|
Ngày 07 tháng 09 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
PHÁP LUẬT
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Theo Quyết định số 1305/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tổng số cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm năm 2016 là 2.413 đơn vị; trong đó công nghiệp 1.874 đơn vị, công trình xây dựng 456 đơn vị, giao thông vận tải 54 đơn vị, nông nghiệp 29 đơn vị.
Những địa phương có nhiều cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm gồm: Thành phố Hồ Chí Minh 314 đơn vị; thành phố Hà Nội 303 cơ sở; tỉnh Bình Dương 238 cơ sở; tỉnh Đồng Nai 150 cơ sở; tỉnh Quảng Ninh 116 cơ sở.
Tỉnh không có cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là Bắc Kạn.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức quản lý hoạt động sử dụng năng lượng của các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm theo quy định của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và Nghị định số 21/2011/NĐ-CP ngày 29/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố thuộc trung ương tổ chức cập nhật và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách cơ sở trọng điểm để công bố trước ngày 31/3 hàng năm.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan tại địa phương tổ chức quản lý, theo dõi thực hiện các chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với các cơ sở; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tại địa phương kiểm tra, rà soát, lập danh sách cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trên địa bàn; tổng hợp gửi Bộ Công Thương trước ngày 1/2 hàng năm.
Các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước yêu cầu các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là thành viên thuộc phạm vi quản lý của đơn vị mình thực hiện các nhiệm vụ về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo quy định của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, thực hiện báo cáo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cơ sở đặt trụ sở, đồng thời báo cáo Tập đoàn, Tổng công ty để tổng hợp báo cáo Bộ Công Thương; tổ chức rà soát, cập nhật danh sách các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm thuộc phạm vi quản lý của đơn vị mình; tổng hợp gửi Bộ Công Thương trước ngày 1/2 hàng năm.
Các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trong danh sách có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và Nghị định số 21/2011/NĐ-CP ngày 29/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. (VnMedia 6/9) đầu trang(
Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp được lập trên địa bàn cấp tỉnh thuộc nhóm quy hoạch ngành kết cấu hạ tầng sản xuất, được lập cho mỗi giai đoạn 10 năm, có xét triển vọng 10 năm tiếp theo.
Thời hạn xem xét điều chỉnh Quy hoạch thực hiện 5 năm 1 lần, trừ trường hợp cần thiết Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trao đổi, thống nhất với Bộ Công Thương.
Đây là quy định được nêu tại Thông tư 15/2017/TT-BCT do Bộ Công Thương vừa ban hành hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 68/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.
Về lập Quy hoạch, Thông tư nêu rõ, Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện lập Quy hoạch. Sở Công Thương có thể mời chuyên gia, thuê tư vấn để lập Quy hoạch. Trường hợp thuê tư vấn, Sở Công Thương tổ chức lựa chọn cơ quan, tổ chức tư vấn theo quy định của pháp luật đấu thầu.
Trong quá trình lập Quy hoạch, Sở Công Thương tổ chức thực hiện các bước báo cáo trung gian, lấy ý kiến của các Sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, tổ chức, cá nhân có liên quan và hoàn chỉnh Quy hoạch.
Hồ sơ Quy hoạch gồm: Dự thảo Tờ trình của Sở Công Thương đề nghị phê duyệt Quy hoạch; dự thảo Quyết định phê duyệt Quy hoạch; báo cáo Quy hoạch đã hoàn thiện sau khi lấy ý kiến của các cơ quan liên quan (gồm báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt); báo cáo tổng hợp tiếp thu, giải trình ý kiến của các Sở, ngành, Ủy ban nhân cấp huyện, tổ chức, cá nhân liên quan; văn bản góp ý của các sở, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, tổ chức, cá nhân liên quan; quyết định phê duyệt đề cương, dự toán kinh phí…
Việc thẩm định Hồ sơ Quy hoạch do Hội đồng thẩm định Quy hoạch thực hiện. Hội đồng thẩm định tổ chức họp thẩm định Hồ sơ Quy hoạch, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về kết quả thẩm định.
Sau khi hoàn thiện Hồ sơ Quy hoạch theo kết luận của Hội đồng thẩm định, Sở Công Thương báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký văn bản đề nghị Bộ Công Thương có ý kiến thỏa thuận.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 16/10/2017. (Đấu Thầu 7/9) đầu trang(
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xếp Hạng A (Tốt), Hạng B (Khá), Hạng C (Trung bình), Hạng D (Yếu) hoặc Hạng E (Yếu Kém) căn cứ vào mức điểm xếp hạng đạt được.
Đây là đề xuất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại dự thảo Thông tư quy định xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Dự thảo Thông tư này áp dụng đối với: Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã; công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính; chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo dự thảo, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xếp hạng theo hệ thống tiêu chí và được chia thành các nhóm đồng hạng.
Các tiêu chí bao gồm nhóm chỉ tiêu định lượng và nhóm chỉ tiêu định tính. Nhóm chỉ tiêu định lượng đo lường mức độ lành mạnh hoạt động ngân hàng trên cơ sở các số liệu phản ánh hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nhóm chỉ tiêu định tính đo lường mức độ tuân thủ các quy định pháp luật của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Trong số của nhóm chỉ tiêu, trọng số của từng chỉ tiêu theo từng nhóm đồng hạng được xác định trên cơ sở tầm quan trọng của từng nhóm chỉ tiêu, từng chỉ tiêu đối với mức độ lành mạnh hoạt động ngân hàng và yêu cầu của công tác giám sát trong từng thời kỳ.
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xếp hạng vào Hạng A (Tốt), Hạng B (Khá), Hạng C (Trung bình), Hạng D (Yếu) hoặc Hạng E (Yếu Kém) căn cứ vào mức điểm xếp hạng đạt được.
Việc tính điểm để xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được căn cứ vào: Báo cáo tài chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; riêng báo cáo tài chính năm là báo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập theo quy định của pháp luật; số liệu trên bảng cân đối tài khoản kế toán, số liệu báo cáo thống kê của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; kết quả giám sát, tiếp xúc, kiểm tra, thanh tra của Ngân hàng Nhà nước...
Hệ thống tiêu chí được sử dụng làm cơ sở phân nhóm chỉ tiêu khi xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm: Vốn; chất lượng tài sản; quản trị điều hành; kết quả hoạt động kinh doanh; khả năng thanh khoản; mức độ nhạy cảm đối với rủi ro thị trường. (Báo Chính Phủ 6/9) đầu trang(
Bộ Y tế đang dự thảo Thông tư quy định về đơn thuốc và kê đơn thuốc.
Theo dự thảo, bác sỹ là người kê đơn thuốc. Y sỹ được kê đơn thuốc khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: 1- Có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và đang làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện của Nhà nước hoặc trạm y tế xã, phường, thị trấn, y tế cơ quan, trường học (sau đây gọi tắt là trạm y tế xã); 2- Phải có văn bản phân công của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện phân công khám bệnh, chữa bệnh theo phân cấp quản lý y tế của địa phương.
Bác sỹ, y sỹ tại trạm y tế xã được phép kê đơn thuốc đối với các bệnh ở các chuyên khoa tương ứng với phạm vi khám bệnh, chữa bệnh đa khoa được quyết định trong phạm vi chuyên môn của trạm y tế xã và của bác sỹ, y sỹ.
Dự thảo nêu rõ, trong trường hợp cấp cứu người bệnh mà chưa kịp làm thủ tục nhập viện, người kê đơn thuốc của bất cứ chuyên khoa nào (kể cả y học cổ truyền) đều được kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu phù hợp với tình trạng của bệnh cấp cứu.
Theo dự thảo, chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh; kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh. Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế hoặc đủ sử dụng tối đa 30 ngày, trừ trường hợp kê đơn thuốc gây nghiện, kê đơn thuốc gây nghiện để giảm đau cho người bệnh ung thư hoặc người bệnh AIDS; kê đơn thuốc hướng tâm thần và tiền chất.
Y sỹ không được kê đơn thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa hoạt chất gây nghiện, thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa hoạt chất hướng tâm thần và thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa tiền chất không thuộc danh mục thuốc không kê đơn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
Dự thảo nêu rõ, không được kê vào đơn thuốc các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam; thực phẩm chức năng; mỹ phẩm.
Dự thảo nêu rõ yêu cầu chung với nội dung kê đơn thuốc như sau: Ghi đủ, rõ ràng và chính xác các mục in trong Đơn thuốc hoặc trong Sổ khám bệnh hoặc Sổ điều trị bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh. Ghi chính xác địa chỉ nơi người bệnh đang thường trú hoặc tạm trú: Số nhà, đường phố, tổ dân phố hoặc thôn, ấp, bản, xã, phường, thị trấn. Đối với trẻ dưới 72 tháng tuổi thì phải ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ của trẻ.
Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic) trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất (có từ 3 hoạt chất trở lên). Trường hợp ghi thêm tên thuốc theo tên thương mại phải ghi tên thương mại trong ngoặc đơn sau tên chung quốc tế. Ví dụ: đối với thuốc Paracetamol, viết tên thuốc theo tên chung quốc tế: Paracetamol 500mg; trường hợp ghi tên thuốc theo tên thương mại: Paracetamol 500mg (Hapacol hoặc Biragan hoặc Efferalgan hoặc Panadol,...)
Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng, liều dùng, đường dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc.
Bên cạnh đó, số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa. Số lượng thuốc: Viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10).
Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh nội dung sửa. Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía trên chữ ký của người kê đơn; ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn.
Bộ Y tế đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Quảng Ninh 6/9) đầu trang(
Bộ Giao thông vận tải đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 37/2010/TT-BGTVT ngày 1/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về việc phòng, chống, khắc phục hậu quả lụt, bão, ứng phó sự cố thiên tai, thảm họa và tìm kiếm cứu nạn trong lĩnh vực đường thủy nội địa. Trong đó, Bộ đề xuất sửa đổi quy định về thời gian trực, chế độ đối với người trực phòng, chống thiên tai.
Theo dự thảo, trong mùa mưa bão, với những ngày không có thiên tai, các cơ quan, đơn vị tổ chức trực theo giờ hành chính.
Trong những ngày có thiên tai, thảm họa hoặc xả lũ, lũ đột xuất xảy ra, phải tổ chức trực ban 24/24 giờ, tổ chức trực chia thành 2 ca/ngày, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ, thời gian trực như sau: Ca 1: Từ 8h đến 17h (theo quy định hiện hành là từ 7h30 đến 16h30); ca 2: Từ 17h đến 8h sáng hôm sau (quy định hiện hành là từ 16h30 đến 7h30 sáng hôm sau).
Dự thảo nêu rõ, trường hợp áp thấp nhiệt đới, bão trong thời gian từ 24 đến 18 giờ được dự báo đổ bộ vào đất liền, trên phạm vi các khu vực chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão theo tin báo của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cơ sở tổ chức trực 2 ca như trên.
Theo dự thảo, người trực tiếp tham gia trực phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn vào ca đêm, ngày nghỉ, trực vào ngày lễ được bố trí nghỉ bù tương ứng với thời gian trực theo mức sau: Trực ca 2 từ 17h đến 8h sáng, được nghỉ bù 24 giờ (một ngày đêm); trực ca ngày trong các ngày trùng vào ngày lễ, tết được nghỉ bù 24 giờ tính cho một ca trực (một ngày đêm).
