dự án khởi công mới năm 2015, 2016 với kế hoạch vốn là 2.033,753 tỉ đồng trong đó năm 2015 có 193 dự án với kế hoạch vốn bố trí 1.231,992 tỉ đồng, chiếm 36% tổng kế hoạch vốn bố trí của năm, còn năm 2016 có 135 dự án, kế hoạch vốn bố trí là 801,761 tỉ đồng, chiếm 24% tổng kế hoạch vốn bố trí của năm.
Việc UBND tỉnh và các huyện phân bố kế hoạch vốn chưa đảm bảo thứ tự ưu tiên để thanh toán nợ xây dựng cơ bản, bố trí vốn cho dự án nhóm B, C vượt quá thời gian theo quy định trong khi lại bố trí một lượng vốn lớn cho 328 dự án khởi công mới, trong khi giá trị khối lượng đã hoàn thành lại chưa được bố trí kế hoạch vốn 108,34 tỉ đồng được thanh tra Bộ Tài chính kết luận “là chưa thực hiện đúng quy định.”
Không chỉ vậy, UBND tỉnh bổ sung danh mục đầu tư 13 công trình trường học không có trong danh mục đầu tư được cân đối ngân sách đầu năm. Số nợ đọng xây dựng cơ bản đến 31.12.2014 có chênh lệch số báo cáo giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư với Sở Tài chính lên tới 71,625 tỉ đồng.
Liên quan đến việc phê duyệt dự án đầu tư, công tác thanh tra cho thấy đến tháng 6.2016, UBND tỉnh đã phê duyệt 242 danh mục công trình, dự án sử dụng vốn trong nước với tổng mức đầu tư 47.086,581 tỉ đồng trong khi đó tổng số vốn đã được bố trí đến năm 2016 là 14.753,924 tỉ đồng, số vốn còn thiếu phải bố trí để hoàn thành các dự án là 32.332,657 tỉ đồng. Nếu số vốn hàng năm bố trí các dự án do tỉnh quản lý 3.000 tỉ đồng như năm 2015 thì cần 10 năm tiếp theo mới bố trí đủ vốn cho 242 danh mục đã phê duyệt, chưa kể các dự án cấp bách khác phát sinh.
Đến tháng 6.2016, UBND tỉnh đã phê duyệt 5 dự án sử dụng nguồn vốn ODA, tổng mức đầu tư 9.098,946 tỉ đồng (trong đó vốn ODA là 7.567,88 tỉ đồng, vốn đối ứng trong nước là 1.509,83 tỉ đồng). Tổng số vốn đã bố trí đến năm 2016 là 1.887,223 tỉ đồng và số tiền còn thiếu đến hết năm 2018 là 7.211,723 tỉ đồng. Như vật, nếu số vốn hàng năm bố trí trong nước và huy động vốn ODA như năm 2015 là 339,3 tỉ đồng thì cần 20 năm tiếp theo (cho cả ODA) và tính riêng vốn trong nước cần 12 năm tiếp theo để bố trí đủ cho các dự án đã phê duyệt.
Chất lượng phê duyệt dự án đầu tư cũng được kết luận là còn hạn chế, thời gian thi công kéo dài dẫn đến phải điều chỉnh 49 dự án đầu tư làm tăng tổng mức đầu tư số tiền 2.812,536 tỉ đồng trong đó có điều chỉnh dự án đầu tư không đúng quy định tại 10 dự án tổng mức đầu tư điều chỉnh tăng 650,285 tỉ đồng.
Ngoài ra, tại tỉnh này còn có hiện tượng, phê duyệt dự án đầu tư không khả thi dẫn đến phải điều chỉnh, đình hoãn, huỷ bỏ dự án, gây lãng phí vốn đầu tư 2,175 tỉ đồng. Không chỉ vậy, UBND tỉnh Bình Dương còn bố trí vốn đầu tư năm 2016 cho 4 dự án với số tiền 3,4 tỉ đồng chưa được Hội đồng nhân dân tỉnh cho thông qua...
Từ kết luận thanh tra, Bộ Tài chính đã đưa ra hàng loạt kiến nghị trong đó đáng chú ý là chấn chỉnh rút kinh nghiệm trong việc phân bổ, bố trí kế hoạch vốn không đúng quy định, kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc lập, trình phê duyệt chủ trương đầu tư và dự án đầu tư không khả thi dẫn đến phải điều chỉnh, đình hoãn, huỷ bỏ dự án, gây lãng phí đầu tư đồng thời giảm trừ dự toán do lập duyệt tăng không đúng 15,38 tỉ đồng, giảm trừ giá trị khối lượng nghiệm thu thanh quyết toán 6,93 tỉ đồng, thu hồi nộp ngân sách nhà nước 1,082 tỉ đồng… (Lao Động 10/1) đầu trang(
Theo Tổng công ty Vận tải Hà Nội, tuyến buýt nhanh Kim Mã - Yên Nghĩa bắt đầu vận hành vào tuần đầu tiên đã phục vụ trên 65.000 lượt; bình quân 32 khách/lượt; mỗi nhà chờ đón hơn 480 khách mỗi ngày.
Theo phản ánh của báo chí, chất lượng của một số điểm kết nối tuyến buýt nhanh, bao gồm nhà chờ và dịch vụ tiện ích khác chưa đáp ứng yêu cầu. Ví dụ đường dẫn nhà chờ La Khê có hố ga cao hơn mặt vỉa hè 20 cm; nắp hố ga sứt mẻ.
17/21 nhà chờ gạch ốp nền vỡ nứt, trong đó 13/21 nhà chờ có gạch hố ga vỡ, nhấp nhô; 8/21 nhà chờ có gạch lát sàn nứt vỡ.
13 nhà chờ hệ thống chiếu sáng không hoạt động. 11 nhà chờ có đèn downlight chiếu sáng âm trần hỏng, trong đó nhà chờ Giảng Võ đèn tụt khỏi trần; nhà chờ Vạn Phúc 2 do đấu nối gây chập điện, toàn bộ hệ thống đèn hắt không hoạt động.
Thiết kế nhiều nhà chờ bất cập khiến người khuyết tật khó tiếp cận. Cụ thể, 10 nhà chờ có cầu đi bộ và rào chắn nên người khuyết tật không thể lên xuống; nhà chờ Vũ Ngọc Phan sử dụng tiếp cận bằng sơn kẻ vạch nhưng không tạo đường dốc cho người khuyết tật. Nhà chờ Lương Thế Vinh, Vũ Ngọc Phan, Dương Nội, Hoàng Đạo Thúy, Vạn Phúc 2 bị trục trặc hệ thống cửa tự động trong ngày 5/1.
Hệ thống bình chữa cháy chưa có tem kiểm định nên chưa thể bàn giao. Đại diện chủ đầu tư tuyến buýt nhanh cho biết, những hư hỏng nêu trên đã được khắc phục ngay trong tuần.
Theo các chuyên gia về giao thông, việc đầu tư tuyến đường và nhà chờ đã tiêu tốn khoản tiền rất lớn, song những phương tiện và hệ thống nhà chờ chưa thực sự tốt, thiếu tính đồng bộ.
Trao đổi với Đất Việt trước đó, TS. Nguyễn Xuân Thủy, Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản giao thông cho rằng, hệ thống buýt nhanh được đầu tư với giá trị rất lớn, 55 triệu USD (khoảng 1100 tỷ đồng) nhưng hiệu quả từ vận tải là không lớn (nhanh hơn 5 phút) và hệ thống cơ sở hạ tầng lại chỉ được sửa chữa qua loa.
