|
Ngày 03 tháng 06 năm 2017
CHÍNH SÁCH MỚI
TIÊU ĐIỂM
PHÁT NGÔN NÓNG
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
SAI PHẠM
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
TRÁI KHOÁY
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH MỚI
Ngăn chặn khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài. Ngày 28-5, Thủ tướng Chính phủ có Công điện 732/CĐ-TTg về việc ngăn chặn, giảm và chấm dứt tình trạng tàu cá và ngư dân Việt Nam khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ NN&PTNT trình Chính phủ phê duyệt và triển khai ngay Chương trình hành động quốc gia về ngăn chặn, giảm thiểu và loại bỏ khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU Fishing).
Rà soát, sửa đổi các chính sách hiện hành, các quy định để siết chặt công tác quản lý; bổ sung các chế tài để xử lý nghiêm các hành vi vi phạm đối với chủ tàu, thuyền trưởng và tổ chức, cá nhân môi giới đưa tàu cá và ngư dân đi khai thác thủy sản trái phép ở vùng biển nước ngoài; tăng cường thực thi pháp luật trong quản lý khai thác thủy sản để ngăn chặn, giảm thiểu tàu cá và ngư dân vi phạm.
Bộ Quốc phòng chỉ đạo các lực lượng chức năng kiểm soát chặt chẽ tàu cá khi xuất, nhập bến; kiên quyết không cho ra khơi khi chưa đủ các thủ tục, giấy tờ, các trang thiết bị theo quy định; đơn vị nào để xảy ra vi phạm thì chỉ huy đơn vị đó chịu trách nhiệm trước Bộ Quốc phòng và trước pháp luật...
Đưa chất khác vào xăng dầu để trục lợi bị phạt tới 100 triệu đồng. Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 67/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí, thay thế Nghị định 97/2013/NĐ-CP ngày 27/8/2013. Theo đó, phạt tiền từ 60-100 triệu đồng đối với hành vi thực hiện cách pha trộn hoặc đưa các chất khác vào xăng dầu để trục lợi.
Theo quy định tại Nghị định số 97/2013/NĐ-CP hiện đang áp dụng, phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với cửa hàng bán lẻ xăng dầu sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng dầu bị tẩy xóa, sửa chữa. Nghị định số 67/2017/NĐ-CP đã nâng mức phạt đối với hành vi này lên từ 40-60 triệu đồng.
Mức phạt từ 40-60 triệu đồng cũng áp dụng đối với hành vi kinh doanh xăng dầu khi không có Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu hoặc Giấy chứng nhận đã hết thời hạn hiệu lực hoặc Giấy chứng nhận đã bị tước, bị thu hồi; cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn Giấy chứng nhận.
Đối với hành vi kinh doanh xăng dầu khi không có Giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu trong trường hợp có từ 2 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trở lên hoặc Giấy xác nhận đã hết thời hạn hiệu lực hoặc Giấy xác nhận đã bị tước, bị thu hồi thì bị phạt từ 60-80 triệu đồng.
Mức phạt 80-120 triệu đồng áp dụng đối với hành vi kinh doanh xăng dầu khi không có Giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu hoặc Giấy xác nhận đã hết thời hạn hiệu lực hoặc Giấy xác nhận đã bị tước, bị thu hồi; cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn Giấy xác nhận hoặc sử dụng Giấy xác nhận bị tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo.
Nghị định số 67/2017/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi không niêm yết giá bán lẻ xăng dầu hoặc niêm yết giá bán lẻ xăng dầu không đúng quy định, không rõ ràng gây nhầm lẫn cho khách hàng.
Phạt tiền từ 2-6 triệu đồng đối với hành vi niêm yết giá bán lẻ xăng dầu không đúng với giá do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối quy định.
Phạt tiền từ 40-60 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Tự ý điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu không đúng thời điểm thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu quy định; bán cao hơn giá niêm yết do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu quy định.
Mức phạt tiền quy định ở trên áp dụng đối với tổ chức. Đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền bằng một nửa đối với tổ chức.
Chính phủ quy định nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chính phủ vừa ban hành Nghị định 69/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, giáo dục đại học và các cơ sở giáo dục khác về: Mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; quy chế thi, tuyển sinh và văn bằng, chứng chỉ; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; cơ sở vật chất và thiết bị trường học; bảo đảm chất lượng, kiểm định chất lượng giáo dục; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ.
Bên cạnh đó, Bộ thực hiện nhiệm vụ quy định mục tiêu giáo dục, đào tạo phù hợp với các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ; ban hành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; ban hành, cập nhật và hướng dẫn danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy chế đào tạo và liên kết đào tạo.
Bộ có nhiệm vụ quy định khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; các môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo đối với các trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài.
Về sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc biên soạn, thẩm định, phê duyệt tài liệu được phép sử dụng; hướng dẫn việc lựa chọn tài liệu trong các cơ sở giáo dục mầm non; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; ban hành tiêu chí đánh giá sách giáo khoa và phê duyệt sách giáo khoa được phép sử dụng trên cơ sở kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; hướng dẫn việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông.
Quy định việc tổ chức biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng tài liệu giảng dạy, giáo trình đào tạo trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; tổ chức biên soạn giáo trình các môn lý luận chính trị, quốc phòng và an ninh để làm tài liệu sử dụng thống nhất trong giảng dạy, học tập trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo còn có nhiệm vụ ban hành chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ theo khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và khung trình độ quốc gia Việt Nam; hướng dẫn chi tiết thực hiện phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng; điều kiện đảm bảo chất lượng tối thiểu để thực hiện chương trình đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo có 26 đơn vị gồm: 1- Vụ Giáo dục Mầm non; 2- Vụ Giáo dục Tiểu học; 3- Vụ Giáo dục Trung học; 4- Vụ Giáo dục Đại học; 5- Vụ Giáo dục dân tộc; 6- Vụ Giáo dục thường xuyên; 7- Vụ Giáo dục Quốc phòng và An ninh; 8- Vụ Giáo dục Chính trị và Công tác học sinh, sinh viên; 9- Vụ Giáo dục thể chất; 10- Vụ Tổ chức cán bộ; 11- Vụ Kế hoạch - Tài chính; 12- Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; 13- Vụ Pháp chế; 14- Vụ Thi đua - Khen thưởng; 15- Văn phòng; 16- Thanh tra; 17- Cục Quản lý chất lượng; 18- Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục; 19- Cục Công nghệ thông tin; 20- Cục Hợp tác quốc tế; 21- Cục Cơ sở vật chất; 22- Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; 23- Học viện Quản lý giáo dục; 24- Trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh; 25- Báo Giáo dục và Thời đại; 26- Tạp chí Giáo dục.
Các đơn vị quy định từ 1 - 21 nêu trên là các đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các đơn vị quy định từ 22 - 26 là các đơn vị sự nghiệp trực thuộc phục vụ chức năng quản lý nhà nước của bộ.
Mức xử phạt vi phạm về điều kiện kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng. Nghị định số 67/2017/NĐ-CPquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí quy định hành vi vi phạm về điều kiện kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG) với mức từ 0,5 - 200 triệu đồng.
Cụ thể, hành vi sử dụng LPG chai mini không được phép nạp lại trong cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bị phạt tiền từ 0,5 - 1 triệu đồng.
Mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng áp dụng đối với cửa hàng bán LPG chai có hành vi kinh doanh không đúng với địa điểm ghi trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng cho cửa hàng bán LPG chai; phạt tiền từ 1 - 2 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện việc niêm yết giá theo quy định.
Mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không mở sổ theo dõi các loại LPG đã bán cho khách hàng; không treo biển hiệu, biểu tượng của thương nhân kinh doanh LPG đầu mối mà thương nhân chủ sở hữu cửa hàng ký hợp đồng đại lý hoặc có treo biển hiệu nhưng không ghi đầy đủ, rõ ràng theo quy định của pháp luật; kinh doanh chai LPG mini, LPG chai mini không được phép nạp lại.
Nghị định cũng quy định hành vi bán chai LPG mini nạp lại; mua bán, vận chuyển, tồn trữ chai LPG và LPG chai khi không phải là thương nhân kinh doanh LPG đầu mối, thương nhân kinh doanh dịch vụ cho thuê kho, dịch vụ vận chuyển khí, tổng đại lý, đại lý, thương nhân sở hữu cửa hàng bán LPG chai, thương nhân sở hữu trạm nạp LPG vào chai (trừ trường hợp mua để sử dụng phục vụ sản xuất) bị phạt từ 20 - 40 triệu đồng.
Mức phạt tiền từ 40 - 60 triệu đồng áp dụng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Bán cao hơn giá niêm yết do thương nhân kinh doanh LPG đầu mối quy định; mua, bán LPG và LPG chai trôi nổi trên thị trường không có nguồn gốc xuất xứ; không báo cáo nhãn hiệu hàng hoá theo quy định.
Nghị định quy định đối với hành vi không quy định thống nhất giá bán LPG và LPG chai trong hệ thống phân phối thuộc thương nhân quản lý; chiếm giữ trái phép, mua, bán, trao đổi, lưu giữ chai LPG không thuộc sở hữu trừ trường hợp thuê nạp bị phạt tiền từ 60 - 80 triệu đồng.
Phạt tiền từ 100 - 120 triệu đồng đối với hành vi mua hoặc bán LPG với thương nhân kinh doanh LPG có trạm nạp LPG vào chai, trạm cấp LPG, trạm nạp LPG vào phương tiện vận tải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện theo quy định.
Phạt tiền từ 160 - 200 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG đã hết thời hạn hiệu lực hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG đã bị tước, bị thu hồi; sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG bị tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo; cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG; tiếp tục hoạt động cấp LPG khi đã bị buộc đình chỉ hoạt động của trạm cấp LPG.
Điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp đã được Chính phủ quy định rõ tại Nghị định số 68/2017/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.
Theo quy định, điều kiện thành lập cụm công nghiệp gồm: 1- Có trong Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đã được phê duyệt; 2- Có doanh nghiệp, hợp tác xã có tư cách pháp lý, có năng lực, kinh nghiệm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; 3- Trong trường hợp địa bàn cấp huyện đã thành lập cụm công nghiệp thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các cụm công nghiệp đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê của các cụm công nghiệp nhỏ hơn 50 ha.
Còn cụm công nghiệp muốn mở rộng thì phải đáp ứng các điều kiện sau:
1- Không vượt quá 75 ha, có quỹ đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn cấp huyện;
2- Có doanh nghiệp, hợp tác xã có tư cách pháp lý, có năng lực, kinh nghiệm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
3- Đạt tỷ lệ lấp đầy ít nhất 60% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp trong cụm công nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có của cụm công nghiệp;
4- Hoàn thành xây dựng, đưa vào vận hành thường xuyên các công trình hạ tầng kỹ thuật chung theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt.
Trình tự thành lập, mở rộng cụm công nghiệp được quy định cụ thể như sau: Doanh nghiệp, hợp tác xã có văn bản đề nghị làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật có văn bản đề nghị kèm theo Báo cáo đầu tư thành lập, mở rộng cụm công nghiệp, gửi UBND cấp huyện.
Trong thời gian 5 ngày làm việc, UBND cấp huyện chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật lập 8 bộ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp (trong đó ít nhất có 2 bộ hồ sơ gốc), gửi Sở Công Thương để chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tổ chức thẩm định.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp, Sở Công Thương hoàn thành thẩm định, báo cáo UBND cấp tỉnh việc thành lập, mở rộng cụm công nghiệp.
Trường hợp hồ sơ, nội dung Báo cáo thành lập, mở rộng cụm công nghiệp không đáp ứng yêu cầu, Sở Công Thương có văn bản gửi UBND cấp huyện bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Thời hạn bổ sung, hoàn thiện hồ sơ không tính vào thời gian thẩm định.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được 1 bộ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp và báo cáo thẩm định của Sở Công Thương, UBND cấp tỉnh quyết định hoặc không quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp được gửi Bộ Công Thương 1 bản.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được 1 bộ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp và báo cáo thẩm định của Sở Công Thương, UBND cấp tỉnh quyết định hoặc không quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp được gửi Bộ Công Thương 1 bản.
Trường hợp cụm công nghiệp thành lập, mở có điều chỉnh diện tích lớn hơn 5 ha so với quy hoạch đã được thỏa thuận thì UBND cấp tỉnh có văn bản thống nhất với Bộ Công Thương trước khi phê duyệt.