Trường hợp không thể bố trí nghỉ bù được thì được trả công lao động cho thời gian trực theo quy định của Nhà nước.
Bộ Giao thông vận tải đang lấy ý kiến góp ý dự thảo trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 6/9) đầu trang(
Bộ Tài chính đang đề xuất giảm mức kinh phí đóng góp cho hoạt động PCCC của DN bảo hiểm từ 5% hiện hành xuống còn 1% tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc bảo hiểm cháy nổ bắt buộc (BHCNBB). Với mức kinh phí đóng góp này, mức tăng trưởng dự kiến BHCNBB đạt 14%/năm trong các năm tiếp theo.
Bộ Tài chính vừa công bố lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 130/2006/NĐ-CP (NĐ 130) và Điều 2 Nghị định số 46/2012/NĐ-CP (NĐ 46) về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (BHCNBB).
Dự thảo Nghị định gồm 3 chương và 22 điều, trong đó quy định thêm nguyên tắc tham gia BHCNBB như sau: Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phải triển khai BHCNBB theo đúng điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu theo quy định pháp luật. Trường hợp bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm với điều kiện mở rộng hơn thì có thể thỏa thuận với DNBH và đóng thêm phí bảo hiểm.
Cùng với đó, nhằm hướng dẫn rõ hơn trong trường hợp không xác định được giá trị thị trường của tài sản được bảo hiểm, dự thảo Nghị định đã bổ sung quy định về các nguyên tắc thỏa thuận giữa DNBH và bên mua bảo hiểm về số tiền bảo hiểm trong các trường hợp này. Cụ thể, đối với nhà, máy móc thiết bị, số tiền bảo hiểm là giá trị thành tiền theo giá trị còn lại hoặc giá trị thay thế mới của tài sản tại thời điểm tham gia bảo hiểm do các bên thỏa thuận. Đối với các loại tài sản khác, số tiền bảo hiểm là giá trị thành tiền theo khai báo của bên mua bảo hiểm.
Về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, trên cơ sở quy định tại Điều 10 NĐ 130, dự thảo Nghị định quy định các trường hợp DNBH không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm. Đây là các trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi cố ý của bên mua bảo hiểm, thiệt hại xảy ra do các yếu tố mang tính thảm họa (như vũ khí hạt nhân, động đất, núi lửa), thiệt hại có thể dự kiến trước sẽ xảy ra (như máy móc thiết bị chạy quá tải, quá áp lực gây ra cháy, nổ...).
Cũng theo Bộ Tài chính, thực tế, phí BHCNBB phụ thuộc vào thị trường tái bảo hiểm quốc tế (do các DNBH phải thực hiện tái bảo hiểm để đảm bảo an toàn tài chính). Vì vậy, để đảm bảo linh hoạt, dự thảo Nghị định quy định về phí bảo hiểm phải được xây dựng trên cơ sở số liệu thống kê, đảm bảo khả năng thanh toán của DNBH, tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm; giao Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết việc xác định phí BHCNBB theo từng loại cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ.
Về kinh phí đóng góp và cơ chế quản lý sử dụng kinh phí đóng góp cho hoạt động phòng cháy chữa cháy (PCCC), dự thảo Nghị định quy định mức kinh phí đóng góp là 1% tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc BHCNBB của DNBH (hiện nay theo quy định tại Nghị định số 130/2006/NĐ-CP, mức đóng góp là 5%). Theo Bộ Tài chính, với mức kinh phí đóng góp này, mức tăng trưởng dự kiến BHCNBB sẽ đạt 14%/năm trong các năm tiếp theo và nội dung sử dụng kinh phí đóng góp từ BHCNBB, số tiền đóng góp này sẽ vẫn đảm bảo duy trì việc hỗ trợ cho hoạt động PCCC, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho các DNBH khi triển khai thực hiện BHCNBB.
Đồng thời, để phù hợp với điểm b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 54 Luật PCCC, dự thảo Nghị định quy định chế độ quản lý, sử dụng kinh phí đóng góp từ BHCNBB cho hoạt động PCCC. Theo đó, việc sử dụng kinh phí phải đảm bảo công khai, minh bạch, đúng mục đích, phải được lập dự toán, đúng quy định pháp luật.
Nội dung sử dụng kinh phí gồm: Hỗ trợ đầu tư trang bị phương tiện PCCC của lực lượng cảnh sát PCCC (40%); công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về PCCC và BHCNBB (30%); hỗ trợ giám định, kiểm tra an toàn về PCCC và BHCNBB (20%); khen thưởng thành tích cho các tổ chức, cá nhân trong công tác PCCC (10%).
Trước đó theo số liệu do Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Bộ Công an) cung cấp, hiện nay trên toàn quốc có 77.892 cơ sở thuộc diện phải mua BHCNBB theo quy định pháp luật, trong đó có 43.693 cơ sở đã mua bảo hiểm cháy, nổ (chiếm 56%).
Theo báo cáo của các DNBH phi nhân thọ, giai đoạn 2007 - 2016, doanh thu phí bảo hiểm gốc BHCNBB đạt khoảng 8.900 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 14%/năm. Số tiền bồi thường bảo hiểm gốc BHCNBB khoảng 3.500 tỷ đồng (tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc là 39,3%) đã góp phần giúp các tổ chức, cá nhân không may bị thiệt hại do cháy, nổ kịp thời và chủ động hơn trong việc khắc phục hậu quả và khôi phục sản xuất, kinh doanh.
Đồng thời, trong giai đoạn 2007 - 2016, các DNBH phi nhân thọ đã trích nộp 72,47 tỷ đồng (tương đương 5% phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm) để đóng góp kinh phí cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy, góp phần đầu tư trang bị phương tiện, thiết bị cho lực lượng phòng cháy, chữa cháy, hỗ trợ tuyên truyền, khen thưởng, phổ biến kiến thức pháp luật, thực hiện công tác đề phòng, hạn chế tổn thất.
Tuy nhiên theo Bộ Tài chính, trong quá trình triển khai thực hiện NĐ 130 và Điều 2 NĐ 46 cũng gặp một số vướng mắc. Cụ thể, một số quy định tại các Nghị định này chưa thống nhất với Luật Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) và Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC.
Mặt khác, hiện chưa có quy định về chế độ quản lý, sử dụng nguồn thu từ BHCNBB cho hoạt động PCCC để đảm bảo phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 54 Luật PCCC; một số quy định còn trùng lắp hoặc cần phải quy định rõ hơn để tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện,...
Cũng theo Bộ Tài chính, báo cáo của các DNBH cho thấy, kết quả kinh doanh BHCNBB còn thấp. Giai đoạn 2013-2015, kết quả hoạt động kinh doanh toàn thị trường lỗ 746 tỷ đồng, đặc biệt năm 2014 lỗ 682 tỷ đồng do các DNBH phải bồi thường cho các tổn thất xảy ra ngày 13-14/5/2014 do một số đối tượng gây rối tại Bình Dương, Đồng Nai, Hà Tĩnh gây ra.
Trong khi đó, mức trích nộp kinh phí đóng góp cho hoạt động PCCC là 5% tổng số phí BHCNBB đã thu được chưa tạo thuận lợi cho DNBH trong kinh doanh BHCNBB. Do đó, cần sửa đổi quy định theo hướng điều chỉnh tỷ lệ trích nộp của các DNBH song vẫn đảm bảo được nội dung đóng góp kinh phí cho hoạt động PCCC.
Ngoài ra, một số quy định tại NĐ 130 còn trùng lắp, cần sửa để đảm bảo rõ ràng, logic, thuận lợi khi triển khai (như quy định về mua BHCNBB (Điều 3), đối tượng phải mua BHCHBB (Điều 5), DN kinh doanh BHCNBB (Điều 4) và tài sản phải tham gia BHCNBB (Điều 6)); một số quy định cần rà soát để sửa đổi đảm bảo thuận lợi trong quá trình triển khai (như quy định về số tiền bảo hiểm (Điều 7), loại trừ trách nhiệm bảo hiểm (Điều 10)).
Do đó, việc sửa đổi NĐ 130 và Điều 2 NĐ 46 sẽ tạo lập khuôn khổ pháp lý ổn định, minh bạch, rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan, DNBH và các tổ chức, cá nhân có cơ sở nguy hiểm về cháy, nổ trong áp dụng thi hành và thực hiện BHCNBB.
Đồng thời, với việc ban hành Nghị định thay thế hai Nghị định trên cũng sẽ giúp các tổ chức, cá nhân dễ dàng trong việc tra cứu và áp dụng để triển khai BHCNBB trong thực tế. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 6/9) đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Báo cáo rà soát bán đảo Sơn Trà của UBND TP Đà Nẵng còn né tránh nhiều vấn đề, trong đó có các khía cạnh pháp lý của dự án cùng 137 lô biệt thự thuộc sở hữu cá nhân
Trong công văn gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 29-8 về rà soát toàn bộ bán đảo Sơn Trà, UBND TP Đà Nẵng vẫn giữ quan điểm tiếp tục quy hoạch nơi này thành khu du lịch quốc gia và xem xét các kiến nghị của nhà đầu tư.
Trong toàn bộ văn bản dài 50 trang, chỉ có 7 trang là báo cáo của UBND TP Đà Nẵng; số còn lại là phụ lục các dự án, phụ lục hệ động thực vật ở Sơn Trà và đơn kiến nghị của các nhà đầu tư.
Ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch TP Đà Nẵng, cho biết sau khi đọc báo cáo, cá nhân ông cảm nhận đó chỉ là bản giải trình chung chung về dự án chứ chưa thực sự tìm ra được giải pháp toàn vẹn cho bán đảo Sơn Trà. Đặc biệt, trong phần đánh giá chung về dự án, UBND TP Đà Nẵng đã thừa nhận từ khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến năm 2015, định hướng 2030 thì vấn đề đa dạng sinh học mới được quan tâm đầy đủ.
"UBND TP Đà Nẵng nói căn cứ vào các tiêu chí bảo tồn sinh học, an ninh quốc gia nên đã hạ độ cao từ 200 m xuống còn 100 m, nhưng căn cứ vào đâu? Trong khi động thực vật ở Sơn Trà vẫn sinh sống dưới độ cao 100 m, voọc chà vá vẫn sống sát biển… Còn nói bảo đảm an ninh quốc phòng lại càng khiên cưỡng, vì cảng Tiên Sa, cảng quân sự nằm rất gần với các dự án đã được cấp phép. Nếu có nhiều người cư trú thì liệu an ninh quốc gia có được bảo đảm?" - ông Vinh đặt vấn đề.
Đồng quan điểm, ông Hồ Duy Diệm, nguyên Chủ tịch Hội Quy hoạch TP Đà Nẵng, cho rằng báo cáo của UBND TP Đà Nẵng đã làm cho người dân TP thất vọng. "Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam từng khẳng định trước Quốc hội nếu Đà Nẵng không muốn quy hoạch thì Chính phủ cũng chấp thuận. Việc gì phải tham gia quy hoạch để mất rừng Sơn Trà?" - ông Diệm băn khoăn.
