|
Ngày 31 tháng 03 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 30.3, Viện KSND tỉnh Quảng Bình cho biết, liên quan đến vụ “cướp gỗ huê” tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng xảy ra vào tháng 5.2012, đã kháng nghị phúc thẩm phần tội danh và hình phạt đối với bản án hình sự sơ thẩm ngày 13.2.2015 của TAND tỉnh lên Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Theo đó, tại bản án sơ thẩm của TAND tỉnh tuyên 14 bị cáo phạm tội “cưỡng đoạt tài sản” là không đúng tội danh và đề nghị xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, sửa đổi tội danh từ tội “cưỡng đoạt tài sản” sang tội “cướp tài sản” và tăng hình phạt đối với 14 bị cáo nêu trên, việc áp dụng mức hình phạt 7-9 năm tù giam cho các bị cáo là quá thấp và không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Kháng nghị khẳng định, 14 bị cáo gồm: Nguyễn Văn Hiệu (SN 1970, trú xã Xuân Trạch); Hồ Văn Phương (SN 1987), Mai Hữu Sỹ (SN 1981), Nguyễn Ngọc Hoàn (SN 1969), Hoàng Văn Thành (SN 1983, cùng trú xã Sơn Trạch); Phan Văn Cảm (SN 1974), Nguyễn Xuân Quý (SN 1977, cùng trú xã Đại Trạch); Nguyễn Văn Quân (SN 1977), Lê Ngọc Lâm (SN 1986, cùng trú xã Sơn Lộc); Lê Anh Vũ (SN 1985), Nguyễn Văn Tiến (SN 1980, trú xã Phúc Trạch); Nguyễn Văn Cương (SN 1982, trú xã Hưng Trạch); Hồ Xuân Thiện (SN 1980, trú xã Vạn Trạch) và Lê Bá Quyết (SN 1977, trú xã Lý Trạch) đã có hành vi dùng vũ lực như: dùng dây trói, dùng dao, gậy gỗ đe dọa và dồn ép những nhóm người gùi gỗ của anh Phạm Văn Toàn vào hẻm đá có người canh giữ để chiếm đoạt tài sản là 7 gùi gỗ huê (theo định giá từ 3,6 tỷ đồng đến 4,32 tỷ đồng).
Trước đó, phiên tòa sơ thẩm tại TAND tỉnh Quảng Bình đã phải hoãn 3 lần vì vắng nhiều bị hại và những người có liên quan. (Lao Động 31/3, Tr7)đầu trang(
Ngày 30-3, ông Lê Văn Hải, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết toàn lâm phần hiện có trên 34.600ha rừng khô hạn, trong đó báo động đỏ (dự báo cháy cấp VI và cấp V) trên 17.000ha.
Khu vực báo động cháy cao là Phân trường Trần Văn Thời, xã Khánh Bình Tây Bắc, Vườn Quốc gia (VQG) U Minh Hạ và Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ. Tại VQG U Minh Hạ, trong 8.527ha diện tích rừng bảo vệ nghiêm ngặt, có đến gần 7.000ha không còn nước, nguy cơ cháy ở mức cực kỳ nguy hiểm.
Ông Huỳnh Minh Nguyên, Giám đốc VQG U Minh Hạ cho biết, mấy ngày nay nắng nóng, gió nhiều làm nước bốc hơi rất nhanh khiến cho diện tích vùng lõi của VQG gần như bị khô hoàn toàn.
Để ứng phó với nguy cơ cháy rừng, VQG U Minh Hạ bố trí 35 máy thông tin liên lạc, 12 máy bơm ở 24 điểm trạm, 145 chốt bảo vệ với lực lượng thường xuyên túc trực 24/24 giờ và hơn 1.400 nhóm công tác sẵn sàng ứng phó khi có sự cố cháy rừng.
Tại Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ bố trí 144 máy thông tin liên lạc, 22 máy bơm, 20 chòi, chốt canh lửa cố định và 8 chòi canh lửa 24/24 giờ. (Sài Gòn Giải Phóng 31/3, Tr17)đầu trang(
Ngay sau khi nhận được phản ánh của nhân dân về việc một số đơn vị liên quan chặt hàng loạt cây xanh trên tuyến phố thuộc diện xanh nhất TP.Hạ Long để… trồng cây mới, Chủ tịch UBND TP.Hạ Long – ông Phạm Hồng Hà – sáng 30.3 đã yêu cầu dừng ngay việc đốn cây.
Chiều tối 29.3, người dân trên phố Lê Thánh Tông, đoạn từ trụ sở LĐLĐ Quảng Ninh tới bến phà Bãi Cháy cũ, hết sức bất ngờ trước việc các loại máy móc, ôtô cùng công nhân đổ bộ xuống chặt cây xanh trên tuyến phố của mình. Tại hiện trường, một loạt các cây bàng, hoa sữa, bằng lăng… được người dân trồng cây đây ít nhất 30 năm, đang tươi tốt đã bị đốn hạ. Rất nhiều cây khác cũng có độ tuổi tương tự đã bị đánh dấu bằng sơn đỏ để chuẩn bị đốn hạ.
