|
Ngày 09 tháng 06 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 71/2017/NĐ-CP hướng dẫn quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng.
Nghị định quy định, hướng dẫn các vấn đề liên quan đến quản trị công ty đối với công ty đại chúng bao gồm: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị; Ban kiểm soát; Giao dịch với người có liên quan; báo cáo và công bố thông tin.
Trong đó, về báo cáo và công bố thông tin, công ty đại chúng có nghĩa vụ công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin định kỳ và bất thường về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính và tình hình quản trị công ty cho cổ đông và công chúng.
Công ty đại chúng phải công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin khác nếu các thông tin đó có khả năng ảnh hưởng đến giá chứng khoán và ảnh hưởng đến quyết định của cổ đông và nhà đầu tư. Thông tin và cách thức công bố thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty.
Việc công bố thông tin được thực hiện bảo đảm cổ đông và công chúng có thể tiếp cận công bằng. Ngôn ngữ trong công bố thông tin cần rõ ràng, dễ hiểu và tránh gây hiểu lầm cho cổ đông và nhà đầu tư.
Công ty đại chúng phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán và công bố thông tin về mô hình tổ chức quản lý và hoạt động công ty theo quy định tại Điều 134 Luật doanh nghiệp.
Trong trường hợp công ty thay đổi mô hình hoạt động, công ty đại chúng phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán và công bố thông tin trong vòng 24 giờ kể từ khi Đại hội đồng cổ đông có quyết định thay đổi mô hình.
Công ty đại chúng phải công bố thông tin về tình hình quản trị công ty tại các kỳ Đại hội đồng cổ đông thường niên và trong Báo cáo thường niên của công ty theo quy định của pháp luật chứng khoán về công bố thông tin.
Công ty niêm yết có nghĩa vụ báo cáo định kỳ 6 tháng và công bố thông tin về tình hình quản trị công ty theo quy định của pháp luật chứng khoán về công bố thông tin.
Tiền lương của Giám đốc (Tổng giám đốc) và người quản lý khác phải được thể hiện thành mục riêng trong Báo cáo tài chính hàng năm của công ty và phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên. (Báo Chính Phủ 8/6) đầu trang(
Tại mọi thời điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, vốn điều lệ/vốn đầu tư thực góp hạch toán trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn tối thiểu quy định tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP tương ứng với từng loại hình kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 53/2017/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 69/2016/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.
Theo đó, khi bắt đầu hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và trong suốt quá trình hoạt động, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP tương ứng với từng loại hình kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và phải thực hiện công bố công khai việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ về vốn, quy chế quản lý nội bộ về tổ chức, quy định nội bộ về hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, quy chế hoạt động của sàn giao dịch nợ tại trụ sở chính và trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp.
Quy định đáp ứng điều kiện về vốn, Thông tư nêu rõ, tại mọi thời điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, vốn điều lệ/vốn đầu tư thực góp hạch toán trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn tối thiểu quy định tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP tương ứng với từng loại hình kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.
Về người quản lý doanh nghiệp, tại thời điểm được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, người quản lý phải có các hồ sơ sau: Phiếu lý lịch tư pháp; bằng đại học (trở lên) thuộc một trong các ngành: Kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc lĩnh vực chuyên môn mà mình sẽ đảm nhận; bản cam kết với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ về việc đáp ứng đầy đủ nội dung quy định.
Trước thời điểm kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch nợ, doanh nghiệp phải có: Báo cáo tài chính được kiểm toán chứng minh đã kinh doanh dịch vụ mua bán nợ ít nhất 01 năm tính đến thời điểm bắt đầu kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch nợ và doanh thu hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ của năm liền kề trước năm thực hiện kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch đạt ít nhất 500 tỷ đồng.
Các hợp đồng lao động ký với ít nhất 02 nhân viên có chứng chỉ kiểm toán viên hoặc ít nhất 02 nhân viên có thẻ thẩm định viên về giá do Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp.
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính và trong trường hợp đột xuất, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính về việc đáp ứng điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, tình hình kinh doanh và chấp hành quy định pháp luật của doanh nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 03/7/2017. (Báo Chính Phủ 8/6) đầu trang(
Từ 1-7-2017, mức chuẩn để xác định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng sẽ tăng từ 1.318.000 đồng lên 1.417.000 đồng.
Đây là nội dung chính được quy định tại Nghị định của Chính phủ vừa mới ban hành quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Theo đó, người hoạt động cách mạng trước ngày 1-1-1945 diện thoát ly mức trợ cấp 1.583.000 đồng/tháng; diện không thoát ly mức trợ cấp 2.688.000 đồng/tháng.
Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng tử vong trước ngày 1-1-1945 là 1.417.000 đồng/tháng. Cha, mẹ đẻ, vợ (hoặc chồng), con sống cô đơn không nơi nương tựa mức trợ cấp 1.133.000 đồng/tháng.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 1-1-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 được trợ cấp 1.465.000 đồng/tháng. Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng tử vong từ ngày 1-1-1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là 795.000 đồng/tháng.
Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của một liệt sĩ là 1.417.000 đồng/tháng; trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của hai liệt sĩ là 2.834.000 đồng/tháng; đối với thân nhân của ba liệt sĩ trở lên, mức trợ cấp là 4.251.000 đồng/tháng; trợ cấp tiền tuất đối với vợ hoặc chồng liệt sỹ lấy chồng hoặc lấy vợ khác (diện không hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng) là 1.417.000 đồng/tháng.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng (hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ như trên) được hưởng phụ cấp 1.188.000 đồng/tháng. Mức trợ cấp đối với người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình là 1.417.000 đồng/tháng.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến hưởng trợ cấp 1.188.000 đồng/tháng.
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được trợ cấp thương tật từ 955.000 đồng/tháng - 4.543.000 đồng/ tháng tùy tỷ lệ suy giảm khả năng lao động… (Tuổi Trẻ 8/6) đầu trang(
Theo Thông tư hướng dẫn phân loại và đánh giá hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp được đánh giá theo 6 tiêu chí.
6 tiêu chí gồm: 1- Doanh thu và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của hợp tác xã; 2- Lợi ích của các thành viên hợp tác xã; 3- Vốn hoạt động của hợp tác xã; 4- Quy mô thành viên ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng; 5- Hợp tác xã được khen thưởng trong năm; 6- Mức độ hài lòng của thành viên đối với hợp tác xã.
Căn cứ theo 6 tiêu chí trên, hợp tác xã nông nghiệp được xếp loại theo 4 mức: Hợp tác xã hoạt động tốt; hợp tác xã hoạt động khá; hợp tác xã hoạt động trung bình; hợp tác xã hoạt động yếu. Hợp tác xã mới thành lập và sản xuất kinh doanh chưa đủ 12 tháng trong năm thì không tự chấm điểm và xếp loại.
Theo Thông tư, hợp tác xã nông nghiệp được phân loại như sau:
Hợp tác xã trồng trọt: Là hợp tác xã có hoạt động sản xuất trồng trọt (trồng cây hàng năm, cây lâu năm; nhân và chăm sóc cây giống nông nghiệp) và dịch vụ trồng trọt có liên quan; dịch vụ sau thu hoạch; xử lý hạt giống để nhân giống.
Hợp tác xã chăn nuôi: Là hợp tác xã có hoạt động sản xuất chăn nuôi (trâu, bò, ngựa, lừa, la, dê, cừu, lợn, gia cầm và chăn nuôi khác); dịch vụ chăn nuôi có liên quan; săn bắt, đánh bẫy và hoạt động dịch vụ có liên quan.
Hợp tác xã lâm nghiệp: Là hợp tác xã có hoạt động sản xuất lâm nghiệp (trồng và chăm sóc rừng; khai thác gỗ và lâm sản khác; thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải gỗ và lâm sản khác) và dịch vụ lâm nghiệp có liên quan.
Hợp tác xã thủy sản: Là hợp tác xã có hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (nuôi trồng thuỷ sản biển, nội địa; sản xuất giống thuỷ sản); khai thác thủy sản (khai thác thủy sản biển và nội địa, bao gồm cả bảo quản thuỷ sản ngay trên tàu đánh cá).
Hợp tác xã diêm nghiệp: Là hợp tác xã có hoạt động khai thác muối (khai thác muối mỏ, đập vụn muối và sàng muối; sản xuất muối từ nước biển, nước mặn ở hồ hoặc nước mặn tự nhiên khác; nghiền, tẩy rửa, và tinh chế muối phục vụ cho sản xuất) và dịch vụ có liên quan đến phục vụ khai thác muối.
Hợp tác xã nước sạch nông thôn: Là hợp tác xã có hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước sạch (khai thác nước từ sông, hồ, ao; thu nước mưa; thanh lọc nước để cung cấp; khử muối của nước biển để sản xuất nước như là sản phẩm chính; phân phối nước thông qua đường ống, bằng xe hoặc các phương tiện khác) cho nhu cầu sinh hoạt trên địa bàn nông thôn.
Hợp tác xã nông nghiệp tổng hợp: Là hợp tác xã có hoạt động từ hai lĩnh vực hoạt động của các hợp tác xã được phân loại nêu trên trở lên. (Báo Quảng Ninh 8/6) đầu trang(
Ủy ban Dân tộc đang dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đối tượng áp dụng là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số (bao gồm cả người Kinh, có uy tín, sống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi) đảm bảo các tiêu chí:
a- Bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú;
b- Là người tiêu biểu, gương mẫu thực hiện và đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, giảm nghèo; có nhiều công lao, đóng góp xây dựng, bảo vệ an ninh trật tự và giữ gìn đoàn kết các dân tộc;
c- Hiểu biết về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc; có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó với đồng bào dân tộc và có ảnh hưởng trong dòng họ, dân tộc và cộng đồng dân cư nơi cư trú; có khả năng quy tụ, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm vi nhất định bằng lời nói, qua hành động, được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo;
d- Các ngành công an, quốc phòng xây dựng tiêu chí riêng để lựa chọn và thực hiện chế độ, chính sách đối với người có uy tín do ngành quản lý theo quy định tại quyết định này.