Quy định mới về cửa khẩu nhập khẩu một số mặt hàng phân bón. Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 07/2017/TT- BCT quy định cửa khẩu nhập khẩu đối với một số mặt hàng phân bón.
Theo đó, Thông tư nêu rõ: Các loại phân bón được nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính gồm “Urê, có hoặc không ở trong dung dịch nước” và “Phân khoáng hoặc phân hóa học có chứa ba nguyên tố là nitơ, phospho và kali”.
Bên cạnh đó, theo Thông tư việc nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở các loại phân bón nêu trên được phép thực hiện sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép trên cơ sở trao đổi thống nhất với Bộ Công Thương.
Thông tư 07/2017/TT-BCT bãi bỏ Thông tư số 35/2014/TT-BCT ngày 15/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định việc áp dụng chế độ cấp Giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số mặt hàng phân bón. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/7/2017.
Được biết, trong tháng 5/2017, lượng phân bón các loại nhập khẩu về nội địa đạt 427.000 tấn, trị giá 119 triệu USD, nâng lượng phân bón nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm lên 2,01 triệu tấn, với giá trị 547 triệu USD. Như vậy, khối lượng và giá trị phân bón nhập khẩu đã tăng lần lượt gần 32% và hơn 24% so với cùng kỳ năm 2016.
Trong đó, tăng mạnh nhất là nhập khẩu phân ure với khối lượng nhập khẩu ước đạt 230.000 tấn, trị giá 60 triệu USD, tăng lần lượt hơn 22% và hơn 32% so với cùng kỳ năm 2016.
Chất thải rắn xây dựng phải được phân loại ngay tại nơi phát sinh. Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư về quản lý chất thải rắn xây dựng. Thông tư này quy định chi tiết về việc phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn xây dựng (CTRXD) được quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.
Theo Thông tư, CTRXD phải được phân loại ngay tại nơi phát sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thành các loại sau đây: 1- Chất thải rắn có khả năng tái chế được; 2- Chất thải rắn có thể được tái sử dụng ngay trên công trường hoặc tái sử dụng ở các công trường xây dựng khác; 3- Chất thải không tái chế, tái sử dụng được và phải đem đi chôn lấp; 4- Chất thải nguy hại được phân loại riêng và quản lý theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP và các văn bản pháp luật hướng dẫn về quản lý chất thải nguy hại.
CTRXD sau khi phân loại không được để lẫn với các chất thải khác và phải được lưu giữ riêng theo quy định. Trong trường hợp CTRXD thông thường có lẫn với chất thải nguy hại thì phải thực hiện việc phân tách phần chất thải nguy hại. Nếu không thể tách được thì toàn bộ hỗn hợp phải được quản lý như chất thải nguy hại.
Theo Thông tư, CTRXD phải được thu gom, vận chuyển đến điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ sở xử lý được đầu tư xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc cơ sở tái chế, công trình khác để tái chế, tái sử dụng.
Việc vận chuyển phải theo thời gian và lộ trình về tuyến đường, an toàn giao thông và tuân thủ các quy định của cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông tại địa phương. Các phương tiện vận chuyển CTRXD phải là phương tiện bảo đảm các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn, đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng cấp phép lưu hành theo quy định. Trong quá trình vận chuyển, phương tiện vận chuyển phải đảm bảo không làm rò rỉ, rơi vãi chất thải, gây phát tán bụi, mùi.
Trong trường hợp chủ nguồn thải tự vận chuyển CTRXD thì phải tuân thủ các quy định trên.
Theo Thông tư, cơ sở xử lý CTRXD phải được đầu tư xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khuyến khích việc xử lý CTRXD tại nơi phát sinh với quy trình, công nghệ phù hợp, đảm bảo các yêu cầu về an toàn, môi trường.
Công nghệ xử lý chất thải rắn xây dựng gồm: 1- Nghiền, sàng; 2- Sản xuất vật liệu xây dựng; 3- Chôn lấp; 4- Các công nghệ khác.
Công nghệ xử lý CTRXD phải phù hợp với quy mô, công suất và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế xã hội. Việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTRXD phải tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan.
Trường thí điểm tự chủ được hỗ trợ kinh phí. Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 47/2017/TT-BTC Hướng dẫn hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ.
Theo quy định trong Thông tư, cơ sở giáo dục thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành của pháp luật về quản lý thuế đối với thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, các lớp đào tạo ngắn hạn, thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng. Ngân sách nhà nước cấp kinh phí để hỗ trợ các cho các cơ sở giáo dục tương ứng với số thuế thu nhập doanh nghiệp đã thực nộp vào ngân sách nhà nước.
Các cơ sở giáo dục sử dụng số kinh phí được ngân sách nhà nước cấp để bổ sung Quỹ đầu tư phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc lập Quỹ hỗ trợ sinh viên. Nội dung chi, số tiền sử dụng cho từng nội dung do các cơ sở giáo dục quyết định và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ, bảo đảm phù hợp với hoạt động thực tế của cơ sở.
Trong đó, chi đầu tư phát triển cơ sở bao gồm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong cơ sở giáo dục.
Các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cũng được dùng ngân sách nhà nước hỗ trợ để góp vốn liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để triển khai các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác.
Các cơ sở giáo dục chi lập Quỹ hỗ trợ sinh viên, bao gồm chi học bổng khuyến khích học tập và các hình thức khác; khen thưởng; hỗ trợ thường xuyên hoặc đột xuất khác theo quy định của trường. Cùng với đó là các khoản chi trực tiếp khác cho học sinh, sinh viên (nghiên cứu khoa học, hoạt động phong trào,ngoại khóa…) và hỗ trợ người học.
Việc quản lý, sử dụng, quyết toán các khoản kinh phí được ngân sách nhà nước cấp thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành.
Từ ngày 1/7/2017, Thông tư 47 có hiệu lực thi hành và áp dụng kể từ kỳ tính thuế năm 2016.
Tháo vòng luẩn quẩn sổ đỏ và giấy phép xây dựng. Việc quy định cụ thể các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai tại Nghị định 53/2017/NĐ-CP sẽ giải quyết được vòng luẩn quẩn do có sự hiểu và vận dụng quy định khác nhau giữa Luật Xây dựng và Luật Đất đai - có sổ đỏ mới được cấp Giấy phép xây dựng, có Giấy phép xây dựng mới được cấp sổ đỏ.
Có hiệu lực từ ngày 25/6, Nghị định số 53/2017/NĐ-CP quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng sẽ tháo gỡ những vướng mắc trong việc cấp giấy phép xây dựng.
Bên cạnh những nguyên nhân như quy hoạch chi tiết xây dựng chưa được phủ kín, các quy định của các pháp luật khác nhau chưa được đồng bộ thì một nguyên nhân quan trọng, gây nhiều khó khăn cho cả cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng và chủ đầu tư khi thực hiện thủ tục hành chính là quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng.
Cơ quan cấp giấy phép rất khó xác định loại giấy tờ nào là giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, đặc biệt là các loại giấy tờ về đất đai được cấp trong thời kỳ chế độ cũ; các quyết định giao đất để thực hiện dự án của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng không phải hoặc chưa thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các loại giấy tờ đủ điều kiện để xem xét cấp giấy phép xây dựng nhưng chủ đầu tư chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài chính hoặc chưa thực hiện xong đăng ký để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, nhưng thực tế có nhu cầu đầu tư xây dựng mới, mở rộng, sửa chữa, cải tạo để sản xuất kinh doanh hoặc cải thiện điều kiện sống hoặc thực hiện song song các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thủ tục về đầu tư xây dựng bảo đảm tiến độ của dự án.
Ngoài ra là một số loại công trình đặc thù sử dụng diện tích đất rất nhỏ, được xây dựng ở khu vực không thuộc đất dành cho xây dựng, không thể chuyển đổi mục đích sử dụng đất như công trình biển quảng cáo, trạm viễn thông, cột ăng ten...
Để khắc phục tình trạng này, Bộ Xây dựng đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2017/NĐ-CP quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp phép xây dựng.
Theo Nghị định này, các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng được chia thành 4 nhóm.
Đó là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình (sổ hồng) được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ, cụ thể:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của Luật Đất đai ban hành các thời kỳ (1987, 1993, 2011, 2013).
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12.
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định của Nghị định số 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định tại Pháp lệnh nhà ở 1991; Luật Nhà ở 2005; các Nghị định: 81/2001/NĐ-CP, 95/2005/NĐ-CP, 90/2006/NĐ-CP, 51/2009/NĐ-CP và Điều 31, 32 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; các giấy chứng nhận khác về quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng qua các thời kỳ.
Các loại giấy tờ đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để cấp phép xây dựng
Nhóm giấy tờ thứ hai là các loại giấy tờ đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Khoản 16, Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP nhưng chủ đầu tư chưa được cấp hoặc chưa làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo đó, các loại giấy tờ này gồm: Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15/10/1993.
Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất.
Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 được UBND cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993.
Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật.
Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
Đồng thời, các loại sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18/12/1980; biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp; bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do UBND cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập cũng được coi là giấy tờ hợp pháp về đất đai để được xem xét cấp giấy phép xây dựng.
Đối với các trường hợp di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư thì giấy tờ hợp pháp là dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc này đã được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Ngoài ra là các giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có); giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được UBND cấp huyện, tỉnh hoặc cơ quan quản lý Nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.
Giấy tờ tạm giao đất của UBND cấp huyện, cấp tỉnh; đơn đề nghị được sử dụng đất được UBND cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 1/7/1980 hoặc được UBND cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.
Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách Nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng…
Trường hợp bản gốc giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7, Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP đã bị thất lạc và cơ quan Nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó thì bản sao giấy tờ này có xác nhận của UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh cũng được chấp thuận khi xin cấp phép xây dựng.
Nhóm giấy tờ hợp pháp về đất đai thứ ba là quyết định giao đất hoặc quyết định cho thuê đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và hợp đồng thuê đất kèm theo (nếu có); giấy tờ về trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất hoặc quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (từ ngày 1/7/2004 trở về sau).
Hợp đồng thuê đất được giao kết giữa chủ đầu tư xây dựng công trình và người quản lý, sử dụng công trình giao thông hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý Nhà nước về giao thông có thẩm quyền đối với công trình được phép xây dựng trong phạm vi đất dành cho giao thông theo quy định của pháp luật.
Văn bản cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp đã có giấy tờ hợp pháp về đất đai, nhưng người sử dụng đất đề nghị cấp giấy phép xây dựng vào mục đích khác với mục đích đã được ghi trên giấy tờ đó.
Báo cáo rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất đối với trường hợp tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND cấp tỉnh nơi có đất kiểm tra và quyết định xử lý theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
Văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định về diện tích các loại đất đối với trường hợp người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai, nhưng trên giấy tờ đó không ghi rõ diện tích các loại đất để làm cơ sở cấp phép xây dựng.
Đối với một số loại công trình đặc thù như biển quảng cáo, trạm viễn thông, cột ăng ten,... thì văn bản chấp thuận về địa điểm xây dựng của UBND cấp huyện là cơ sở để xem xét cấp giấy phép xây dựng khi các công trình này được xây dựng tại khu vực không thuộc nhóm đất có mục đích sử dụng cho xây dựng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Việc quy định cụ thể các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai tại Nghị định 53/2017/NĐ-CP sẽ giải quyết được cái vòng luẩn quẩn, rối rắm do có sự hiểu và vận dụng quy định pháp luật khác nhau giữa Luật Xây dựng và Luật Đất đai (có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mới được cấp Giấy phép xây dựng; có Giấy phép xây dựng mới được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất).
Nghị định cũng là cơ sở pháp lý để các cơ quan cấp giấy phép xây dựng thực hiện được dễ dàng và nhanh gọn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân triển khai thực hiện đầu tư xây dựng được thuận lợi; góp phần minh bạch nội dung hồ sơ về cấp phép xây dựng ở tầm Nghị định, giảm phiền hà, tiết kiệm thời gian và chi phí khi cấp phép xây dựng cho người dân và các chủ đầu tư xây dựng công trình.
Hàng loạt chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2017. Nhiều chính sách, quy định mới về kinh tế - xã hội sẽ có hiệu lực thi hành từ tháng 6/2017...