“Không ai thông báo với chúng tôi về việc chặt cây, khi được hỏi thì công nhân nói là chặt cây cũ để trồng cây mới cho đồng bộ với những cây mới trồng (cây sao đen) ở các tuyến phố gần đó. Chúng tôi có 2 cây sấu đang tươi tốt, xin giữ lại họ cũng không đồng ý và đã đánh dấu chuẩn bị chặt” – một người dân ở tổ 8, khu 1, phường Hồng Gai - cho biết.
Vào tháng 8.2014, TP.Hạ Long cũng cho đặt và di chuyển một loạt cây xanh trên một số tuyến phố chính giữa trung tâm thành phố, khiến dư luận bức xúc và tiếc nuối. Tuy nhiên, theo người dân, trường hợp đó có thể thông cảm được vì thành phố mở rộng đường; còn ở đây, đường và vỉa hè mới làm xong.
“Những cây xanh trên ở khu vực này đều đang xanh tốt. Hơn nữa, đoạn đường này đã tu sửa xong nên không có lý do gì để chặt cây và thay bằng cây mới. Tôi đã yêu cầu dừng ngay việc chặt cây” – Chủ tịch UBND TP.Hạ Long Phạm Hồng Hà - cho biết. (Lao Động 30/3)đầu trang(
Trong năm 2014, các nhà khoa học đã phát hiện thêm 126 loài sinh vật mới tại Việt Nam, theo thống kê của một nhóm các nhà khoa học từ Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Thông kê của nhóm "Đa dạng Sinh học và Bảo tồn Việt Nam" (Biodiversity and Conservation of Vietnam - BIODIVN), đã có 80 loài động vật và 46 loài thực vật, nấm mới đã được phát hiện ở Việt Nam trong năm vừa qua.
Theo TS Nguyễn Đức Anh, thuộc Phòng Sinh thái Môi trường Đất, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, đại diện nhóm BIODIVN cho biết, con số 126 loài mới được phát hiện trong năm qua có thể coi là một thành công rực rỡ của các nhà khoa học sinh vật.
"Trong năm 2012-2013, chỉ mới có khoảng 100 loài sinh vật mới được phát hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ riêng năm 2014, đã tìm thấy 126 loài mới, tăng 26% so với cả hai năm trước đó", TS Đức Anh cho biết.
Thống kê của nhóm BIODIVN được tiến hành dựa trên các phát hiện được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới trong năm 2014.
Trong số 80 loài động vật mới được công bố, chủ yếu thuộc về các nhóm Côn trùng (chiếm tỷ lệ 64%), Lưỡng cư (chiếm 16%), và các nhóm còn lại như Bò sát, Cá, Cổ sinh vật, Giáp xác, Thân mềm, Thú (chiếm tỷ lệ từ 2 đến 5%). Trong đó, có 45% số loài được phát hiện ở khu vực miền Bắc, 43% từ khu vực miền Nam và chỉ có 12% từ khu vực miền Trung Việt Nam.
Trong tổng số 46 loài thực vật, nấm và địa y mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam, 50% số loài được đến từ miền Nam, 33% số loài đến từ miền Bắc và 17% số loài đến từ miền Trung. Đặc biệt, việc tập trung nghiên cứu tại tỉnh Lâm Đồng đã cho kết quả đáng kinh ngạc với 14 loài thực vật được công bố, chiếm 30,4% tổng số loài đã phát hiện.
Theo TS Nguyễn Đức Anh, việc phát hiện 2 loài thú mới là dơi muỗi Hypsugo dolichodon ở Đồng Nai và chuột cây Thomas Chiromyscus thomasi ở Sơn La được coi là phát hiện quan trọng nhất trong năm qua. Bởi lẽ, hiện nay, Việt Nam rất khó để phát hiện những loài thú mới.
Phát hiện cũng rất ấn tượng trong năm 2014 là việc tìm thấy những loài thú cổ đại (đã tuyệt chủng) ở Việt Nam. Các nhà khoa học đã công bố 3 loài thú cổ đại từ các mẫu hóa thạch thu được ở Na Dương, Lạng Sơn, gồm: Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense, thú than phương đông Bakalovia orientalis, và cá nước ngọt cổ đại Planktophaga minuta.
Về thực vật, việc phát hiện loài Thông năm lá rủ Pinus cernua được đánh giá là phát hiện ấn tượng nhất trong năm 2014. Bởi lẽ, trong nhiều năm qua chưa có phát hiện mới nào về các loài cây thông.
Việt Nam được coi là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học trên thế giới với khoảng gần 19 nghìn loài động vật và gần 14 nghìn loài thực vật được biết đến. Con số này vẫn tiếp tục tăng lên khi mà mỗi năm có hàng trăm loài mới cho khoa học được phát hiện từ Việt Nam.
Tuy vậy, theo TS Đức Anh, việc phát hiện những loài mới ở Việt Nam cũng đang chỉ ra những thách thức to lớn đối với việc bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học.
“Các loài sinh vật mới được phát hiện đều có vùng phân bố hẹp và có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng cao, ví dụ những loài bò sát, ếch nhái, thực vật lá kim…
Sự phá rừng, chuyển đổi đất rừng và khai thác quá mức tài nguyên sinh vật đang là những mối đe dọa chính đến nơi sống của các loài mới nói riêng và các loài sinh vật nói chung. Nơi sống bị đe dọa là nguyên nhân đẩy các loài này vào nguy cơ biến mất khỏi hệ sinh thái”, TS Đức Anh khẳng định. (Vietnamnet.vn 30/3) đầu trang(
Tại Hội nghị bàn biện pháp quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (QLBVR - PCCCR) năm 2015 vừa được UBND tỉnh tổ chức, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận, đề ra nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép; tăng cường công tác PCCCR.