Trong buổi làm việc với Hiệp hội Du lịch TP Đà Nẵng ngày 27-8, UBND TP cho biết trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ, vấn đề về 137 lô biệt thự của các cá nhân sẽ được nêu đầy đủ. Tuy nhiên, báo cáo gửi đi ngày 29-8 vẫn không đề cập thông tin này.
"Chúng tôi đã đề nghị xem xét về khía cạnh pháp lý việc cấp phép cho các dự án ở Sơn Trà trong buổi làm việc với UBND TP Đà Nẵng ngày 27-8 và đại diện lãnh đạo TP đã nói là sẽ đưa đầy đủ nhưng nay lại không thấy đề cập trong báo cáo. Ngoài ra, tôi cũng hỏi về 137 lô biệt thự ở bán đảo Sơn Trà đã được cấp quyền sở hữu cho các cá nhân và 1 số đã xây biệt thự kiên cố có khía cạnh pháp lý như thế nào, cấp cho ai, cấp khi nào, cấp có đúng không... nhưng báo cáo vẫn chưa đề cập" - ông Vinh bức xúc.
Ông Diệm cũng cho hay việc cấp đất ở bán đảo Sơn Trà đều vi phạm pháp luật nhưng trong báo cáo lại không trả lời rõ. 137 lô biệt thự đó lâu nay để ngoài sổ sách, thực chất là do các chủ đầu tư "lại quả" sau khi được cấp đất ở Sơn Trà.
Chiều 6-9, trả lời phóng viên Báo Người Lao Động, ông Nguyễn Thành Tiến, Phó Chánh Văn phòng UBND TP Đà Nẵng, cho hay Báo cáo số 223 gửi Thủ tướng Chính phủ về rà soát Sơn Trà chỉ là báo cáo chung chứ chưa chi tiết nên không nêu 137 lô biệt thự của cá nhân. "Vấn đề này TP sẽ báo cáo riêng và báo cáo cụ thể tại một buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ. Hiện tại vẫn chưa có báo cáo" - ông Tiến nói. (Người Lao Động 7/9) đầu trang(
QUẢN LÝ
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Mục tiêu Đề án nhằm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức của người học, của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục về tầm quan trọng, ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân, tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác; ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và xã hội, góp phần phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững của đất nước.
Trong đó, giai đoạn 2017 - 2020, đối với giáo dục mầm non và phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông), tổ chức thí điểm ở 3 tỉnh, thành phố đại diện cho ba miền (dự kiến 2 trường mỗi cấp học); đối với giáo dục đại học, tổ chức dạy thí điểm cho các khối trường theo nhóm ngành đào tạo (dự kiến 3 trường mỗi khối trường); đối với giáo dục nghề nghiệp, tổ chức dạy thí điểm cho các khối trường theo nhóm ngành, nghề đào tạo (dự kiến 3 trường mỗi khối trường).
Đến năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân tổ chức giáo dục quyền con người cho người học.
Chương trình giáo dục quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân được xác định cụ thể cho từng cấp học và chương trình đào tạo, trong đó nêu rõ: Mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; chương trình giáo dục; tài liệu giáo dục.
Trong đó, nội dung giáo dục về quyền con người đối với trẻ em mẫu giáo là những yếu tố cơ bản về quyền, bổn phận của bản thân và của người khác; đối với học sinh tiểu học là một số kiến thức cơ bản về các nguyên tắc, giá trị về quyền con người (bình đẳng, không phân biệt đối xử, khoan dung và tôn trọng sự khác biệt,…); các quyền con người của trẻ em đã được pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam quy định; với học sinh trung học cơ sở là các kiến thức cơ bản về các nguyên tắc, giá trị về quyền con người (bình đẳng, không phân biệt đối xử, khoan dung và tôn trọng sự khác biệt,…) ở mức cao hơn so với học sinh tiểu học.
Còn đối với học sinh trung học phổ thông, nội dung giáo dục về quyền con người là các kiến thức cơ bản về các nguyên tắc, giá trị về quyền con người, quyền công dân (bình đẳng, không phân biệt đối xử, khoan dung và tôn trọng sự khác biệt,…) ở mức cao hơn so với học sinh trung học cơ sở; các cơ chế chủ yếu bảo vệ quyền con người.
Với giáo dục nghề nghiệp, nội dung giáo dục về quyền con người đối với học viên gồm: Nội dung cơ bản của quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền con người trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, việc làm; các cơ chế bảo vệ quyền con người; kỹ năng ứng dụng quyền con người trong hoạt động nghề nghiệp; giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ lao động; quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
Giáo dục về quyền con người trong các trường đại học bao gồm các nội dung cơ bản sau: Khái niệm, nguồn gốc, bản chất và tính chất của quyền con người, quyền công dân; nội hàm của các quyền con người được quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và các công ước quốc tế khác; các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 và các luật chuyên ngành; bảo vệ, bảo đảm quyền của các nhóm dễ tổn thương trong xã hội; ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể (nhà nước, tổ chức, cá nhân) trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Giáo dục về quyền con người trong các trường đại học ngoài các nội dung cơ bản nêu trên còn có nội dung chuyên sâu. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 6/9) đầu trang(
Ngày 6-9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc làm việc của Ban Cán sự Đảng Chính phủ với Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh sơ kết năm năm thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10-8-2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP Hồ Chí Minh đến năm 2020; thảo luận đề án về cơ chế, chính sách đặc thù cho thành phố.
Cùng dự có đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; lãnh đạo các bộ, ban, ngành T.Ư.
Phát biểu ý kiến mở đầu buổi làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao việc Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng báo cáo kết quả năm năm thực hiện Nghị quyết 16 và Đề án cơ chế chính sách đặc thù của Thành phố, thể hiện tinh thần “Thành phố vì cả nước, cả nước vì thành phố”. Thủ tướng nhấn mạnh vai trò quan trọng của TP Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, là đầu tàu của khu vực kinh tế trọng điểm phía nam, nhất là phát triển kinh tế tư nhân, phát triển doanh nghiệp, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tạo nguồn thu quốc gia… Đây cũng là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực của miền nam và cả nước.
Thủ tướng nêu rõ, kinh tế-xã hội của TP Hồ Chí Minh còn nhiều tồn tại, hạn chế và tiếp tục gặp các khó khăn, thách thức. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới các cơ chế, chính sách đặc thù cho thành phố; nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo chung là phát huy thế mạnh, tạo sức lan tỏa trong phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Đồng thời bảo đảm sự phát triển hài hòa, kết nối hiệu quả với các vùng, địa phương trong cả nước, tạo nền tảng vững chắc cho TP Hồ Chí Minh phát triển.
Tại buổi làm việc, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân trình bày đề xuất cơ chế đặc thù để TP Hồ Chí Minh phát triển nhanh, bền vững hơn vì cả nước. Theo đó, đề xuất cơ chế chính sách đặc thù cho TP Hồ Chí Minh gồm bốn nội dung chính là tăng cường phân cấp ủy quyền; tự chủ tài chính; trả lương theo năng suất, hiệu quả lao động; kiện toàn ban chỉ đạo vùng kinh tế trọng điểm phía nam và vùng TP Hồ Chí Minh.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đề nghị TP Hồ Chí Minh cần rà soát quy hoạch phát triển, nhất là phát triển đô thị; tập trung xây dựng đề án phát triển thành trung tâm tài chính của khu vực, trong đó có đề án thu hút tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở tại TP Hồ Chí Minh. Chú trọng phát triển công nghiệp văn hóa-những ngành nghề kinh doanh mới nổi; xây dựng đề án quản lý kinh tế phi chính thức; tăng cường phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho thành phố.
Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng đề nghị trong quá trình phát triển, TP Hồ Chí Minh gắn quy hoạch với bố trí lại dân cư, kiểm soát sự gia tăng dân số; gắn quy hoạch với ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng...
Phát biểu ý kiến kết luận cuộc làm việc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, TP Hồ Chí Minh có nhiều cố gắng triển khai Nghị quyết 16, nhưng hiện nay xuất hiện nhiều bất cập, nếu không nỗ lực, sáng tạo thì thành phố sẽ gặp khó khăn. Trong 10 năm qua, tăng trưởng của TP Hồ Chí Minh đã có dấu hiệu chậm lại, nhiều thách thức xuất hiện... do đó cần phải tạo cơ chế đặc thù để thành phố phát triển nhanh hơn.
Về tầm nhìn và yêu cầu đối với TP Hồ Chí Minh, Thủ tướng đề nghị thành phố phải quán triệt tinh thần Nghị quyết 16; phải phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa xã hội để người dân được hưởng mọi thành quả của công cuộc phát triển. Đối với thành phố quy mô lớn như TP Hồ Chí Minh, yêu cầu phải bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; làm thất bại mọi âm mưu bạo loạn, lật đổ, “diễn biến hòa bình”, chống phá của các thế lực thù địch; bảo đảm chống chịu tác động của biến đổi khí hậu… là hết sức quan trọng.
Về nhiệm vụ phát triển thời gian tới, Thủ tướng nêu rõ, thành phố phải huy mọi tiềm năng, lợi thế địa chính trị, tiếp tục khẳng định đầu tàu kinh tế cả nước. Thành phố còn dư địa lớn phát triển kinh tế, thương mại, đầu tư. Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thức rõ TP Hồ Chí Minh vẫn còn khoảng cách so các thành phố lớn khác ở châu Á, do đó cần phải vươn lên phát triển mạnh mẽ, trở thành trung tâm khởi nghiệp lớn, thu hút đầu tư của khu vực.
Thành phố cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển trên địa bàn, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ tầm nhìn giai đoạn 2025-2030; coi trọng việc sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu thể chế, chính sách tăng cường phát triển vùng và liên kết vùng. Xây dựng cơ chế, chính sách điều phối vùng đô thị TP Hồ Chí Minh chú trọng các kết nối đồng bộ hạ tầng như giao thông, viễn thông, cấp thoát nước... Tăng cường huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển, nhất là từ khu vực tư nhân, hợp tác đối tác công - tư (PPP); đề xuất sửa đổi, ban hành các chính sách tạo vốn, thu hút vốn đầu tư theo hình thức xã hội hóa.
Thủ tướng chỉ đạo thành phố phải phát triển văn hóa-xã hội tương xứng kinh tế; coi trọng phát triển nguồn nhân lực cho vùng, cho cả nước; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong mọi lĩnh vực. TP Hồ Chí Minh phải đi đầu trong chuỗi gia tăng cao. Tạo chuyển biến toàn diện, sâu sắc về cải cách hành chính; tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi, giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. TP Hồ Chí Minh phải là nơi xếp hạng cao nhất cả nước về cải cách môi trường đầu tư kinh doanh; đứng vào nhóm đầu của ASEAN, hướng tới xếp vào nhóm OECD về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Chú trọng làm tốt công tác cán bộ, đoàn kết nội bộ.
Thủ tướng nhất trí việc cần có cơ chế đặc thù để TP Hồ Chí Minh phát triển nhanh, bền vững; đồng ý về nguyên tắc phân cấp, phân quyền tối đa, tạo sự chủ động, sức sáng tạo cho phát triển; đề cao trách nhiệm các cấp chính quyền. Về tự chủ tài chính, Thủ tướng cho rằng cần tiếp tục tạo thêm nguồn lực để thành phố phát triển; vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách để thành phố có thêm nguồn thu cho phát triển trên tinh thần các cơ chế, chính sách ban hành phải phù hợp, tuân thủ Hiến pháp, luật pháp.