Người có uy tín sẽ được hưởng các chế độ, chính sách sau: Cung cấp thông tin; hỗ trợ, động viên tinh thần, khen thưởng.
Định kỳ hoặc đột xuất người có uy tín được cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cư trú phổ biến, cung cấp thông tin mới về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương và kết quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc đang thực hiện trên địa bàn xã, thôn bản;
Người có uy tín được cấp (không thu tiền) Báo Dân tộc và Phát triển của Ủy ban Dân tộc, báo tỉnh nơi người có uy tín cư trú hoặc Bản tin Dân tộc do Cơ quan công tác dân tộc cấp tỉnh cung cấp. Người có uy tín được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, các chính sách dân tộc và kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng...
Người có uy tín được cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cư trú thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết của các dân tộc thiểu số không quá 02 lần/1 năm; mức chi không quá 500.000 đồng/người/lần.
Khi người có uy tín bị ốm đau được thăm hỏi, hỗ trợ với mức không quá 3 triệu đồng/người/năm đối với cấp Trung ương; không quá 1,5 triệu đồng/người/năm đối với cấp tỉnh; không quá 800.000 đồng/người/năm đối với cấp huyện.
Hộ gia đình người có uy tín gặp khó khăn do hậu quả thiên tai; bố, mẹ, vợ, chồng, con, bản thân người có uy tín qua đời được cấp ủy, chính quyền theo phân cấp quản lý người có uy tín đến thăm, viếng, động viên. Mức chi không quá 2 triệu đồng/gia đình/năm đối với cơ quan Trung ương; không quá 1 triệu đồng/gia đình/năm đối vói cơ quan cấp tỉnh; không quá 500.000 đồng/gia đình/năm đối với cơ quan cấp huyện.
Người có uy tín trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao nếu hy sinh hoặc bị thương mà đảm bảo các điều kiện tương ứng quy định tại Điều 17 hoặc Điều 27 của Nghị định số 31/2013/NĐ-CP được cấp có thẩm quyền xem xét, được hưởng các chế độ ưu đãi như đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.
Người có uy tín chưa được hưởng chính sách theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế hiện hành thì được hỗ trợ mua bảo hiểm y tế theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 105/2014/NĐ-CP.
Về chế độ khen thưởng, người có uy tín có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh, trật tự được xét khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và các quy định hiện hành về thi đua, khen thưởng.
Trưởng thôn tổ chức họp liên tịch bình chọn người có uy tín theo tiêu chí quy định và lập hồ sơ gửi UBND cấp xã tổng hợp, kiểm tra, lập hồ sơ gửi Phòng Dân tộc trình Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt danh sách người có uy tín có phạm vi ảnh hưởng ở các thôn, xã trong huyện. Cơ quan làm công tác dân tộc cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu, trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt danh sách người có uy tín có phạm vi ảnh hưởng từ cấp huyện trở lên.
Hằng năm không tổ chức bình chọn, phê duyệt lại danh sách người có uy tín. Những người không còn uy tín hoặc đã mất cần kịp thời đưa ra khỏi danh sách và bình chọn người có uy tín khác để thay thế. (Báo Chính Phủ 8/6) đầu trang(
Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn việc trích lập, quản lý tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên theo quy định tại Nghị định số 52/2016/NĐ-CP của Chính phủ.
Dự thảo Thông tư này hướng dẫn việc trích lập, quản lý quỹ tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Theo dự thảo, tiền thưởng của Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên bao gồm tiền thưởng hàng năm và thưởng khi kết thúc nhiệm kỳ. Thời gian thực hiện trích lập và mức trích lập quỹ tiền thưởng của Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên thực hiện theo quy định của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp.
Về chi trả tiền lương, thù lao của Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên, dự thảo nêu rõ, căn cứ tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao, kết quả, hiệu quả làm việc của Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên; cơ quan đại diện chủ sở hữu, Bộ Tài chính (đối với Kiểm soát viên tài chính tại các tập đoàn kinh tế nhà nước) quyết định mức chi trả tiền lương, thù lao cho Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên.
Trước ngày 20 hàng tháng, Bộ Tài chính, cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện chi trả tiền lương, thù lao cho Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên vào tài khoản cá nhân của Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên. Số tiền lương, thù lao hàng tháng được chi trả bằng 80% của số tiền lương, thù lao theo kế hoạch năm chia 12 tháng; số còn lại (theo số quyết toán lương của công ty TNHH MTV) được chi trả vào cuối năm trên cơ sở mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao do cơ quan đại diện chủ sở hữu, Bộ Tài chính (đối với Kiểm soát viên tài chính tại các tập đoàn kinh tế nhà nước) đánh giá.
Cụ thể, Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên được đánh giá từ mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên sẽ được chi trả phần tiền lương, thù lao còn lại; trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ sẽ không được chi trả phần tiền lương, thù lao còn lại.
Về chi trả tiền thưởng của Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên: Hàng năm, căn cứ hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH MTV và mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao đối với Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Bộ Tài chính (đối với Kiểm soát viên tài chính tại các tập đoàn kinh tế nhà nước) quyết định chi thưởng cho Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên. Mức tiền thưởng năm được chi trả cho Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên tối đa là 90% tiền thưởng kế hoạch năm.
Đối với phần tiền thưởng còn lại (10% quỹ tiền thưởng hàng năm), Bộ Tài chính, cơ quan đại diện chủ sở hữu chi trả cho Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên tài chính khi kết thúc nhiệm kỳ theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ cả nhiệm kỳ theo nguyên tắc: Trường hợp Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên được đánh giá hoàn thành xuất sắc hoặc hoàn thành nhiệm vụ các năm trong nhiệm kỳ thì hưởng toàn bộ số tiền tưởng còn lại.
Trường hợp Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên có 01 năm trong nhiệm kỳ bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ thì được hưởng 50% số tiền thưởng còn lại.
Trường hợp Trưởng ban kiểm soát và Kiểm soát viên có 2 năm trở lên trong nhiệm kỳ bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ được giao của nhiệm kỳ thì không được hưởng số tiền thưởng còn lại.
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo này tại Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 8/6) đầu trang(
Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế.
Dự thảo đề xuất một số chế độ, mức chi có tính chất đặc thù phục vụ công tác điều ước quốc tế, công tác thỏa thuận quốc tế.
Theo đó, đối với công tác nghiên cứu, xây dựng phương án đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực, từ bỏ, rút khỏi, tạm đình chỉ thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; báo cáo rà soát, so sánh điều ước quốc tế với pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên… mức chi tối đa là 10 triệu đồng/báo cáo.
Chi soạn thảo đề cương chi tiết: Đối với điều ước quốc tế soạn thảo mới mức chi tối đa không quá 3 triệu đồng/đề cương.
Đối với điều ước quốc tế sửa đổi, bổ sung; thỏa thuận quốc tế soạn thảo mới: Mức chi tối đa không quá 2,5 triệu đồng/đề cương; đối với thỏa thuận quốc tế sửa đổi, bổ sung mức chi tối đa không quá 2 triệu đồng/đề cương.
Chi soạn thảo điều ước quốc tế, công tác thỏa thuận quốc tế: Soạn thảo mới dự thảo điều ước quốc tế mức chi tối đa 8 triệu đồng/dự thảo văn bản; soạn thảo dự thảo điều ước quốc tế sửa đổi, bổ sung; dự thảo thỏa thuận quốc tế mức chi tối đa 5 triệu đồng/dự thảo văn bản…
Dự thảo cũng nêu rõ, các nội dung chi tổ chức hội nghị trong nước, công tác phí cho cán bộ đi công tác trong nước; công tác phí cho cán bộ đi công tác ở nước ngoài; chi làm đêm, làm thêm giờ: Thực hiện theo các chế độ quy định hiện hành.
Chi dịch thuật (bao gồm cả dịch thuật trong công tác rà soát, đối chiếu văn bản điều ước quốc tế, bằng tiếng Việt với văn bản điều ước quốc tế bằng tiếng nước ngoài); chi đón các đoàn nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam: Thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước.
Đối với các khoản chi đóng góp tài chính theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thì mức đóng góp tài chính được thực hiện như sau: Mức đóng góp tài chính theo điều ước quốc tế (bao gồm đóng góp tài chính, niên liễm cho tổ chức quốc tế được thành lập theo điều ước quốc tế, viện trợ cho chính phủ nước ngoài, hoặc đóng góp tài chính khác theo điều ước quốc tế): Được thực hiện căn cứ vào quy định của điều ước quốc tế, tổ chức quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; trong trường hợp có sự thay đổi mức đóng góp tài chính so với quy định của điều ước quốc tế thì cơ quan chủ trì thực hiện điều ước quốc tế lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính và cơ quan có liên quan; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định làm căn cứ đóng góp…
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo này tại Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 8/6) đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Ngày 8-6, Tổng thống Cộng hòa Séc M.Dê-man và Phu nhân đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch nước Trần Đại Quang.
Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp; Chủ tịch nước Trần Đại Quang đón, hội đàm; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân hội kiến Tổng thống M.Dê-man. Nhân dịp này, Tổng thống M.Dê-man đã gặp Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Séc và gặp đại diện Hội Hữu nghị Việt Nam - Séc.