Năm 2014, tình hình khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, động vật rừng (ĐVR), lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép và cháy rừng trên địa bàn tỉnh diễn biến khá phức tạp.
Tại huyện Vĩnh Thạnh, nhiều đối tượng xâm nhập vào các khu rừng giáp ranh giữa các xã trong huyện, vùng giáp ranh giữa huyện Vĩnh Thạnh và thị xã An Khê (Gia Lai) để chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.
Trên 67.500 m2 cây trồng chưa thành rừng của Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh đã bị chặt phá; trên 820 ha đất lâm nghiệp của doanh nghiệp này cũng bị người dân ở Vĩnh Thạnh và thị xã An Khê tranh chấp, lấn chiếm.
Qua các đợt kiểm tra, truy quét, lực lượng QLBVR huyện Vĩnh Thạnh đã phát hiện 72 vụ phá rừng, tổng diện tích rừng thiệt hại là 225.500 m2 và 97 vụ vi phạm khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, tạm giữ 136,5 m3 gỗ các loại cùng nhiều phương tiện lâm tặc sử dụng để khai thác và vận chuyển lâm sản.
Tại các huyện Vân Canh, An Lão, Tây Sơn, Hoài Ân…, tình hình vi phạm Luật Bảo vệ, phát triển rừng (BV-PTR) và cháy rừng cũng diễn biến khá phức tạp. Đáng lo ngại là nhiều người dân ở huyện An Lão và Hoài Nhơn đã cấu kết với các đối tượng ở ngoài tỉnh xâm nhập vào rừng đặc dụng An Toàn (xã An Toàn - huyện An Lão) để khai thác gỗ quý, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, năm 2014, Hạt Kiểm lâm (KL) các địa phương đã phát hiện 95 vụ phá rừng, phá cây chưa thành rừng trên diện tích 58,7 ha, tăng 24 vụ, diện tích rừng bị phá tăng 34,8 ha so với năm 2013.
Trong đó, tại các huyện Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Vân Canh đã xảy ra 31 vụ phá rừng tự nhiên có chức năng phòng hộ với diện tích trên 25 ha; tại Vĩnh Thạnh, Vân Canh xảy ra 31 vụ phá rừng tự nhiên chức năng sản xuất với diện tích gần 9 ha; tại Phù Cát xảy ra 1 vụ phá rừng trồng có chức năng sản xuất với diện tích 0,45 ha...
Tại 9/11 huyện, thị xã, thành phố đã xảy ra 57 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại trên 414,2 ha.
Theo ông Lê Văn Đẩu, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thạnh, sở dĩ tình trạng khai thác lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp và cháy rừng diễn biến phức tạp là do diện tích rừng ở địa phương lớn, đường giao thông đi lại khó khăn, trong khi lực lượng QLBVR mỏng và thiếu trang thiết bị phục vụ công tác QLBVR- PCCCR.
Kinh phí để trả cho người dân nhận khoán QLBVR hàng năm còn thấp và kinh phí để tổ chức các đợt truy quét, ngăn chặn các đối tượng xâm hại rừng cũng không nhiều, nên hoạt động nói trên chưa được thường xuyên, liên tục.
Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho rằng, những hạn chế trong công tác QLBVR - PCCCR trong thời gian qua là: Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác QLBVR - PCCCR của lực lượng KL chưa tốt.
Một số hạt KL và KL địa bàn chưa làm tốt nhiệm vụ được giao, chưa thường xuyên bám sát cơ sở để phát hiện và ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.
Việc tổ chức tuần tra, truy quét các đối tượng khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép còn bị động, chưa thường xuyên, liên tục và lực lượng chưa đủ mạnh để có thể trấn áp các đối tượng phá rừng. Mặt khác, thông tin về tuần tra, kiểm soát BVR chưa được bảo mật, nên việc phát hiện và xử lý các đối tượng xâm hại rừng gặp nhiều khó khăn.
Theo ông Huỳnh Ngọc Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục KL tỉnh, để công tác QLBVR - PCCCR đạt hiệu quả, bên cạnh sự nỗ lực của ngành KL, cần có sự tham gia của cả cộng đồng.
Thực tế cho thấy, ở những nơi nào chính quyền địa phương chỉ đạo quyết liệt công tác QLBVR và có sự tham gia tích cực của ngành chức năng, hội đoàn thể và người dân thì ở địa bàn đó ít xảy ra cháy rừng và rừng ít bị xâm hại.
Vì vậy, chính quyền các địa phương cần chỉ đạo ngành chức năng, hội đoàn thể, vận động người dân tích cực tham gia QLBVR, từng bước xã hội hóa công tác QLBVR.