Thủ tướng giao Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Đối với những vấn đề cấp bách cần sửa đổi bổ sung mà vượt thẩm quyền, thành phố báo cáo Quốc hội, Chính phủ để kiến nghị sửa đổi trên tinh thần hài hòa trong cơ chế chung của cả nước. Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng thành phố thường xuyên kiểm tra, đánh giá vấn đề phân cấp, phân quyền này... (Nhân Dân 6/9) đầu trang(
NHÂN SỰ MỚI
Bộ KH&CN vừa tổ chức công bố thông tin kiện toàn tổ chức và trao quyết định bổ nhiệm một số nhân sự các cơ quan, đơn vị trực thuộc.
Cụ thể: Sắp xếp, tổ chức lại Vụ Kế hoạch – Tổng hợp và Vụ Tài chính thành Vụ Kế hoạch – Tài chính.
Đổi tên Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên thành Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên.
Sắp xếp, tổ chức lại Trung tâm Tin học và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển quốc gia về công nghệ mở thành Trung tâm Công nghệ thông tin;
Sắp xếp, tổ chức lại Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Trường Quản lý KH&CN thành Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo;
Sáp nhập Tạp chí Tia sáng vào Báo Khoa học và Phát triển để trở thành một ấn phẩm của Báo Khoa học và Phát triển.
Tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh đã trao các quyết định: Điều động bổ nhiệm có thời hạn ông Lê Xuân Định, Cục trưởng Cục Thông tin KH&CN quốc gia giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính;
Bổ nhiệm ông Trần Ngọc Toàn, Trưởng ban Ban Hợp tác quốc tế, thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam giữ chức vụ Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam;
Điều động ông Hà Quốc Trung, nguyên Giám đốc Trung tâm Tin học giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin. Nhiệm kỳ giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin của ông Hà Quốc Trung tính từ khi được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Tin học. (Vietnamnet 6/9) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Thảo luận về báo cáo phòng chống tham nhũng năm 2017 của Chính phủ tại phiên họp toàn thể do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức hôm qua (6.9), nhiều đại biểu đã tỏ ra băn khoăn về những con số của báo cáo này.
Theo đại biểu Quốc hội Vũ Trọng Kim (Hải Dương), hiện mô hình cơ quan chống tham nhũng ở cấp cao nhất thì làm rất quyết liệt, ví dụ như chỉ đạo của Tổng bí thư.
Nhưng xuống các cấp thấp hơn thì có tình trạng trì trệ, níu kéo. “Cơ quan nào cũng nói phòng chống tham nhũng, nhưng anh này chống tham nhũng, anh kia chống lưng, không biết anh nào chống thật, anh nào chống giả”, ông Kim nói.
Nhận xét về báo cáo của Chính phủ, theo ông Kim, việc có cả triệu đảng viên phải kê khai tài sản mà xử lý vi phạm kê khai chỉ có 3 người thì “không thể nào tin được”.
Vì vậy, theo ông Kim, nên rút con số này ra khỏi báo cáo, bởi nếu để như vậy thì người dân sẽ nói làm hời hợt quá. Tương tự, dẫn con số chỉ 25 người đứng đầu bị kiểm điểm phê bình vì để xảy ra tham nhũng ở cơ quan mình mà báo cáo của Chính phủ nêu, đại biểu này nói: “Tham nhũng tràn lan, người dân có thể đếm được cán bộ huyện, cán bộ tỉnh ông nào tham nhũng, kể cả cán bộ công chức, thế nhưng báo cáo nói chỉ xử lý 25 người là quá ít”.
Cũng nhận xét về con số 25 người đứng đầu bị xử lý mà báo cáo của Chính phủ chỉ ra, đại biểu Nguyễn Thái Học (Phú Yên) cho rằng Chỉ thị 50 của Bộ Chính trị là phải xử lý người đứng đầu nhưng con số này cho thấy việc này chưa được làm nghiêm. Ngoài ra, ông Học nhận định tình hình tham nhũng giảm, nhưng số liệu các vụ án tham nhũng lại tăng cũng là nội dung làm ông phân vân.
Trong khi đó, thượng tướng Lê Quý Vương, Thứ trưởng Bộ Công an, cho biết nếu nhìn lại các vụ án hình sự đang điều tra thì đa phần đã xảy ra cách đây cả gần chục năm, như vụ Hà Văn Thắm từ năm 2009, vụ Trịnh Xuân Thanh cũng thời điểm 2009.
Hay đại án Vinashin, Phạm Công Danh cũng ở giai đoạn đó. “Tức là các vụ án lớn hiện nay đang giải quyết hậu quả của thời gian trước, nhất là ở các tập đoàn kinh doanh đa ngành, đa nghề", ông Vương nói và cho rằng những vụ việc này chỉ ra sơ hở rất lớn trong quản lý, đi kèm đó là đạo đức công vụ của cán bộ trong một số lĩnh vực khi cán bộ cứ cầm tiền chia chỗ này, chia chỗ kia. Cùng với đó là vấn đề kiểm toán nội bộ và thanh tra chuyên ngành chưa đạt hiệu quả. Ông Vương cũng thừa nhận, nếu nói về tội phạm tham nhũng thì mới đây T.Ư cũng nói chưa giảm.
“Tình trạng đầu tư BOT, BT phải hết sức chú ý”, thượng tướng Vương bày tỏ và cho rằng để ngăn chặn tham nhũng thì trước hết cần quản lý tài chính tốt, xem xét lại vấn đề đất đai; công khai, minh bạch, để dân được giám sát. Cùng với đó là tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, đề cao vai trò của các cơ quan báo chí...
Nhận xét về báo cáo này, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga đánh giá báo cáo của Chính phủ chưa kỹ, chưa bám sát tình hình phòng chống tham nhũng năm nay, kể cả những kết quả từ T.Ư lan tỏa xuống các địa phương. (Thanh Niên 7/9) đầu trang(
Việc thực hiện tự kê khai tài sản đã được áp dụng nhiều năm nay nhưng tất cả vẫn chỉ mang tính hình thức, chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Trong báo cáo của Chính phủ về công tác phòng chống tham nhũng (PCTN) năm 2017 do ông Đặng Công Huẩn trình bày trước Ủy ban Tư pháp Quốc hội, ngày 5/9 chỉ rõ, năm 2016 có 1.113.422 người kê khai tài sản, 77 người được xác minh, 3 trường hợp thiếu trung thực, trong đó có cả cán bộ cao cấp.
Trước thông tin trên, trao đổi với Đất Việt, ngày 6/9, ĐBQH Dương Trung Quốc - Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai cho biết: "Tất cả các con số trong báo cáo của nước ta từ trước đến nay không gì kiểm chứng được, rất lâu nay ta vẫn nói câu chuyện liên quan đến tham nhũng, nhưng không có trường hợp nào thanh tra nhà nước phát hiện.
Đúng là thanh tra làm đúng chức năng nhưng ai kiểm chứng được kết quả thanh tra này là chính xác, cứ cho hơn 1,1 triệu người tiến hành kê khai tài sản thì người dân cũng chỉ biết là như vậy, chứ làm sao biết được là đúng hay không đúng?
Nếu thực sự trước đây thanh tra thường xuyên phát hiện thì không nói làm gì, nhưng nhiều khi do dân phát hiện xong thanh tra mới đi theo, mà thực tế nhân dân phát hiện trường hợp nào đúng trường hợp đó. Giờ là chủ động thanh tra đối tượng nào, bằng cách nào thì mới có thể có thông số đầy đủ".
Bên cạnh đó, theo ông Quốc, hơn 1,1 triệu người bị thanh tra chỉ có 3 trường hợp thiếu trung thực đã là con số khó hiểu, quản lý xã hội rất khó có thể có con số trung thực, bởi vì chúng ta còn có kiểu nhà không phải tên mình thì không phải là của mình, nhưng vẫn là của mình.
Hơn nữa, tiền mặt không ai kiểm soát, chính cơ chế này làm chúng ta rất khó kiểm soát, nói chung chủ yếu dân phát hiện còn tự phát hiện thì khó lắm.
Cũng đưa ra quan điểm về vấn đề này, ĐBQH Bùi Văn Xuyền - Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Bình cho biết: "Đã nhiều năm nay việc kê khai tài sản, xác minh tài sản kê khai được thực hiện nhiều dưới sự chỉ đạo của thanh tra chính phủ nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Theo quy trình thì sau khi kê khai tài sản phải công khai, nếu có phát hiện đơn thư tố cáo việc kê khai không đúng thì cơ quan có trách nhiệm, thẩm quyền xem xét lại việc kê khai tài sản có đúng hay không, theo Luật phòng chống tham nhũng.
Cơ quan thanh tra công bố trên cơ sở đã kiểm tra các cấp, các ngành, cơ quan đơn vị, kiểm tra tỷ lệ phần trăm, xác định kê khai đúng và chưa đúng, sau khi có thông tin trên báo chí, chỉ đạo cơ quan chức năng xem xét, xác minh thì phải theo kết quả công bố cụ thể mới đánh giá được.
Còn trường hợp không có đơn thư, nội dung tố cáo thì cơ quan thanh tra, thủ trưởng các cơ quan không tổ chức xác minh, đánh giá lại việc kê khai nên việc làm này cũng không đánh giá cụ thể.
Con số kê khai trung thực hay không, bằng bao nhiêu % thì phải bằng kết quả xác minh, xác minh trên cơ sở đơn thư, tố cáo, dư luận phản ánh đến cơ quan thanh tra, thì mới tổ chức xác minh, đó là theo quy định, còn làm thủ tục xác minh lại hết thì không ai làm, chủ yếu là tự kê khai.
Do vậy việc hiện nay công bố chỉ có một số kê khai sai, nó phản ánh đúng tình trạng, các trường hợp đó là có đơn thư khiếu nại tố cáo, có dư luận, báo chí vào cuộc, có chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, kiểm tra kê khai tài sản của đối tượng đó, nhưng rất ít, nên đúng hay không đúng không phản ánh được".
Riêng về việc công bố danh tính các đối tượng kê khai thiếu trung thực, ông Xuyền nói thẳng, công khai hay không công khai tên tuổi thì Luật phòng chống tham nhũng đã có quy định rõ ràng, kê khai tài sản công khai ở đâu, nơi cư trú, nơi công tác, để cho cơ quan đơn vị, công dân đối chiếu, đánh giá.
Với các trường hợp kê khai thiếu trung thực thì xử lý kỷ luật về mặt Đảng, xử lý hành chính, còn quy định rõ hơn nữa thì chưa có quy định cụ thể, rõ ràng xử lý chỉ dừng lại ở mức nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu của dư luận xã hội.
Đặc biệt, chưa làm rõ được tài sản đó là tài sản gì? Có phải tài sản không đúng, nguồn gốc ở đâu, do tham nhũng, do vi phạm pháp luật không? Xử lý tài sản ra sao, chưa được quy định rõ ràng.