Tại các cuộc tiếp xúc, hai bên đánh giá cao những bước phát triển tích cực của mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Séc; hoan nghênh việc duy trì và tăng cường đối thoại chính trị ở cấp cao cũng như trao đổi đoàn giữa các bộ, ngành và địa phương hai nước. Hai bên thể hiện quyết tâm củng cố hơn nữa quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực; bày tỏ vui mừng về việc các văn kiện hợp tác trong lĩnh vực chuyển giao người bị kết án và phòng, chống tội phạm đã được ký kết nhân chuyến thăm; đồng thời nhất trí thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như nông nghiệp, khoa học - công nghệ, môi trường, năng lượng, giáo dục - đào tạo, văn hóa, du lịch, tư pháp...
Hai bên nhất trí thúc đẩy trao đổi và ủng hộ lẫn nhau về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm; cam kết phối hợp chặt chẽ hơn nữa tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM); xem xét ủng hộ lẫn nhau ứng cử vào các tổ chức và diễn đàn quốc tế. Hai bên cam kết duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. (Nhân Dân 9/6) đầu trang(
QUẢN LÝ
Trước phản ánh của báo chí về bất cập trong quy định thời hạn giấy phép cấp cho các chương trình ca múa nhạc và sân khấu, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam vừa yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng tại Công văn 5191/VPCP-KGVX ngày 22-5-2017; khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động biểu diễn nghệ thuật, đề xuất sửa đổi phù hợp với yêu cầu phát triển.
Theo đó, đối với các chương trình đã, sắp hết hạn ghi trong giấy phép, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản hướng dẫn, theo hướng tổ chức đề nghị cấp giấy phép chỉ cần có văn bản khẳng định không thay đổi nội dung chương trình, trước mắt vẫn được tiếp tục biểu diễn. (Nhân Dân 9/6) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt phương án cổ phần hóa Công ty mẹ - Tổng công ty Sông Đà theo hình thức kết hợp bán bớt phần vốn nhà nước hiện có và phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.
Tổng công ty Sông Đà - CTCP (SÔNG ĐÀ) có vốn điều lệ 4.500 tỷ đồng. Cơ cấu cổ phần phát hành lần đầu là 450 triệu đồng cổ phần, mệnh giá mỗi cổ phần là 10.000 đồng, trong đó: 229.500.000 cổ phần nhà nước, chiếm 51% vốn điều lệ đến hết năm 2019, năm 2020 bán tiếp phần vốn nhà nước còn nắm giữ tại doanh nghiệp này xuống dưới 50% vốn điều lệ; cổ phần bán ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 48 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18.7.2011 là 822.000 cổ phần, chiếm 0,183% vốn điều lệ; 135 triệu cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược, chiếm 30% vốn điều lệ; 84.768.000 cổ phần bán đấu giá công khai, chiếm 18,82% vốn điều lệ.
Thủ tướng Chính phủ ủy quyền Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định mức giá khởi điểm bán đấu giá cổ phần lần đầu theo quy định của pháp luật, điều chỉnh cơ cấu vốn điều lệ khi không bán được cho các nhà đầu tư theo Phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Thủ tướng Chính phủ ủy quyền Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định tiêu chí, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và tỷ lệ cổ phần cụ thể bán cho nhà đầu tư chiến lược, bảo đảm theo đúng quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18.7.2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần và quy định pháp luật có liên quan.
Tổng công ty Sông Đà - CTCP thực hiện xử lý đất đai, thuê đất của Nhà nước, trả tiền thuê đất hàng năm, thực hiện việc quản lý, sử dụng đất theo đúng quy định của Luật đất đai và pháp luật có liên quan.
Về phương án sắp xếp lao động, tổng số lao động tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp là 464 người; tổng số lao động chuyển sang làm việc tại Tổng công ty Sông Đà - CTCP 412 người; số lao động nghỉ việc tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp là 52 người. (Dân Việt 8/6) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Cụ thể, Phó Thủ tướng giao các Bộ, cơ quan liên quan tập trung thực hiện rà soát bất cập trong quy định về thủ tục, giấy tờ kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 5621/VPCP-KTTH ngày 31/5/2017.
Bộ Tài chính, Bộ quản lý chuyên ngành liên quan khẩn trương thực hiện nhiệm vụ sửa đổi các quy định về phí kiểm tra chuyên ngành, điện tử hóa các thủ tục kiểm tra chuyên ngành theo đúng Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ.
Phó Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông, các Bộ quản lý chuyên ngành liên quan xem xét, xử lý theo thẩm quyền và quy định của pháp luật đối với kiến nghị của Bộ Tài chính về việc đẩy mạnh hoạt động thông tin, truyền thông về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và việc bỏ quy định chứng nhận hợp quy theo từng lô hàng nhập khẩu và theo người nhập khẩu; trường hợp phát sinh vướng mắc hoặc vượt thẩm quyền, đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các Bộ, cơ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 2026/QĐ-TTg theo đúng chức năng, thẩm quyền quy định tại Quyết định số 1642/QĐ-TTg ngày 19/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về kiểm tra chuyên ngành thuộc các lĩnh vực của các bộ quản lý chuyên ngành. (Báo Chính Phủ 8/6) đầu trang(
NHÂN SỰ MỚI
Lãnh đạo Bộ Công an, tỉnh Đắk Nông, Cao Bằng vừa quyết định bổ nhiệm, điều động cán bộ chủ chốt một số cơ quan trực thuộc.
Đắk Nông: Ngày 8/6, Tỉnh ủy Đắk Nông đã tổ chức Lễ công bố quyết định về công tác điều động, bổ nhiệm đối với 8 cán bộ.
Theo đó, Bí thư Thị ủy Gia Nghĩa Trần Xuân Hiền được thôi giữ chức vụ để giám định sức khỏe nghỉ hưu trước tuổi;
Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Đức Nguyên được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Bí thư Thị ủy Gia Nghĩa;
Phó Bí thư Đảng ủy Khối Các cơ quan tỉnh Phạm Xuân Lâm được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy;
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao-Du lịch Lê Khắc Ghi được điều động, bổ nhiệm chức vụ Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy;
Chủ tịch UBND huyện Krông Nô Lê Văn Chiến được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Chánh Văn phòng Tỉnh ủy;
Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Krông Nô Nguyễn Văn Dự được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Bí thư Đảng ủy Khối Các cơ quan tỉnh;
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh đoàn Bùi Ngọc Sơn được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Krông Nô;
Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin (Sở Tài nguyên và Môi trường) Nguyễn Văn Hợp được điều động, chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đắk Glong để giới thiệu bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Glong.
Cao Bằng: Liên quan đến công tác cán bộ, ngày 7/6, UBND tỉnh Cao Bằng đã Quyết định số 816/QĐ-UBND ngày 31/5/2017 của UBND tỉnh về việc tiếp nhận ông Lê Hải Hòa, Phó Chánh Văn phòng Tỉnh ủy đến công tác tại Văn phòng UBND tỉnh, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh và giao phụ trách Văn phòng UBND tỉnh kể từ ngày 1/6/2017. Thời hạn bổ nhiệm 5 năm.
Hà Giang: Ngày 7/6, Thiếu tướng Bùi Minh Giám, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục chính trị Công an nhân dân đã trao quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm có thời hạn Thượng tá Lục Thế Hưng, Trưởng Công an huyện Vị Xuyên giữ chức vụ Phó Giám đốc Công an tỉnh Hà Giang. (Báo Chính Phủ 8/6) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Tham nhũng là một loại tội phạm hết sức nguy hiểm, có tính truyền thống, đặc biệt tác động đến các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Mặc dù Đảng và Nhà nước luôn đề cao quyết tâm chính trị trong phòng, chống tham nhũng (PCTN) nhưng các chế tài xử lý tham nhũng hiện hành vẫn còn thiếu hụt hoặc chưa hoàn thiện.
Đây chính là chủ đề Hội thảo về hoàn thiện các chế tài xử lý tham nhũng trong pháp luật PCTN của Việt Nam do Ban Nội chính Trung ương và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) phối hợp tổ chức vào hôm qua - 8/6.
Theo Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN, qua hoạt động thanh tra đã phát hiện 670 vụ với 1.815 đối tượng có hành vi, biểu hiện tham nhũng, chuyển cơ quan điều tra 274 vụ, 429 đối tượng có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Qua giải quyết hàng chục nghìn vụ việc tố cáo tham nhũng thuộc thẩm quyền, đã chuyển cơ quan điều tra 653 vụ việc với 1.172 người có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Kiểm toán Nhà nước thì phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính hơn 187,5 nghìn tỷ đồng, chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền xử lý tổng số 477 vụ việc, trong đó chuyển cơ quan điều tra 73 vụ với 159 người có hành vi tham nhũng.
Trước tình hình trên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương Võ Văn Dũng nhận định, tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đất nước, xã hội.
Là một quốc gia thành viên của Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, mục tiêu, cách tiếp cận trong công tác PCTN của Việt Nam, theo ông Dũng là hoàn toàn tương đồng với quốc tế. Chính sách PCTN của Việt Nam luôn coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Để xử lý tội phạm tham nhũng, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ các chế tài. Tuy nhiên, báo cáo nghiên cứu của Ban Nội chính Trung ương cho thấy, từ thực tiễn áp dụng và trên bình diện pháp luật quốc tế, có thể chỉ ra sự chưa hoàn thiện của các chế tài xử lý tham nhũng tại Việt Nam liên quan đến các vướng mắc và thiếu hụt về luật hóa hành vi làm giàu bất chính, trách nhiệm hình sự với pháp nhân có hành vi tham nhũng; chế tài chuyên biệt cho tham nhũng khu vực tư; các công cụ pháp lý linh hoạt để thu hồi tài sản tham nhũng; chế tài xử lý đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra tham nhũng; hành vi không kê khai, kê khai không trung thực tài sản, thu nhập…
Nói riêng về Luật PCTN, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu so sánh luật công (Viện Luật so sánh, Đại học Luật Hà Nội) Đào Lệ Thu cho rằng, Luật này được xem là rất quan trọng song lại tự hạn chế trong phạm vi và mục đích điều chỉnh khi không có bất kỳ một chế tài chuyên biệt nào, mà chỉ có nhiệm vụ là “nhắc” lại các chế tài hình sự trong Bộ luật Hình sự và các chế tài kỷ luật được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. “Ở khía cạnh nhất định, Luật PCTN được xem là “luật chính sách” hơn là “luật điều chỉnh”, bởi thiếu cơ chế thực thi và chế tài áp dụng” – bà Thu bình luận.