Nhiều đại biểu có ý kiến, bên cạnh công tác tuyên truyền Luật BV-PTR, cần tăng cường kiểm tra, truy quét, xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm Luật BV-PTR, đặc biệt là các đối tượng chống đối người thi hành công vụ. Lãnh đạo các địa phương cũng đã đề nghị tỉnh cân đối, bố trí bổ sung ngân sách cho hoạt động BVPTR.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Thu Hà yêu cầu các cấp, các ngành, các chủ rừng rút kinh nghiệm sâu sắc trong công tác điều hành, chỉ đạo, phối hợp QLBVR - PCCCR trong năm qua; tập trung cụ thể hóa kế hoạch, giải pháp QLBVR - PCCCR năm 2015.
Tăng cường công tác tuyên truyền Luật BV-PTR; tiếp tục giao khoán cho dân QLBVR gắn với việc phát triển lâm sản phụ dưới tán rừng, nhằm tăng nguồn thu và tăng trách nhiệm của các chủ rừng đối với diện tích rừng đã được giao khoán.
Nhân rộng mô hình cộng đồng QLBVR - PCCCR đã được thực hiện có hiệu quả tại một số địa phương trong tỉnh. Các đơn vị phải chú trọng đến công tác dự tính, dự báo cháy rừng; xây dựng các đường ranh cản lửa; chuẩn bị lực lượng, phương tiện, dụng cụ tại chỗ để PCCCR kịp thời, hiệu quả. (Báo Bình Định 30/3) đầu trang(
Chiều 26.3, UBND huyện Duy Xuyên tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng - phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2014 và đề ra những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2015.
Năm qua, huyện Duy Xuyên tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh cơ sở, tu sửa các bản quy ước, dự báo và tổ chức diễn tập chữa cháy rừng. Đặc biệt, Hạt Kiểm lâm cùng các ngành chức năng ở huyện mở nhiều đợt tuần tra, truy quét tại những vùng trọng điểm, vùng giáp ranh và dọc tuyến sông Thu Bồn.
Qua đó, tháo dỡ 526 bẫy dây, phát hiện và thả lại rừng 2 cá thể động vật, tịch thu 45m3 gỗ các loại. Tổng số tiền xử phạt hành chính và bán lâm sản vi phạm hơn 203 triệu đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.
Được biết, năm 2014 trên địa bàn huyện Duy Xuyên xảy ra 28 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng; trong đó có 2 vụ cháy rừng do xử lý thực bì, đốt ong trong quá trình khai thác keo nguyên liệu. (Báo Quảng Nam 29/3) đầu trang(
Tình hình khai thác rừng trái phép tại các Ban quản lý rừng phòng hộ ở Bắc Bình diễn biến phức tạp, trong đó có Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy (BQLRPHSL). Để hiểu rõ hơn vấn đề, phóng viên Báo Bình Thuận đã có cuộc trao đổi với ông Phan Văn Minh – Trưởng ban BQLRPHSL.
PV: Xin ông cho biết, hiện diện tích rừng Sông Lũy thuộc ban quản lý là bao nhiêu?
Ông Phan Văn Minh: Diện tích rừng thuộc BQLRPHSL quản lý là 23.997 ha/35 tiểu khu. Chiều dài giáp ranh với huyện Di Linh, Đức Trọng (Lâm Đồng) khoảng 59 km và giáp với huyện Hàm Thuận Bắc khoảng 8 km. Địa hình rừng quản lý khá phức tạp, đồi núi hiểm trở nên rất khó khăn cho tuần tra, kiểm soát rừng…
Ông vừa nói diện tích rừng giáp ranh khá lớn, tình hình phá rừng giáp ranh với Lâm Đồng trên địa bàn tỉnh khá phức tạp do lâm tặc chủ yếu ở Lâm Đồng, với địa bàn quản lý RPHSL thì sao?
Ông Phan Văn Minh: Tình hình phá rừng giáp ranh rất phức tạp, lâm tặc dùng mọi thủ đoạn để khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Lâm tặc khá manh động, dùng hung khí, súng tự tạo để chống trả lực lượng bảo vệ rừng (BVR) quyết liệt khi bị phát hiện, trong khi đó lực lượng BVR mỏng, công cụ hỗ trợ trang bị chưa xứng tầm so với công việc.
Mặt khác, diện tích rừng quá rộng và có chiều dài giáp ranh lớn nên rất khó khăn cho công tác quản lý BVR. Hiện đơn vị đã xây dựng 5 tổ chốt đóng tại các vùng trọng điểm là điểm nóng rừng hay bị phá.
Bên cạnh đó đơn vị còn có 5 trạm quản lý BVR và một tổ cơ động, lực lượng BVR trực tiếp là 38 người, thường xuyên phối hợp hộ nhận khoán ở các xã, kiểm lâm địa bàn để tuần tra, ngăn chặn tình hình khai thác và vận chuyển gỗ lậu…
PV: Thưa ông, dư luận đang chú ý đến các vụ phá rừng giáp ranh xảy ra ở Sông Lũy có mấy vụ công an đã khởi tố để điều tra, những vụ này xảy ra trước hay sau khi ông về làm trưởng ban?