Đó là các hạn chế của công tác kê khai tài sản, sắp tới chính phủ đang trình Quốc hội sửa, tất cả còn phải bàn, xem xét, đánh giá thực tiễn vấn đề gì còn khiếm khuyết, khó khăn, chưa hiệu quả thì thay đổi.
"Cái quan trọng nhất là xác định được tài sản không đúng là cái gì, đây là vấn đề lớn, xử lý được mới là cái gốc của vấn đề, mới đạt được hiệu quả của kê khai tài sản trong công tác phòng chống tham nhũng.
Hiện nay chỉ dừng lại khẩu hiệu, bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính là chính, nhưng dư luận thì quan tâm tài sản đó từ đâu ra, thu hồi hay không thu hồi, trách nhiệm cá nhân, kỷ luật ra sao, đó là vấn đề cần đặt ra và sửa đổi. Đánh giá chung kê khai tài sản không đạt hiệu quả cao chỉ mang tính hình thức", ông Xuyền phân tích.
Trong khi, ĐBQH Dương Trung Quốc nói thẳng: "Ở đây có vấn đề liên quan đến quyền cá nhân, nhưng khi có công bố cuối cùng thì phải công khai tên tuổi thì mới răn đe, cảnh cáo, chấm dứt các trường hợp tái phạm.
Chúng ta làm không phải tìm người tham nhũng, điều quan trọng là làm sao để tham nhũng không xảy ra nữa, giáo dục mà không cụ thể thì ai tin.
Vấn đề ở đây là phải làm cho đúng luật pháp quy định, luật thấy có vấn đề chưa ổn thì phải sửa Luật, chính Thanh tra Chính phủ phải kiến nghị việc sửa để đảm bảo quyền giám sát xã hội và quyền cá nhân".
Đưa ra giải pháp, ĐBQH Bùi Văn Xuyền chỉ rõ, phải học tập kinh nghiệm các nước, mỗi nước có một cách làm khác nhau, hiện ở nước ngoài cơ chế minh bạch của họ làm tốt hơn chúng ta.
Chúng ta chưa có cơ chế minh bạch tài sản cá nhân, chưa rõ một người thì có tài sản ở những đâu, xử lý sau này thế nào, cái này cần được nghiên cứu, giữa quyền nhân thân, bí mật đời tư theo hiến phép quy định cộng với chống tham nhũng.
"Hiện nay ở một số nước như Singapore, Trung Quốc họ làm rất tốt, nhưng cơ chế công khai minh bạch tài sản của họ rất rõ ràng, khi mua tài sản phải có đăng ký quyền sở hữu tài sản, phải nộp thuế tài sản.
Nguồn tiền như mua bất động sản trước khi có bất động sản đem đi, phải chứng minh nguồn gốc, dẫn tới nguồn tiền trong sạch, minh bạch đăng ký tài sản phải có, nhiều nước còn yêu cầu nộp thuế, chi tiêu.
Còn chế độ lương, nhận quà, chi tiêu thanh tra tài khoản của ngân hàng, chúng ta hầu hết tiền mặt, giao dịch nhân sự không kiểm soát qua ngân hàng, qua các tổ chức tín dụng, nên không giám sát được.
Cho nên đây là một bài toán khó những cũng phải tìm ra phương án tối ưu để có hướng đi cho sự việc này, quan trọng có quyết tâm làm hay không?", ông Xuyền hy vọng. (Đất Việt 7/9) đầu trang(
Sau nhiều lần cho biết thời hạn công bố kết luận thanh tra tài sản của ông Phạm Sỹ Quý, Cục trưởng Cục chống tham nhũng đã không còn hứa nữa.
Liên quan việc công bố kết luận thanh tra khối tài sản của Giám đốc Sở TN-MT Yên Bái - Phạm Sỹ Quý, trao đổi với Đất Việt, ngày 6/9, ông Phạm Trọng Đạt - Cục trưởng Cục Chống tham nhũng (Thanh tra Chính phủ) thêm một lần nữa khẳng định vẫn chưa rõ thời gian công bố.
Cụ thể, ông Đạt cho hay: "Tôi hiện nay vẫn đang đi công tác chưa về Hà Nội, sau khi kết thúc thanh tra tại Thái Bình tôi đang làm việc tại Nam Định.
Còn công bố kết luận về khối tài sản của ông Phạm Sỹ Quý thì ngày 30/8 vừa qua, tại buổi họp báo Chính phủ, đại diện Chính phủ đã thông tin, tất cả vấn đề liên quan đến khối tài sản của Giám đốc Sở TN-MT Yên Bái Phạm Sỹ Quý sẽ được Thanh tra Chính phủ công bố sớm".
Bên cạnh đó, theo ông Đạt, hiện nay mọi việc làm đều phải có quy trình, vì đây là kết luận thanh tra chứ không phải một văn bản bình thường. Hiện nay lãnh đạo Thanh tra Chính phủ vẫn chưa ký nên chưa thể công bố được, chắc phải có thời gian xem xét kết luận thanh tra.
Về thời hạn công bố sau 7 lần lên tiếng, ông Đạt nói thẳng: "Việc này tôi đang đi công tác, nên không biết khi nào sẽ quyết định công bố, tất cả đều do lãnh đạo Thanh tra chính phủ chỉ đạo".
Trước đó, ngày 31/8, cũng chia sẻ với Đất Việt, ông Đạt cho hay, đơn vị này đã báo cáo xin ý kiến và đang chờ phê duyệt của cấp trên. Thời điểm công bố kết luận phụ thuộc vào lãnh đạo.
“Việc này phải báo cáo, xin ý kiến. Bây giờ lãnh đạo chưa ký nên không thể nói cụ thể ngày nào công bố được. Khi nào có kết luận chúng tôi sẽ thông báo. Việc này sẽ làm theo Luật”, ông Đạt khẳng định.
Tính đến thời điểm hiện tại đã 7 lần Thanh tra Chính phủ lùi lại việc công bố kết luận thanh tra khối tài sản của Giám đốc Sở TN-MT Yên Bái. Ban đầu, Cục Chống tham nhũng dự kiến công bố kết luận thanh tra từ ngày 30/7 hoặc đầu tháng 8.
Do nhiều lần trì hoãn nên tại phiên họp báo thường kỳ Chính phủ chiều 30/8, báo chí tiếp tục đặt câu hỏi về vấn đề này với đại diện Thanh tra Chính phủ.
Thông tin với báo chí, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng cho biết, đối với vụ việc Giám đốc Sở TN-MT Yên Bái Phạm Sỹ Quý, Thanh tra Chính phủ đang tiến hành thanh tra.
Theo ông Dũng, thời hạn kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ đã quá hạn rồi, hiện nay đang quá trình hoàn thiện, để kết luận, công bố. (Đất Việt 7/9) đầu trang(
Phát biểu tại cuộc họp do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho ý kiến về Báo cáo phòng chống tham nhũng của Chính phủ, đại biểu Nguyễn Bá Sơn (Đà Nẵng) nhận xét: “Giải thích bán chổi đót, nuôi heo mà có biệt phủ chính là thái độ khinh nhờn pháp luật, coi thường nhân dân”.
Tương tự, đại biểu Nguyễn Đức Sáu (TP Hồ Chí Minh) nêu một hiện trạng, cán bộ khi xin đất thì nói là có khó khăn về nhà ở nhưng khi bị phát hiện có những khối tài sản lớn thì lại bảo do mẹ nuôi, em nuôi tặng. “Dư luận họ đâu có mù mà tin vào những giải thích như vậy” – ông kết luận,
Cả hai đại biểu này đều cho rằng những người như vậy không xứng là cán bộ, đảng viên nữa. Tuy nhiên, do họ không xứng đáng với chức vụ của mình nhưng họ vẫn tồn tại và thăng tiến, tài sản của họ vẫn vững như bàn thạch nên thái độ “coi thường dân” và “nghĩ dư luận là mù” liên tục phát triển, kế thừa các lập luận, giải thích về tài sản như “làm thối móng tay”, “chạy xe ôm” hay do “cha mẹ để lại và thực hành tiết kiệm”. Chính bản thân của sự việc này đã là minh chứng tại sao ra sức kêu gọi chống tham nhũng mà tham nhũng “vẫn ổn định”.
Không cứ khi giải thích về nguồn gốc tài sản của mình, cán bộ mới có thái độ “coi thường nhân dân” mà ở các lĩnh vực khác vĩ mô hơn rất nhiều như lĩnh vực ban hành chính sách, cán bộ giữ chức vụ cao giải thích: “Tăng thuế giá trị gia tăng không ảnh hưởng đến người nghèo” chẳng hạn. Hay, tăng giá điện mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, tăng viện phí có lợi cho bệnh nhân nghèo, thực phẩm xuất khẩu tồn dư hóa chất bị trả về thì “luộc lên là ăn được”... Ở những trường hợp này thì “dư luận họ mù” hết sao?
Không chỉ lời nói, sự coi thường dư luận, coi thường nhân dân còn thể hiện ở cả hành động. Tăng thuế VAT là một việc tác động đến đời sống của toàn bộ nhân dân, thế mà việc lấy ý kiến thì được “các bộ ngành” nhất trí và đồng thuận. Tại sao không hỏi cái đối tượng bị thu thuế, ý kiến của họ mới là xác đáng và sự đồng thuận của họ mới là sự ủng hộ có sức nặng khả thi.
Một đại biểu Quốc hội khác tỏ ra nghi ngờ về con số trung thực khi cán bộ kê khai tài sản. 99% kê khai thế còn 1% ở đâu, chỉ có 3 trường hợp kê khai thiếu trung thực thôi, ông khẳng định là dân không tin vào điều này. Thêm nữa, trước đây khi đề cập đến việc kê khai tài sản, một người giữ chức vụ trong lực lượng chống tham nhũng nói rằng:“Kê khai chưa đầy đủ chứ không phải thiếu trung thực” – phát biểu này chứng tỏ sự coi thường dân ở mức độ rất cao.
Từ phát biểu đến hành động của một số cán bộ có chức quyền tỏ thái độ coi thường nhân dân, khiến nhân dân không tin mà vẫn tại vị, thậm chí không phải “rút kinh nghiệm một cách sâu sắc” gì cả đã chứng minh cho tình trạng “người chống tham nhũng, người chống lưng, không phân biệt thật giả” như nhận định của một đại biểu Quốc hội đã và đang diễn ra, làm cho hiệu quả của việc chống tham nhũng giảm sút đáng kể. (Pháp Luật Việt Nam 7/9) đầu trang(
Chiều 6-9, Đoàn công tác số 2 của Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống tham nhũng (PCTN) do Thượng tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an, Phó Trưởng ban Chỉ đạo T.Ư về PCTN làm trưởng đoàn, có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nam Định, thông qua báo cáo tự kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Nam Định và các cơ quan, đơn vị về kết quả xử lý tổ chức, cá nhân sai phạm, có dấu hiệu tham nhũng; việc xử lý trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng.