Trên cơ sở đó, để tạo cơ sở pháp lý căn bản hơn cho công tác đấu tranh PCTN, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và các chuẩn mực quốc tế, bà Thu và nhóm chuyên gia nghiên cứu đã khuyến nghị hoàn thiện nhiều quy định về chế tài trong pháp luật hình sự và các sửa đổi, bổ sung Luật PCTN. Cụ thể, về hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp, bà Thu thừa nhận trong bối cảnh Việt Nam hiện nay thì đây là một thách thức bởi hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập còn yếu kém.
“Do vậy, cần tính toán lựa chọn các giải pháp bớt “cứng rắn” hơn nhưng hiện thực hơn như hình sự hóa hành vi vi phạm nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập tăng thêm và nghĩa vụ giải trình hoặc giới hạn trường hợp người nắm giữ tài sản phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp như người đã bị kết án về tội tham nhũng ” – bà Thu nêu ý kiến.
Ngoài ra, thu hồi tài sản tham nhũng hiện đang dần trở thành vấn đề trọng tâm trong chính sách của Đảng và Nhà nước. Có điều, các biện pháp thu hồi tài sản vẫn thiếu tính linh hoạt, thiếu hiệu quả. Từ kinh nghiệm quốc tế và khả năng của Việt Nam, bà Thu đề xuất giải pháp khởi kiện dân sự để thu hồi tài sản tham nhũng như một giải pháp bù đắp cho tố tụng hình sự, ít nhất là trong những trường hợp tố tụng hình sự sẽ không thể hoặc quá khó khăn và tốn kém để thu hồi tài sản tham nhũng (như người phạm tội bỏ trốn hoặc chết). (Pháp Luật Việt Nam 9/6) đầu trang(
Thanh tra Chính phủ vừa tổ chức họp giao ban công tác tháng 5, nhiệm vụ trọng tâm tháng 6 năm 2017. Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Thanh tra Chính phủ Phan Văn Sáu chủ trì cuộc họp.
Theo báo cáo kết quả công tác tháng 5, về công tác thanh tra, Tổng Thanh tra đã ban hành 4 kết luận thanh tra; 1 quyết định thanh tra; 2 quyết định kiểm tra.
Trụ sở Tiếp công dân Trung ương đã tiếp 1.324 lượt công dân đến trình bày 385 vụ việc, trong đó khiếu nại 240 việc, tố cáo 66 việc, kiến nghị và phản ánh 79 việc; số lượng đơn thư phải xử lý là 1.545 đơn, đã xử lý 836 đơn, hiện còn 709 đơn đang xử lý.
Công tác phòng chống tham nhũng (PCTN) tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về PCTN nhất là thực hiện Luật PCTN và sửa đổi toàn diện Luật PCTN; tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Quy chế nắm tình hình, xử lý các thông tin tố cáo, phản ánh về tham nhũng qua điện thoại, Fax, tin nhắn và hộp thư điện tử của Thanh tra Chính phủ…
Nhìn chung, các đơn vị đã chủ động triển khai theo kế hoạch và chỉ đạo của lãnh đạo Thanh tra Chính phủ; các cuộc thanh tra đảm bảo tiến độ theo kế hoạch được duyệt, tập trung hoàn thiện dự thảo kết luận thanh tra; công tác giám sát, thẩm định, xử lý sau thanh tra tập trung vào báo cáo kết quả kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra; các mặt công tác khác được triển khai đồng bộ, đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những công việc đã làm được, một số việc còn chậm so với yêu cầu, chất lượng, hiệu quả còn hạn chế; một số đơn vị chưa quyết liệt, quan tâm thực hiện nhiệm vụ được giao.
Phát biểu kết luận buổi giao ban, Tổng Thanh tra Chính phủ Phan Văn Sáu nhấn mạnh, trong thời gian qua, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có sự phối hợp tốt giữa Thanh tra Chính phủ, các cơ quan Trung ương với các địa phương nên số lượng đơn thư, số lượng công dân, số đoàn đông người về các cơ quan Trung ương giảm nhiều; công tác xây dựng pháp luật, trong đó có sửa đổi, bổ sung Luật Tố cáo, Luật PCTN được triển khai tích cực.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tới, Tổng Thanh tra Chính phủ Phan Văn Sáu đề nghị các Cục, vụ đơn vị có thể xem xét, đề nghị giảm bớt một số cuộc thanh tra trong kế hoạch; tập trung hoàn thành những kết luận thanh tra, những vụ việc Chính phủ giao còn đang bị chậm; tăng cường công tác quản lý nhà nước; rà soát, tổng hợp các quy chế phối hợp giữa TTCP với các cơ quan khác; tập trung bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh các quy chế, quy định trong nội bộ cơ quan TTCP; tăng cường công tác quản lý cán bộ. (Lao Động Thủ Đô 8/6) đầu trang(
Chánh Thanh tra tỉnh Gia Lai Trần Hữu Đức vừa ký quyết định chuyển hồ sơ vụ sai phạm nghiêm trọng về đất đai và tài chính xảy ra tại Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ (BQL Bắc Biển Hồ) sang Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh để tiếp tục làm rõ những hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân liên quan.
Năm 2011, BQL Bắc Biển Hồ được UBND tỉnh Gia Lai có quyết định giao hơn 9.148ha đất lâm nghiệp trên địa bàn TP Pleiku và huyện Chư Pah để quản lý.
Sau đó, BQL Bắc Biển Hồ lập thủ tục để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng tự ý bỏ ra ngoài 977,5ha đất lâm nghiệp, nên cuối tháng 12/2011, BQL Bắc Biển Hồ được UBND tỉnh cấp GCNQSDĐ chỉ có 8.171ha.
Đến ngày 12/4/2016, lấy lý do đất được UBND tỉnh thu hồi, BQL Bắc Biển Hồ tiếp tục đề nghị chỉnh lý di biến động và Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất tỉnh đồng ý chỉnh lý giảm bớt 177ha; cuối cùng diện tích đất lâm nghiệp chỉ còn lại 7.994ha.
Theo Thanh tra tỉnh, việc đề nghị chỉnh lý đất đai với lý do trên là không phù hợp với thực tế, vì BQL Bắc Biển Hồ sử dụng hồ sơ UBND tỉnh thu hồi đất giai đoạn 2002 - 2009, tức là trước lúc đơn vị được cấp GCNQSDĐ.
Trong quá trình làm việc của đoàn thanh tra, BQL Bắc Biển Hồ báo cáo diện tích đất thực tế hiện nay đơn vị quản lý chỉ còn lại 6.677,5ha. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên hơn 2.000ha, rừng trồng 3.000ha và đất chưa có rừng hơn 1.600ha. Như vậy, so với diện tích được tỉnh giao thì BQL Bắc Biển Hồ đã để “mất” 2.471ha đất và trên thực tế diện tích đất này đã bị lấn chiếm để sản xuất.
Nhằm làm sáng tỏ những uẩn khúc việc thất thoát diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, Thanh tra tỉnh tiến hành kiểm tra thực tế tại Tiểu khu 389 (xã Diên Phú, TP Pleiku), phát hiện 15 cá nhân, trong đó có các cán bộ của BQL Bắc Biển Hồ, từ Giám đốc đến nhân viên "hè nhau" lấn chiếm đất lâm nghiệp để sử dụng cá nhân hơn 84.000m2 và nhiều diện tích còn bị mua, bán; chuyển nhượng làm trang trại; xây dựng nhà ở.
Điển hình là: Năm 2010, ông Tưởng Tín (nguyên Giám đốc BQL Bắc Biển Hồ) ký xác nhận hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ cho bà Mai Thị Ngọc Thỏa (nguyên cán bộ BQL) với diện tích hơn 30.000m2 đất thuộc lâm phần quản lý của Ban. Nhờ vậy, bà Thỏa dễ dàng qua mặt các cơ quan chức năng và được cấp GCNQSDĐ. Sau đó, bà Thỏa chuyển nhượng lại cho ông Đặng Xuân Thu (Phó Giám đốc BQL Bắc Biển Hồ lúc bấy giờ) 11.000m2 đất, ông Đặng Văn Cườm, Kế toán BQL 4.200m2đất.
Cũng trong năm 2010, ông Nguyễn Đức, Giám đốc BQL Bắc Biển Hồ được Nhà nước cấp GCNQSDĐ 16.700m2, nhưng diện tích này thuộc đất lâm nghiệp được giao cho BQL Bắc Biển Hồ.
Theo ông Đức trình bày, đất này do ông nhận chuyển nhượng của người khác nhưng hồ sơ không thể hiện ngày, tháng; không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền... Điều vô lý là, với cương vị đứng đầu như ông Đức mà ông không biết đây là đất của Nhà nước giao cho mình quản lý hay sao?
Chưa hết, ông Đức, ông Thu và ông Cườm còn tự lấn chiếm hơn 15.000m2 đất và 12 cá nhân trong Ban lấn chiếm, sử dụng 11.300m2 đất lâm nghiệp của Ban, trong đó có 9 người đã được cấp GCNQSDĐ.
Ngoài ra, kiểm tra thực trạng diện tích trồng rừng, Thanh tra tỉnh cũng phát hiện hơn 278ha rừng trồng bị “biến mất”, do người dân lấn chiếm đất để sản xuất.