Miễn tiền sử dụng đất nhiều dự án nhà ở: Nghị định 35/2017 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong khu kinh tế, khu công nghệ cao, có hiệu lực từ ngày 20/6 quy định: miễn tiền sử dụng đất đối với dự án được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong khu kinh tế để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội phục vụ đời sống cho người lao động theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Thời gian miễn tiền thuê đất là thời gian xây dựng cơ bản, tối đa là 3 năm từ ngày có quyết định cho thuê đất của cơ quan có thẩm quyền; sau thời gian này, miễn thêm từ 11 - 19 năm, tùy từng loại dự án đầu tư.
Đặc biệt, nghị định không áp dụng miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước với dự án khai thác tài nguyên khoáng sản.
Cơ chế tài chính đặc thù với Tp.HCM: Nghị định 48/2017 của Chính phủ về việc quy định một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với TP.HCM, có hiệu lực thi hành từ 10/6 nêu rõ: khi Tp.HCM triển khai các công trình, dự án quan trọng có quy mô đầu tư lớn thuộc lĩnh vực môi trường, giao thông, thủy lợi vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương, Tp.HCM sẽ được Quốc hội xem xét, quyết định hỗ trợ từ ngân sách Trung ương để triển khai thực hiện.
Để sử dụng hiệu quả quỹ đất của thành phố, UBND Tp.HCM được tạm ứng từ nguồn ngân sách thành phố hoặc từ nguồn vay cho các dự án xây dựng cơ hạ tầng thuộc nhiệm vụ đầu tư của ngân sách để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Sau khi thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất sẽ thu hồi hoàn trả ngân sách hoặc hoàn trả nguồn vốn vay.
Về việc vay vốn đầu tư phát triển, Tp.HCM được vay vốn đầu tư trong nước thông qua hình thức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương; được vay lại vốn vay ngoài nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng...
Tăng phí khám chữa bệnh: Thông tư số 02/2017/TT-BYT của Bộ Y tế có hiệu lực từ 1/6 quy định, các cơ sở y tế sẽ chính thức áp dụng giá viện phí mới của hơn 1.900 dịch vụ y tế đối với nhóm đối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế.
Khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám chữa bệnh trong một số trường hợp.
Theo đó, mức giá khám bệnh được quy định từ 29.000 đến 39.000 đồng theo từng hạng bệnh viện từ trạm y tế xã đến bệnh viện hạng đặc biệt .
Mức giá ngày giường bệnh theo quy định mới cũng được nâng lên khá cao từ 54.000 đến 362.800 đồng. Một số thủ thuật, xét nghiệm cũng được điều chỉnh tăng giá 20%-30% so với mức giá hiện hành.
Giảm mức đóng bảo hiểm xã hội: Nghị định 44/2017 quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6 quy định: Giảm từ 1% xuống còn 0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 (trừ đối tượng là người giúp việc) gồm:
Giảm từ 1% xuống còn 0,5% trên lương cơ sở đối với người lao động gồm: Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí).
Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ một đến dưới ba tháng sẽ thực hiện quy định trên kể từ ngày 1/1/2018.
Không bắt buộc đổi giấy phép lái xe sang vật liệu nhựa: Thông tư 12/2017/TT-BGTVT của Bộ Giao thông Vận tải về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ, có hiệu lực thi hành từ 1/6, quy định: Việc đổi giấy phép lái xe bằng giấy bìa sang giấy phép lái xe bằng vật liệu PET được khuyến khích thực hiện trước ngày 31/12/2020.
Như vậy, việc bắt buộc buộc đổi bằng lái xe từ bìa giấy sang thẻ nhựa theo lộ trình như thông tư trước đó đã bị bãi bỏ.
Thông tư này cũng quy định, người có giấy phép lái xe quá thời hạn sử dụng: Từ 3 tháng đến dưới 1 năm, kể từ ngày hết hạn, phải sát hạch lại lý thuyết để cấp lại giấy phép lái xe; Từ 1 năm trở lên, kể từ ngày hết hạn, phải sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để cấp lại giấy phép lái xe.
Người có giấy phép lái xe bị mất, còn thời hạn sử dụng hoặc quá thời hạn sử dụng dưới 3 tháng, được xét cấp lại giấy phép lái xe.
Ngoài ra, một số quy định về rút ngắn thời gian hoàn thuế VAT, về bảo vệ thông tin cá nhân trẻ em…cũng sẽ có hiệu lực từ tháng 6/2017. Trong đó, đáng chú ý là Luật Trẻ em số có hiệu lực từ ngày 1/6 nghiêm cấm hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bảng điểm, hình ảnh của trẻ em lên mạng mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ. đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Đây là chuyến thăm chính thức tới Hoa Kỳ đầu tiên của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trên cương vị Thủ tướng Chính phủ.
Nhận lời mời của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Donald Trump, đêm 28/5 theo giờ Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao nước ta rời Thủ đô Hà Nội, lên đường thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ từ ngày 29-31/5.
Tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh; Bộ trưởng Bộ Công An Tô Lâm; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh; Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Phạm Quang Vinh; Đại sứ Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên Hợp Quốc Nguyễn Phương Nga; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc; Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Khánh; Trợ lý Thủ tướng Chính phủ Bùi Huy Hùng.
Trong thành phần đoàn còn có ông Vũ Hải Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; ông Dương Trung Quốc, Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Đây là chuyến thăm chính thức tới Hoa Kỳ đầu tiên của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trên cương vị Thủ tướng Chính phủ và là tiếp xúc đầu tiên giữa một lãnh đạo cấp cao Việt Nam với Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump kể từ khi cả hai nước có Ban Lãnh đạo mới. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 29/5) đầu trang(
PHÁT NGÔN NÓNG
Tiền nhà nước hỗ trợ không được “đi nhầm” vào nhà cán bộ
"Không thể trắng đen lẫn lộn, người có công không được hưởng còn người không có công lại được. Tiền nhà nước hỗ trợ không được “đi nhầm” vào nhà cán bộ” (Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện chính sách hỗ trợ người có công ngày 26/5)
Khai thác cát lậu, lợi nhuận vào túi ai
"Báo chí thông tin Việt Nam xuất khẩu sang Singapore 67 triệu m3, chưa kể khai thác cát lậu phục vụ thị trường trong nước... lợi nhuận vào túi của ai? Người dân ở các địa phương khai thác được bao nhiêu? Tư nhân được bao nhiêu? Tư nhân đó là ai? Cái giá khai thác cát ở khắp các con sông là gì?" (Ông Trương Trọng Nghĩa, đại biểu Quốc hội TP.HCM phát biểu thảo luận về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và ngân sách Nhà nước ngày 25/5) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Sơn La công khai số điện thoại đường dây nóng về cải cách hành chính. Tất cả giám đốc các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND huyện, thành phố và Chánh Văn phòng các cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh Sơn La đều có số điện thoại đường dây nóng.
Ngày 29/5, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị gặp mặt các cơ quan thông tấn báo chí về đẩy mạnh công tác cải cách hành chính năm 2017.
Hội nghị đã thông báo Quyết định số 1268/QĐ-UBND ngày 17/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La công bố, công khai số điện thoại và quy định hoạt động đường dây nóng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp về cải cách hành chính.
Theo đó, tất cả Giám đốc các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và Chánh Văn phòng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đều có số điện thoại đường dây nóng để người dân trực tiếp phản ánh. Riêng số điện thoại đường dây nóng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La Cầm Ngọc Minh là 01237.818.899.
Nội dung phản ánh, kiến nghị qua số điện thoại đường dây nóng thường là những khó khăn, vướng mắc của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong giao dịch với cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh Sơn La; việc các cơ quan hành chính Nhà nước ở tỉnh Sơn La giải quyết công việc chậm thời gian so với quy định; thái độ giao tiếp ứng xử thiếu chuẩn mực với tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức; các biểu hiện nhũng nhiễu, gây phiền hà, không giải quyết hoặc giải quyết thủ tục hành chính không đúng quy định …
Cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp phản ánh, kiến nghị cần nêu rõ nội dung, thời gian, địa điểm nơi xảy ra sự việc và các cá nhân, tổ chức liên quan. Khi thực hiện phản ánh, kiến nghị bằng số điện thoại đường dây nóng phải đảm bảo quy định về văn hóa công sở. Người cung cấp thông tin sẽ được giữ bí mật về danh tính, số điện thoại, địa chỉ; nội dung phản ánh sẽ được phản hồi tới cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sau khi có kết quả xử lý…
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, Chánh Văn phòng các cơ quan, đơn vị sau khi tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp chuyển phản ánh, kiến nghị và thông tin liên quan đến cơ quan có thẩm quyền xử lý.
NHNN tiếp tục dẫn đầu về cải cách hành chính. Theo kết quả Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2016 của các bộ, ngành, địa phương (PAR INDEX 2016) vừa được Bộ Nội vụ công bố, NHNN dẫn đầu các bộ với Chỉ số CCHC đạt 92,68%. Đây là năm thứ 2 liên tiếp NHNN dẫn đầu về CCHC.
Kết quả trên đã ghi nhận những nỗ lực của ngành Ngân hàng trong suốt nhiều năm liên tục đã chủ động xây dựng và kiên trì triển khai chiến lược cải cách, đổi mới và phát triển toàn diện, nhằm phát huy tối ưu trọng trách ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng.
Theo đó, Ban lãnh đạo NHNN đã thống nhất tư tưởng chỉ đạo, CCHC vừa là nhiệm vụ trọng tâm đồng thời cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chiến lược cải cách, đổi mới hoạt động ngân hàng, là công cụ, phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, theo kịp trình độ, quy mô các ngân hàng lớn trong khu vực và trên thế giới.
Từ việc xác định rõ quan điểm, định hướng trong chỉ đạo điều hành, NHNN đã xác định rõ các định hướng, mục tiêu và xây dựng kế hoạch CCHC hết sức cụ thể trong từng giai đoạn 5 năm và hàng năm để chỉ đạo và tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ trong toàn Ngành.
Cụ thể, NHNN đã ban Kế hoạch CCHC năm 2016, năm 2017 (Quyết định số 2642/QĐ-NHNN ngày 29/12/2015, số 2530/QĐ-NHNN ngày 29/12/2016); Kế hoạch CCHC tập trung cải cách, đổi mới trên các lĩnh vực hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức và tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; đẩy mạnh hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, trọng tâm là hiện đại hóa hoạt động hành chính và triển khai Chính phủ điện tử; cải cách TTHC theo hướng minh bạch, tạo thuận lợi cho tổ chức, công dân trong các giao dịch hành chính với NHNN; đẩy mạnh CCHC nội bộ; thường xuyên chỉ đạo các TCTD đa dạng hóa dịch vụ, cải tiến, đơn giản hóa thủ tục giao dịch với doanh nghiệp, người dân để hỗ trợ sự phát triển doanh nghiệp; đồng thời, chủ động phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện các chương trình CCHC của Chính phủ.
Bên cạnh đó, NHNN thường xuyên theo dõi và có nhiều hình thức tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các đơn vị trong toàn Ngành, nhằm đánh giá sát tình hình triển khai, đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của các đơn vị về CCHC. Lãnh đạo NHNN đã trực tiếp kiểm tra tại một số NHNN chi nhánh và NHTM về công tác CCHC và triển khai kế hoạch 1355 của NHNN nhằm cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.
Việc triển khai quyết liệt kế hoạch CCHC đã thu được kết quả hết sức khả quan trên tất cả các lĩnh vực. Cụ thể việc cải cách hoàn thiện thể chế, tiếp tục được chú trọng và được xem là một trong số các nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành. Theo đó, các đơn vị chức năng đã tập trung nguồn lực, tổ chức triển khai tích cực.
Nhờ đó, công tác xây dựng văn bản pháp luật của NHNN đã cơ bản hoàn thành kế hoạch; chất lượng văn bản được nâng lên rõ rệt, đảm bảo tính đồng bộ với hệ thống pháp luật ngân hàng, đáp ứng kịp thời công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động ngân hàng. Cụ thể, trong năm 2016, NHNN đã ban hành được 45 thông tư; 6 tháng đầu năm 2017 ban hành được 2 thông tư.