"Hệ thống cơ sở hạ tầng để phục vụ xe buýt nhanh chưa thật sự đồng bộ, hiện đại như số tiền bỏ ra. Điển hình nhất là làn đường chỉ cải tạo lại, quét vạch mới hay như hệ thống nhà chờ lộn xộn, chưa đưa vào khai thác nhiều hạng mục đã xuống cấp. Do đó chắc chắn khi đưa vào hoạt động sẽ dẫn đến tình trạng tắc đường cục bộ”, ông Thủy nhấn mạnh.
Theo vị TS, Hà Nội nên tiếp tục phát triển xe buýt thường, chỉnh trang lại các tuyến, quy hoạch lại mạng lưới để có sự điều chỉnh phù hợp. Hiện nay có nhiều tuyến rất thưa người đi mà vẫn cho nhiều xe hoạt động trong khi nhiều nơi không có xe buýt, hoặc xe buýt chưa bao phủ cả thành phố.
Cùng với đó nên cải thiện chất lượng xe và thái độ phục vụ của nhân viên. Đồng thời nên thay thế dần các xe chạy diesel bằng xe buýt chạy điện như ở TP.HCM thì tốt hơn.
Trở lại hoạt động của xe buýt nhanh, theo ghi nhận của báo chí, tình trạng tắc đường vẫn xảy ra tại 1 số điểm giao thông vào giờ cao điểm. Nhiều phương tiện như taxi, xe máy vẫn tạt đầu, lấn làn đường dành cho xe BRT.
Đặc biệt, vào sáng 4/1, khi chiếc xe buýt nhanh BRT chạy trên đường Giảng Võ, theo hướng từ Kim Mã xuống Yên Nghĩa đã bất ngờ va chạm với một chiếc ô tô con làm cửa kính bên phải của xe buýt bị vỡ tan. Thời điểm xảy ra tai nạn, có khoảng 70 hành khách đang ngồi trên xe BRT.
Khoảng 14h30 chiều 7/1, tại tuyến đường Quang Trung (quận Hà Đông, Hà Nội) cũng xảy ra một vụ va chạm giữa xe buýt nhanh BRT và một xe biển xanh mang biển số 80A. Chiếc xe biển xanh đã đi lấn làn sang làn đường của xe buýt nhanh và vì chiếc buýt đi chậm khiến lái xe biển xanh không kịp xử lý, đâm nhẹ vào đuôi xe buýt nhanh. (Đất Việt 10/1) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà vừa ký ban hành Quyết định số 3023/QĐ-BTNMT về kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Bộ năm 2017.
Theo kế hoạch, trong năm 2017, Bộ TN&MT tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ; tăng cường các dịch vụ công trực tuyến được cung cấp ở mức độ 3, góp phần thực hiện cải cách hành chính của Bộ, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn;
Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống mạng của Bộ, xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích, đánh giá, hỗ trợ ra quyết định của các cơ quan quản lý nhà nước.
Cùng với đó, Bộ tiếp tục triển khai hệ thống chữ ký số trong điều hành tác nghiệp của Lãnh đạo Bộ và các đơn vị; bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật cho 100% các cuộc giao lưu trực tuyến giữa Bộ với người dân và doanh nghiệp về các lĩnh vực quản lý của Bộ;
Đảm bảo 100% cán bộ, công chức sử dụng thường xuyên thư điện tử trong công việc, 100% chuyển sang sử dụng hộp thư chính thức của Bộ, không sử dụng dịch vụ thư miễn phí (gmail, yahoo..) trong công việc;
100% văn bản, tài liệu không mật chính thức trao đổi giữa các cơ quan thuộc và trực thuộc Bộ được trao đổi hoàn toàn dưới dạng thông tin điện tử; 100% văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo điều hành, văn bản cần phổ biến được đưa lên mạng; 60% các cuộc họp tổng kết, giao ban của Bộ được thực hiện trên môi trường mạng.
Bên cạnh đó, nhằm phục vụ tốt cho người dân và doanh nghiệp, trong năm 2017, Bộ sẽ cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp; tiếp tục xây dựng các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin vào bộ phận “một cửa” tại các đơn vị có giao dịch, trao đổi với người dân và doanh nghiệp.
Để đạt mục tiêu, Bộ TN&MT đưa ra một số giải pháp thực hiện như: Ưu tiên bố trí vốn đầu tư phát triển cho các chương trình, dự án về ứng dụng và phát triển CNTT; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức trong công chức, viên chức trong việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin; gắn chặt giữa triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và hiệu quả công tác cải cách hành chính; ưu tiên thuê các dịch vụ công nghệ thông tin nếu hiệu quả hơn so với đầu tư xây dựng, vận hành; triển khai từng bước để rút kinh nghiệm và hoàn thiện trước khi triển khai nhân rộng.
Cùng với đó, Bộ sẽ tập trung kiện toàn Ban chỉ đạo triển khai ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin nhăm đáp ứng các yêu cầu đặt ra đối với ngành tài nguyên và môi trường; tăng cường sự chỉ đạo và quyết liệt trong thực hiện các nhiệm vụ dự án ứng dụng công nghệ thông tin;
Tiếp tục hoàn thiện tổ chức, chức năng và nhiệm vụ các đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin của các đơn vị trực thuộc Bộ; hướng dẫn hoàn thiện tổ chức, chức năng và nhiệm vụ các đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin của các đơn vị thuộc ngành; ưu tiên thu hút, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo nâng cao cho nhân lực về công nghệ thông tin; nghiên cứu, đề xuất các chính sách ưu đãi nhân lực phục vụ ứng dụng công nghệ thông tin để thu hút nhân lực chất lượng cao;
Thường xuyên xem xét, kiểm tra, đánh giá tình hình ứng dụng công nghệ thông tin để kịp thời định hướng ứng dụng công nghệ thông tin theo đúng kế hoạch của Bộ, xem đây là nhiệm vụ quan trọng của công tác cải cách hành chính của Bộ; đặc biệt có các ưu tiên phù hợp, đánh giá tuyên dương hoặc phê bình đối với tổ chức, cá nhân trong thực hiện công tác ứng dụng công nghệ thông tin.
Theo Báo cáo tổng kết của Bộ TN&MT, năm qua, Bộ đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý TN&MT, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, hướng tới mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử.
Theo đó, để thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Bộ đã ban hành quy định đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ngành TN&MT;
Áp dụng vận hành hệ thống điều hành tác nghiệp qua mạng, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, ứng dụng chuyên ngành đã triển khai phục vụ tích cực công tác quản lý, điều hành và nghiệp vụ; thực hiện việc xử lý văn bản trên môi trường mạng;
Triển khai module kết nối, liên thông văn bản điện tử của Bộ với Trục liên thông do Văn phòng Chính phủ chủ trì đến các đơn vị trực thuộc Bộ, sẵn sàng liên thông văn bản của Bộ với Chính phủ, các bộ, ngành, tỉnh/thành phố. Hoàn thiện hệ thống thông tin hỗ trợ giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa tại Bộ và Hệ thống phần mềm cung cấp dịch vụ công trực tuyến ngành TN&MT.
Tập trung xây dựng các dự án cung cấp dịch vụ trực tuyến, Xây dựng hệ thống an toàn, an ninh thông tin số trên mạng, Hệ thống một cửa tại Bộ TN&MT nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hiện đại hóa nền hành chính, thực hiện công tác cải cách hành chính trong toàn ngành.
Cùng với đó, các địa phương tiếp tục thực hiện các dự án: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về TN&MT; cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. 1084 xã được kết nối với hệ thông thông tin đất đai, 74 văn phòng đăng ký được hiện đại hóa đã rút ngắn từ 1/3 đến 1/2 thời gian thực hiện thủ tục.