Theo báo cáo tự kiểm tra của Tỉnh ủy Nam Định, từ năm 2011 đến tháng 3-2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 105 tổ chức đảng và 537 đảng viên, phát hiện 86 tổ chức đảng và 477 đảng viên vi phạm. Cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 55 tổ chức đảng, kỷ luật 1.579 đảng viên, trong đó có 409 ủy viên, khiển trách 898 trường hợp, cảnh cáo 419 trường hợp, cách chức 98 trường hợp, khai trừ 164 trường hợp. Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng xử lý kỷ luật 190 trường hợp sai phạm là cán bộ, đảng viên các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu để xảy ra tham nhũng và có liên quan tham nhũng. Trong đó, 120 trường hợp bị xử lý kỷ luật về đảng và 70 trường hợp bị xử lý kỷ luật về chính quyền.
Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, Thượng tướng Tô Lâm nhấn mạnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nam Định cần tập trung chỉ đạo xử lý những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước về các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng. Thượng tướng lưu ý, kết quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng sẽ góp phần nhận diện, xử lý các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Công tác kiểm tra, giám sát phải trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, lãng phí, đồng thời hạn chế ảnh hưởng hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được kiểm tra, giám sát.
Theo kế hoạch, trong thời gian làm việc tại Nam Định, Đoàn công tác số 2 sẽ thực hiện kiểm tra, giám sát tại 16 cơ quan, đơn vị.
Sáng cùng ngày, Đoàn công tác số 7 của Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống tham nhũng do đồng chí Phan Văn Sáu, Ủy viên T.Ư Đảng, Tổng Thanh tra Chính phủ làm Trưởng đoàn đến làm việc với Tỉnh ủy Vĩnh Long. Nội dung làm việc chung quanh công tác kiểm tra, giám sát thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm, giai đoạn từ ngày 1-1-2011 đến 31-12-2016 và quý I-2017.
Theo báo cáo, qua công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử, thời gian qua, tỉnh đã xử lý kỷ luật 86 cán bộ, đảng viên vi phạm liên quan đến tham nhũng với các hình thức: khai trừ đảng 29 trường hợp, trong đó xem xét kỷ luật hai cán bộ là người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, đơn vị mình phụ trách; cảnh cáo 29 trường hợp; khiển trách 20 trường hợp; cách chức tám trường hợp. Xem xét xử lý kỷ luật sáu cán bộ, đảng viên, trong đó 2 trường hợp cảnh cáo và 4 trường hợp khiển trách, do vi phạm liên quan sai phạm kinh tế. (Nhân Dân 7/9) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Mẫn cán, trách nhiệm với công việc, luôn thể hiện vai trò xung kích để hỗ trợ nhân dân và cộng đồng…, đó là nét chung của những tấm gương "Cán bộ, công chức, viên chức trẻ, giỏi, thân thiện" năm 2017 vừa được Thành đoàn TP Hồ Chí Minh tuyên dương. Ở họ, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện bằng những công việc rất cụ thể…
Từng là nhân viên Đội quản lý thuế thuộc Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn Khu vực 4 (Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh), anh Nguyễn Trọng Sinh (sinh năm 1987) luôn trăn trở về việc đôn đốc thu hồi, xóa nợ thuế với những doanh nghiệp (DN) nợ đọng thuế cả 10 năm, 20 năm. Nhìn hàng trăm bộ hồ sơ giấy ngồn ngộn phải xử lý, anh Sinh xem lại quy trình thu hồi, xóa nợ thuế và đã bắt tay viết phần mềm trong ba tháng liền. Tháng 11-2016, “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hồ sơ, đôn đốc thu hồi, xóa nợ thuế tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn Khu vực 4” của anh Sinh đã được lãnh đạo đơn vị đưa vào áp dụng thực tế.
Anh Sinh dẫn chứng, có một DN ở huyện Cần Giờ nợ thuế hơn một tỷ đồng từ năm 1989, nhưng chi cục loay hoay không biết thu hồi nợ thế nào. Sau khi “áp” phần mềm, hồ sơ của DN này cũng như các DN phá sản khác đã được gắn “lý lịch” rõ ràng. Sau đó, “lý lịch” của DN lần lượt được chuyển đến cơ quan thuế, tòa án xem xét, kiểm tra, đối chiếu để quyết định thu hồi hay xóa nợ. Chưa đầy một năm sau khi áp dụng, Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn Khu vực 4 đã đốc thu được hơn 500 triệu đồng; xóa nợ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế gần 6 tỷ đồng; thực hiện các biện pháp đốc thu 330 bộ hồ sơ...
Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn Khu vực 4 Lê Chiến Thắng nhận xét: “Sáng kiến và giải pháp của anh Nguyễn Trọng Sinh đã giúp cho công tác quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu được minh bạch, góp phần đẩy nhanh tiến trình cải cách, hiện đại hóa của ngành hải quan. Giải pháp này còn nâng cao hiệu quả công việc, khối lượng xử lý từ hai bộ hồ sơ tăng lên sáu bộ hồ sơ mỗi ngày; rút ngắn thời gian tập hợp số liệu, tra cứu hồ sơ khi cần số liệu báo cáo, phục vụ thanh tra, kiểm tra, quản lý hồ sơ điện tử song song với quản lý hồ sơ giấy”.
Hiện nay, anh Nguyễn Trọng Sinh đã chuyển công tác về Đội thủ tục hàng hóa nhập khẩu, làm nhân viên kiểm hóa. Sinh tâm sự: “Dù làm việc ở vị trí nào, người cán bộ, công chức cũng phải thực hiện tốt nhất công việc được giao, góp phần làm cho bộ máy hành chính ngày càng hiệu quả và minh bạch hơn”.
Hiện là Phó Đội trưởng Đội Quản lý ấn chỉ thuộc Chi cục Thuế quận 1, chị Cao Thị Bích Lân (sinh năm 1988) luôn bận rộn với các chương trình cải cách hành chính tại đơn vị nhằm góp phần giảm đến mức thấp nhất các thủ tục hành chính còn rườm rà cũng như hạn chế sự phiền hà đối với người nộp thuế. Việc triển khai bán hóa đơn lẻ cho hộ, cá nhân kinh doanh và cấp hóa đơn lẻ cho hộ, tổ chức, cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng cần có hóa đơn (để giao cho khách hàng) được cơ quan thuế thực hiện đã góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hộ, cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, trong thực tế cũng đã xảy ra tình trạng lợi dụng bán, cấp hóa đơn lẻ để hợp thức hóa chứng từ mua vào, bán ra, gây thất thu ngân sách nhà nước.
Để khắc phục hạn chế này, chị Bích Lân đã đề xuất thực hiện công trình “Chuẩn hóa dữ liệu cấp, bán hóa đơn lẻ trong ứng dụng Quản lý ấn chỉ của ngành” với Ban Chấp hành Đoàn và lãnh đạo đơn vị. Chị Bích Lân cùng với Đội Quản lý ấn chỉ và bộ phận Tin học xây dựng một phần mềm để hỗ trợ trong quá trình chuẩn hóa, được cài đặt tới từng máy tính cá nhân của mỗi đoàn viên là nhân viên của đơn vị. Bích Lân chia sẻ, phần mềm có chức năng cung cấp một số thông tin hóa đơn bán lẻ trong phần mềm quản lý ấn chỉ của ngành, đồng thời kết xuất báo cáo, tra cứu thông tin của từng hóa đơn bán lẻ.
Bản thân Bích Lân cũng trực tiếp tham gia công tác chuẩn hóa để cùng kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc mà đoàn viên gặp phải. Kết quả, Bích Lân cùng đồng nghiệp đã thực hiện chuẩn hóa số lượng hơn 2.000 quyển hóa đơn (tương đương 103.950 tờ hóa đơn bán lẻ) từ năm 2012 đến năm 2016 nhằm ngăn chặn tình trạng tiêu cực, gây thất thu ngân sách nhà nước. Không chỉ hiến kế cho công tác chuyên môn, Cao Thị Bích Lân còn mạnh dạn đề xuất sáng kiến “Ứng dụng tin học vào công tác quy hoạch cán bộ tại Chi cục Thuế quận 1” được lãnh đạo đơn vị đánh giá cao...
Năm nay, Ban tổ chức đã nhận được 112 hồ sơ tham gia xét trao giải thưởng "Cán bộ, công chức, viên chức trẻ, giỏi, thân thiện". Sau khi thẩm định, Hội đồng đã xét chọn 19 hồ sơ đạt yêu cầu để trao giải với các mô hình rất thực tế như cải thiện và rút ngắn thủ tục hành chính cho người dân; đẩy mạnh phong trào nụ cười thân thiện, văn hóa giao tiếp nơi công sở; đề xuất sáng kiến làm chứng minh nhân dân tại nhà...
Theo Thành đoàn TP Hồ Chí Minh, các điển hình được tuyên dương là những đoàn viên, thanh niên luôn nỗ lực, phấn đấu trong công tác, có những công trình và phần việc cụ thể trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; năng động, sôi nổi tham gia các hoạt động tình nguyện tại địa phương, đơn vị. Mỗi sáng kiến, cải tiến được thực hiện vừa mang lại hiệu quả trong công tác chuyên môn, về thời gian lao động và hiệu quả xã hội, phát huy vai trò xung kích của đoàn viên, thanh niên thành phố trong việc tham gia cải cách hành chính, đồng thời tham gia có hiệu quả phong trào “3 trách nhiệm” trong cán bộ, công chức trẻ do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh triển khai... (Nhân Dân 6/9) đầu trang(
Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, các con số 300, 400 hay 500 điều kiện, giấy phép con được thống kê không quan trọng bằng việc, thời gian tới bộ có cải cách hay không, bao nhiêu thủ tục sẽ tiếp tục được gỡ bỏ.
Theo đánh giá của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), đến nay toàn ngành Công Thương vẫn còn tồn tại khoảng 1.216 điều kiện kinh doanh và như vậy sẽ cản trở việc huy động phát triển nguồn lực, sản xuất. Do vậy cả hai đơn vị này đều kiến nghị bộ Công Thương tiếp tục cải cách hành chính, cắt giảm tiếp các thủ tục, trong đó có việc bãi bỏ một số điều kiện kinh doanh đối với mặt hàng khí, gạo, rượu và dịch vụ logistics.
Văn phòng bộ Công Thương cho biết, tại cuộc họp chiều 5/9, bộ trưởng Trần Tuấn Anh quán triệt rằng kết quả khảo sát của VCCI cũng như CIEM có cơ sở và xuất phát từ thực tế, do vậy, các đơn vị không nên bàn chuyện đúng sai và phản biện lại các số liệu nghiên cứu. Các con số 300, 400 hay 500 điều kiện, giấy phép con được thống kê không quan trọng bằng việc, thời gian tới bộ có cải cách hay không, bao nhiêu thủ tục sẽ tiếp tục được gỡ bỏ.
Bộ trưởng Trần Tuấn Anh yêu cầu, trước mắt, các đơn vị cần phải rà soát ngay các thủ tục, điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm trong thời gian vừa qua đã phát huy hiệu quả như thế nào. Từ đánh giá cụ thể kết quả đã làm được, các đơn vị cần nhanh chóng rà soát lĩnh vực mình quản lý để tiếp tục gỡ bỏ các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, trên cơ sở chỉ giữ lại các điều kiện cần thiết, tiến tới mục tiêu chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Cái gì có thể tháo gỡ, cắt bỏ được ngay thì cần cắt bỏ ngay. Cái gì chưa cắt bỏ ngay được thì nghiên cứu giải pháp phù hợp.