Song song với đó, năm 2016, NHNN tiếp tục đẩy mạnh công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), cắt giảm, bãi bỏ các quy định về hồ sơ, yêu cầu điều kiện, rút ngắn thời gian giải quyết TTHC; đảm bảo tính đồng bộ với việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật, điều kiện kinh doanh đối với doanh nghiệp.
Theo đó, NHNN đã bãi bỏ 06 TTHC, đơn giản hóa 10 TTHC, đơn giản hóa/cắt giảm 26 thành phần hồ sơ, cắt giảm gần 50 điều kiện khi thực hiện TTHC trong 8 thông tư thuộc lĩnh vực ngân hàng; đáng chú ý đó là các thủ tục về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán và mở tài khoản thanh toán đã được đơn giản hóa tạo thuận lợi, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng giao dịch; chi phí tuân thủ năm 2016 cắt giảm vượt mục tiêu 10% đề ra.
Có thể khẳng định về cơ bản, công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), kiểm soát TTHC thực hiện tại NHNN trong thời gian qua đã góp phần nâng cao chất lượng các quy định TTHC, tạo sự đồng bộ trong hệ thống quy định hành chính của NHNN, giúp cho TCTD, người dân và doanh nghiệp giảm thời gian và chi phi khi thực hiện TTHC.
Không chỉ vậy, NHNN cũng thường xuyên quan tâm chỉ đạo các TCTD cải cách, đổi mới về thủ tục cho vay, dịch vụ nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
Hiện hầu hết các ngân hàng đã công bố công khai trên Trang tin điện tử các thông tin về các hồ sơ tín dụng, dịch vụ; lãi suất, phí dịch vụ; quy định tiêu chuẩn chất lượng (thời gian, mức độ hài lòng) đối với các dịch vụ…
Các TCTD cũng đẩy mạnh công tác CCHC, cải tiến các quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, như: Rà soát, cắt giảm giấy tờ, thủ tục cho vay nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc an toàn vốn. Theo đó, thời gian, số lần giao dịch, giấy tờ cần cung cấp của khách hàng đã giảm 20-40%; một số quy trình/sản phẩm dịch vụ đã giảm 42% số lượng bản gốc mẫu biểu, giảm 45% số lượng chữ ký khách hàng và 48% số lượng chữ ký cán bộ ngân hàng trên hồ sơ.
Đồng thời các TCTD cũng cải tiến, tối ưu hóa, quy trình cung cấp dịch vụ thông qua việc ứng dụng công nghệ hiện đại như Internet Banking, Mobile Banking… Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình cung cấp sản phẩm giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian chờ đợi; trong đó giảm 70-75% thời gian đăng ký do khách hàng thực hiện trực tuyến, tiết kiệm chi phí giấy tờ, tiền bạc khoảng 45.000-50.000 đồng.
Bên cạnh cải cách TTHC, công tác cải cách tổ chức bộ máy và xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức cũng được quyết liệt thực hiện. Theo đó, NHNN đã tiến hành rà soát, sắp xếp tổ chức, bộ máy các đơn vị phù hợp với quy định mới theo nguyên tắc gọn nhẹ, tránh chồng chéo, đảm bảo cho việc triển khai nhiệm vụ từ Trung ương đến địa phương được thông suốt, hiệu quả.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức luôn được quan tâm và thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra. Công tác đào tạo, quy hoạch và luân chuyển cán bộ được tăng cường không chỉ trong hệ thống NHNN mà còn triển khai tại các TCTD nhằm phát huy tối đa năng lực của cán bộ trẻ và tạo ra động lực, nhân tố mới có tính đột phá trong thực hiện nhiệm vụ của Ngành.
Đặc biệt, triển khai Danh mục vị trí việc làm được Bộ Nội vụ phê duyệt, toàn bộ các đơn vị, Vụ, Cục tại trụ sở chính NHNN (19/19 đơn vị) và NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố (63/63 chi nhánh) đã xây dựng và được Thống đốc phê duyệt Đề án danh mục vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức. Đề án vị trí việc làm được thực hiện tại các đơn vị đã giúp cho công tác phân bổ biên chế đảm bảo linh hoạt, hiệu quả; thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động.
NHNN cũng đã ban hành Quyết định số 1162/QĐ-NHNN về việc phê duyệt Đề án tinh giản biên chế của NHNN giai đoạn 2016-2021. Theo Đề án của NHNN đã phê duyệt, đến năm 2021, NHNN sẽ giảm 10% biên chế được giao; đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thay thế nguồn trả lương từ ngân sách Nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp...
Công tác cải cách tài chính công của NHNN đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đảm bảo tính ổn định, hiệu quả, an toàn về vốn và tài sản, tăng cường đáng kể cơ sở vật chất quan trọng cho Ngành. Trong đó, NHNN đã phân cấp mạnh hơn cho Thủ trưởng đơn vị trong công tác đầu tư, mua sắm tài sản công; giao cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 06 trên tổng số 07 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc NHNN.
Thời gian qua, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật mới, vận hành và sử dụng đồng bộ các hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành, hệ thống thông tin theo mô hình tập trung từ Trung ương đến địa phương. Cụ thể, từ năm 2016, NHNN đã triển khai trong toàn hệ thống tới toàn bộ công chức phần mềm hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành với nhiều cải tiến và tính năng, tiện ích.
Việc hoàn thành và triển khai phần mềm Hệ thống văn bản điện tử đã góp phần thúc đẩy cải cách nội bộ trong hệ thống NHNN, nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc, cung cấp công cụ hữu hiệu để kiểm tra, giám sát quá trình thực thi công việc của công chức, đơn vị và cắt giảm chi phí hành chính thông qua việc giảm giấy tờ, chi phí in ấn.
Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục hoàn thiện quy định về cơ chế một cửa, đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết TTHC tại NHNN. Những quy định cụ thể về triển khai cơ chế một cửa tại NHNN đã góp phần cải cách TTHC, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết TTHC đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, đúng thời hạn, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong các giao dịch hành chính với NHNN.
Đặc biệt, NHNN đã khẩn trương xây dựng, ban hành Kế hoạch triển khai Chính phủ điện tử tại NHNN (Quyết định 1a/QĐ-NHNN ngày 4/01/2016). Kết quả 1 năm triển khai, đến nay, NHNN đã đã hoàn thành kế hoạch nâng cấp các dịch vụ công trực tuyến năm 2016 theo kế hoạch; hạ tầng CNTT và các nền tảng công nghệ để triển khai dịch vụ công đều sẵn sàng để vận hành các hạng mục nghiệp vụ thuộc cấu trúc Chính phủ điện tử của NHNN; hoàn thành việc nâng cấp hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước của người dân qua mạng…
Với mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh CCHC góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ/CP của Chính phủ, NHNN đã ban hành kế hoạch CCHC giai đoạn 2016-2020 và ban hành kế hoạch cụ thể năm 2017. Theo đó, đối với các đơn vị trong hệ thống NHNN sẽ tăng cường chỉ đạo, điều hành CCHC.
Cụ thể, thủ trưởng các đơn vị trong toàn ngành tiếp tục quán triệt và xác định công tác CCHC, cải cách TTHC là nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách là giải pháp chủ yếu để cải thiện, nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc của đơn vị, nâng cao vị thế, uy tín của cơ quan nhà nước. Kết quả cải cách hành chính là tiêu chuẩn quan trọng đánh giá hoàn thành nhiệm vụ hàng năm đối với tập thể đơn vị và cá nhân người đứng đầu đơn vị.
Bên cạnh đó, căn cứ chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch CCHC hàng năm của NHNN, các đơn vị phải cụ thể hóa, ban hành kế hoạch triển khai của đơn vị và tổ chức triển khai quyết liệt, hiệu quả.
Liên quan đến lĩnh vực cải cách thể chế, NHNN sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, ngoại hối, trọng tâm là hoàn thành các văn bản pháp luật về xử lý nợ xấu.
Đồng thời tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đổi mới và đa dạng hoá các phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của NHNN. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, công tác xử lý sau thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN.
Về cải cách TTHC, sẽ kiểm soát chặt chẽ các TTHC ngay từ khi xây dựng văn bản, đảm bảo các quy định TTHC đơn giản, hiện đại, hiệu quả, minh bạch và tiết giảm tối đa chi phí thực hiện cho tổ chức, cá nhân; tăng cường ứng dụng CNTT trong việc thực hiện TTHC.
Song song với đó sẽ tăng cường công tác kiểm tra tại các đơn vị thuộc NHNN về tình hình thực hiện, giải quyết TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý để nâng cao tính minh bạch, hiệu quả, ý thức của công chức làm công tác giải quyết TTHC; xử lý kịp thời và công bố công khai trên trang tin điện tử các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức đối với quy định hành chính theo quy định của NHNN.
NHNN cũng sẽ đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức; tiếp tục cải cách tài chính công cũng như tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa trong hoạt động hành chính…
Đối với các TCTD, NHNN yêu cầu xây dựng, triển khai kế hoạch thanh toán không dùng tiền mặt theo Quyết định 2545/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch triển khai số 637/QĐ-NHNN của NHNN.
Đồng thời xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện Quyết định số 259/QĐ-NHNN ngày 28/02/2017 của NHNN về việc ban hành chương trình hành động của ngành Ngân hàng góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ/CP của Chính phủ…
Đặc biệt, các TCTD phải hHoàn thành kế hoạch đơn giản hóa các thủ tục cấp tín dụng và các thủ tục cung ứng dịch vụ khác; hoàn thành việc áp dụng theo hình thức một cửa đối với các dịch vụ như gửi tiết kiệm, quy trình dịch vụ chuyển tiền, kiều hối, dịch vụ thẻ, dịch vụ tiền mặt và các dịch vụ phi tín dụng khác. Đồng thời phải thực hiện các quy định về an toàn, bảo mật hệ thống CNTT trong hoạt động ngân hàng.
Bộ Tư pháp trong nhóm đạt chỉ số cao về Chỉ số cải cách hành chính. Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) của Bộ Tư pháp năm 2016 vươn lên đứng thứ 6 so với vị trí thứ 9 trong năm 2015 với 82,90% và đứng trong nhóm thứ nhất gồm 9 bộ, cơ quan ngang bộ đạt chỉ số cao.
Hôm qua (30/5), Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình đã chủ trì cuộc họp trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác CCHC 6 tháng đầu năm 2017 và công bố Chỉ số CCHC các bộ, ngành, địa phương (PAR INDEX 2016).
Theo công bố kết quả xác định Chỉ số CCHC năm 2016 của các bộ, ngành, địa phương do Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó trưởng Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ Nguyễn Trọng Thừa cho biết, về kết quả Chỉ số CCHC năm 2016 của các bộ chia thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất đạt kết quả Chỉ số CCHC trên 80% gồm 9 bộ: Ngân hàng Nhà nước; Bộ Tài chính; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Giao thông Vận tải; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Tư pháp; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Ngoại giao; Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Nhóm thứ 2, đạt kết quả Chỉ số CCHC từ trên 70% đến dưới 80%, gồm 10 bộ: Bộ Nội vụ; Bộ Y tế; Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban Dân tộc; Thanh tra Chính phủ; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Thống kê, giá trị trung bình Chỉ số CCHC của 19 bộ, cơ quan ngang bộ đạt được 80,94% (không có bộ nào dưới 70%). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đạt Chỉ số CCHC năm 2016 cao nhất với 92,68%. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có kết quả thấp nhất với 71,91%. Khoảng cách Chỉ số CCHC giữa các bộ đạt Chỉ số cao nhất với Bộ đạt Chỉ số thấp nhất khá lớn với 20,77%.
Thứ trưởng Nguyễn Trọng Thừa cũng cho biết, hai lĩnh vực: Lĩnh vực cải cách bộ máy hành chính nhà nước và lĩnh vực các tài chính công đạt giá trị trung bình trên 90%. Tuy vậy, Lĩnh vực Hiện đại hóa hành chính có kết quả thấp nhất trong 8 lĩnh vực của Chỉ số CCHC, với giá trị trung bình 61,15%. “Qua con số thấp trên đã chỉ ra những bất cập, hạn chế của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành cũng như cung cấp dịch vụ công trực tuyến”, Thứ trưởng Thừa nói.