Hiện nay, có 7 tỉnh gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Long đã thực hiện chia sẻ dữ liệu đất đai với cơ quan thuế. (VnMedia 10/1) đầu trang(
Việc triển khai Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu giải quyết các thủ tục hành chính một cách nhanh chóng và thuận tiện, xuyên suốt, nhất quán theo tinh thần 'một cửa liên thông' qua mạng internet.
Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, chính quyền hướng tới Chính phủ điện tử là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia và là xu thế tất yếu tại Việt Nam.
Trong thời gian qua, các cơ quan Nhà nước đã nỗ lực ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, điều hành hướng tới nâng cao hiệu quả điều hành Nhà nước, tăng cường sự công khai minh bạch, giảm chi tiêu của Chính phủ, đồng thời mang lại những thuận lợi, tiện ích cho cuộc sống của người dân, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng.
Từ năm 2014, tỉnh Nghệ An đã phê duyệt lộ trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 - 2018 theo Đề án xây dựng chính quyền điện tử số 3188. Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử và các quyết định về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, UBND tỉnh Nghệ An đã quyết liệt chỉ đạo và triển khai đồng bộ các giải pháp, chương trình hành động như: Ban hành các văn bản chỉ đạo gồm Chỉ thị số 25 về đẩy mạnh triển khai ứng dụng các dịch vụ công trực tuyến trong các cơ quan nhà nước; Ban hành Kế hoạch cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 và 4 năm 2016; Ký kết Thỏa thuận hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông - Công nghệ thông tin uy tín như VNPT, FPT; ban hành Kế hoạch số 102 về Cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 năm 2016 của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An; ban hành Kế hoạch 494 và Công văn số 5959 về việc triển khai hệ thống phần mềm một cửa liên thông phục vụ công tác quản lý cơ chế một cửa và Cổng dịch vụ công trực tuyến cho tỉnh Nghệ An...; trực tiếp chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương xây dựng lộ trình và triển khai kịp thời, hiệu quả giao dịch điện tử một cửa liên thông để người dân, doanh nghiệp tiện lợi khi tham gia...
Đó được xem như giải pháp hữu hiệu hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống điện tử thông suốt, kết nối và liên thông văn bản điện tử, dữ liệu điện tử từ tỉnh đến cơ sở; tạo lập môi trường điện tử để người dân giám sát và đóng góp cho hoạt động của chính quyền các cấp; thiết lập Cổng dịch vụ công của tỉnh kết nối dịch vụ công Quốc gia; ứng dụng công nghệ thông tin gắn kết chặt chẽ với cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh; triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp với hệ thống quản lý chất lượng ISO; nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng viễn thông, đảm bảo chất lượng đường truyền, bảo đảm an toàn thông tin...
Để thực hiện các mục tiêu đề ra trong CCHC gắn với tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tỉnh đã nghiên cứu kỹ các giải pháp của các doanh nghiệp viễn thông CNTT, tổ chức đi thực tế tại một số địa phương triển khai sớm trong cả nước dịch vụ công trực tuyến, nhất là hệ thống phần mềm điện tử một cửa.
Qua kinh nghiệm học hỏi từ tỉnh bạn cũng như xem xét kỹ lưỡng các điều kiện, mục tiêu, UBND tỉnh đã thống nhất chọn Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - đơn vị đã áp dụng và triển khai thành công giải pháp cho 23 địa phương trong cả nước để cung cấp và triển khai hệ thống phần mềm một cửa điện tử liên thông phục vụ công tác quản lý cơ chế một cửa và cổng dịch vụ công trực tuyến cho tỉnh.
Hệ thống VNPT- IGate được triển khai chạy trên hệ thống điện toán đám mây, trên nền tảng công nghệ web và được xây dựng theo mô hình 3 lớp MVC. Hệ thống cho phép công dân, doanh nghiệp có thể giao tiếp với chính quyền 24/24 giờ trong ngày, tại bất cứ đâu có kết nối internet.
Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Như vậy, công dân, tổ chức chỉ phải đến duy nhất 1 lần để thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại bộ phận “một cửa” của cơ quan, đơn vị.
Cán bộ, công chức xử lý hồ sơ có thể sử dụng chức năng nhắn tin SMS hoặc email để thông báo đến người dân, doanh nghiệp nộp hồ sơ về tình trạng xử lý hồ sơ của mình đang ở bộ phận, phòng ban nào dễ dàng, nhanh chóng.
Đến thời điểm hiện tại, VNPT Nghệ An đã phối hợp Cổng TTĐT - Sở Thông tin và Truyền thông thiết lập hệ thống tại địa chỉ: http://dichvucong.nghean.gov.vn. Phối hợp các cơ quan hành chính khảo sát, thiết lập khả năng cung cấp dịch vụ hành chính công trên hệ thống cho 4.497 dịch vụ công, bao gồm 3.783 thủ tục mức độ 2; 744 thủ tục mức độ 3 và 9 thủ tục mức độ 4.
Đồng thời phối hợp với các cơ quan cung cấp dịch vụ công xây dựng và thiết lập quy trình chi tiết cho 753 dịch vụ công cấp 3 và cấp 4 (đạt tỷ lệ 100%); hoàn thành vượt mức Kế hoạch 102 của tỉnh. Tổ chức tập huấn cho các sở, ban, ngành, UBND huyện, thị, thành và các xã, phường trước ngày 25/12/2016.
Cùng với đó, hệ thống một cửa liên thông điện tử VNPT - IGate đã được vận hành chạy thử nghiệm từ 26/12/2016 và đã sẵn sàng đưa vào khai thác sử dụng. Tổng số hồ sơ đã tiếp nhận trên hệ thống hơn 4.000 hồ sơ. Số hồ sơ đã được giải quyết: 2.399 hồ sơ (chiếm 60%). VNPT cũng đã xây dựng giải pháp sẵn sàng chuyển toàn vẹn số liệu từ hệ thống đang dùng sang VNPT- IGate đảm bảo chính xác, bảo mật đối với các đơn vị đã sử dụng các phần mềm khác trước đây.
Bên cạnh việc triển khai đồng bộ hệ thống phần mềm một cửa điện tử liên thông VNPT- IGate, trong năm 2016, nhiều cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã có nhiều nỗ lực và kết quả đáng ghi nhận trong ứng dụng CNTT vào ngành mình. Không chỉ tạo dấu ấn trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nhiệm vụ chính trị; điều này còn tạo nên giá trị khác biệt về nâng cao chỉ số sẵn sàng phát triển ứng dụng CNTT của tỉnh đến thời điểm hiện tại và những năm tiếp theo. Đây cũng chính là cơ sở, là đòn bẩy để các ngành, đơn vị, địa phương trong toàn tỉnh triển khai một cửa điện tử và cổng dịch vụ công trực tuyến một cách hiệu quả, chủ động.
Đơn cử, ngành Thuế là một trong những ngành tiên phong ứng dụng CNTT với con số thực hiện kê khai thuế qua mạng nằm trong tốp đầu cả nước, với hàng trăm ngàn lượt người đăng ký. Thực hiện nộp thuế điện tử không chỉ giúp doanh nghiệp, người dân tiết kiệm chi phí, thời gian mà còn góp phần đơn giản hóa thủ tục giấy tờ khi thực hiện nghĩa vụ thuế, giúp ngành Thuế tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế, xử lý thông tin nộp thuế nhanh chóng, chính xác, đa dạng hóa các kênh thu ngân sách nhà nước.
Hay, ngành Y tế, thực hiện Đề án ứng dụng CNTT trong KCB và thanh toán BHYT cũng đem lại hiệu quả hết sức tích cực. Ngành Y tế đã phối hợp với VNPT Nghệ An triển khai Đề án thành công tại 458 cơ sở y tế, bao gồm 2 cơ sở tuyến tỉnh, 9 cơ sở tuyến huyện và 442 cơ sở y tế tuyến xã, chiếm trên 90% tổng số cơ sở y tế toàn tỉnh. Nhờ đó đáp ứng kịp thời hơn công tác KCB tại cơ sở, tạo sự đồng tình hưởng ứng cao trong dư luận nhân dân.