Ông Phan Văn Minh: Từ khi tôi về nhận công tác (tháng 6/2014) đến khi phát hiện xảy ra khai thác rừng trái phép chỉ trong vòng 4 tháng. Do mới về nên còn gặp khó khăn trong điều hành và quản lý. Bên cạnh đó phải nhờ cấp phó và các trạm làm quản lý BVR, trong số những vụ khai thác rừng trái phép có số trước khi tôi về và có vụ sau khi tôi về. Hiện trường để lại đang được xác minh thời gian để có hướng xử lý…
PV: Nhiều nguồn tin cho rằng có sự tiếp tay của lực lượng BVR thuộc Ban quản lý cho bọn lâm tặc, ý ông thế nào?
Ông Phan Văn Minh: Tổng số lực lượng ở cơ quan là 46 người, trong đó lực lượng trực tiếp quản lý BVR là 38 người, cán bộ văn phòng 8 người. Do bản thân tôi mới nhận công tác nên chưa nắm sâu từng cán bộ nên không quả quyết được điều phóng viên hỏi.
Tuy nhiên, BQLRPHSL đang phối hợp với các ngành chức năng để làm sáng tỏ các vấn đề trên. Đơn vị đang phối hợp với kiểm lâm địa bàn, lực lượng của các xã để tăng cường kiểm tra rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng làm rẫy, đặc biệt là khu vực giáp ranh dân Lâm Đồng phá nhiều, tạo dư luận không tốt.
Trong thời gian tới nếu có thông tin và chứng cứ tốt, tôi sẽ xử lý nghiêm theo pháp luật với cán bộ vi phạm. (Báo Bình Thuận 30/3) đầu trang(
Dấu hiệu rõ nhất trong vụ này là tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Những ngày qua, việc chặt hàng loạt cây xanh ở Hà Nội gây bức xúc không chỉ với người dân thủ đô mà với người dân cả nước. Việc làm này đã chạm vào lòng tự trọng, lòng yêu mến thủ đô, đất nước và ý thức trách nhiệm của người dân.
Trước sự phản ứng quyết liệt của dư luận, của các cơ quan báo chí, lãnh đạo TP Hà Nội đã cho tạm dừng việc chặt hạ cây xanh, đồng thời tạm đình chỉ công tác một số cán bộ thuộc phòng Quản lý hạ tầng môi trường và công trình ngầm của Sở Xây dựng để kiểm điểm làm rõ trách nhiệm
Nhiều ý kiến cho rằng việc tổ chức chặt 6.700 cây xanh cổ thụ là tội phạm, vì đã xâm phạm tài sản quốc gia và môi trường sống của người dân, cần phải được pháp luật xử lý thích đáng chứ không chỉ rút kinh nghiệm, kỷ luật một số cán bộ là xong.
Rằng việc chặt hàng loạt cây xanh, trong đó có cả hàng cây cổ thụ gần 100 tuổi, đã vi phạm Luật Thủ đô; việc chặt cây xanh mang tính triệt hạ, tàn phá và được làm cấp tập, còn hơn cả “lâm tặc phá rừng”.
Rằng hậu quả gây ra cực kỳ nghiêm trọng, không thể một sớm một chiều có thể khắc phục được, vì vậy cần xem xét khởi tố vụ án hình sự. Có ý kiến còn nói hành vi phá cây xanh đã cấu thành tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế và tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng!
Dư luận bức xúc, đòi xử lý, đòi trừng trị là có lý do chính đáng. Tuy nhiên, để truy cứu trách nhiệm hình sự ai đó thì lại phải căn cứ vào các quy định của BLHS, đối chiếu với hành vi cụ thể và hậu quả do hành vi đã gây ra cũng như động cơ, mục đích của những người ban hành chủ trương và tổ chức thi hành chủ trương đó. Làm gì cũng cần phải có cái đầu “lạnh” chứ không chỉ có trái tim “nóng” là đủ!
Cần phải thấy một thực tế rằng ở nước ta, từ xưa đến nay chưa có ai đi tù vì đã đề ra chủ trương, chính sách sai lầm cả. Trong khi đó, lãnh đạo TP Hà Nội vẫn cho rằng chủ trương thay thế cây xanh trên một số tuyến phố thủ đô là một chủ trương “đúng đắn”, dù chủ trương này chưa được các nhà khoa học và nhân dân đồng tình!
Nếu có sai chỉ là sai ở khâu tổ chức thực hiện. Nếu truy cứu trách nhiệm hình sự những người hoạch định chính sách thì có lẽ khối người phải đi tù!
Vậy thử bàn xem trong việc đề ra chủ trương cũng như việc tổ chức thực hiện việc chặt hạ cây xanh, lãnh đạo TP và các sở, ban ngành ở Hà Nội đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao như thế nào.
Chắc khó có thể quy kết ai đó (là lãnh đạo UBND hay các sở, ban ngành) bởi họ nói chủ trương này đã được tính toán rất kỹ, từ kế hoạch đến biện pháp, việc chuẩn bị phương tiện, con người, nơi tập kết số cây đã chặt, cơ quan đứng ra tài trợ...
Tất cả đều được quán triệt rất kỹ và do một phó chủ tịch UBND TP tổ chức thực hiện nên không thể nói do vô ý hay thiếu trách nhiệm trong việc ban hành quyết định cũng như việc tổ chức thực hiện việc chặt hạ cây xanh được.