Đối với Chỉ số CCHC năm 2016 của các tỉnh, TP có giá trị trung bình đạt 74,64%, trong đó có 30/63 đơn vị đạt kết quả trên giá trị trung bình. Đà Nẵng tiếp tục là địa phương đứng đầu bảng xếp hạng với Chỉ số đạt được là 90,32% và cũng là địa phương duy nhất có kết quả Chỉ số thuộc nhóm A. Hậu Giang là địa phương có Chỉ số CCHC cuối bảng xếp hạng (thấp hơn 27,77% so với Đà Nẵng). Trong 8 lĩnh vực Bộ Nội vụ đánh giá, cho thấy cải cách tổ chức bộ máy có giá trị trung bình cao nhất, đạt 91,51% và lĩnh lực hiện đại hóa hành chính có giá trị trung bình thấp nhất, chỉ đạt 37,11%.
Báo cáo sơ kết CCHC 6 tháng đầu năm 2017 của Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ cho biết, thực hiện chính sách tinh giản biên chế, trong 6 tháng đầu năm đã có thêm 5.062 người được giải quyết tinh giản, nâng tổng số đối tượng được giải quyết tinh giản từ đầu năm 2015 đến nay là 22.673 người. Trong đó, các cơ quan của Đảng, đoàn thể là 944 người; các cơ quan hành chính là 2.824 người; các đơn vị sự nghiệp công lập là 14.791 người; cán bộ, công chức cấp xã là 4.086 người; doanh nhiệp nhà nước 122 người.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đánh giá cao nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương trong công tác CCHC để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cho người dân. Phó Thủ tướng cho biết: “Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Môi trường kinh doanh năm 2017, xếp hạng Việt Nam tăng 9 bậc (từ vị trí 91/189 lên 82/190) với nhiều chỉ số tăng hạng mạnh; trong đó có chỉ số bảo vệ nhà đầu tư tăng hạng nhiều nhất với 31 bậc (từ 118 lên vị trí 87); giao dịch thương mại qua biên giới đạt mức tăng 15 bậc (từ vị trí 108 lên vị trí 93); nộp thuế và BHXH tăng 11 bậc, thời gian được rút ngắn 230 giờ (từ 770 giờ xuống còn 540 giờ); tiếp cận điện năng cải thiện 5 bậc do thời gian rút ngắn còn 46 ngày (năm ngoái là 59 ngày)”.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho biết, bên cạnh những kểt quả tích cực đạt được, còn những hạn chế, yếu kém trong công tác CCHC thời gian qua. “Thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn rườm rà, bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là những quy định liên quan đến kiểm tra chuyên ngành; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính chưa đồng bộ; triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp”, Phó Thủ tướng lưu ý. đầu trang(
SAI PHẠM
Hậu 3 đại án ở Cục Hải quan TP.HCM: Trách nhiệm của ông Đỗ Thanh Quang đến đâu. Theo kết luận số 2517/KL-TCHQ ngày 14/4/2017 về kiểm tra công tác phòng chống tham nhũng tại Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh, nổi lên 3 vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng. Trong đó, có vụ việc liên quan tới trách nhiệm ông Đỗ Thanh Quang, Chi cục trưởng.
Tháng 01/2016, Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM đã hoàn tất kết luận điều tra, đề nghị truy tố 4 bị can về tội “Buôn lậu”, trong đó có Lê Nguyễn Thị Ái Trâm (SN 1978, ngụ quận Tân Bình, TPHCM), nguyên cán bộ Chi cục Hải quan Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, người có nhiệm vụ kiểm hóa hàng hóa nhập khẩu phi mậu dịch. Trâm đã ký không trên tờ khai hải quan cho 13 kiện hàng, thực hiện trót lọt phi vụ nhập lậu 844 chiếc máy tính bảng và điện thoại di động các loại (trong đó có 714 chiếc iPhone) với tổng giá trị trên 9 tỷ đồng từ Hong Kong về Việt Nam qua cửa khẩu Cảng hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất vào tháng 01/2015.
Theo kết luận điều tra, vào 16h ngày 14/01/2015, Cơ quan CSĐT cùng Phòng CSGT kiểm tra xe ôtô 16 chỗ, mang BKS: 51D-009.13, do Vũ Văn Tuệ điều khiển, chở hàng từ kho Cty TNHH Hàng hóa Tân Sơn Nhất về kho ở quận Tân Bình. Trên xe chở 13 kiện hàng, điều kỳ lạ là toàn bộ còn nguyên số vận đơn và không bị bong tróc, rách bên ngoài, không có dấu hiệu hải quan đã kiểm hóa. Kiểm tra bên trong thì 13 kiện hàng chứa 844 điện thoại di động và máy tính bảng.
Cơ quan CSĐT xác định, ngày 14/01/2015, trên chuyến máy bay CX 767 của hãng hàng không Cathay Pacific từ Hong Kong (Trung Quốc) về Việt Nam có vận chuyển lô hàng với tên người nhận hàng là Lê Văn Kiển (ngụ xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Phú, tỉnh Bến Tre) và Trương Thị Thanh Mai (ngụ huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định).
Tuy nhiên, người đi nhận lô hàng là Phạm Quang Vinh và Phan Thị Dạ Hương móc nối với công chức hải quan cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất làm thủ tục hải quan, kê khai là hàng quà biếu dầu gió và đồ chơi trẻ em. Vinh mang giấy CMND của Mai, Kiển làm thủ tục hải quan Tân Sơn Nhất nhận hàng. Lúc này, công chức hải quan cửa khẩu Lê Nguyễn Thị Ái Trâm được phân công kiểm tra hàng hóa và được Vinh và Hương cho biết 13 kiện hàng là điện thoại đi động và máy tính bảng, rồi “nhờ” Trâm giúp. Trâm đồng ý và không kiểm hóa lô hàng mà cho qua và sau đó bị Cơ quan CSĐT bắt giữ.
Hiện nay vụ án đang được tiếp tục điều tra bổ sung nhưng theo hồ sơ vụ việc trên, nổi lên trách nhiệm của ông Đỗ Thanh Quang, Chi cục trưởng Chi cục hải quan sân bay Tân Sơn Nhất và một số cán bộ khác. Nhưng điều lạ lùng là đến nay vẫn chưa thấy ai kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của ông Quang. Một số cán bộ hải quan tại Cục Hải quan TP cho biết thêm, đội phó Cẩm Châu là người phân công tờ khai cho Trâm kiểm hóa còn nằm trong danh sách đề nghị bổ nhiem Đội trưởng và Thường vụ Đảng ủy Cục đã thông qua đề nghị này. Đội trưởng Đội thủ tục hàng hóa nhập khẩu Tạ Hồng Khanh sau khi buông lỏng quản lý công chức, để xảy ra sự việc hiện giờ vẫn là Đội trưởng Đội quản lý thuế tại cửa khẩu này.
Thời điểm xảy ra sự việc, Kiểm hoá viên này làm bộ phận kiểm hoá phi mậu dịch cá nhân tại Đội Thủ tục hàng hoá nhập của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Tân Sơn Nhất (lúc đó Tạ Hồng Khanh làm Đội trưởng, Đỗ Thanh Quang làm Chi Cục trưởng).
Theo một số cán bộ, nguyên tắc chung thì hàng quà biếu thường không thể quá nhiều kiện và trọng lượng nhiều đến 13 kiện. Bởi vì, bà con Việt kiều gửi biếu về trong nước thường thì là bánh kẹo, lốc dầu gió, ít quần áo, vài chai mỹ phẩm dầu gội sữa tắm... và thường thì từ Mỹ gửi về Việt Nam cho nên lô hàng từ Hong Kong gửi về với số kiện nhiều (13 kiện) và trọng lượng nặng (gần 900 cái iphon và ipad) quả là một sự bất thường. Tại sao lãnh đạo đội lại phân công chỉ cho một kiểm tra viên kiểm hoá?
Đây quả là một vấn đề cần tiếp tục làm rõ trách nhiệm. Đó là chưa kể Chi cục Tân Sơn Nhất có cho rà soát tất cả các tờ khai nhập khẩu của những lô hàng có xuất xứ từ Hong Kong gửi về theo dạng quà biếu tương tự không? Có phát hiện hay đặt vấn đề nghi vấn trách nhiệm của lãnh đạo Đội trong giai đoạn này không? Dư luận cũng hết sức bất bình vì sự coi thường dư luận và coi thường cả lãnh đạo Cục khi Cục 3 lần có công văn yêu cầu kiểm điểm làm rõ trách nhiệm nhưng Chi cục Tân Sơn Nhất không thực hiện? Việc này có uẩn khúc gì hay có lợi ích nhóm phía sau?
Ông Đỗ Thanh Quang cũng phải chịu trách nhiệm và ngay lập tức kiểm điểm công chức dưới quyền, loại khỏi qui hoạch các cán bộ này vì không đủ năng lực, phẩm chất...Việc cán bộ liên quan đến sự việc vẫn được đề bạt, bất chấp không làm rõ trách nhiệm thì vai trò lãnh đạo chi cục, vai trò cấp ủy Đảng từ chi ủy, chi bộ đến Đảng uỷ Cục như thế nào?
Vẫn theo phản ánh, mấy năm gần đây, ông Đỗ Thanh Quang còn là một trong những cán bộ giữ kỷ lục về đi nước ngoài nhiều nhất ở Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh.
Được biết, ông Đỗ Thanh Quang hiện là người có học vị tiến sĩ duy nhất (học ở nước ngoài) tại Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh hiện nay. Mặc dù vụ việc buôn lậu thiết bị điện tử chưa được làm rõ trách nhiệm liên quan nhưng thời gian qua, ông Đỗ Thanh Quang liên tục được khen thưởng với nhiều thành tích xuất sắc như: Đầu năm 2017, ông Quang là đại diện duy nhất của Việt Nam được Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng 'Thực thi pháp luật về môi trường' của Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) nhờ thành tích chống buôn lậu ngà voi. Trước đó, năm 2014, ông Quang là một trong 4 cá nhân của Cục Hải quan TP được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Trong một sự việc khác, được biết, ông Đinh Ngọc Thắng chính là người ký quyết định điều chuyển Nguyễn Tường Duy từ sân bay về Đội kiểm soát cùng một số người khác sau đó đều bị công an triệu tập khi điều tra vụ việc. Trao đổi với phóng viên Báo Công lý về sự việc, ông Đinh Ngọc Thắng cho biết báo đã hiểu sai về sự việc, thông tin gây hiểu lầm...Xung quanh việc sử dụng hình ảnh ông Thắng để minh họa nội dung bài viết, dù đó là không phải là những hình ảnh riêng tư cá nhân và đều đã được đăng tải trên báo chí cũng như trang web của Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh nhưng ông Thắng cho biết sẽ kiện báo chí về việc này.
Kế toán làm giả quyết định lãnh đạo Quảng Nam rồi đưa đi công chứng. Cơ quan chức năng nhận định một kế toán không thể tự ý làm giả quyết định của lãnh đạo tỉnh được mà rất có thể có người đứng sau nên giao công an điều tra rõ.
Ngày 31/5, ông Nguyễn Hồng Quang – Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã công bố kết quả điều tra ban đầu vụ làm giả quyết định cho phép khai thác cát của ông Huỳnh Khánh Toàn - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Theo đó, vào ngày 20/9/2016, công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tây Trường Sơn Quảng Nam (viết tắt là công ty Tây Trường Sơn) và công ty cổ phần Trung Nam ký hợp đồng mua bán 1 triệu m3 cát để cung cấp cho dự án san lấp dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước (quận Hải Châu, TP Đà Nẵng). Từ tháng 9 đến tháng 12/2016, Công ty Tây Trường Sơn đã xuất bán cho Công ty Trung Nam 22.199 m3 cát và xuất ba hóa đơn.
Sau khi có nghi vấn dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước sử dụng nguồn cát hút trộm ở Cửa Đại (Hội An), công ty Trung Nam đã đề nghị công ty Tây Trường Sơn cung cấp các hồ sơ chứng từ liên quan đến nguồn gốc vật liệu.
Tuy nhiên, doanh nghiệp này đã cung cấp cho nhà thầu quyết định giả, được chỉnh sửa một cách tinh vi.
Qua điều tra, công an xác định Ngô Thị Thanh Vân (sinh năm 1985, ngụ phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) thủ quỹ công ty cổ phần Kim Toàn đồng thời là kế toán công ty Tây Trường Sơn là thủ phạm.