Trong giai đoạn năm 2012 - 2016, BQL Bắc Biển Hồ tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách, nguồn hỗ trợ thực hiện công tác phối hợp quản lý, bảo vệ rừng; nguồn dịch vụ môi trường rừng và kinh phí trồng lại rừng thay thế; với số tiền hơn 25 tỷ đồng và đã quyết toán với cơ quan quản lý hơn 20 tỷ đồng.
BQL Bắc Biển Hồ không làm thủ tục nhập quỹ hơn 3,6 tỷ đồng, trong đó chứng minh chi có chứng từ là 2,4 tỷ đồng, còn lại 1,2 tỷ đồng không biết còn tồn quỹ hay đã “bốc hơi”.
Năm 2016, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với BQL Bắc Biển Hồ thực hiện xây dựng hiện trường diễn tập chữa cháy, cung cấp hàng hóa và dịch vụ liên quan đến công tác phòng, chống cháy rừng với số tiền 123 triệu đồng.
Ngày 3/1/2017, lãnh đạo BQL Bắc Biển Hồ lập phiếu chi số tiền trên cho ông Võ Thành Phước (cán bộ của Ban). Song, khi Thanh tra tỉnh yêu cầu xác thực thì ông Phước cho biết, chỉ ký vào phiếu chi để hợp thức hóa chứng từ chứ thực tế không hề nhận tiền. Số tiền này do ông Nguyễn Công Duyên (Phòng Quản lý, Bảo vệ rừng và Bảo tồn Thiên nhiên của Chi cục Kiểm lâm tỉnh) trực tiếp nhận.
Ông Duyên thừa nhận có nhận tiền và đưa lại cho ông Phước, ông Nguyễn Gia Triều (BQL Bắc Biển Hồ) 10 triệu đồng. Còn lại 113 triệu đồng giao cho bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng phòng Quản lý, Bảo vệ rừng và Bảo tồn Thiên nhiên. Bà Hương trình bày là do ông Nguyễn Đức mượn tiền cá nhân của bà để thực hiện hợp đồng nên ông Đức lấy khoản tiền này trả lại cho bà. Còn ông Đức “một, hai” phủ nhận lời bà Hương và khẳng định mình không hề nhận bất cứ khoản tiền nào.
Trong những năm 2011 - 2016, BQL Bắc Biển Hồ đã cho các cá nhân tạm ứng tiền công tác là 1,4 tỷ đồng, nhưng sổ kế toán chỉ ghi nhận nợ hơn 250 triệu đồng; còn lại hơn 1,1 tỷ đồng không thể hiện việc đã hoàn ứng cũng như không còn ghi nhận nợ. Kế toán Đặng Văn Cườm nhận hơn 15 triệu đồng của Hội đồng Bồi thường – Hỗ trợ và tái định cư của huyện Chư Pah, nhưng bỏ ngoài sổ sách để chiếm dụng…
Tổng số tiền mà Thanh tra tỉnh xác định có dấu hiệu chiếm đoạt, tham nhũng tại BQL Bắc Biển Hồ là hơn 1,2 tỷ đồng. (Thanh Tra 9/6) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho thấy, năm 2016, tổng số hồ sơ hành chính được xử lý tại bộ phận đăng ký kinh doanh tăng 81% so với năm 2015. Học theo Bác, “Bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm”, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã thực hiện nhiều biện pháp, tạo bước đột phá trong cải cách hành chính. Góp phần vào sự thay đổi đó, Phòng Đăng ký kinh doanh đóng vai trò quan trọng...
Là địa bàn thu hút nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội phải thực hiện một lượng lớn thủ tục hành chính. Thống kê cho thấy, những năm gần đây, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên địa bàn Thủ đô tăng cao kỷ lục. Tính riêng 4 tháng đầu năm 2017, cơ quan đăng ký kinh doanh TP Hà Nội đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 8.094 doanh nghiệp thành lập mới. Năm 2016, tổng số hồ sơ hành chính được xử lý là 128.740 lượt, tăng 81% so với năm 2015, chiếm gần 19% cả nước.
Để giải quyết khối lượng công việc đồ sộ ấy, Phòng đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội đã có cách làm riêng với phương châm làm theo Bác. Theo đó, Chi bộ Phòng đăng ký kinh doanh đã xây dựng kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Những cuộc sinh hoạt của chi bộ đều hướng tới chủ đề: Trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân. Việc học tập, làm theo gương Bác đã được vận dụng vào những công việc hằng ngày của cơ quan và mỗi cá nhân.
Bà Phạm Thị Kim Tuyến, Bí thư Chi bộ, Trưởng phòng Đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cho biết, khối lượng hồ sơ một cán bộ đăng ký kinh doanh xử lý trung bình của cả nước năm 2016 là 1.311 thì tại Hà Nội, con số này là 2.259 hồ sơ. Với lượng hồ sơ lớn như vậy, áp lực thời gian và hiệu quả giải quyết hồ sơ luôn là thách thức lớn với mỗi công chức. Song cán bộ, công chức Phòng đăng ký kinh doanh đã rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, tiết kiệm tối đa chi phí, góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp.
Từ ngày 1-1-2015, phòng đã đề xuất rút ngắn thời gian thành lập mới doanh nghiệp từ 5 ngày xuống còn 3 ngày làm việc. Đặc biệt, từ cuối năm 2016, công tác đăng ký doanh nghiệp qua mạng internet đã trở thành điểm nhấn trong cải cách thủ tục hành chính.
Phòng đăng ký kinh doanh đã tham mưu với Sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND thành phố triển khai nhiều giải pháp, đặc biệt là nội dung nâng cao tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng, đưa tỷ lệ này vào quý IV năm 2016 đạt 20,91%. Kết quả này đã giúp Hà Nội đạt tỷ lệ hồ sơ đăng ký qua mạng vượt chỉ tiêu tại Nghị quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử: “Trước ngày 1-10-2016, tỷ lệ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử của TP Hà Nội đạt 10-15%”.
Để việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thiết thực, hiệu quả trong bối cảnh lượng hồ sơ đăng ký kinh doanh trên địa bàn Hà Nội tăng mạnh qua mỗi năm, nhiều biện pháp phù hợp đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện. Bà Phạm Thị Kim Tuyến cho biết: Tập thể Chi bộ Phòng đăng ký kinh doanh đã thống nhất đề cao vai trò nêu gương của cấp ủy chi bộ, tinh thần xung kích của Đoàn thanh niên, qua đó giúp việc rút gọn thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh thành công ngay những ngày đầu áp dụng.
Đến nay, Phòng đăng ký kinh doanh đã gây dựng được hình ảnh công sở thân thiện, hiện đại, giải quyết thủ tục theo hướng minh bạch, rõ ràng và được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận. Những kết quả này đã bước đầu cải tiến lề lối làm việc. Đây cũng là bước đột phá về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký thành lập mới doanh nghiệp tại Hà Nội.
Theo Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan TP Hà Nội Lê Thị Thu Hằng, để triển khai có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TƯ, góp phần xây dựng Đảng bộ Khối vững mạnh, cần chú trọng xây dựng phong cách, chỉnh đốn tác phong cán bộ, khắc phục bệnh thành tích, hình thức, phô trương. Mục tiêu hướng tới là xây dựng hình ảnh người cán bộ, đảng viên gần dân, sát dân, lắng nghe, đối thoại với nhân dân.
Từ những kết quả ban đầu, Phòng đăng ký kinh doanh sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để việc học tập, làm theo gương Bác ngày càng thiết thực. Bên cạnh việc tăng cường tính phục vụ, thân thiện của đội ngũ cán bộ, công chức, nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu, phòng sẽ phối hợp với đội ngũ các công ty tư vấn rà soát, đánh giá hoạt động đăng ký kinh doanh. Từ kết quả này, phòng sẽ nghiên cứu, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đăng ký kinh doanh.
Theo bà Phạm Thị Kim Tuyến, Chi bộ Phòng đăng ký kinh doanh xác định, việc học tập và làm theo gương Bác phải bắt đầu từ nhận thức của mỗi cán bộ, công chức. Mỗi cá nhân cần làm tốt công việc của mình, không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kịp thời những kiến thức mới, cách làm việc mới. Bên cạnh đó, cần nỗ lực cải tiến phương pháp làm việc theo kế hoạch rõ ràng để hoàn thành công việc nhanh, chính xác, đúng quy định. Khi đó, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sẽ khai thác được tối đa thế mạnh của đội ngũ cán bộ, công chức, thực sự trở thành động lực tạo sự chuyển biến mạnh trong công việc. (Hànộimới 8/6) đầu trang(
Thời gian qua, Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu về ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính và cùng với đó là mạnh tay cắt giảm các thủ tục hành chính đang gây phiền hà cho dân.
Đây là tín hiệu rất đáng mừng, tạo đà cho những bước tiến tiếp theo trong nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công và chất lượng dịch vụ công.
Vẫn biết để đạt mục tiêu nền hành chính hiện đại, TP còn rất nhiều việc phải làm, khi giữa quyết tâm và thực hiện được còn có khoảng cách cần lấp đầy như sự chuyển động của đội ngũ cán bộ, nhân viên. Và năm 2017 Hà Nội chọn là Năm kỷ cương hành chính cũng là để siết chặt kỷ luật, nâng cao hiệu quả nền công vụ, biết lấy yếu tố hài lòng, lo lắng cho người dân và DN là thước đo.
Đến nay, các sở, ngành đã rà soát lại quy trình, thủ tục hành chính (TTHC); Chủ tịch UBND TP đã bãi bỏ nhiều TTHC không cần thiết, giảm đáng kể thời gian thực hiện. Việc triển khai tốt hệ thống dịch vụ công mức độ 3 cấp phường, xã không chỉ giúp người dân, DN thuận lợi trong thực hiện TTHC, mà còn nâng cao khả năng quản lý, điều hành nhanh chóng, khoa học cho chính quyền cơ sở.