Có ý kiến cho rằng sai phạm của TP Hà Nội có dấu hiệu của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.Không ai phủ nhận từ việc ra văn bản đến việc thực hiện chặt hạ cây xanh được chuẩn bị, tính toán và có mục đích rõ ràng.
Hậu quả gây ra thì không cần phải bàn, nó đã vượt ra khỏi dự kiến của những người thực hiện chủ trương. Ngoài thiệt hại về vật chất thì hậu quả phi vật chất là đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ gây bức xúc cho dư luận, cho người dân thủ đô và cả nước, mà xa hơn thế nó đã làm mất lòng tin của người dân.
Những thiệt hại này không thể tính ra bằng tiền, cũng không thể một sớm một chiều khắc phục được. Nhưng tội phạm này là tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế chứ không phải xâm phạm trật tự quản lý hành chính, mà quyết định chặt hạ cây xanh lại là quyết định hành chính do UBND TP Hà Nội ban hành. Do đó cũng khó có thể cho rằng chủ trương và việc thực hiện chặt hạ cây xanh là hành vi phạm tội cố ý làm trái!
Tuy nhiên, nếu kết quả thanh tra (và điều tra sau này, nếu có) cho thấy một số người đã lợi dụng chủ trương thay thế cây xanh nói trên để trục lợi cho cá nhân hoặc cho một nhóm người nào đó thì nó có dấu hiệu của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, quy định tại Điều 281 BLHS (là tội phạm về tham nhũng).
Có lẽ tội phạm này mới phản ánh đúng bản chất hành vi của một số người trong quá trình tổ chức, thực hiện việc chặt phá cây xanh. Mọi dấu hiệu cấu thành tội phạm này đều đã thỏa mãn, chỉ cần chứng minh họ đã vì vụ lợi (có lợi ích nhóm, có chia chác số tiền bán cây) hoặc động cơ cá nhân khác là đủ yếu tố cấu thành.
Có thể sắp tới chẳng có ai bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong việc chặt hạ cây xanh ở thủ đô. Nhưng qua vụ này ta cũng rút ra được một bài học không chỉ có chính quyền TP Hà Nội mà cho cả nước, đó là đừng có làm việc gì thiếu cân nhắc, tính toán để người dân phải bất bình, phản đối. (Pháp Luật TP.HCM 30/3) đầu trang(
Theo đánh giá của Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé, thời gian qua, tình trạng người dân trên địa bàn huyện chặt phá rừng làm nương rẫy vẫn còn diễn ra khá phức tạp, trong đó vẫn tập trung ở các xã: Mường Nhé, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Toong...
Nổi cộm nhất vẫn là những thôn bản có lượng dân di cư tự do lớn như khu vực Phứ Ma, Cà Là Pá xã Leng Su Sìn.
Do lực lượng mỏng, địa bàn lại rộng nên đây chính là những nguyên nhân khiến cho việc kiểm soát, bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm còn gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó, ý thức, trách nhiệm của chính người dân, nhất là đối với các hộ dân di cư tự do còn yếu, thậm chí là còn ngang nhiên, công khai chặt phá rừng để làm nương, làm rẫy. Chính vì vậy, nhiều cánh rừng đã bị tàn phá một cách không thương tiếc.
Qua số liệu thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện: Từ đầu vụ khô hanh đến nay, trên địa bàn toàn huyện đã có gần 50ha rừng trạng thái 2a, 1c đã bị người dân chặt phá để làm nương rẫy, cũng như nhằm mục đích để khai thác lâm sản.
Hiện nay, ngoài việc chặt phá rừng, nhiều người dân, nhóm hộ còn đánh dấu rừng để khi lực lượng chức năng không kiểm soát là sẽ tiếp tục chặt phá.
Trước sự tàn phá rừng Mường Nhé, Hạt Kiểm lâm huyện mong muốn các ngành chức năng tỉnh, huyện cần có những cơ chế, chế tài đủ mạnh để răn đe, giáo dục, cũng như xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm hại đến rừng; nhất là xâm hại đến khu vực rừng bảo tồn, rừng đặc dụng. (Đài PT-TH Điện Biên 29/3) đầu trang(
Vào khoảng 6 giờ 15 phút ngày 28/03 tại khu phố Tri Tôn ,thị trấn Hòn Đất, đã xảy ra một vụ cháy làm thiêu rụi hơn 2 ha rừng trồng của người dân.
Theo nhiều người dân cho biết, vào thời điểm trên từ trong một khu rừng tròng của người dân đã phát ra ngọn lửa ban đầu, do đang là mùa khô hanh cộng them buổi chièu có gió thổi mạnh nên ngọn lửa đã nhanh chóng lan ra thành đám cháy lớn.
Do đám cháy nằm gần Trung tâm Thương mại Hòn Đất, trong khu dân cư và rừng trồng có nhiều lớp thực bì nên đám cháy đã lan nhanh và ngon lửa cháy rất cao, khói bụi mịt mù.
Trong khi đó thì nguồn nước cứu hoả khan hiếm, lực lượng Công an huỵện Hòn Đất và nười dân trong khu vực đã nhanh chóng cắt đường băng cản lửa và dùng các phương tiện chữa cháy tại chỗ nhanh chóng khống chế ngọn lửa không cho đám cháy lan vào khu dân cư. Đến khoảng hơn 17 giờ 30 phút, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy Công an Kiên Giang đã có mặt khống chế được ngọn lửa.