Vân là người đã chỉnh sửa, tẩy xóa quyết định cho phép khai thác đá ở Nam Giang thành quyết định cho phép khai thác cát ở Tây Giang.
Sau đó, Vân đưa quyết định đã qua chỉnh sửa đến công chứng tại Phòng Công chứng số 3 Đà Nẵng.
“Đối tượng Ngô Thị Thanh Vân là người trực tiếp giả quyết định, mục đích để hợp thức cho khối lượng cát không có nguồn gốc hợp lệ”- ông Quang cho hay.
Cũng theo ông Quang, hiện hồ sơ vụ việc này đã được chuyển cho Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra (Công an tỉnh Quảng Nam) tiếp tục điều tra làm rõ.
Quan điểm của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam là phải xử lý đúng người, đúng tội, không có sự bao che.
Sáng nay, Chủ tịch Ủy ban tỉnh tiếp tục đề nghị công an sớm điều tra, công bố kết quả, ai sai tới đâu chịu tới đó.
Ông Quang cũng nhận định một kế toán không thể tự ý làm giả quyết định được mà rất có thể có người đứng sau. đầu trang(
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
Xây dựng và phát triển kinh tế xanh ở Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam. Hệ thống chính sách về tăng trưởng xanh của Hàn Quốc hiện nay được hình thành bởi các chiến lược vĩ mô, chính sách của từng ngành, từng giai đoạn với những nội dung nhất quán cụ thể và khả thi.
Theo chính sách này, Hàn Quốc kỳ vọng sẽ trở thành một trong “7 cường quốc kinh tế xanh” vào năm 2020 và một trong “5 cường quốc kinh tế xanh” của thế giới vào năm 2050. Nghiên cứu thực tiễn triển khai chính chính sách tăng trưởng kinh tế xanh của Hàn Quốc, để rút những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng và phát triển nền kinh tế xanh là điều cần thiết.
Sau khi khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, nhằm để ứng phó với những tác động và vượt qua khó khăn chung, Hàn Quốc đã nghiên cứu và triển khai hệ thống chính sách về tăng trưởng xanh, kết hợp giải quyết khó khăn về kinh tế với nhiều chương trình kích thích quan trọng cho chi tiêu xanh. Điển hình như:
- Lựa chọn cơ cấu ngành dựa trên lợi thế so sánh của đất nước, để phát triển mạnh các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động như: dệt may, tơ sợi, giầy dép và các sản phẩm thuộc da.
- Lựa chọn mô hình chuyển đổi cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa “rút ngắn” thời kỳ xây dựng cơ cấu ngành thay thế nhập khẩu, chuyển sang xây dựng cơ cấu ngành hướng về xuất khẩu. Q uá trình chuyển đổi cơ cấu ngành của Hàn Quốc là bắt đầu từ cơ cấu nông nghiệp sang công nghiệp, từ công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn sang công nghiệp sử dụng công nghệ cao, nhưng với thời gian rút ngắn hơn.
- Thực thi hoạt động chính sách tự do hóa thương mại, nới lỏng các hạn chế đối với việc nhập khẩu các mặt hàng chế tạo, thực hiện tự do hóa nhập khẩu; Bỏ hàng rào phi thuế quan đối với nhiều loại hàng hóa và dịch vụ, kể cả dịch vụ tài chính; Đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, củng cố và phát triển nền công nghệ của Hàn Quốc.
- Chuyển đổi cơ cấu xuất nhập khẩu phù hợp với tiến trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế. Hàn Quốc xác định xuất khẩu tạo ra chu trình liên hoàn với quá trình nhập khẩu và đầu tư (xuất khẩu - nhập khẩu - đầu tư - xuất khẩu), đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hóa và áp dụng nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh ba hoạt động này.
- Lựa chọn một cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu khá linh hoạt (thị trường ngách) theo hướng đa dạng hóa để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Suốt ba thập kỷ qua, thị trường xuất khẩu chính của Hàn Quốc là Mỹ, Nhật Bản và một số nước OECD. Khi đạt thặng dư thương mại với Mỹ, Hàn Quốc mở rộng sang các nước thị trường lớn cho cả hàng hóa vật chất và hàng hóa dịch vụ, đến Nhật Bản, đến EU, Đông Nam Á.
- Coi trọng chính sách nghiên cứu và phát triển (R&D). Chính phủ Hàn Quốc khuyến khích tư nhân hoạt động R&D, nỗ lực nắm bắt và nhanh chóng làm chủ kỹ thuật để đuổi kịp các nước tiên tiến; Khuyến khích liên kết các ngành công nghiệp, các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ cao.
- Thực hiện cơ chế kết hợp linh hoạt “Chính phủ cứng và thị trường mềm” trong việc thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế. Cũng giống như Nhật Bản, Chính phủ Hàn Quốc gắn kết chặt chẽ với các tập đoàn tài phiệt Chaebol, khuyến khích và ủng hộ mọi mặt cho sự phát triển của Chaebol. Cùng với khu vực tư nhân đặc biệt là các Chaebol những công ty xuyên quốc gia lớn, các xí nghiệp nhà nước của Hàn Quốc cũng đóng vai trò lớn trong thúc đẩy công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Những thành quả thiết thực về kinh tế thu được bước đầu cho thấy, chính sách tăng trưởng xanh của Hàn Quốc mang tính khả thi, đem lại động lực tăng trưởng mới cho quốc gia này cũng như hợp tác quốc tế về tăng trưởng xanh. Với chính sách tăng trưởng xanh này, Hàn Quốc kỳ vọng sẽ trở thành một trong “7 cường quốc kinh tế xanh” vào năm 2020 và một trong “5 cường quốc kinh tế xanh” của thế giới vào năm 2050.
Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trên cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm trong triển khai chiến lược kinh tế xanh của Hàn Quốc và các nước phát triển trên thế giới, Việt Nam đang hoàn thiện và phê duyệt Chiến lược tăng trưởng xanh với mục tiêu đến năm 2050, năng lượng và công nghệ xanh được sử dụng phổ biến. Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến 2050 tập trung vào 3 mục tiêu chính là giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất và xanh hóa tiêu dùng.
Tuy nhiên, để có thể đạt được các mục tiêu đặt ra Việt Nam cần sớm giải quyết triệt để những vấn đề trọng tâm như sau:
- Các giải pháp chiến lược tuy đã được đưa ra để thực hiện hiệu quả mục tiêu trên, song vẫn còn nhiều thách thức như thiếu hụt nguồn lực. Do đó, thời gian tới cần nghiên cứu, hình thành môi trường pháp lý, cơ chế, chính sách thuận lợi, có sự tham gia của hệ thống chính trị, để kịp thời giải quyết những vấn đề liên quan tới sự chuyển đổi và cải cách về thể chế, tổng hợp được sức mạnh để phối hợp những quan điểm và lợi ích khác nhau.
- Kiên trì mô hình kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế dựa vào tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh “tĩnh” và “động” của đất nước. Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tăng kim ngạch xuất khẩu, tránh lệ thuộc quá mức vào một số thị trường nước ngoài.
- Điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế theo hướng “rút ngắn”, chuyển từ cơ cấu phát triển các ngành có hàm lượng lao động cao sang các ngành có hàm lượng vốn, công nghệ cao, có khả năng tiếp ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, đứng vững được trong cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và nước ngoài. Lựa chọn những ngành có thế mạnh để mở cửa cạnh tranh, chỉ bảo hộ có chọn lọc, có địa chỉ, có thời hạn những ngành, lĩnh vực có khả năng cạnh tranh trong tương lai.
- Xác định đúng đắn vị trí đặc biệt quan trọng của ngành Nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm điểm tựa khởi đầu để phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Cải cách và phát triển hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia phù hợp với sự chuyển dịch nhanh và phổ biến của dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế. Điều chỉnh cơ cấu vốn vay, trả nợ một cách linh hoạt và có sự kiểm soát theo hướng cân đối với quy hoạch đầu tư phát triển, cơ cấu ngành đã lựa chọn.
- Cần hoạch định chính sách cơ cấu ngành kinh tế quốc gia theo hướng khai thác có hiệu quả nguồn lực bên trong và bên ngoài, phù hợp với tiến trình hội nhập, thích ứng với chuyển đổi kinh tế khu vực và thế giới.
- Ổn định kinh tế vĩ mô, cung cấp các kết cấu hạ tầng tốt, tạo môi trường pháp lý rõ ràng, nhất quán, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh. Nâng cao khả năng tiếp thu công nghệ, hoàn chỉnh môi trường pháp lý, phát huy hiệu quả trong việc phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế quốc dân thông qua việc thực hiện chính sách R&D. Đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực, tư duy mới, thông thạo ngoại ngữ để chủ động trong các chương trình đàm phán, xây dựng các chính sách kinh tế…
Đảm bảo ANTT từ cơ sở nhờ mô hình “3 quản, 3 biết”. Gây tò mò với chúng tôi khi tìm hiểu về các mô hình hay trong công tác xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ ANTQ ở địa bàn cơ sở, đó là mô hình có cái tên khá lạ “3 quản, 3 biết” ở thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ấn tượng không chỉ bởi từ cái tên “3 quản, 3 biết” mà còn bởi hiệu quả của mô hình này qua thực tiễn gần 2 năm triển khai.
Có mặt tại điểm khai báo tạm trú tại phố Nguyễn Hữu Tiến, thị trấn Đồng Văn (huyện Duy Tiên, Hà Nam), bà Đặng Thị Huệ, chủ một nhà trọ ở ngõ 134, phố Nguyễn Hữu Tiến đang nhanh tay điền các bản mẫu tờ khai để hoàn thành thủ tục khai báo tạm trú cho 3 vị khách vừa mới đến thuê trọ.
Chỉ trong vài phút, chẳng cần đợi các cán bộ Công an phải hướng dẫn, các mẫu tờ khai xin đăng ký tạm trú cho khách thuê trọ đã được bà Huệ nhanh chóng hoàn thành, bởi đây vốn dĩ là công việc đã trở nên quen thuộc đối với bà chủ nhà trọ này.
Bà Huệ chia sẻ, 3 vị khách trọ mới này đang làm việc tại Khu Công nghiệp Đồng Văn 2, “lý lịch trích ngang” của 22 vị khách gồm 17 người lớn, 5 trẻ em, hiện đang thuê trọ tại 8 phòng trọ cho thuê của gia đình đều được bà Huệ nắm rõ “như lòng bàn tay”.
Mỗi khi có ai chuyển đến, có người chuyển đi, bà đều nhanh chóng tới điểm đăng ký tạm trú để làm thủ tục khai báo với cơ quan Công an và thông tin tới tổ trưởng khu phố.
Cũng nhờ có sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ nhà trọ với Công an cơ sở và tổ trưởng dân phố trong việc quản lý khai báo nhân khẩu tạm trú như vậy, cho nên, dù lượng khách trọ tại khu nhà cho thuê của gia đình bà Huệ thay đổi thường xuyên, nhưng chưa bao giờ xảy ra tình trạng trộm cắp, đánh lộn, hay những vấn đề phức tạp về ANTT.
“Công việc” giản đơn như bà Huệ vẫn làm như vậy được gọi với cái tên “3 quản, 3 biết”, một mô hình hay trong công tác quản lý cư trú được Công an huyện Duy Tiên và Công an thị trấn Đồng Văn xây dựng, triển khai thí điểm tại thị trấn Đồng Văn từ tháng 10-2015 đến nay.
Diễn giải ngắn gọn về mô hình này, Đại tá Phạm Kiên Cường, Trưởng Công an huyện Duy Tiên cho biết :“3 quản” (tức chủ hộ quản, Trưởng thôn (phố) quản, Công an địa bàn quản) và “3 biết” (tức Chủ hộ biết, Trưởng thôn (phố) biết, Công an địa bàn biết).
Theo vị trưởng Công an huyện này chia sẻ, xuất phát điểm ra đời của mô hình này chính là từ tình hình thực tế tại địa bàn. Thị trấn Đồng Văn vốn là địa bàn khu công nghiệp, tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp lớn của tỉnh Hà Nam, do vậy lượng người từ các nơi đổ về, trong đó có chuyên gia nước ngoài đến làm việc, cư trú trên địa bàn ngày càng đông.
Xác định công tác đăng ký, quản lý tạm vắng, tạm trú trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về TTATXH, góp phần quan trọng trong phòng ngừa các loại tội phạm, đảm bảo ANTT tại địa bàn, từ đó Công an huyện đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tổ chức triển khai thực hiện ở địa phương.