Các nhóm lĩnh vực được đơn giản hóa TTHC mạnh mẽ là đầu tư, đất đai, xây dựng, GTVT, du lịch, văn hóa, công nghiệp, tiêu dùng, TT&TT. Ngoài các TTHC được thực hiện qua môi trường mạng, Hà Nội đã cắt giảm thời gian hồ sơ hơn 100 TTHC, có những thủ tục thời gian thực hiện giảm đến “không ngờ” như trong lĩnh vực đất đai, môi trường, giảm tới trên dưới 50%. Đặc biệt, có thủ tục giảm tới hơn 80% thời gian so với trước đây (tương đương với số ngày thực là khoảng 20 ngày)...
Tại đơn vị mà DN hay “va chạm” nhất là Sở KH&ĐT, thời gian giải quyết TTHC về đầu tư cũng giảm 40%… Chỉ đơn cử 1 việc, đó là trước đây, khi gia đình nào có người mất, để nhận tiền hỗ trợ hỏa táng, gia đình có người mất phải đến phường khai tử, sau đó làm các thủ tục liên quan rồi mới về phường để nhận tiền hỗ trợ, nay chỉ phải ra phường khai tử, rồi nhận tiền hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở hỏa táng. Một việc tưởng như rất nhỏ ấy cũng đã thể hiện rất rõ quan điểm của lãnh đạo TP trong CCHC, đó là rút ngắn TTHC phải đi vào từng việc cụ thể.
Năm 2016, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Hà Nội tăng 10 bậc, xếp thứ 14 trong số 63 tỉnh, TP, đạt thứ hạng cao nhất từ trước đến nay. Đây cũng là năm thứ tư liên tiếp chỉ số PCI của TP tăng hạng và cũng là năm đầu tiên Hà Nội bước vào nhóm địa phương có chất lượng điều hành tốt… Chỉ số CCHC năm 2016 của Hà Nội cũng xếp thứ ba, tăng 6 bậc so với năm 2015.
Nhiều ý kiến đồng tình rằng việc siết chặt kỷ cương, kiện toàn bộ máy sẽ giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ công chức trên tinh thần "lấy sự hài lòng của người dân và DN là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc". Với sự chuyển biến tích cực đó, mục tiêu chuyển từ nền hành chính "xin - cho" sang nền hành chính phục vụ của Hà Nội sẽ sớm được hiện thực hóa. (Kinh Tế Và Đô Thị 8/6) đầu trang(
KINH TẾ
Hà Nội đặt chỉ tiêu năm 2017 tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa là 11,1 tỷ USD, tăng 4,5% so với năm 2016. Để hoàn thành chỉ tiêu này, TP Hà Nội đã đề ra nhiều giải pháp tháo gỡ vướng mắc cũng như hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp.
Theo báo cáo mới nhất, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội trong tháng 5 ước đạt 1,088 tỷ USD tăng 1,1% so tháng trước và tăng 13,7% so cùng kỳ. Trong tháng 5, một số nhóm hàng xuất khẩu tăng khá so cùng kỳ là điện tử tăng 139,4%; linh kiện máy tính và thiết bị ngoại vi tăng 39,9%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 74,9%. Lũy kế năm tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,73 tỷ USD, tăng 12,2% so cùng kỳ, trong đó xuất khẩu địa phương ước đạt 3.924 triệu USD tăng 14,3%.
Tuy nhiên, theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, tình hình xuất khẩu từ nay đến cuối năm vẫn có những khó khăn nhất định. Để xuất khẩu đạt mức 11,1 tỷ USD như chỉ tiêu Hà Nội đặt ra là điều không dễ dàng.
Bởi ngoài tác động từ tình hình thế giới, sự cạnh tranh quyết liệt, việc gia nhập các hiệp định thương mại buộc phải xóa bỏ độc quyền, mở cửa thị trường trong nước; ngoài nhóm hàng đóng góp nhiều nhất vào tăng kim ngạch xuất khẩu năm tháng là hàng điện tử, linh kiện máy tính, thiết bị ngoại vi, phương tiện vận tải… thì một số nhóm hàng xuất khẩu giảm so cùng kỳ như nông sản giảm 12,7%, dệt may giảm 2,2%, giày dép các loại giảm 2,1%, thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh giảm 0,8%.
Đáng lưu ý, hiện nay vẫn còn một bộ phận doanh nghiệp có nguồn nhân công chưa được đào tạo bài bản, hoặc thiếu lao động có tay nghề cao... dẫn đến năng suất thấp so với các nước trong khu vực. Các mặt hàng nông sản chưa xây dựng được thương hiệu riêng để có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Doãn Toản cho biết, Hà Nội xác định, trong năm 2017, xuất khẩu phải tăng cùng với khu vực sản xuất công nghiệp tăng, doanh thu dịch vụ, du lịch tăng để góp phần thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế phát triển. Do đó, Hà Nội sẽ tiếp tục đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, nguồn vốn, công nghệ chất lượng cao qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Tháng 4-2017, thành phố đã ban hành Kế hoạch số 89/KH-UBND về thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, tập trung vào 10 giải pháp. Trong đó, bốn nội dung cần chú trọng là, thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, chú trọng vào lĩnh vực hải quan, thuế, thủ tục cấp giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, chứng nhận xuất xứ hàng hóa, giải quyết các thủ tục đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu; ứng dụng rộng rãi hơn việc thực hiện các thủ tục hành chính qua in-tơ-nét, tạo thuận lợi và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Thứ hai, xây dựng cơ chế chính sách đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu, hoàn thành Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp, đề án phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực, đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ, kế hoạch phát triển thương mại điện tử, đề án quản lý và phát triển hoạt động logistics trên địa bàn thành phố đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Thứ ba, đổi mới, nâng cao hiệu quả chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư nhằm đẩy mạnh quảng bá thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp, hỗ trợ xuất khẩu, theo hướng: xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch năm 2017, định hướng đến năm 2020 theo hướng chiến lược, nâng tầm nhìn, dự đoán thị trường, chú trọng đến công tác xúc tiến tại nước ngoài. Thứ tư, các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo dựng thương hiệu sản phẩm hàng hóa…, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. (Nhân Dân 8/6) đầu trang(
Mới đây có thông tin, Tổng cục thuế sẽ tiến hành triển khai đề ánHóa đơn điện tử (HĐĐT) để nắm bắt khối lượng bán hàng của các siêu thị. Đây cũng là ý kiến của chuyên gia kinh tế thương mại Vũ Vinh Phú trong nỗ lực yêu cầu minh bạch thuế của các siêu thị, nhằm tránh thất thoát thuế của nhà nước.
Ông Phú cũng cho biết, ở một số nước láng giềng Việt Nam, việc siêu thị bán một cái bút là lập tức thông tin đó “chạy” về cơ quan thuế, còn ở nước ta vẫn đứng yên trong phần mềm bán hàng của siêu thị. Cả ngày bán hàng hóa bao nhiêu cũng chỉ kế toán siêu thị biết. Trong khi các nước quản lý doanh thu bán hàng bằng kỹ thuật, công khai, còn ở Việt Nam có khi bán 5 sản phẩm chỉ nộp thuế 1 sản phẩm.
Thực tế, trong những ngày quan sát thị trường bán lẻ ở vài siêu thị lớn ở thủ đô đủ để chúng tôi nhận thấy, số lượng hàng hóa bán lẻ của các siêu thị là một con số khổng lồ. Những thống kê về tổng mức bán lẻ hàng hóa được công bố gần đây, như tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2015 là hơn 3,1 triệu tỷ đồng; năm 2016 đạt hơn 3,5 triệu tỷ đồng mới chỉ là con số do các DN siêu thị tự kê khai. “Con số thật của tổng mức bán lẻ hàng hóa này chắc hẳn phải lớn hơn rất nhiều” - chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú khẳng định.
Vị chuyên gia này cũngbày tỏ, thị trường quốc tế được biết đến như một thị trường minh bạch với các khoản thuế công khai từ cách đây khoảng 20 năm. Cụ thể, từ những năm 80, đất nước Nga, đất nước Hàn Quốc đã công khai minh bạch thuế ở thị trường bán lẻ từng đồng một. Theo ông Phú, hầu hết các siêu thị đều có máy tính kết nối về sở thuế, bán được mặt hàng nào là sở thuế nắm được và cộng tiền thuế ngay.
Với kinh nghiệm của một chuyên gia lăn lộn trong thị trường bán lẻ từ thập niên 90 của thế kỷ trước, ông Phú kể lại, nhân viên IT của ông đã từng hỏi ông về việc “giảm doanh số bán hàng lúc cuối ngày” để bớt thu nhập chịu thuế nhưng bị ông từ chối thẳng thừng. Do đó, theo ông, việc kết nối máy tính từ các siêu thị đến các phòng thuế, chi cục thuế là việc cần phải làm ngay để tránh thất thu lượng thuế quá lớn từ các hệ thống bán lẻ này.
Hiện cả nước có 700 siêu thị, trong đó có khoảng 100 siêu thị FDI nhưng số lượng hàng hóa bán ra tại một điểm của siêu thị FDI gấp đến 7-8 lần các siêu thị nội, do các siêu thị này có nhiều lợi thế cạnh tranh, giá lại rẻ hơn nhiều so với giá của siêu thị nội. “Việc kết nối phần mềm máy tính với các siêu thị trước hết tránh việc các ông chủ nước ngoài làm ăn lớn, lãi nhiều nhưng liên tục báo lỗ, khiến ngân sách nhà nước thất thoát một khoản thuế quá lớn” - ông Phú bày tỏ.