Trong lĩnh vực giáo dục, tính đến ngày 31/12/2016 VNPT đã triển khai chương trình quản lý giáo dục VnEdu tới 1.409/1.491 trường tại Nghệ An với 80.000 người dùng sổ liên lạc điện tử, đạt tỷ lệ 95% các trường học trên địa bàn ứng dụng CNTT về quản lý nhà trường, đáp ứng yêu cầu tin học hóa trong quản lý cho ngành Giáo dục Nghệ An...
Việc đưa Cổng dịch vụ công trực tuyến tỉnh Nghệ An chính thức đi vào hoạt động là một nỗ lực to lớn trong việc hiện thực hóa chủ trương của Chính phủ về xây dựng Chính phủ điện tử nói riêng cũng như đổi mới bộ máy Nhà nước nói chung.
Tuy nhiên, việc tạo ra Cổng dịch vụ công trực tuyến và đưa nó vào hoạt động chỉ là bước đi đầu tiên, con đường phía trước còn khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều, đòi hỏi chúng ta không chỉ đơn thuần theo đuổi sự phát triển của công nghệ mới hoặc chỉ chú trọng đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng thông tin, mà phải cải cách bộ máy nhà nước, tối ưu hóa quy trình vận hành, mở rộng việc cung cấp thông tin và các dịch vụ hành chính đa dạng, một cách thân thiện với người dân và doanh nghiệp. Đây cũng là mong muốn của tỉnh cũng như thách thức đặt ra cho tỉnh nhà, các cơ quan liên quan trong thời gian tới.
Triển khai dịch vụ công trực tuyến là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện lộ trình cải cách thủ tục hành chính và phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam. Trong xu thế chung đó, việc chính thức đưa vào vận hành Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh đã và sẽ góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp một cách tốt hơn.
Đây cũng chính là động lực thúc đẩy, thể hiện quyết tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền trong thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về xây dựng thành phố Vinh trở thành trung tâm công nghệ thông tin của vùng Bắc Trung bộ. (Báo Nghệ An 10/1) đầu trang(
KINH TẾ
“Hiện dịch vụ và lượng hàng hóa qua các cảng của vùng ĐBSCL chỉ 20%, tương đương 9 triệu tấn/năm, còn lại 80% hàng hóa phải chuyển tiếp lên các cảng ở TPHCM và Đông Nam bộ bằng đường bộ”- ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban chỉ đạo Tây Nam bộ cho biết tại hội nghị thu hút đầu tư, kinh doanh logistics vùng ĐBSCL, diễn ra hôm qua, 9/1, tại Cần Thơ.
Ông Hiệp cho hay, chi phí vận chuyển còn quá cao, chiếm trên 20,9% GDP (bình quân chi phí này của thế giới chỉ khoảng 14% GDP). Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, 1/3 chuyến xe tải sau khi giao hàng thì quay về bằng xe không. “Đây là sự lãng phí rất lớn”- ông Hiệp nói.
Theo ông Hiệp, hệ thống cảng phân tán, nhỏ lẻ trong khi thiếu sự đồng bộ trong vận hành giữa các phương thức vận tải đa phương tiện. Năng lực các cảng biển hiện nay còn rất hạn chế, quy mô cầu bến cảng, luồng tàu vào cảng thiếu đồng nhất về năng lực. Cầu trên các trục đường nối đến cảng bị hạn chế trọng tải, hệ thống dịch vụ logistics còn yếu kém, chưa hình thành trung tâm logistics, ít doanh nghiệp lớn chuyên về dịch vụ logistics hoạt động trên địa bàn.
Thủ tục hành chính tại các cửa khẩu, bến cảng chưa được thuận lợi. Chất lượng nguồn nhân lực liên quan logicstics còn thấp. Cũng theo ông Hiệp, khả năng khai thác của Sân bay Quốc tế Cần Thơ còn hạn chế. “Nói là quốc tế nhưng chỉ khi Tết mới rước cháu ngoại và cô dâu Việt về nước thôi. Vấn đề này đặt ra nhiều suy nghĩ về phát triển logistics của vùng ĐBSCL” - ông Hiệp nói.
Đồng quan điểm với ông Trần Hữu Hiệp, ông Lê Duy Hiệp - Chủ tịch VLA chỉ ra 3 thách thức lớn hiện nay của vùng ĐBSCL. Thứ nhất là đang đối mặt tình hình hạn hán, xâm nhập mặn, thách thức về nguồn nước sông Mê Kông; thứ hai có 37 cảng nhưng đều có quy mô nhỏ, chưa khai thác hiệu quả vận tải container đường thuỷ, chưa có quy hoạch trung tâm logistics để đóng vai trò kết nối lưu thông hàng hoá và thứ ba là thiếu đội ngũ nhân sự có chuyên môn.
Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nói rằng, trong vùng phần lớn đều là cảng tổng hợp địa phương, chủ yếu phục vụ nhu cầu luân chuyển hàng hóa trong nước cho các khu công nghiệp tại địa phương. Hàng hóa thông qua hệ thống cảng chủ yếu là hàng rời như nông sản, phân bón, xi măng, than đá phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện trong khu vực. Bên cạnh đó, sản lượng hàng hóa container thông qua hệ thống cảng này chiếm tỷ trọng thấp, khoảng 0,8-0,9% trong tổng lượng hàng container của cả nước.
Tốc độ tăng trưởng hàng hóa container bình quân giai đoạn 2008-2013 là 11,28%/năm. Ông Hải cho rằng, nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu do thiếu kết nối giữa ĐBSCL với thị trường xuất nhập khẩu qua hệ thống luồng hàng hải, cảng biển. Đồng thời, khả năng liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp trong xây dựng, cung ứng chuỗi dịch vụ logistics còn yếu.
Theo Bộ Công Thương, dự báo lượng hàng qua cảng ĐBSCL từ nay đến 2030 là rất lớn, khoảng 25-28 triệu tấn/năm vào năm 2020 và từ 66,5 đến 71,5 triệu tấn/năm đến năm 2030. Điều đó cho thấy vùng ĐBSCL có nhu cầu rất cao trong đầu tư phát triển hoạt động logistics, cả về đầu tư cơ sở hạ tầng logistics cũng như phát triển doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, để phục vụ kịp thời yêu cầu phát triển lưu thông, phân phối hàng hóa trong vùng và liên vùng, phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu.
Hiện cần đầu tư vào nhiều hạ tầng logistics mới như hệ thống trung tâm logistics vệ tinh, hệ thống cảng biển, cảng sông, cảng cạn (ICD), kho bãi, trong đó chú trọng phát triển các dịch vụ logistics cho các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chủ lực của vùng như kho chuyên dùng, kho lạnh phục vụ hoạt động chế biến, bảo quản nông sản, thủy sản.
Chủ trì hội nghị, Phó Thủ tướng kiêm Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam bộ Vương Đình Huệ yêu cầu các bộ ngành liên quan tiếp tục rà soát cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan hiện hành để tiếp tục cụ thể hóa, sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm khắc phục những chồng chéo, chưa thống nhất; tiếp tục tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ logistics. Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, hiện Thủ tướng Chính phủ đang xem xét phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics. Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, địa phương tập trung triển khai kế hoạch này sau khi được Thủ tướng phê duyệt.
Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan lập kế hoạch hành động chung của vùng về phát triển cơ sở hạ tầng logistics và dịch vụ logistics.Trong đó nghiên cứu đề xuất việc xây dựng quy hoạch phát triển logistics chung của vùng ĐBSCL trên cơ sở liên kết hài hòa với các địa phương, tiểu vùng và hành lang giao thông vận tải huyết mạch. (Tiền Phong 10/1) đầu trang(
Theo tin từ Hiệp hội Thủy sản Việt Nam, từ ngày 1-1-2017, Trung Quốc giảm mức thuế NK đối với số sản phẩm thủy hải sản phổ biến như tôm nước lạnh, cua, cá minh thái và 6 loài cá ngừ đông lạnh và được áp dụng đối với hàng NK từ các nước chưa được hưởng lợi từ thuế suất ưu đãi (như qua các hiệp định thương mại tự do).
Theo đó, Trung Quốc giảm từ 3-7% thuế NK đối với 10 sản phẩm thủy hải sản khác nhau, do vậy nhu cầu các mặt hàng này tại Trung Quốc trong thời gian tới có xu hướng tăng.
Trung Quốc giảm thuế NK đối với 17 sản phẩm thủy sản từ ngày 1-1-2017. Trước đó có 7 mặt hàng đã được giảm mức thuế. Tuy nhiên, theo Bộ Thương mại Trung Quốc, việc giảm thuế này chỉ là "tạm thời" để cải thiện tình trạng thiếu hụt nguồn cung và có thể trở lại mức bình thường bất cứ lúc nào.
Cụ thể, đối với cá minh thái. Các nhà NK cá minh thái (mã HS 030367) có thể được hưởng lợi nhiều nhất từ việc giảm thuế quan. Năm 2015, NK cá minh thái của Trung Quốc đạt 740 triệu USD. Theo Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), đến nay, Trung Quốc trở thành nhà NK cá minh thái lớn nhất thế giới. Biểu thuế NK cá minh thái sẽ được giảm từ 10% xuống còn 5%.
Phần lớn sản phẩm cá minh thái của Trung Quốc là hàng chế biến và tái XK. Ngoài ra, thị trường cá thịt trắng nội địa cũng đang phát triển nhanh chóng. Các nhà chế biến lớn nước này cung cấp đến 50% lượng sản phẩm cá thịt trắng cho thị trường trong nước.
NK các mặt hàng cá thịt trắng đông lạnh khác cũng đã được hưởng lợi từ việc giảm thuế quan, như cá tuyết cod (2%), cá trích (2%), cá chim (2%), cá bơn Đại Tây Dương (5%) và cá hố (5%).
Thuế quan đối với cá ngừ vây dài, vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ vây xanh Đại Tây Dương, cá ngừ vây xanh Thái Bình Dương và cá ngừ vây xanh miền Nam sẽ được giảm từ 12% xuống còn 6%. Sản lượng khai thác cá ngừ của Trung Quốc đạt khá, chủ yếu từ cảng Trung Quốc chứ không phải từ Bangkok, để phục vụ cho thị trường trong nước và XK.
Thuế NK đối với tôm nước lạnh phía Bắc (pandalus borealis, mã HS 03061612) cũng sẽ được giảm từ 5% xuống 2%. Năm 2015, theo ITC, Trung Quốc là nước NK lớn nhất thế giới của pandalus nước lạnh phía bắc, với giá trị NK đạt 162 triệu USD.
Mức thuế NK đối với cua đông lạnh (mã HS 03061490) cũng sẽ được giảm từ 10% xuống 5%. Trong năm 2015, theo ITC, giá trị NK cua đông lạnh của Trung Quốc đạt 171 triệu USD, chủ yếu là từ Canada (90 triệu USD) và Mỹ (40 triệu USD). Phần lớn hàng NK phục vụ cho chế biến và sau đó tái XK.
Trung Quốc cũng sẽ giảm thuế NK đối với cua sống (mã HS 03063399) từ 14% xuống 7%. Điều này sẽ giúp các nhà NK trong nước tăng thêm lợi nhuận, vì phần lớn cua sống NK được tiêu thụ trong nước.
Năm 2015, giảm thuế NK đối với tôm hùm không đông lạnh (mã HS 03062190 và HS 03062290) từ 15% xuống 10%.
Năm 2015, NK tôm hùm không đông lạnh của Trung Quốc đạt 529 triệu USD. New Zealand là nước XK tôm hùm mã HS 03062190 lớn nhất sang Trung Quốc với giá trị XK 219 triệu USD. NK tôm mã HS 03062290 của Trung Quốc từ Canada và Mỹ đạt lần lượt là 102 triệu USD và 84 triệu USD.
Theo các tài liệu thuế quan, từ ngày 1-1-2017, mức thuế đối với các sản phẩm thuộc mã HS 03063190 và 03063290 sẽ được giảm từ 15% đến 10%. Định nghĩa trước đó cho 2 mã sản phẩm này là "tôm hùm sống/tươi/ướp lạnh và tôm hùm khác", trong khi sau này được định nghĩa là "tôm càng (crayfish) sống/tươi/ướp lạnh".
Tuy nhiên, do hải quan Trung Quốc đã áp dụng cả những quy định NK trước đó, các nhà NK và XK nên tìm hiểu trước các lô hàng vào Trung Quốc tiếp theo của họ để xác nhận chế độ thuế quan mới. (Hải Quan 10/1) đầu trang(
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Sáng 9-1, Đoàn đại biểu Quân sự cấp cao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào do Thượng tướng Chansamone Channhalat, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào dẫn đầu thăm chính thức Việt Nam.
Lễ đón đoàn diễn ra tại trụ sở Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (quận Hải Châu, Đà Nẵng). Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cùng đại diện Thường vụ Quân uỷ Trung ương, đại diện lãnh đạo các tổng cục, các quân khu đã đón và hội đàm với đoàn.
Tại cuộc hội đàm, hai bên tiếp tục khẳng định hợp tác quốc phòng Việt Nam - Lào là một trong những trụ cột hết sức quan trọng trong quan hệ hai nước, đồng thời thống nhất việc tăng cường công tác phối hợp, đôn đốc, giám sát trong triển khai các nội dung kế hoạch hợp tác năm 2017 và các thỏa thuận cấp cao; chú trọng nâng cao hiệu quả, nhất là trong đào tạo, huấn luyện, tăng cường trao đổi, giao lưu các cấp.
Cuối buổi hội đàm, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Chansamone Channhalat, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào ký Kế hoạch hợp tác năm 2017; chứng kiến ký biên bản ghi nhớ giữa Viện Chiến lược Quốc phòng Việt Nam với Cục Khoa học Lịch sử quân sự Lào.
Chiều cùng ngày, tại trụ sở Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Đại tướng Ngô Xuân Lịch đã chủ trì lễ đón Đại tướng Tia Banh, Ủy viên Thường vụ Đảng Nhân dân Campuchia, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu Đoàn đại biểu Quân sự cấp cao Vương quốc Campuchia thăm chính thức nước ta từ ngày 8 đến ngày 11-1-2017.
Hai bên thống nhất tăng cường tình đoàn kết, mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân và quân đội nhân dân hai nước nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao; phối hợp tổ chức các hoạt động ca ngợi tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước; hoàn thành việc xây dựng, tu bổ, nâng cấp 6 đài hữu nghị Việt Nam- Campuchia tại Campuchia.
Đại tướng Ngô Xuân Lịch cho biết, Việt Nam sẽ làm hết sức mình để củng cố, vun đắp cho mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa hai nước.