Các lực lượng tham gia mô hình “3 quản, 3 biết” sẽ chủ động phối hợp trao đổi thông tin liên quan đến nhân khẩu tạm trú, lưu trú và tình hình ANTT tại khu trọ, qua đó giúp cho lực lượng Công an viên, trưởng thôn, phố và chủ hộ cho thuê trọ quản lý chặt chẽ người đến tạm trú, thường xuyên nắm tình hình, kịp thời phát hiện những đối tượng lạ mặt, có biểu hiện hoạt động phạm pháp để đấu tranh, ngăn chặn.
Cũng thông qua công tác quản lý lưu trú lực lượng chức năng đã xác lập được nhiều hồ sơ phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Từ nguồn tin của quần chúng nhân dân, cơ quan Công an đã khám phá, khởi tố 6 vụ án hình sự liên quan đến bắt giữ người trái pháp luật, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 4,019g ma túy, giữ nhiều vũ khí, công cụ hỗ trợ đối tượng mang để sử dụng gây án, xử lý 19 đối tượng về các tội đánh bạc…
Điển hình cuối tháng 8-2016, qua nguồn tin báo của một người dân ở thị trấn Đồng Văn về 2 đối tượng có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm, Công an huyện Duy Tiên phối hợp với Công an thị trấn Đồng Văn tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ, phát hiện, bắt quả tang 2 đối tượng Trần Văn Hoan (25 tuổi) và Tạ Thanh Tuân (26 tuổi) cùng trú ở xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng đang tàng trữ số lượng lớn heroin ngay trong phòng trọ, kịp thời ngăn chặn 2 đối tượng này lợi dụng thuê nhà nghỉ, nhà trọ để ẩn nấp, buôn bán ma túy...
Không thể phủ nhận hiệu quả tích cực của mô hình “3 quản, 3 biết” trong công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn thị trấn Đồng Văn. Mới đây mô hình “ 3 quản, 3 biết” đã được công nhận là mô hình điển hình trong phong trào Toàn dân bảo vệ ANTQ, được UBND huyện Duy Tiên quyết định triển khai nhân rộng ra địa bàn các xã: Duy Minh, Bạch Thượng, Châu Giang và thị trấn Hòa Mạc, dự kiến đến quý cuối năm 2017 mô hình này sẽ nhân rộng ra toàn bộ các xã còn lại của huyện Duy Tiên.
CĐ Giáo dục Việt Nam: Phong trào đổi mới dạy và học. Theo TS Nguyễn Ngọc Ân - Phó Chủ tịch CĐ Giáo dục VN - từ khi Bộ trưởng Bộ GDĐT phát động thi đua trong toàn ngành với chủ đề “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” vào đầu năm học 2016 - 2017, CĐ Giáo dục VN đã phối hợp với Bộ GDĐT chỉ đạo tuyên truyền về trách nhiệm đổi mới, sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, người lao động (NGNLĐ) trong các cơ sở giáo dục, các trường học.
Một trong những giảng viên có nhiều sáng tạo là PGS-TS Ngô Tử Thành (Viện Sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) với phương pháp dạy học đảo ngược. Theo PGS-TS Ngô Tử Thành, theo mô hình giáo dục truyền thống, sinh viên (SV) đến lớp nghe giảng, về nhà làm bài tập và tất cả SV trong một lớp phải tuân theo lịch học chung. Tuy nhiên, khai thác công nghệ thông tin truyền thông (ICT), giảng viên có thể thu video clip bài giảng gửi cho SV. SV tự học ở nhà qua video clip hoặc e-learning, tìm hiểu bài giảng qua phương tiện nghe nhìn; trong thời gian đến lớp thay vì nghe giảng viên giảng bài, SV sẽ thảo luận, làm các bài tập khó theo hướng dẫn của giảng viên.
Theo đánh giá của nhiều giảng viên và SV, đây là phương pháp dạy và học mới, tạo được tâm thế chủ động trong học tập cho SV; giúp SV học tập đạt chất lượng cao hơn. Ngoài thời gian trên lớp, qua video clip, lúc nào SV cần, ở bất cứ nơi nào cũng học được bài giảng của giảng viên.
Bên cạnh những cá nhân, nhiều nhóm “Nhà giáo cùng nhau phát triển” được hình thành ở các nhà trường để hỗ trợ lẫn nhau cũng đã tạo được nhiều đổi mới, sáng tạo trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Nhóm “Nhà giáo cùng nhau phát triển” thuộc lĩnh vực toán học của Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên với giải pháp “Tăng cường năng lực công bố quốc tế” để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giúp người thầy làm chủ kiến thức trong giảng dạy và hướng dẫn khoa học.
PGS-TS Nguyễn Thị Thu Thủy - Trưởng nhóm (gồm 20 thành viên) này - cho biết, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, công bố quốc tế là một trong những chỉ số quan trọng nhất cho biết giảng viên đó có tiếp cận và cập nhật những xu thế mới và quan trọng trong ngành của khoa học thế giới hay không; có đủ năng lực để tương tác với các đồng nghiệp quốc tế thông qua ngôn ngữ khoa học hay không?
Với sự say mê công việc và tích cực giúp đỡ nhau, trong năm học 2016-2017, đã có 5 thành viên của nhóm đi hợp tác nghiên cứu, học tập tại Nhật Bản, Đức và một số nước khác; nhóm đã triển khai 1 đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ, 2 đề tài khoa học và công nghệ (KHCN) cấp Bộ, 10 đề tài KHCN cấp Đại học Thái Nguyên; từ năm 2010 đến nay có 34 bài báo được đăng trên Tạp chí ISI/Scopus; 4 công trình được thưởng công trình toán học năm 2016 của Chương trình Trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020.
Giảng viên có uy tín, say mê nghiên cứu khoa học là tấm gương, là nguồn cảm hứng sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học cho SV. “Dưới sự dẫn dắt của thầy cô, đã có nhiều SV của trường đoạt giải thưởng SV nghiên cứu khoa học toàn quốc; nhiều học viên đã có những sáng kiến kinh nghiệm đặc sắc phục vụ hiệu quả cho công tác chuyên môn” - PGS-TS Nguyễn Thị Thu Thủy chia sẻ.
Để các đơn vị triển khai, thực hiện tốt phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”, kinh nghiệm của CĐ Giáo dục Hà Nội và CĐ Giáo dục Nghệ An là CĐ các cấp cần phối hợp chặt chẽ với chuyên môn đồng cấp.
Về vấn đề này, ông Trần Văn Kỷ - Chủ tịch CĐ Giáo dục Nghệ An - cho biết, 100% CĐCS đã phối hợp với chuyên môn tổ chức phát động, triển khai các nội dung thi đua năm học 2016-2017 theo kế hoạch của Sở GDĐT và CĐ Giáo dục Nghệ An đến cán bộ quản lý, NGNLĐ, các tập thể và cá nhân ngay từ đầu năm học 2016-2017; đồng thời cụ thể hóa nội dung thi đua thành những tiêu chí cụ thể phù hợp với đơn vị. Các CĐCS đã tổ chức cho toàn thể cán bộ, NGNLĐ và các tập thể đăng ký thi đua trong năm học 2016-2017; kết quả, đã có 13.139 giải pháp, trong đó các cá nhân có 12.263 giải pháp, nhóm “Nhà giáo cùng nhau phát triển” có 876 giải pháp. Một số giải pháp đổi mới đã và đang thực hiện đạt hiệu quả.
Chia sẻ kinh nghiệm triển khai thực hiện phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”, bà Trần Thu Hà - Chủ tịch CĐ Giáo dục Hà Nội - cho hay, ngay từ đầu năm học 2016-2017, CĐ Giáo dục Hà Nội đã phối hợp với Sở GDĐT TP.Hà Nội xây dựng kế hoạch triển khai phong trào thi đua năm học 2016-2017 với chủ đề “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” hướng tới tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” giai đoạn 2007-2017; thành lập Ban Chỉ đạo ngành và thường xuyên kiểm tra, giám sát, tọa đàm rút kinh nghiệm việc thực hiện phong trào.
Đặc biệt, CĐ Giáo dục Hà Nội đã phối hợp với Sở GDĐT TP.Hà Nội triển khai giải thưởng “Nhà giáo Hà Nội tâm huyết sáng tạo” năm học 2016-2017; qua đó sẽ lựa chọn tôn vinh 50 nhà giáo đoạt giải thưởng (mỗi giải 10 triệu đồng) và trao quà, chứng nhận cho 50 nhà giáo được vào vòng Chung khảo (mỗi nhà giáo một phần quà và 2 triệu đồng). Giải thưởng được xây dựng với mục đích khẳng định, tôn vinh những nhà giáo Hà Nội có đóng góp xuất sắc trong phong trào thi đua “Đổi mới sáng tạo trong dạy và học” của toàn ngành từ năm học 2016-2017.
Sự phát triển của Việt Nam là tấm gương cho nhiều quốc gia. Chuyên gia Nga nhận định với những lợi thế về thị trường lao động, Việt Nam đang nỗ lực phát triển trở thành một "con hổ châu Á" mới song con đường này còn rất nhiều thách thức.
Chuyên gia hàng đầu của Nga về kinh tế Việt Nam, Giáo sư Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Nghiên cứu Viễn Đông, đã viết về con đường của Việt Nam tới mục tiêu trở thành "con hổ châu Á" mới trong cuốn sách chuyên khảo “Nền kinh tế Việt Nam ngày nay: Kết quả của 25 năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường”, được xuất bản vào năm 2012.
Giáo sư Mazyrin nói: “Tôi nghĩ rằng, trong vòng 5 năm, tối đa là 10 năm tới, Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu này”. Tuy nhiên, trên con đường này có rất nhiều cạm bẫy mà Việt Nam đang cố gắng để vượt qua.
Đã xuất hiện xu hướng toàn cầu về làn sóng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam từ các nước có điều kiện kém thuận lợi hơn, kể cả từ Trung Quốc, vì ở Việt Nam có sẵn lực lượng lao động dồi dào giá rẻ, trẻ trung và có kỹ năng cao.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng hơn 6%, thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, đồng thời vươn lên vị trí cao về khối lượng xuất khẩu hàng điện tử, quần áo và giày dép.
Bây giờ Việt Nam cần tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh, lao động giá rẻ. Nguồn nhân lực Việt Nam tăng thêm 2% mỗi năm, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng dân số, mà tỷ suất tăng dân số trung bình mỗi năm của Việt Nam là khoảng 1%.
Độ tuổi trung bình của người lao động Việt Nam là 38 tuổi, trong nền kinh tế thế giới độ tuổi này được gọi là “thời vàng son”. Tuổi thọ trung bình cao, tính tổ chức, kỷ luật lao động, động lực của người lao động, khả năng thực hiện các công việc nhạy cảm, đặc biệt là nghề lắp ráp điện tử, với mức lương thấp.
Tất cả điều này tạo điều kiện thuận lợi mà các công ty nước ngoài theo đuổi, song đây chỉ là những lợi thế tạm thời.
Dân số Việt Nam đang “già” đi rất nhanh. Bên cạnh đó, nếu 10 năm trước đây mức lương trung bình tại các doanh nghiệp, ngay cả với sự tham gia của nước ngoài, là 30-40 USD, thì hiện nay lên đến 300-400 USD.
Nếu xu hướng này tiếp tục thì sau 10 năm nữa các nhà đầu tư nước ngoài không còn quan tâm đến nguồn nhân lực Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam muốn phát triển các công nghệ tiên tiến và nâng cao trình độ học vấn, kết quả là sau 5-10 năm nữa phân khúc lao động giá rẻ sẽ bị thu hẹp và trên thị trường lao động Việt Nam sẽ xuất hiện ngày càng nhiều chuyên gia có trình độ cao.
Khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên, và nền kinh tế của đất nước thậm chí không có khả năng “tiêu hóa” dòng vốn khổng lồ, Giáo sư Mazyrin nói tiếp. Khối lượng đầu tư cao ngất ngưởng, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, gây ra sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như thâm hụt ngân sách liên tục, nợ công và nợ nước ngoài rất lớn. Đây cũng là điều mà Ban lãnh đạo Việt Nam lo ngại.