“Quan điểm của chúng ta là làm một cách triệt để, khách quan và công tâm nhất. Chúng ta cải cách không phải vì bộ Công Thương mà là vì doanh nghiệp và tiến tới mục đích xa hơn là vì xã hội, đại bộ phận dân chúng. Một khi doanh nghiệp còn phàn nàn, người dân còn kêu than, tức là nhiệm vụ của chúng ta vẫn chưa hoàn thành”, bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.
Bộ trưởng Công Thương cũng cho rằng, việc cải cách hành chính cần dựa trên tinh thần cầu thị, cải thiện môi trường kinh doanh.
Được biết, trước ngày 14/9, các đơn vị thuộc bộ Công Thương sẽ phải gửi bản tổng hợp báo cáo kế hoạch cải cách hành chính báo cáo Bộ trưởng xem xét và cùng với tổ công tác của Bộ tiến hành rà soát và có các quyết định cắt giảm cụ thể.
Các đơn vị sẽ tiến hành rà soát các thủ tục điều kiện kinh doanh, sản xuất trên tất cả các lĩnh vực mà bộ Công Thương chịu trách nhiệm quản lý trên cơ sở chuyển đổi phương thức quản lý Nhà nước từ nặng về tiền kiểm để chuyển dần sang hậu kiểm. Điều kiện gia nhập thị trường theo các cam kết quốc tế dành cho doanh nghiệp FDI. Đáp ứng các tiêu chí theo quy định tại Điều 7 luật Đầu tư 2014. Công tác quản lý Nhà nước khi chuyển đổi phương thức quản lý Nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
“Điểm khác biệt lần này, đích thân Bộ trưởng sẽ chịu trách nhiệm giám sát công tác cải cách hành chính” – bộ Công Thương cho biết. (Người Đưa Tin 6/9) đầu trang(
KINH TẾ
Tại buổi họp báo thường kỳ chiều 6/9, đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho hay, sáng 9/9 tới đây, tại Long An, Bộ Nông nghiệp sẽ chủ trì tổ chức lễ xuất khẩu gà đầu tiên sang thị trường Nhật Bản, thông qua Cảng biển quốc tế Long An (tỉnh Long An).
“Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc xuất khẩu vào thị trường bậc cao trong xuất khẩu chăn nuôi nói chung và gia cầm nói riêng, gắn việc phát triển thị trường với kiểm soát dịch bệnh. Bộ xác định sau Nhật Bản, Hà Lan là thị trường trọng điểm để đặt những viên gạch đầu tiên”, đại diện Bộ Nông nghiệp khẳng định.
Đối với thị trường rau quả, theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ, ước giá trị nhập khẩu mặt hàng rau quả tháng 8 năm 2017 đạt 169 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu rau quả 8 tháng đầu năm 2017 đạt 1,02 tỷ USD, tăng 93,7% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, mặt hàng rau ước đạt 190 triệu USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ 2016 và mặt hàng quả đạt 809 triệu USD (khoảng gần 18.000 tỷ đồng), tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2016.
Thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất trong 7 tháng đầu năm 2017 là thị trường Thái Lan (chiếm tới 61,8% thị phần), tiếp đến là thị trường Trung Quốc (chiếm 16%).
Chia sẻ về con số Việt Nam đã chi 18.000 tỷ đồng để nhập khẩu các loại hoa quả từ các nước, nhất là hoa quả từ thị trường Thái Lan, ông Hoàng Trung, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, cho biết, phía cục đã kiểm tra đầu nhập và đầu xuất.
Theo đó, trong thời gian này có đến 90% lượng hoa quả Thái Lan được nhập về Việt Nam rồi tái xuất sang Trung Quốc. Thị trường Việt chỉ tiêu thụ khoảng 10% lượng hoa quả nhập khẩu từ Thái Lan.
Ông Hoàng Trung cũng cho hay, trong thời gian qua, việc đàm phán với Thái Lan đạt kết quả tích cực. Do đó, hầu hết các loại hoa quả của Việt Nam đều có thể xuất khẩu sang thị trường này. Hiện một năm chúng ta xuất khẩu khoảng 9-10 ngàn tấn hoa quả sang Thái Lan.
Riêng về quả nhãn, mỗi năm Việt nam xuất khẩu khoảng 300 ngàn tấn và tới thời điểm này lượng nhãn xuất khẩu đã đạt khoảng 200 ngàn tấn. Trong đó, thị trường chủ yếu là Trung Quốc và Mỹ. Đáng chú ý, mỗi tháng chúng ta xuất được khoảng 30 tấn nhãn sang thị trường khó tính là Mỹ.
“Trong thời gian tới, trái cây của Việt Nam tiếp tục mở cửa một số thị trường khác như Úc, Đài Loan, Mỹ…”, ông Trung nhấn mạnh. (VnEconomy 7/9) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ NN-PTNT, VN chi gần 170 triệu USD nhập rau quả trong tháng 8 vừa qua, nâng tổng kim ngạch nhập mặt hàng này từ đầu năm đến hết tháng 8 lên 1,02 tỉ USD, tăng gần 94% so với cùng kỳ 2016.
Đặc biệt, trong đó kim ngạch nhập khẩu trái cây chiếm trên 800 triệu USD, gấp đôi cùng kỳ. Thái Lan là thị trường nhập rau quả lớn nhất của VN, chiếm 62% tổng kim ngạch rau quả, kế đến là Trung Quốc chiếm 16%.
Ở chiều ngược lại, trong 8 tháng, xuất khẩu rau quả đạt hơn 2,3 tỉ USD, tăng 46,5% so với cùng kỳ. Trong đó, 4 thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của VN chiếm hơn 85% tổng giá trị xuất khẩu rau quả (đạt 1,97 tỉ USD) gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ. (Thanh Niên 7/9) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Cựu Chủ tịch Ngân hàng Xây Dựng Phạm Công Danh đã yêu cầu HĐXX triệu tập Cựu TGĐ Ngân hàng Xây Dựng Phan Thành Mai. Ông Mai hiện đang thụ án trong một vụ án khác.
Liên quan đến việc Phạm Công Danh mua lại NH Đại Tín vào năm 2012, chiều 06/09, luật sư Phan Trung Hoài, luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh tại phiên tòa xét xử đại án OceanBank đã đặt câu hỏi đối với ông Danh.
Tại thời điểm này, NH Đại Tín có số dư nợ khoảng 46.000 tỷ đồng, trong đó nhóm khách hàng là Tập đoàn Phú Mỹ (công ty của bà Hứa Thị Phấn) và nhóm Công ty Phương Trang có dư nợ lớn nhất. Phạm Công Danh cho biết nhận chuyển giao NH Đại Tín từ Hà Văn Thắm với số cổ phần tại ngân hàng này là 84,92%. Hà Văn Thắm cũng thừa nhận là người bàn giao hồ sơ NH Đại Tín và Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần của bà Phấn tại NH này cho ông Danh sau khi có sự đồng ý của bà Phấn. Tuy nhiên, trong việc này cựu Chủ tịch OceanBank khẳng định thực chất Phạm Công Danh mua lại NH Đại Tín từ bà Phấn, vì giao dịch mua lại NH này giữa Hà Văn Thắm và Hứa Thị Phấn trước đó đã không được thực hiện.
Trả lời luật sư Phan Trung Hoài về thực trạng NH Đại Tín khi đó, Phạm Công Danh nói: “Tuy biết thực trạng NH Đại Tín xấu, xấu hơn mức độ đánh giá trước đó, 95% dư nợ là nợ xấu. Ông Hoàng Hữu Toàn (nguyên Chủ tịch NH Đại Tín) và ông Trần Sơn Nam (nguyên TGĐ NH Đại Tín) từng gặp tôi nói rất rõ nếu không có anh cứu NH này thì chúng tôi rất khổ”.
Và đến ngày 6/6/2012, Phạm Công Danh chính thức ký thỏa thuận nhận chuyển nhượng 84,92% cổ phần tại Ngân hàng Đại Tín, bà Hứa Thị Phấn chính thức không còn là cổ đông lớn của ngân hàng này. Với tư cách là chủ sở hữu Tập đoàn Phú Mỹ, con nợ lớn nhất của NH Đại Tín, bà Hứa Thị Phấn cam kết trả lại toàn bộ tài sản mà tập đoàn này còn nợ ngân hàng, trong đó có 2 lô đất tại huyện Nhà Bè, TP. HCM. Cựu Chủ tịch NH Xây Dựng cũng đề nghị HĐXX triệu tập Phan Thành Mai, cựu TGĐ Ngân hàng Xây Dựng sau khi được đổi tên từ NH Đại Tín. Đây là lần thứ hai ông Danh đề nghị HĐXX triệu tập Phan Thành Mai.
“Tôi nghĩ tôi đi mua tài sản đang sử dụng để đi vay tại ngân hàng chứ không phải mua lại ngân hàng đó. Tôi có trực tiếp xem hồ sơ pháp lý 2 lô đất ở Nhà Bè, anh Mai là người trực tiếp thỏa thuận tham gia và phụ trách việc này. Cho đến nay NH Xây Dựng chưa hề nhận được 2 lô đất này. Kính mong HĐXX có sự triệu tập anh Mai để làm rõ.”
HĐXX cho biết đã gửi giấy triệu tập Phan Thành Mai đến phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, do ông Mai đang phải thụ án tù trong vụ án xảy ra tại Ngân hàng Xây Dựng nên chưa thể triệu tập được ngay.
Phan Thành Mai và Phạm Công Danh là bộ đôi quyền lực nhất của NH Xây Dựng sau khi ngân hàng này được đổi tên từ NH Đại Tín. Tuy nhiên, điều hành ngân hàng chưa lâu, cả hai đã phải hầu tòa vào năm 2016 do những sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại ngân hàng này. Trước đó, Phan Thanh Mai là Tổng Thư ký Hiệp hội BĐS Việt Nam và cũng như Phạm Công Danh, hoàn toàn không có nghiệp vụ về ngân hàng.
Để chính thức sở hữu NH Đại Tín, Phạm Công Danh và Tập đoàn Thiên Thanh đã chuyển vào tài khoản của bà Hứa Thị Phấn 3.688 tỷ đồng để thanh toán cho khoản tiền hơn 4.000 tỷ đồng. Thỏa thuận này tuy có khác nhau về con số so với thỏa thuận giữa Hứa Thị Phấn và Hà Văn Thắm trước đó nhưng về bản chất là như nhau. Đó là Hứa Thị Phấn đồng ý về mặt nguyên tắc nhượng lại 84,92% cổ phần NH Đại Tín cho Thắm với mức giá 4,6 tỷ đồng kèm theo nghĩa vụ trả khoản nợ hơn 3.500 tỷ đồng của bà Phấn.
Tuy nhiên, trả lời câu hỏi của luật sư Trương Thị Minh Thơ, luật sư bào chữa cho bị cáo Hứa Thị Phấn, ông Danh thừa nhận đã rất nhiều lần bà Phấn không đồng ý chuyển nhượng ngân hàng do lo sợ ông Danh không có kinh nghiệm làm ngân hàng. (Infonet 7/9) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Khu vực Tây Nguyên gồm các tỉnh: Đác Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Đác Nông, Lâm Đồng, với phần lớn diện tích là đất bazan rất thích hợp cho nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như cà-phê, cao-su, điều, hồ tiêu…, nếu biết tổ chức sản xuất tốt sẽ trở thành vùng nông sản hàng hóa có giá trị cao.