Hiện nay, doanh thu nộp ngân sách của các trung tâm thương mại, tổ chức và các cá thể kinh doanh tại các địa phương hầu hết vẫn trong “vòng bí mật”, chưa được các địa phương công khai. “Điều này dẫn tới những siêu thị nghiêm túc sẽ bị thiệt thòi, trong khi những đơn vị nào trốn thuế chắc chắn sẽ có lợi nhuận kếch sù một cách bất hợp pháp” - ông Vũ Vinh Phú đặt vấn đề.
Theo một chuyên viên tài chính kế toán, việc người tiêu dùng không yêu cầu xuất hóa đơn sẽ dẫn đến 2 hệ lụy: nhà nước bị ăn chặn thuế VAT (do các siêu thị thu hộ và buộc phải nộp về cho nhà nước) và khoản thu thuế từ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) sẽ bị giảm đáng kể. Vị chuyên viên này cho biết, theo luật, tất cả các hóa đơn bán lẻ mà người tiêu dùng không xuất hóa đơn VAT thì cuối ngày siêu thị cũng sẽ phải xuất VAT để phù hợp với khối lượng mua đầu vào.
Vì “Nếu họ không xuất hóa đơn VAT thì hàng hóa của họ sẽ chất đầy trong kho, không thể tiếp tục nhập hàng hoặc họ sẽ phải nghĩ ra một kế sách nào đấy để tiêu hủy lượng hàng tồn kho do không có hóa đơn VAT bán ra”. Tuy nhiên, bất cấp chính là ở chỗ, do không bị kiểm soát nên hệ thống sổ sách kế toán siêu thị sẽ… làm lại để làm sao lãi ít thôi; để làm sao số lượng tiền nhập vào và số lượng tiền bán ra không chênh lệch nhau nhiều, để công ty không phải nộp thuế TNDN.
Theo quy định,TNDN được tính dựa trên doanh thu bán ra trừ đi các chi phí đầu vào. Nếu doanh thu bán ra gần bằng hoặc lớn hơn không đáng kể so với chi phí đầu vào thì số tiền thuế TNDN sẽ phải đóng không đáng kể. Vấn đề kiểm soát TNDN đã được xem xét đề cập từ khoảng 10 năm nay nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa có cách nào để kiểm soát, ngoại trừ trông chờ vào sự công bố của các DN.
Trước những phân tích này, có thể thấy, trước mắt, muốn kiểm soát được lượng hàng hóa bán ra trong các hệ thống bán lẻ thì cần phải có kết nối phần mềm bán hàng giữa các siêu thị và cục thuế để kiểm soát doanh thu” - ông Phú khẳng định.
Và có vẻ như việc giám sát hệ thống bán lẻ sắp được thực thi khi đại diện Tổng cục Thuế cho biết, theo lộ trình triển khai đề án HĐĐT đã được Bộ Tài chính phê duyệt thì trong thời gian tới sẽ thực hiện kết nối trực tiếp phần mềm bán hàng của các cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế.
Theo đề án này, trong giai đoạn 1 (2017-2018), trên cơ sở kết quả triển khai thí điểm đối với 200 DN tại TP Hà Nội và TP.HCM, sẽ tiếp tục mở rộng thí điểm tại hai địa bàn này và 8 tỉnh thành phố khác, với số lượng dự kiến khoảng 12.000 DN.
Giai đoạn 2 (từ năm 2018-2020), Tổng cục Thuế sẽ triển khai mở rộng toàn bộ người nộp thuế bao gồm các DN và cá nhân kinh doanh theo hướng thu thập dữ liệu HĐĐT của các DN tự triển khai HĐĐT, thu nhập dữ liệu từ máy tính tiền, phần mềm bán hàng của nhà hàng, siêu thị, khách sạn... (Pháp Luật Việt Nam 9/6) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Đổi mới phương thức, tác phong công tác, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chủ động, có tầm nhìn trong xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ là những nhân tố nền tảng, để xây dựng thành phố Thái Nguyên đạt mục tiêu, tính chất là một cực phát triển của Thủ đô Hà Nội, đầu tàu của trung du và miền núi Bắc Bộ, theo quy hoạch của Chính phủ đến năm 2035.
Trong Nghị quyết về xây dựng và phát triển thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020, Tỉnh ủy Thái Nguyên đặt mục tiêu: Tiếp tục đổi mới toàn diện phát huy sức mạnh và huy động mọi nguồn lực xây dựng thành phố phát triển nhanh, bền vững, từng bước văn minh hiện đại; theo đó, thành phố đồng loạt triển khai nhiều dự án phát triển hệ thống hạ tầng tương đối đồng bộ, hiện đại của đô thị phát triển của vùng trung du miền núi Bắc Bộ.
Thành phố Thái Nguyên hiện có 19 phường và 8 xã với hơn 330 nghìn dân. Xã Đồng Bẩm mang nét đặc trưng tổng hợp của nhiều xã, phường, giàu tiềm năng, lợi thế phát triển dịch vụ thương mại, giao lưu văn hóa khu vực. Đồng chí Nguyễn Văn Khang, Bí thư Đảng ủy xã chia sẻ: "Cũng như nhiều địa phương, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đô thị hóa, Đồng Bẩm cũng đứng trước nhiều vấn đề cần giải quyết như: quản lý công nghiệp; thương mại và dịch vụ; quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc; quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ môi trường…".
Trao đổi với chúng tôi về những vấn đề thực tế đặt ra ở trên, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Vũ Hồng Bắc cho biết, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo giải pháp của tỉnh và thành phố hướng mạnh vào nhiệm vụ phát huy vai trò của tổ chức Đảng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo môi trường huy động sức mạnh của cộng đồng trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cũng như giải quyết những thách thức trong quá trình phát triển.
Phương châm “công tác cán bộ phải đi trước”, trở thành khâu đột phá được Thành ủy Thái Nguyên lãnh đạo, triển khai đồng bộ. Ban Thường vụ Thành ủy có Đề án quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và luân chuyển cán bộ. Thành phố tập trung đầu tư giải pháp, kinh phí xây dựng nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý; tập trung xây dựng kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở, tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ có trình độ học vấn cao. Công tác quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ 2015-2020 của thành phố được thực hiện khoa học, nghiêm túc, bảo đảm tạo nguồn cán bộ kế cận liên tục... Theo đó, quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2015-2020 gồm 75 đồng chí, tuổi bình quân trẻ hơn nhiệm kỳ trước ba tuổi, học vấn cao hơn.
Triển khai các giải pháp đồng bộ, thành phố đã trẻ hóa được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phường, xã với mặt bằng trình độ chuyên môn và lý luận chính trị cao hơn nhiệm kỳ trước. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của cấp ủy, chính quyền được cụ thể hóa ở từng cơ quan đơn vị, trong từng lĩnh vực công tác, bảo đảm đội ngũ "công bộc" của thành phố đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ.
Tại các phường như Phan Đình Phùng, Hoàng Văn Thụ, cán bộ lãnh đạo, quản lý trong độ tuổi từ 30 đến 45 chiếm 50%. Gắn liền với đó, cấp ủy các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo dồn sức, nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương, năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.
Đây là nhân tố nền tảng, phục vụ đổi mới phương pháp, tác phong lãnh đạo, tạo nguồn sinh lực bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu của thành phố giai đoạn 2016-2020. Ngay năm 2016, thành phố đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đạt và vượt mức các kế hoạch, nhiệm vụ đề ra trong năm. Giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt hơn 15 nghìn tỷ đồng, tăng 18%; giá trị sản xuất ngành công nghiệp, xây dựng đạt hơn 38.900 tỷ đồng, tăng hơn 15%; tất cả tám xã của thành phố đạt chuẩn nông thôn mới...
Được biết, triển khai thực hiện Nghị quyết (số 03) của Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển thành phố Thái Nguyên, Đảng bộ thành phố đã và đang triển khai bảy đề án về phát triển kinh tế - xã hội; năm đề án về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị giai đoạn 2016-2020. "Các chương trình, đề án hướng mạnh vào mục tiêu bảo đảm, huy động mọi nguồn lực xây dựng thành phố phát triển nhanh và bền vững, từng bước văn minh, hiện đại" - đồng chí Lê Quang Tiến, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố cho biết.
Bên cạnh đó, thành phố đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng bền vững, hàng loạt dự án, công trình trọng điểm được khởi công, phục vụ quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia hồ Núi Cốc; cùng các hạng mục đầu tư dự án Chương trình đô thị miền núi phía bắc - thành phố Thái Nguyên; đề án xây dựng cấp bách hệ thống chống lũ lụt sông Cầu kết hợp hoàn thiện hạ tầng đô thị hai bên bờ sông Cầu...
Địa bàn thành phố trở thành đại công trường, với những công trình phát triển cơ sở hạ tầng, tác động đến đời sống mưu sinh và quyền lợi kinh tế của hàng trăm nghìn hộ dân. Giai đoạn này, nếu cấp ủy, chính quyền các cấp buông lỏng kỷ cương, xa dân dễ “cái sảy nảy cái ung”, gia tăng những bức xúc, làm mất ổn định trật tự xã hội. Vì vậy, việc triển khai, hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên địa bàn phải bảo đảm đúng pháp luật, dân chủ, kỷ cương, lấy dân là gốc.
Quy chế của Thành ủy về trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu gắn liền hiệu quả công tác của cơ quan, đơn vị được vận hành khoa học, đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị. Chế độ công tác nắm tình hình cơ sở, đối thoại giải quyết vấn đề từ cơ sở được duy trì nghiêm. Một năm qua, lãnh đạo thành phố tổ chức hàng trăm cuộc đối thoại với nhân dân và doanh nghiệp. Gắn liền với đó nhiều vấn đề về chính sách đất đai, giải phóng mặt bằng, huy động sức dân xây dựng các công trình phúc lợi xã hội được tham mưu, giải quyết kịp thời. Tám xã của thành phố đã huy động được 430 tỷ đồng nguồn vốn xã hội để xây dựng nông thôn mới.