Ngoài ra, trong 2-3 năm tới, nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ được công nhận là nền kinh tế thị trường, và nước này sẽ không còn nhận viện trợ không hoàn lại và các khoản vay ưu đãi lớn. Tất cả điều này sẽ làm giảm sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, các tập đoàn xuyên quốc gia trên thực tế bắt đầu xâm nhập vào các ngành kinh tế Việt Nam. Xu thế này đã bắt đầu với công nghiệp nhẹ, và đang lây lan sang cả nhóm ngành dịch vụ, trong khi quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào ngành này. Sau khi các tập đoàn xuyên quốc gia giành lấy một miếng bánh lớn, sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam sẽ giảm đi.
Tuy nhiên, theo ý kiến của chuyên gia Nga, thậm chí nếu các nhà đầu tư nước ngoài ít quan tâm tới Việt Nam, điều đó sẽ không làm tổn thương đến nền kinh tế đất nước này.
Nhờ những cải cách có hiệu quả, Việt Nam đã thành lập cơ sở vững chắc cho nền kinh tế thị trường. Đó là trong số các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bắt đầu xuất hiện những công ty lớn có thể chiếm chỗ của các tập đoàn đa quốc gia.
Không phải ngẫu nhiên các tỷ phú Việt Nam lọt vào danh sách những người giàu nhất thế giới của tạp chí Forbes. Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định có thể thay thế những lợi thế của lao động giá rẻ. Nhờ đó ở Việt Nam sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các công ty thành công và đây là bí quyết của "phép lạ kinh tế Việt Nam".
Trong khi đó, tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường đang được củng cố nhờ các biện pháp của nhà nước và đảng cầm quyền, Việt Nam biết sử dụng linh hoạt các nguyên tắc của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có kế hoạch. Về mặt này, Việt Nam là hình mẫu đối với nhiều quốc gia.
Theo giới chuyên gia, trong năm 2030 nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng thứ 29, và đến năm 2050 sẽ lọt vào top 20 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Theo ý kiến của nhà kinh tế Nga, với tốc độ phát triển như hiện nay, nhờ chính sách kinh tế khôn ngoan của giới lãnh đạo Việt Nam, có mọi lý do để dự báo này trở thành hiện thực. đầu trang(
TRÁI KHOÁY
Dự án vốn đầu tư hơn 7 nghìn tỷ đồng, ngân sách đã rót vào hơn 4 nghìn tỷ đồng nhưng đến nay vẫn không thể hoạt động. Đây là một trong những điển hình cho thực trạng lãng phí nguồn lực trong đầu tư đang được dư luận quan tâm những ngày qua.
Trong quy hoạch của ngành đường sắt, tuyến đường sắt Yên Viên (Hà Nội) đến cảng Cái Lân (Quảng Ninh) đóng vai trò quan trọng. Nếu hoàn thành, dự án đảm nhận việc vận chuyển hành khách, hàng hoá dọc từ cảng biển nước sâu Cái Lân về Hà Nội rồi kết nối đi các tỉnh. Lúc thành lập, dự án còn được kỳ vọng sẽ thúc đẩy, hình thành nên liên hiệp các khu, cụm công nghiệp dọc QL 18 trải dài trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh mà đường sắt này chạy qua. Tuy nhiên, hơn 10 năm từ ngày triển khai, với hơn 4.536 tỷ đồng vốn ngân sách được rót ra, dự án vẫn chưa được phát huy tác dụng.
Quan sát thực tế tại ga Cái Lân, cạnh cảng nước sâu Cái Lân, toàn bộ mặt bằng ga vắng lặng, không bất kỳ lô hàng nào được đưa vào bốc dỡ. Trên sân ga kiên cố bằng bê tông, cỏ có thể mọc quá đầu người; các thanh ray bắt đầu có hiện tượng gỉ sét. Ông Nguyễn Đức Tân, Trưởng ga Cái Lân cho hay, gọi là ga nhưng từ nhiều năm nay không có hoạt động đón trả khách và hàng. Bốn cán bộ và nhân viên của ga chỉ có mỗi nhiệm vụ duy nhất là trông coi để tránh bị kẻ gian phá dỡ, trộm cắp. Đối diện ga Cái Lân, cảng Cái Lân cũng đang hoạt động cầm chừng.
Theo lãnh đạo Cục Hàng hải, cảng Cái Lân là dự án lớn được đầu tư từ ngân sách, liên thông với đường sắt. Tuy nhiên, do tuyến đường sắt chưa được khai thác nên cảng Cái Lân đang “đói hàng”. Vì vậy, Bộ GTVT phải cho Tập đoàn T&T thuê khai thác cảng nhưng “không được giá”.
Ngược tuyến đường sắt về phía Hà Nội, những đoạn dài nền đường sắt được đắp cao nhưng chưa được lắp ray như những tuyến đê chạy giữa cánh đồng. Cầu đường sắt Phả Lại (thuộc địa bàn Hải Dương), một hạng mục quan trọng của dự án đã hoàn thành nhưng chưa được lắp ray, đang hoen gỉ. Điểm dễ nhận biết nhất về sự dang dở, lãng phí của dự án này là đoạn qua địa phận Bắc Ninh.
Tại đây, một cầu vượt đường bộ của dự án đường sắt bắc qua cao tốc Hà Nội - Bắc Giang nhưng hai bên chưa có đường sắt, nhìn cây cầu, nhiều người nhầm tưởng là cổng chào. Tháng 1/2016, vì chiều cao cầu với mặt đường bộ không đạt, một xe tải chở hàng đâm lệch cây cầu. Cầu đã được kê kích, bắc lại nhưng vẫn tồn tại một khoảng dầm cầu bị móp.
Hiện từ ga Hạ Long vẫn có đường sắt kết nối với đường sắt Hà Nội thông qua hướng từ Hạ Long đi Kép (huyện Lạng Giang - Bắc Giang) rồi về Hà Nội trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn. Tuy nhiên, theo ông Khương Thế Duy, Phó Cục trưởng Đường sắt, việc đi theo lộ trình này mất khoảng 7,5 giờ. Ngoài ra, khổ đường ray của tuyến là 1,435 m, không thống nhất với khổ đường 1m của các tuyến khác nên khi về Hà Nội, hàng muốn đi tiếp phải chuyển tàu nên chủ hàng không sử dụng. “Chỉ có cách hoàn thiện toàn dự án Yên Viên - Cái Lân để rút ngắn 2, 2,5 giờ với quy mô đường lồng (đường ray khổ 1m lồng trong khổ 1,435 m- PV) như thiết kế, tuyến đường sắt này mới có thể phát huy tác dụng”- ông Duy cho hay.
Dự án triển khai từ hơn 10 năm nay và được Bộ GTVT đưa vào danh sách dừng thi công theo chủ trương cắt giảm đầu tư công tại Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP của Chính phủ. Ông Khương Thế Duy cho hay, với số vốn đã giải ngân 4.536 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư 7.663 của dự án, ở thời điểm dừng hoãn, dự án cần hơn 3 nghìn tỷ đồng sẽ hoàn thành. Hiện nay, dù nhiều đoạn tuyến đã hình thành, ray nhập về đủ để trải toàn bộ tuyến nhưng để hoàn tất dự án cần đến 6 nghìn tỷ đồng, vượt 3 nghìn tỷ đồng so với thời điểm dự án bị tê liệt.
Trao đổi với Tiền Phong chiều 31/5, Thứ trưởng GTVT Nguyễn Ngọc Đông cho hay, trong kế hoạch vốn ngân sách trung hạn từ nay đến năm 2020, dự án này vẫn chưa được bố trí vốn để triển khai. Để hoàn thành dự án, Bộ GTVT đã xây dựng phương án kêu gọi nhà đầu tư tư nhân tham gia, đổi lại họ được được hưởng quyền khai thác dự án với thời gian dài. Tuy nhiên, hiện chưa có nhà đầu tư nào quan tâm.
“Bộ GTVT vừa báo cáo thực trạng và đề xuất giải pháp cho dự án lên Chính phủ. Hiện Bộ GTVT đang chờ, chúng tôi rất sốt ruột để đưa được dự án vào khai thác” - ông Đông nói.
Nói về con số đội vốn, ông Nguyễn Ngọc Đông cho hay: “Dự án dừng hoãn lâu nên trượt giá vật liệu, nhân công tăng. Theo tính toán năm 2016, để hoàn thành dự án cần 6.000 tỷ đồng. Nếu để lâu sẽ, dự án tiếp tục trượt giá, chưa kể cần đánh giá lại các hạng mục đã làm nhưng bị xuống cấp khi dự án chưa hoàn thành”.
Báo cáo trước Quốc hội ngày 30/5, Bộ trưởng GTVT Trương Quang Nghĩa cho hay: “Với một ngành đường sắt có hơn 100 tuổi, từ khi có hệ thống đường sắt của Việt Nam, chúng ta là một trong những nước rất hiếm có đường sắt hiện đại như vậy, nhưng sau 100 năm thì đường sắt của chúng ta cứ kém dần đi và cho đến hiện nay thì thực sự rất lạc hậu”. Theo Bộ trưởng GTVT, từ 2011-2015, đầu tư cho ngành đường sắt rất hạn chế với khoảng 3,18% trong cơ cấu đầu tư cho ngành giao thông. Năm 2016, vận tải đường sắt đối với hàng hoá chỉ còn 0,4%, đó là 1 trong những lý do dẫn đến chi phí vận tải rất cao so với thế giới. (Tiền Phong 1/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trung Quốc trảm 8.000 quan “tham nhũng vặt” cắt xén tiền trợ cấp cho nông dân. Truyền thông Trung Quốc vừa đưa tin, trong một chiến dịch chống tham nhũng địa phương gần đây nhất, 8.000 quan chức cấp thấp ở tỉnh Hồ Nam đã bị phát hiện có hành vi “tham nhũng vặt” trong thời gian dài.
Cụ thể, theo Nhân Dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, gần 8.000 quan chức cấp thấp ở tỉnh Hồ Nam vừa bị phát hiện có hành vi “tham nhũng vặt” trong thời gian dài.
Trong số đó có ông Trần Cương, phụ trách tài chính của một thị trấn nhỏ ở Hồ Nam, Trung Quốc đã bỏ túi riêng 770.000 nhân dân tệ (hơn 2,5 tỉ đồng) tiền trợ cấp cho nông dân chỉ trong một năm.
Sau khi vụ việc bị phanh phui, mọi người ai cũng rất bất ngờ với cách thức bòn rút tiền tinh vi của ông Trần.
Theo đó, để “cắt xén” tiền trợ cấp cho nông dân mà không bị gây chú ý, ông Trần mượn chứng minh thư của hai người bạn rồi mở hai tài khoản ngân hàng dưới tên của họ. Sau đó, ông đưa tên hai người bạn vào danh sách đối tượng được hưởng tiền trợ cấp rồi chuyển một phần rất nhỏ trong số tiền trợ cấp dành cho người khác vào hai tài khoản này.
Chỉ tính riêng vào năm 2014, ông Trần bòn rút từ 155 hộ trong số 22.000 hộ dân thuộc diện có thể nhận trợ cấp để chuyển vào hai tài khoản nói trên.
Với cách thức trên, ông Trần tin rằng sẽ không bị để ý nếu "ăn chặn" mỗi lần một số tiền rất nhỏ, và đã chuyển tiền "bẩn" vào hai tài khoản tổng cộng 60.000 lần.
Được biết, mỗi một người dân được trợ cấp 9,72 nhân dân tệ (hơn 32.000 đồng)/lần, nhưng thực tế chỉ nhận 9,45 nhân dân tệ, vì ông Trần đã chuyển 0,27 nhân dân tệ (gần 900 đồng) của mỗi người nhận vào tài khoản ngân hàng do ông lập.
Vì số tiền bị ông Trần lấy rất nhỏ nên người nhận không hề biết tiền trợ cấp của mình bị bòn rút cho đến khi nhận được thông báo chính thức từ chính quyền sau khi vụ ăn chặn tiền của ông Trần bị phanh phui.
Sau vụ việc trên, nhiều quan chức địa phương ở Hồ Nam cũng bị phát hiện ăn chặn tiền dự án và thu tiền “quyên góp” bắt buộc từ người dân. Và hiện vẫn chưa rõ ông Trần sẽ bị xử lý như thế nào, và dân làng có được bồi thường số tiền bị cắt xén hay không./. đầu trang(
|
|||