Với hơn 2 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có hơn 850 nghìn ha đất trồng cây hằng năm, và hơn 1,15 triệu ha đất trồng cây lâu năm, hiện toàn vùng Tây Nguyên có hơn 582 nghìn ha cà-phê, trong đó Đác Lắc là địa phương có diện tích cà-phê lớn nhất với hơn 202 nghìn ha. Tây Nguyên đã trở thành một trong những vùng chuyên canh có năng suất cà-phê cao nhất thế giới, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất, xuất khẩu cà-phê đứng hàng thứ hai thế giới, trong đó đứng đầu về sản xuất, xuất khẩu cà-phê vối.
Nhờ lợi thế về đất đai, cộng với thực hiện tốt biện pháp thâm canh, nhất là áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng, chăm sóc, bón phân, tưới nước cho cây cà-phê, nhiều hộ trồng cà-phê đã đầu tư thay dần các vườn cà-phê già cỗi, hết chu kỳ kinh doanh, năng suất thấp, kém hiệu quả kinh tế bằng các giống cà-phê mới. Đồng thời, để tiết kiệm nước tưới, nhiều nhà vườn đã trồng các loại cây che bóng, chắn gió trong vườn cà-phê; quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) trên cây cà-phê cũng được triển khai; hàng chục nghìn nông hộ tham gia sản xuất cà-phê bền vững, hay các chương trình sản xuất cà-phê có chứng nhận theo bộ quy tắc của Utz Certify, 4C,… để gia tăng giá trị của sản xuất.
Nhờ vậy, năng suất cà-phê ngày càng tăng, bình quân đạt từ 2.350 đến 2.500 kg cà phê nhân/ha, cho sản lượng mỗi năm từ 1,3 triệu tấn cà-phê nhân. Do xây dựng mô hình sản xuất tốt, nhiều hộ sản xuất cà-phê cho thu nhập từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng/ha. Ngoài cây cà-phê, các tỉnh Tây Nguyên còn có các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, như: Hồ tiêu với tổng diện tích hơn 71 nghìn ha, cao-su gần 252 nghìn ha, điều 74 nghìn ha…
Tuy nhiên, theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, quá trình phát triển nông nghiệp ở khu vực này nói chung và phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày hàng hóa nói riêng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, vị trí của vùng. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ; chất lượng và giá trị thu được chưa cao, nhất là các mặt hàng nông sản chủ lực như cà-phê, hồ tiêu, cao-su, điều chủ yếu xuất khẩu thô, giá trị gia tăng thấp, khiến cho thu nhập của người dân chưa cao.
Ngoài nguyên nhân khách quan do biến đổi khí hậu làm hạn hán, lũ lụt tăng mạnh, không theo quy luật, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, có thể thấy nguyên nhân chủ quan là do cơ chế, chính sách tạo bứt phá cho nông nghiệp Tây Nguyên chưa được điều chỉnh phù hợp, kịp thời với thực tiễn, nhất là các chính sách về đất đai, đầu tư, tín dụng cho phát triển nông nghiệp. Thêm vào đó, tình trạng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp không theo quy hoạch, trồng cây công nghiệp theo phong trào dẫn đến tình trạng “trồng, chặt, chặt trồng” thường xuyên diễn ra.
Để Tây Nguyên trở thành vùng sản xuất nông sản hàng hóa lớn của cả nước, theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các bộ, ngành, cần phối hợp các địa phương xây dựng chương trình hỗ trợ, cơ chế chính sách đặc thù, tạo thuận lợi cho khu vực này xây dựng một số mô hình liên kết sản xuất, kinh doanh công nghệ cao.
Trong đó, các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư đóng vai trò nòng cốt xây dựng, thiết kế các chương trình nghiên cứu, phát triển nông nghiệp Tây Nguyên mang tính tổng thể cả về khoa học quản lý, cơ chế, chính sách, thị trường và kỹ thuật công nghệ; quy hoạch vùng trồng, vùng sản xuất nông nghiệp đi liền với tổ chức nông dân, tổ chức thị trường gắn với công nghệ cao, tạo dựng nền nông nghiệp hữu cơ. Các doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân để đưa các ngành hàng chủ lực của Tây Nguyên như cà-phê, hồ tiêu, ca-cao, hạt điều… tham gia vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.
Còn các địa phương khu vực Tây Nguyên với vai trò “chủ nhà” cần chú trọng tới quản lý sử dụng đất nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, tránh tình trạng phá vỡ quy hoạch các loại cây trồng chủ lực như hiện nay. (Nhân Dân 7/9) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
"Miệng nhà quan có gang có thép", câu thành ngữ ấy phải xem lại trong trường hợp phát ngôn của vị quan chức đứng đầu một cơ quan chuyên trách chống tham nhũng khi cứ hết lần này tới lần khác phải lùi thời gian công bố kết quả thanh tra tài sản gia đình ông giám đốc Sở TN-MT tỉnh Yên Bái.
Khi mới bắt tay vào thanh tra tài sản của gia đình quan đầu sở ngành tài nguyên của tỉnh miền núi Yên Bái vào cuối tháng 6-2017, ông Cục trưởng Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ công bố rõ rành rành rằng cuộc thanh tra sẽ tiến hành trong 15 ngày và kết quả sẽ được công bố vào đầu tháng 7 vừa qua. Lúc ấy, nhiều người băn khoăn, hồ nghi và bức xúc về khối tài sản "khủng" của gia đình quan chức một tỉnh thuộc diện nghèo nhất nước và trông đợi cơ quan thanh tra xử lý đến nơi đến chốn.
Vậy nhưng, hết lần này tới lần khác, cái ngày công bố kết quả thanh tra tài sản của gia đình ông giám đốc sở cứ bị khất hết lần này tới lần khác, tính tới nay đã 5 lần. Sự chậm trễ mà người phát ngôn Chính phủ cũng phải lên tiếng là "đã quá thời hạn thanh tra".
Lý do trì hoãn công bố kết luận thanh tra mà dư luận vẫn gọi là "thanh tra biệt phủ ở Yên Bái" lần thì nói là để tỉnh tập trung khắc phục hậu quả lũ lụt, lần bảo chờ cấp thẩm quyền xem xét, quyết định…
Những lý do đó không thể thuyết phục được người dân. Không thể không đặt câu hỏi vì sao cứ trì hoãn mãi việc công bố kết luận thanh tra "biệt phủ"? Phải chăng tài sản của gia đình ông giám đốc sở này nhiều quá - như chính ông khai báo là nhiều nhà, đất, tài sản ở cả Yên Bái và Hà Nội - nên việc kiểm đếm, xác minh khó khăn? Hay còn có lý do nào khác, ví như ông giám đốc sở nhưng lại là em ruột của bà Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái?...
Thế nhưng, dù bất cứ lý do gì thì càng lùi thời gian công bố kết quả thanh tra càng khiến dư luận đặt ra nhiều hồ nghi.
Trong khi chưa thể công bố kết quả "thanh tra biệt phủ" ở Yên Bái, số liệu khác mà Thanh tra Chính phủ công bố cũng dấy lên nhiều dư luận. Đó là trong năm 2016, cả nước có 1.113.422 trường hợp kê khai tài sản song mới chỉ kiểm tra, xác minh được có 3 trường hợp vi phạm về kê khai tài sản, thu nhập. Một tỉ lệ quá nhỏ bé đến mức thật khó tin.
Tin được không con số trên khi thời gian qua, dư luận, người dân phát hiện rất nhiều trường hợp gia đình quan chức sở hữu tài sản giá trị lớn, lớn tới mức không thể có được nếu chỉ dựa vào đồng lương cán bộ, công chức? Vậy mà, vẫn có những quan chức xem thường người dân khi trả lời rằng khối tài sản "khủng" ấy là nhờ tích góp từ chạy xe ôm, buôn chổi đót, nuôi lợn, gà…
Kê khai tài sản, thu nhập là một trong biện pháp quan trọng để phòng chống tham nhũng. Tuy nhiên, biện pháp này sẽ bị vô hiệu hóa nếu kê khai mà không kiểm tra, xác minh được tài sản thực sự của cán bộ, công chức. Khi ấy, việc kê khai tài sản, thu nhập của quan chức chỉ là một việc làm hình thức. Thực tế đã cho câu trả lời rõ ràng.
Việc tiến hành thanh tra khối tài sản lớn của gia đình ông giám đốc sở ở Yên Bái đúng vào lúc dư luận cả nước đang "dậy sóng" được xem như là liều "thuốc thử" niềm tin. Chưa biết kết quả thanh tra có đáp ứng niềm tin của người dân trong công cuộc phòng chống tham nhũng hay không nhưng cứ mỗi lần lùi công bố kết quả thanh tra là một lần sụt giảm niềm tin này. (Người Lao Động 6/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Công tố viên cấp cao của Brasil - Rodrigo Janot cáo buộc hai cựu Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva và Dilma Rousseff...
Công tố viên cấp cao của Brasil - ông Rodrigo Janot cáo buộc hai cựu Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva và Dilma Rousseff vì tội thành lập một tổ chức tội phạm để điều hướng nhiều quỹ từ công ty dầu khí quốc gia của Brasil (Petrobras), hãng tin BBC cho biết ngày 6/9.
Công tố viên Rodrigo Janot cho hay, hai cựu Tổng thống Brasil cùng 6 thành viên đảng Lao động đã phạm phải hàng loạt tội liên quan tới Petrobras trong khoảng thời gian từ năm 2002 - 2016. Đây là những cáo buộc phạm tội đầu tiên với bà Rousseff - người bị phế truất vào năm 2016 vì vi phạm Luật Ngân sách.
Theo BBC, các cáo buộc này liên quan tới chiến dịch điều tra rửa tiền của Cảnh sát liên bang Brasil, trong đó xoáy mũi dùi cáo buộc việc Petrobras hối lộ các quan chức để giành hợp đồng, dùng tiền từ lợi nhuận của công ty.
Công tố viên Janot cho rằng, Tổng thống Lula là người đứng đầu tổ chức tội phạm trên và đã cùng đảng Lao động nhận khoảng 480 triệu USD tiền hối lộ trong nhiều cơ quan Nhà nước như Petrobras và Ngân hàng Phát triển quốc gia Brasil.
Về phía mình, hai cựu Tổng thống đã bác bỏ mọi cáo buộc chống lại họ. Ông Lula hiện vẫn là chính trị gia vô cùng nổi tiếng, phủ nhận các hoạt động tham nhũng và nghi ngờ đây là chướng ngại nhằm ngăn cản ông chạy đua chức Tổng thống năm 2018. Luật sư của ông Lula cho biết, cáo buộc này vô lý và luật này đã và đang được sử dụng một cách sai trái để ngăn cản cựu Tổng thống tham gia chính trường một lần nữa.
Trong khi đó, đại diện của bà Rousseff cho rằng, Văn phòng công tố viên không đưa ra được bằng chứng chứng minh các cáo buộc trên và kêu gọi Tòa án Tối cao đảm bảo quyền tự biện hộ của bà. (Giao Thông 7/9) đầu trang(./.
|
|||