Hai bên thống nhất việc tăng cường trao đổi đoàn các cấp, duy trì Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng, đào tạo cán bộ, tuần tra chung, đẩy mạnh công tác tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trên đất Campuchia; tăng cường công tác phối hợp quản lý, bảo vệ đường biên giới…
Thay mặt Đoàn đại biểu Quân sự cấp cao Vương quốc Campuchia, Đại tướng Tia Banh bày tỏ lòng biết ơn Quân đội và nhân dân Việt Nam đã hy sinh xương máu, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, cũng như sự hỗ trợ huấn luyện, đào tạo cán bộ cho Quân đội Hoàng gia Campuchia.
Đại tướng Tia Banh khẳng định, nhân dân và quân đội Hoàng gia Campuchia luôn coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống lâu đời, tốt đẹp với Quân đội và nhân dân Việt Nam; đồng thời sẽ làm hết sức mình để giữ gìn, vun đắp, phát triển mối quan hệ tốt đẹp này… (Công An Nhân Dân 10/1) đầu trang(
Tại cuộc họp kiểm điểm cuối năm, ông Lưu Tri Âm, Phó Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Cà Mau bị xét “không hoàn thành nhiệm vụ” do trước đó ông bị đề nghị kỷ luật khiển trách về mặt Đảng và chính quyền.
Chiều 9/1, ông Lưu Tri Âm xác nhận trong cuộc họp kiểm điểm cuối năm, ông bị xét “không hoàn thành nhiệm vụ” do trước đó ông bị đề nghị kỷ luật khiển trách về mặt Đảng và chính quyền.
Hiện quy trình kỷ luật ông Lưu Tri Âm đã được Bảo hiểm Xã hội tỉnh Cà Mau làm xong. Hồ sơ kỷ luật đã báo cáo về cơ quan có thẩm quyền và đang chờ quyết định kỷ luật chính thức.
Ngoài ra, tại Bảo hiểm Xã hội tỉnh Cà Mau còn một số trường hợp bị xét “không hoàn thành nhiệm vụ”. Trong đó, có ông Nguyễn Chí Ngộ, nguyên Trưởng phòng Giám định Bảo hiểm Y tế, hiện bị điều sang làm phó phòng thu, vì bị kỷ luật cảnh cáo cả về mặt chính quyền và Đảng.
Năm 2016, tỉnh Cà Mau để xảy ra tình trạng vượt quỹ khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế. Theo Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Cà Mau là một trong số 45 tỉnh, thành phố có số chi vượt quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ở mức cao. (Người Tiêu Dùng 10/1) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSLC) được xác định là vùng có nhiều thế mạnh để xây dựng các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực, vì thế Bộ NNPTNT đã phối hợp Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ tổ chức không ít hội thảo về liên kết, hợp tác sản xuất nông sản chủ lực tại các tiểu vùng thuộc ĐBSCL. Dù đã có định hướng chiến lược của Bộ NNPTNT, song các tiểu vùng vẫn khá lúng túng trong việc lựa chọn sản phẩm chiến lược phục vụ xuất khẩu.
Thời gian gần đây, một số mặt hàng nông sản của Việt Nam từng chiếm vị thế chủ lực trên thị trường trong nước và xuất khẩu như gạo, cà phê, sắn, cao su… đang trên đà sụt giảm tăng trưởng. Trong khi đó, những mặt hàng lâu nay ít được quan tâm đầu tư như rau, đậu, trái cây lại có những bước tăng trưởng ngoạn mục. Điều này khiến nhiều nông dân và người quan tâm lĩnh vực nông nghiệp băn khoăn: Chọn cây gì làm nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam?
Mặc dù các tiểu vùng ở ĐBSCL có những thế mạnh khác nhau đối với các loại nông sản đặc sản, nhưng hầu như địa phương nào cũng lựa chọn cây lúa để phát triển. Điển hình như tiểu vùng bán đảo Cà Mau (gồm Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang) cũng chọn cây lúa, hạt gạo làm sản phẩm chủ lực, dù xét về lợi thế vận chuyển, công nghệ, đầu mối tiêu thụ đều thua xa các tiểu vùng khác. Trong khi đó, các loại cây có khả năng và lợi thế lại chưa được chú ý đến như khóm (dứa), mía, chuối…
TS Lương Quang Xê (Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam) từng đưa ra cảnh báo: “Tình trạng thiếu nước ngọt cho trồng lúa và cả nước mặn cho nuôi trồng thủy sản vào các năm tới sẽ tiếp tục xảy ra do hệ thống thủy lợi cho toàn vùng ĐBSCL chưa hoàn chỉnh, trong khi đó tiểu vùng bán đảo Cà Mau sẽ thiếu nước ngọt do ĐBSCL không còn mùa lũ. Vì vậy, các địa phương trong vùng cần phải quy hoạch lại thủy lợi cũng như lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp”.
Ông Nguyễn Văn Đồng - Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Hậu Giang cho biết, từ năm 2013, tỉnh đã triển khai chương trình phát triển nông sản chủ lực (giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020) với tổng kinh phí thực hiện khoảng 300 tỷ đồng. Theo đó, tỉnh đã xây dựng nhãn hiệu cho 11 loại nông sản đặc trưng gắn liền với địa danh của từng địa phương trong tỉnh như: Cam sành Ngã Bảy, cam xoàn Phụng Hiệp, bưởi Năm Roi Phú Hữu, quýt đường Long Trị, chanh không hạt Châu Thành, khóm (dứa) Cầu Đúc, lúa Hậu Giang...
“Hiện nay, các vùng nguyên liệu chuyên canh của tỉnh Hậu Giang đã được hình thành, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, như vùng lúa chất lượng cao 32.000ha, vùng mía nguyên liệu 10.300ha, vùng cây có múi đặc sản 10.000ha, vùng khóm 2.000ha…” – ông Đồng thông tin.
TS Nguyễn Trọng Uyên - Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Bộ NNPTNT) cho biết, lúa là sản phẩm chủ yếu của vùng tứ giác Long Xuyên, gồm An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và một số tỉnh đầu nguồn như Tiền Giang, Đồng Tháp. Tuy nhiên, các tiểu vùng khác cũng ưu tiên lựa chọn cây lúa làm sản phẩm chủ lực, điều này dẫn đến sản lượng lương thực toàn vùng ĐBSCL tăng cao trong nhiều năm nay và có nguy cơ dư thừa. Trong khi đó, bà con mỗi địa phương lại sử dụng tới 30-40 giống lúa, chưa chọn được giống đặc trưng cho từng tiểu vùng.
PGS-TS Nguyễn Văn Sánh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL nhận định, việc tăng diện tích sản xuất lúa ở ĐBSCL đã làm tăng khí thải nhà kính, tiêu hao lượng nước trong khi nguồn tài nguyên này đang ngày càng hiếm. Vì vậy, tới đây bà con không nên tăng diện tích nữa, các nhà khoa học cần nghiên cứu xem để thu hoạch được 1kg lúa thì tốn bao nhiêu nước, làm tăng phát thải nhà kính thế nào, từ đó có hướng dẫn kỹ thuật sản xuất lúa hợp lý. Hoặc thay vì trồng lúa liên tục thì nên chuyển sang mô hình lúa - tôm, lúa - màu…
Được biệt, đến nay tỉnh Đồng Tháp đã lựa chọn được 5 cây - con chủ lực để tập trung đầu tư gồm: Lúa gạo, hoa kiểng, xoài, cá tra và vịt. Theo UBND tỉnh này, sở dĩ chọn lúa làm cây chủ lực là vì nơi đây có hơn 541.800ha sản xuất lúa, sản lượng trên 3,31 triệu tấn/năm, tập trung ở các huyện, thị phía Bắc sông Tiền như: Cao Lãnh, Tháp Mười, Tam Nông, Thanh Bình, Hồng Ngự, Tân Hồng và thị xã Hồng Ngự. Đặc biệt, Đồng Tháp có thế mạnh về cây xoài nên đã ưu ái phát triển loại cây này thành ngành hàng chiến lược. Hiện tỉnh có hơn 9.200ha xoài, với sản lượng ước tính 30.000 tấn/năm (chủ yếu là xoài Cát Chu và xoài Cát Hòa Lộc).