Để tăng cường kỷ cương công vụ, thành phố thành lập các đoàn kiểm tra cải cách thủ tục hành chính ở cấp xã; đẩy mạnh chương trình “chính quyền điện tử”; tổ chức ký cam kết “Chủ tịch UBND phường, xã trong công tác quản lý tài nguyên”… Chủ tịch Hội Doanh nghiệp TP Thái Nguyên Phạm Văn Quang cho biết: Định kỳ hằng năm, lãnh đạo thành phố tổ chức đối thoại với đại diện các doanh nghiệp. Từ diễn đàn này, các đại biểu được cung cấp thông tin, nêu kiến nghị, xác định giải pháp, tạo tiếng nói chung cho các mục tiêu phát triển của thành phố và cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tình hình, nhiệm vụ thực tế đang đặt ra yêu cầu đối với cấp ủy, chính quyền thành phố Thái Nguyên trong lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững. Đồng thời, tiếp tục cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức “đủ tâm và tầm”, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội phát sinh… đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. (Nhân Dân 9/6) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh vừa “kiểm đếm” được hơn 70.000 tài khoản Facebook có hoạt động kinh doanh cần phải thu thuế. Theo quy định của pháp luật, mọi hình thức kinh doanh đều phải nộp thuế nên việc các cá nhân, tổ chức bán hàng online trên mạng Facebook cũng không ngoại lệ.
Song, vấn đề ở chỗ làm sao để kiểm soát được chủ tài khoản Facebook đó kinh doanh ở mức độ nào, những mặt hàng gì, nguồn vốn và doanh thu bao nhiêu để mà tính thuế?
Một trong những nguyên tắc quan trọng của việc thu thuế là phải nắm được dòng tiền, nghĩa là phải kiểm soát được các cá nhân, tổ chức đầu tư bao nhiêu vốn, kinh doanh mặt hàng gì và doanh thu như thế nào.
Song, với những người kinh doanh trên mạng xã hội thì các cơ quan chức năng khó mà kiểm soát được những yếu tố mang tính then chốt nêu trên.
Quy định về thuế rất chặt chẽ nên việc cơ quan thuế không nắm được các thông số đó sẽ là một trở ngại lớn (nếu không muốn nói là không có căn cứ) trong việc áp dụng thu thuế đối với các cá nhân, tổ chức đang thực hiện việc kinh doanh.
Đơn cử, một công chức ở một cơ quan nhà nước làm thêm bằng hình thức bán quần áo hàng hiệu online qua mạng xã hội Facebook, thì cơ quan thuế sẽ dùng cơ chế gì để có thể “cân, đo, đong, đếm” xem người này đã bán bao nhiêu bộ quần áo trong 1 ngày, 1 tháng, 1 năm..., tổng doanh thu là bao nhiêu, lãi ngần nào?
Và khi đã không nắm được thông tin quan trọng đó thì cơ quan thuế sẽ lấy căn cứ nào để tính mức thuế mà người kinh doanh nói trên phải nộp, không lẽ thu thuế “áng chừng”?
Pháp luật chính là chiếc “cân” công lý” nên mọi thứ đều phải rõ ràng, minh bạch và chi tiết, dù là nhỏ nhất. Theo đó, nếu cơ quan thuế “áng chừng” mức thuế sẽ khiến người kinh doanh bất phục, dẫn đến bất tuân và nhờn luật.
Còn nữa, có nhiều cửa hàng song song với việc kinh doanh tại chỗ cũng vẫn có tài khoản Facebook vừa để quảng cáo thương hiệu, nhưng cũng vừa để bán hàng online thì sẽ thu thuế kiểu gì?
Nếu vẫn thu thuế theo kiểu “anh có tài khoản Facebook bán hàng thì phải nộp thuế” thì chủ cửa hàng sẽ “kháng cự” rằng anh ta đã nộp thuế tại cửa hàng cố định rồi, không thể bắt anh ta nộp thuế 2 lần được.
Song, xét theo một góc độ nào đó thì tài khoản Facebook của anh ta lại chính là cửa hàng thứ 2 (bởi không chỉ có quảng cáo mà còn là bán hàng online) nên anh ta buộc phải nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Vẫn biết theo lý là vậy, nhưng hiện hành lang pháp lý còn thiếu và chưa rõ ràng trong việc kiểm soát bán hàng online qua mạng xã hội nên cũng thật khó cho các cơ quan thuế đi tiên phong trong lĩnh vực này.
Trở lại ví dụ trên, trong khi cơ quan chức năng khẳng định chủ cửa hàng cố định có bán hàng online qua mạng xã hội và yêu cầu nộp thuế, song người kinh doanh cứ một mực phủ nhận rằng anh ta chỉ quảng cáo sản phẩm và thương hiệu thôi chứ tuyệt nhiên không hề bán hàng online cho khách, thì có lẽ cơ quan thuế cũng đành chịu bất lực mà không thể làm gì được.
Vì sao? Đơn giản là khi khách hàng gọi điện, “inbox” đặt hàng và chủ cửa hàng mang đến tận nơi rồi thu tiền thì chỉ có Trời biết, đất biết chứ cơ quan thuế làm sao để biết?
Cũng có một vài ý kiến cho rằng, để kiểm soát thu nhập của người bán hàng online qua mạng xã hội cũng không có gì khó, chỉ cần “hợp tác” và đề nghị các nhà mạng cung cấp thông tin tin nhắn, đề nghị các trang mạng xã hội cung cấp thông tin trong “inbox” của chủ tài khoản Facebook là có thể định lượng được doanh thu và thu nhập thực tế.
Xin thưa ngay rằng, chớ có vội vàng mà làm điều đó, bởi nếu sử dụng phương pháp này sẽ không chỉ là vi hiến vì xâm phạm đời tư cá nhân được Hiến pháp bảo hộ, mà còn trái với thông lệ quốc tế gây dư luận không tốt trong xã hội và ảnh hưởng xấu tới hình ảnh đất nước trên trường quốc tế.
Đó là còn chưa kể các trang mạng xã hội cũng chưa chắc đã cung cấp thông tin cá nhân của chủ tài khoản cho cơ quan thuế.
Ngay cả khi bằng cách nào đó, cơ quan thuế nắm rõ được thông tin về doanh thu, thu nhập của chủ tài khoản Facebook thì cũng chưa chắc đã thu được thuế.
Cứ tạm cho rằng các cửa hàng, doanh nghiệp lớn bán hàng online qua mạng xã hội có thể dễ dàng “ốp” thuế vì họ “có tóc” dễ nắm. Song, các cá nhân làm thêm bằng hình thức bán hàng online thì cơ quan thuế sẽ “cưỡng chế” kiểu gì đây?
Lẽ nào khi cơ quan thuế gửi biên lai thuế đến, những người bán hàng online lại không chối bay, chối biến rằng họ không bán hàng mà những thông tin trên Facebook chỉ là đưa chơi chứ không có mục đích kinh doanh. Đó là còn chưa kể trên không gian ảo đó thì tên, tuổi, địa chỉ... chưa chắc đã là thật, làm sao để chế tài?
Đưa ra những phân tích trên không phải để “bàn lùi” việc Cục Thuế TP.HCM chủ động đặt vấn đề thu thuế của các chủ tài khoản Facebook bán hàng online.
Dư luận hoàn toàn đồng tình, ủng hộ chủ trương thu thuế đối với cá nhân, tổ chức bán hàng online qua mạng xã hội, để đảm bảo sự bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, sự công bằng cho tất cả những người kinh doanh.
Song, cần tính toán kỹ lưỡng, có kế hoạch chi tiết để đảm bảo sự thành công khi triển khai trong thực tế, đặc biệt là cần phải có hành lang pháp lý vững chắc để có căn cứ thực hiện. Nếu không, chủ trương cũng vẫn chỉ là chủ trương, khiến người ta coi thường quy định của pháp luật. (Đại Đoàn Kết 8/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Ai Cập đang đề nghị Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc điều tra cáo buộc Qatar đã trao 1 tỷ USD tiền chuộc cho những kẻ khủng bố, hành động được cho là vi phạm lệnh trừng phạt của LHQ.
AP đưa tin Ai Cập đang đề nghị Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc (HĐBA LHQ) điều tra các báo cáo về việc Qatar "đã trả 1 tỷ USD cho một nhóm khủng bố hoạt động ở Iraq" để giải cứu 26 con tin, trong đó có các thành viên của hoàng gia.
Tại cuộc họp của HĐBA hôm 6/9, Phó Đại sứ Ai Cập tại LHQ Ihab Moustafa khẳng định toàn bộ 193 thành viên của LHQ đều có nghĩa vụ thực hiện các nghị quyết trừng phạt "nhằm ngăn không cho những kẻ khủng bố trực tiếp hoặc gián tiếp hưởng các khoản tiền chuộc, hay những nhượng bộ chính trị".
Ông Moustafa nói nếu Qatar trao tiền chuộc cho nhóm khủng bố có liên hệ với phiến quân Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng, đó sẽ là "sự ủng hộ rõ ràng cho chủ nghĩa khủng bố" và "chắc chắn có những tác động tiêu cực đối với những nỗ lực chống khủng bố".
Trước đó, Financial Times đưa tin việc Qatar trả khoản tiền chuộc trị giá 1 tỷ USD cho các lực lượng có liên hệ al-Qaeda và Iran là "giọt nước làm tràn ly" khiến các nước láng giềng Vùng Vịnh cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar.
Chỉ huy của các nhóm quân sự và quan chức chính phủ nói rằng Qatar đã bỏ ra khoản tiền trên để bảo đảm an toàn cho 26 người bị bắt cóc trong một cuộc đi săn chim ưng ở miền bắc của Iraq. Một số trong đó là thành viên của hoàng tộc Qatar. (VTC News 9/6) đầu trang(./.
|
|||