Hiện các cơ quan chức năng huyện Hòn Đất đang điều tra nguyên nhân gây nên vụ cháy, nhưng qua đây cũng là bài học cho người dân sống ở những khu vực có nguy cơ cháy trong mùa khô.
Trao đổi với PV chiều ngày 30/03, ông Trương Thanh Hào, Chi Cục phó Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang cho biết: Hiện nay Kiên Giang đang vào mùa khô hạn và còn hạn hơn cả năm trước, khu vực Hòn Đất đang ở cấp báo cháy cấp 5 là cấp báo cháy cao nhất.
Khu vực rừng bị cháy là rừng trồng của các hộ dân, không nằm trong diện tích rừng nhà nước quản lý. (Tài Nguyên & Môi Trường 30/3) đầu trang(
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Sơn, từ đầu năm đến nay, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện tổ chức nhiều đợt kiểm tra nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép.
Qua đó, đã phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính 14 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; đã tiến hành xử lý 7 vụ, tịch thu 9,49m3 gỗ xẻ các loại, xử phạt hành chính gần 39 triệu đồng.
Hiện nay, Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Sơn tiếp tục phối hợp với UBND cấp xã nắm các đối tượng tham gia phá rừng để tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện để họ chuyển đổi nghề, không tham gia phá rừng.
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 30 khu vực trọng điểm dễ cháy. Hạt đang phối hợp với các đơn vị chủ rừng tăng cường những biện pháp phòng, chống cháy rừng trong cao điểm mùa khô như: vận động người dân cam kết chấp hành nghiêm quy ước phòng, chống cháy rừng; tiến hành kiểm tra công tác phòng, chống cháy của các đơn vị chủ rừng; tổ chức trực phòng, chống cháy rừng 24/24 giờ trong ngày. (Báo Khánh Hòa 29/3) đầu trang(
Huyện Cam Lộ vừa tổ chức hội nghị tổng kết công tác bảo vệ rừng năm 2014 đồng thời triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2015.
Năm 2014, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài nhưng ngay từ đầu năm các địa phương, chủ rừng trên địa bàn huyện Cam Lộ đã tích cực triển khai tốt công tác bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Lực lượng kiểm lâm đã phát huy vai trò nồng cốt tham mưu thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, kịp thời kiện toàn Ban chỉ đạo BVR các cấp, thành lập phương án PCCCR đồng thời triển khai công tác tuyên truyền, kiểm tra đôn đốc các địa phương, các tổ chức xã hội và chủ rừng thực hiện nghiêm chỉnh các qui định về bảo vệ rừng và PCCCR.
Nhờ vậy, trên địa bàn không vụ cháy rừng nào xảy ra, những vụ vi phạm lâm luật được phát hiện và xử lý kịp thời.
Tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận đưa ra các giải pháp thực hiện công tác bảo vệ rừng và PCCCR năm 2015 trong đó trọng tâm là nâng cao khả năng kiểm soát cháy rừng, chủ động phương án PCCCR, giảm thiếu số vụ cháy và diện tích tích bị cháy;bảo vệ bền vững diện tích rừng hiện có; quản lý chặt chẽ diễn biến tài nguyên rừng; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng, thực hiện việc bảo vệ rừng có hiệu quả. (Đài PT-TH Quảng Trị 30/3) đầu trang(
850 m3 gỗ khai thác, vận chuyển trái phép đã được lực lượng Kiểm lâm tỉnh Đăk Lăk phát hiện, thu giữ trong 3 tháng đầu năm nay, trong đó có gần 60m3 gỗ quý hiếm.
Đây là tang vật của gần 500 vụ vi phạm luật quản lý, bảo vệ rừng xảy ra trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, có 14 con và 305 kg động vật rừng bị săn bắt, vận chuyển trái phép cũng đã được phát hiện, thu giữ.
Tang vật, phương tiện vận chuyển có 345 xe các loại bị tịch thu, chủ yếu gồm ô tô, công nông, máy kéo,... Chỉ 4 vụ trong số các vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép được xử lý hình sự, phần lớn các vụ việc còn lại được xử lý hành chính với số tiền xử phạt lên đến trên 2,2 tỷ đồng.
Hai vấn đề “nóng” hiện ngành Lâm nghiệp địa phương phải đối mặt là tình trạng phá rừng làm rẫy và nguy cơ cháy rừng. (Bảo Vệ Pháp Luật 31/3, Tr15) đầu trang(
Ngày 28/3, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức Tọa đàm “Thiên nhiên bí ẩn và kỳ thú qua trang sách Kim Đồng”. Đây là hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện tuần lễ Hội sách thành phố Cần Thơ lần thứ I/2015.
Tọa đàm có sự tham dự của nhà văn Vũ Hùng và nhà văn Phan Việt Lâm. Hai nhà văn nhấn mạnh, đã đến lúc cần thay đổi thái độ ứng xử với thiên nhiên để giảm thiểu biến đổi khí hậu, gây ra những tác hại lớn đến đời sống của mỗi chúng ta.