Còn theo ông Cao Văn Trọng – Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, thời gian qua, tỉnh này tập trung phát triển các loại nông sản như dừa, bưởi da xanh, măng cụt, chôm chôm, sầu riêng. Trong đó, diện tích dừa không ngừng gia tăng từ 55.800ha năm 2011 lên 65.500ha vào năm 2015 với sản lượng dừa trái hiện nay là 552.500 tấn.
Nhiều tỉnh, thành khác trong vùng cũng đã xác định một số sản phẩm chủ lực riêng. Như Tiền Giang phát triển 7 loại trái cây đặc sản (vú sữa Vĩnh Kim, thanh long Chợ Gạo, sầu riêng Ngũ Hiệp, sơri Gò Công, khóm Tân Lập, bưởi lông Cổ Cò, xoài cát Hòa Lôc), nếp bè Chợ Gạo, lúa chất lượng cao, rau an toàn, các sản phẩm thủy sản (cá tra, tôm, nghêu). Vĩnh Long thì chọn các sản phẩm lúa gạo, trái cây, thủy sản. TP.Cần Thơ chọn lúa gạo, trái cây và cá nuôi nước ngọt... (Dân Việt 10/1) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Lẽ ra, khi số người tham gia Bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc càng ngày nhiều hơn, số người nghèo ngày càng giảm dần thì quỹ dự trữ BHYT sẽ tăng lũy kế, người dân sẽ được hưởng chất lượng chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Nhưng hiện nay thì ngược lại, chất lượng khám chữa bệnh (KCB) không đổi, còn quỹ BHYT thì đang ở tình trạng báo động và có nguy cơ bị vỡ quỹ.
BHYT mang tính phúc lợi xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân, không vì mục đích lợi nhuận. Quỹ BHYT là quỹ chia sẻ rủi ro, lấy đóng góp của người khỏe bù đắp vào chi phí khám chữa bệnh của người ốm. Đến nay đã hơn 80% người dân tham gia BHYT, số người khỏe luôn cao hơn rất nhiều số người ốm. Thế nhưng, quỹ BHYT đang bội chi “khủng”, âm quỹ trầm trọng. Như báo chí đã phản ánh, chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2016, quỹ KCB BHYT tại 37 tỉnh, TP đã bội chi hơn 3.400 tỉ đồng. Tình trạng trục lợi BHYT diễn ra nhiều nơi, nhiều tỉnh thành với nhiều hình thức khác nhau, rất đáng lo ngại.
Theo thông tin báo cáo tại Hội nghị cải cách hành chính và triển khai nhiệm vụ năm 2017 do Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức sáng 3.1.2017 tại Hà Nội, cả nước hiện có 45/63 tỉnh, thành phố bội chi quỹ khám chữa bệnh hơn 5.500 tỉ đồng.
Người viết bài này từng chứng kiến những biểu hiện trục lợi BHYT tại địa phương một tỉnh miền Trung. Một số bệnh viện tư được phép KCB vượt tuyến, hàng tháng có những chuyến xe của bệnh viện tổ chức đưa đón người dân vùng xa, khó khăn (được miễn phí 100% chi phí KCB) đến KCB tại bệnh viện mình (bệnh viện hỗ trợ một phần tiền xe, tiền ăn trưa). Thoạt nhìn, người ta tưởng rằng bệnh viện sao quá nhiệt tình, chu đáo với bà con, về sau họ mới hiểu rằng đây là “chiêu” tiếp thị, “giành” bệnh nhân BHYT để bệnh viện trục lợi.
Đến khâu KCB thì biểu hiện trục lợi của bệnh viện càng lộ liễu hơn. Không ít bệnh nhân, dù bệnh gì, nặng hay nhẹ đều được bệnh viện KCB “đúng quy trình”, đầy đủ các khâu, từ đo huyết áp, xét nghiệm máu, chụp phim, siêu âm, đo điện tim... Ai không có bệnh hoặc được cho là “có bệnh nhưng chưa rõ nguyên nhân” thì được cho mấy loại thuốc bổ, vitamin, thực phẩm chức năng đem về, nhưng tiền công, dịch vụ, tiền thuốc KCB ghi trong hóa đơn để BHYT thanh toán từ 300.000 đồng trở lên.
Lạ hơn nữa, có bệnh viện còn dùng chiêu trò “độc” hơn, cứ bệnh nhân nằm viện một tuần thì cho... xuất viện. Bệnh nhân nào chưa khỏi thì cũng phải thế, phải làm “thủ tục” xuất viện ít nhất một ngày rồi nhập viện lại. Và tất nhiên các thủ tục chụp phim, siêu âm, thử máu... được làm lại từ đầu. Bệnh viện vừa moi quỹ BHYT, vừa gây nhiêu khê phiền hà, khổ sở bệnh nhân, nhất là những bệnh nhân già yếu, tật nguyền, đi lại khó khăn, không có người thân chăm sóc.
Quỹ BHYT bị bội chi một phần còn do giá thuốc, chi phí KCB, dịch vụ y tế tăng, trong khi đầu vào của số tiền đóng bảo hiểm đâu phải dễ dàng tăng theo.
Một số hộ dân có thu nhập trung bình, thậm chí khá nhưng vẫn “được” xét vào hộ nghèo do sự thiên vị trong quan hệ hoặc do tắc trách, quan liêu của cán bộ cơ sở. Một số gia đình con cái đi làm có thu nhập ổn định nhưng họ cố ý tách khẩu, tách hộ để cha mẹ già được “công nhận” là “hộ nghèo”, “hộ cận nghèo”, được hưởng chính sách của nhà nước, trong đó có chế độ BHYT miễn phí, giảm phí.
Năm 2016, tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT đã làm cho quỹ này bị thâm hụt nghiêm trọng. Nhiều bệnh viện tư nhân được UBND tỉnh cho xuống hạng, từ hạng 2 xuống hạng 3, để được xếp tương đương với bệnh viện công lập tuyến huyện, được khám chữa bệnh BHYT cho cả những bệnh nhân ở các quận, huyện khác theo đúng chính sách thông tuyến BHYT có hiệu lực từ đầu năm nay, khiến số tiền chi trả bảo hiểm y tế tăng cao ngất ngưởng.
Ông Phạm Lương Sơn - Phó tổng giám đốc BHXH Việt Nam - chia sẻ với báo chí rằng: Trong năm 2016, cơ quan này đã từ chối chi trả hơn 600 tỉ đồng tiền BHYT do các cơ sở y tế chi tiêu không hợp lý, lạm dụng kê đơn, chụp chiếu, xét nguyệm... để trục lợi quỹ BHYT. Có rất nhiều đơn thuốc được kê 2 loại kháng sinh cùng công dụng; hoặc những đơn thuốc chứa đến 5, 6 loại thuốc bổ, thực phẩm chức năng. Đây là những đơn thuốc bị phía BHXH đã từ chối thanh toán.
Chắc chắn số tiền mà BHXH “từ chối chi trả” là rất ít so với chi phí “phải trả” cho các bệnh viện, trung tâm y tế, trong đó có những khoản được hợp thức hóa để trục lợi.
Lẽ ra, khi số người tham gia BHYT bắt buộc càng ngày nhiều hơn, số người nghèo (được miễn phí KCB) giảm dần thì quỹ dự trữ BHYT sẽ tăng lũy kế, người dân sẽ được hưởng chất lượng chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Đằng này thì ngược lại, chất lượng KCB không đổi, còn quỹ BHYT có nguy cơ bị vỡ, thời điểm này đang ở tình trạng báo động.
Những bài học quản lý nào được rút ra? Rà soát, chấn chỉnh, thay đổi thế nào từ khâu cấp phát thẻ BHYT đến KCB? Giải pháp trước mắt và căn cơ lâu dài như thế nào để quỹ BHYT không bị vỡ? Làm sao để người mua thẻ BHYT được hưởng đầy đủ quyền lợi chính đáng của mình theo Luật BHYT? Ai chịu trách nhiệm trong vấn đề này? Hàng loạt câu hỏi trên không ai có thể trả lời rốt ráo ngoài các cơ quan chức năng và cơ quan quản lý BHYT.
Trong những “ngày cao điểm” bệnh viện đón rước bệnh nhân đến KCB, trông khu vực KCB chật ních, đông nghịt người, lòng tôi thật buồn. Buồn một phần vì người dân mình sao ngày càng ốm đau, bệnh tật nhiều quá. Buồn một phần vì quỹ BHYT, một nguồn quỹ chăm sóc sức khỏe cho toàn dân “khỏe để sống, khỏe để làm việc” đầy tính nhân văn của cộng đồng bị lợi dụng lợi dụng trắng trợn. (Lao Động 9/1) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Ủy ban Chỉ đạo Cải cách quốc gia (NRSC) Thái Lan hôm 9-1 thông qua đề xuất tử hình quan chức bị kết tội tham nhũng hơn 1 tỉ baht (tương đương 28 triệu USD).
Đề xuất trên được 155/162 thành viên NRSC - cơ quan do chính quyền quân sự bổ nhiệm - tham dự/có mặt tại cuộc họp thông qua
Ngoài án tử hình, đề xuất còn đề nghị án tù 5 năm cho các quan chức tham nhũng chưa đến 1 triệu baht, 10-20 năm trong trường hợp số tiền tham nhũng từ 10-100 triệu baht và tù chung thân cho số tiền tham nhũng từ 100 triệu đến 1 tỉ baht.
Một thành viên của NRSC cho biết ủy ban này sẽ tiếp thu ý kiến từ các nhà lập pháp trước khi tiến hành những bước đi tiếp theo. Theo Reuters, đề xuất sẽ được trình lên nội các, quốc hội và Ủy ban Hiến pháp xem xét trước khi được thông qua.
Động thái trên là bước đi mới nhất sau đề xuất tử hình những quan chức bị kết tội “mua bán” chức vụ. Đối mặt sự phản đối của các chính đảng, Chủ tịch Ủy ban Soạn thảo hiến pháp (CDC) Meechai Ruchupan cho rằng đây là cần thiết để ngăn những phần tử tham nhũng tham gia chính trường.
Các nhà phân tích nhìn nhận ý định trừng phạt nghiêm khắc hành vi tham nhũng là cách chính quyền quân sự kiểm soát hơn nữa phe phái đối lập - trong đó có đồng minh của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, người bị lật đổ năm 2006. Cựu Thủ tướng Yingluck Shinawatra, em gái ông Thaksin, cũng đang bị xét xử về tội tham nhũng liên quan đến chương trình trợ giá lúa gạo gây thất thoát hàng tỉ USD. Mặc dù phủ nhận đã có hành vi sai trái nhưng cựu thủ tướng có thể đối mặt mức án 10 năm tù nếu bị kết tội.
Ông Kan Yuenyong thuộc Viện Nghiên cứu Tình báo Siam (Thái Lan) nhận định đề xuất trên không tác động đến bà Yingluck. Thay vào đó, đây là biện pháp nhằm răn đe, cảnh báo những người có ý định tham nhũng trong tương lai, cũng như giúp kiểm soát phe của ông Thaksin. (Người Lao Động 9/1) đầu trang(
Cuộc chiến chống tham nhũng được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát động sau khi lên cầm quyền không chỉ là cuộc chiến lớn mà còn là cuộc chiến không có hồi kết trong lòng quốc gia đông dân nhất thế giới.
Tổng Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) ngày 9-1 công bố một báo cáo cho biết, gần 93% người dân nước này cảm thấy hài lòng đối với thành quả trong công tác xây dựng tác phong liêm chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chiến dịch chống tham nhũng của nước này, tăng 17,9% so với năm 2012. Nhà “lãnh đạo hạt nhân” Tập Cận Bình hiện nay được bầu làm Tổng Bí thư tháng 11-2012 và nhậm chức Chủ tịch nước tháng 3-2013.
Theo NBS, báo cáo thăm dò ý dân thực hiện đối với 25.200 hộ gia đình tại 21 tỉnh, khu vực và thành phố trên toàn Trung Quốc từ cuối tháng 10 đến cuối tháng 11-2016. So với các năm trước, các chỉ tiêu về mức độ hài lòng, niềm tin, sự coi trọng, ngăn chặn của quần chúng trong năm 2016 đều có phần tăng, trong đó có 93,1% bày tỏ niềm tin đối với hiện tượng ngăn chặn tham nhũng, tăng 13,8% so với năm 2012.
Bên cạnh đó, 93% người được hỏi ý kiến còn cho rằng lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc tại các khu vực, bộ, ngành và đơn vị sở tại đã coi trọng xây dựng tác phong liêm chính của Đảng và đấu tranh chống tham nhũng, tăng 12,8% so với năm 2012. Trong khi đó, 90,9% cho rằng trình trạng xảy ra dồn dập các vụ án vi phạm kỷ luật của các cán độ đảng viên hiện nay đã được ngăn chặn, tăng 5,5% so với năm 2012.
Có thể nói báo cáo trên không chỉ là thước đo mức độ hài lòng của người dân mà còn phản ánh hiệu quả cuộc chiến chống tham nhũng tại quốc gia đông dân nhất thế giới do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát động và lãnh đạo từ khi lên cầm quyền cuối năm 2012 tới nay. Cuộc chiến này đã làm chấn động Trung Quốc khi tiến hành điều tra, bắt giữ và xét xử ông Chu Vĩnh Khang, cựu Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị - một chức danh vốn được xem là được “miễn trừ” ở Trung Quốc trước đó.
Chiến dịch chống tham nhũng “đả hổ, diệt ruồi” rồi “săn cáo” (bắt giữ các quan chức tham nhũng trốn ra nước ngoài) mà ông Tập Cận Bình khởi xướng sau đó đã phá vỡ mọi “vùng cấm” khi xử lý mọi quan chức “dính chàm” cho dù ở bất cứ cấp hay lĩnh vực nào. Một số lĩnh vực được coi là “nhạy cảm” như quân đội, công an… đều bị đưa vào “tầm ngắm” của chiến dịch chống tham nhũng ở Trung Quốc.
Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trong báo cáo công bố trước thềm Hội nghị Trung ương lần thứ 6 của Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra cuối tháng 10-2016 cho biết, 1,01 triệu quan chức nước này đã bị điều tra tham nhũng trong giai đoạn 2013-2016. Những người này bị điều tra về các tội danh hối lộ, lạm quyền, biển thủ… Trong khi đó, tờ Financial Times (Thời báo Tài chính) ước tính, chỉ trong vòng 3 năm 2014-2016 đã có gần 36.000 người đã bị khai trừ đảng và bị truy tố trong số 7,4 triệu đảng viên ở Trung Quốc.
Cuộc chiến “đả hổ, diệt ruồi” được người dân ghi nhận ở Trung Quốc sẽ không hạ nhiệt khi Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Vương Kỳ Sơn mới đây khẳng định: “Đây mới là bước khởi đầu và cuộc chiến chống tham nhũng và xây dựng nhà nước trong sạch vẫn tiếp diễn”. (An Ninh Thủ Đô 10/1) đầu trang(./.
|
|||