Các diễn giả đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân khi viết các tác phẩm về đời sống động vật, kích thích trí tò mò cũng như lòng yêu thích thiên nhiên nơi bạn đọc. Từ đó, khơi gợi trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên, động vật hoang dã, đặc biệt đối với thiếu niên - thế hệ chủ nhân tương lai.
Nhà văn Vũ Hùng (tác giả của hàng chục đầu sách viết về rừng – thiên nhiên – muông thú, mang đậm bản sắc Nam Bộ - Tây Nguyên như: Chú ngựa đồng cỏ, Mùa săn trên núi, Vườn chim, Phượng hoàng đất, Sống giữa bầy voi, Những kẻ lưu lạc, Con voi xa đàn…) chia sẻ, hiện nay chúng ta đang đối diện với thực trạng khai thác thiên nhiên theo kiểu tận diệt, cộng với tình trạng săn bắt, buôn lậu động vật hoang dã vô tội vạ đã khiến cho danh sách động vật trong sách đỏ tăng lên nhanh chóng, môi trường sinh sống của chúng ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Các nhà quản lý cần nhanh chóng có các biện pháp tuyên truyền, hành động để mọi người hiểu rằng cần sống chung với thiên nhiên thay vì chống lại thiên nhiên, mà lâu nay chúng ta vẫn gọi bằng mỹ từ “cải tạo thiên nhiên”.
Hiện trạng đàn sếu đầu đỏ quý hiếm ngày càng ít xuất hiện tại Việt Nam chính bởi chúng ta lấy lý do chặt rừng, đào kênh để ngăn cháy rừng, dẫn đến thay đổi môi trường sống của sếu.
Nhà văn, Tiến sĩ Phan Việt Lâm, Giám đốc Thảo Cầm Viên Thành phố Hồ Chí Minh cũng trăn trở: "Thay vì tuyên truyền, ngăn cấm săn bắt thú vật, chúng ta cần nâng cao năng lực bảo tồn động vật hoang dã.
Lồng ghép vào các chương trình dạy học trong nhà trường phổ thông để học sinh ý thức được việc săn bắt động vật trong mùa sinh sản, trong danh sách cấm, trong vùng bảo tồn và vượt quá số lượng cho phép săn mỗi lần là những hành động làm cho động vật, thiên nhiên bị tàn phá nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của mỗi chúng ta". (Bưu Điện VN 30/3, Tr14) đầu trang(
Trong thời gian qua, 3 cây phượng cùng 5 cây xà cừ hàng chục năm tuổi che bóng mát cho học sinh đã bị lãnh đạo Trường THCS Nguyễn Trường Tộ và Tiểu học Y Jút (xã Ea H’Đing, huyện Cư M’gar, Đắk Lắk) đào bán. Những cây này được nhiều thế hệ hiệu trưởng của trường trồng lưu niệm hàng chục năm trước.
Theo người dân địa phương, vào ngày 20-3, 3 cây phượng đỏ cổ thụ trong sân Trường THCS Nguyễn Trường Tộ đã bị bán cho một chủ cây cảnh tại địa phương với giá hàng chục triệu đồng.
Khi chúng tôi có mặt tại đây vào sáng 27-3, trên sân trường còn có 3 hố lớn mới được đào bới còn nham nhở, đường kính mỗi hố từ 1 - 3m. Cả một khu vực sân chơi trống trải, nắng chói chang. Trên sân trường, hàng chục học sinh đang được huy động dọn vệ sinh và đổ rác xuống 3 hố trên đốt, khói bay mù mịt.
Ông Nguyễn Bình Xuyên, Hiệu phó Trường THCS Nguyễn Trường Tộ, cho biết: Trong sân trường có 5 cây phượng, đều là giống phượng hoa đỏ, do các đời hiệu trưởng trước trồng lưu niệm từ hàng chục năm trước.
Do cây phượng thường xuyên không có lá, không che được bóng mát nên mới đây ban giám hiệu nhà trường đã họp, thống nhất phương án là chặt bỏ để trồng cây khác thay thế. Trong đó, hiệu trưởng, hiệu phó và chủ tịch công đoàn sẽ tự bỏ tiền túi mua cây cảnh mới phù hợp về trồng lại vào hố phượng đã đào.
Trong khi đó, Trường Tiểu học Y Jút nằm sát cạnh cũng có 5 cây xà cừ hàng chục năm tuổi, cao cả chục mét cũng bị “trảm”. Trong 5 cây này, có 4 cây với đường kính gốc từ 40 - 60cm bị cưa đến gốc.
Tất cả thân, cành, ngọn đã được mang đi sạch bách. Theo ban giám hiệu nhà trường, do sợ hàng cây xà cừ cổ thụ mọc sát tường rào có nguy cơ đổ tường rào nên trường đã thuê cưa 3 cây với giá 500.000 đồng/cây.
Vào ngày 15-3, một người dân địa phương đã được thuê cưa 3 cây xà cừ trong trường, nhưng người này tự ý cưa thêm một cây nữa mà không hề báo cáo với nhà trường?
Theo ông Trần Văn Đạo (Chủ tịch UBND xã Ea H’đing), cả 2 trường đào, chặt bỏ cây xanh trong trường đều không có báo cáo hay xin phép chính quyền. “Về chuyên môn, cấp tiểu học và THCS do phòng GD-ĐT huyện quản lý.
Nhưng mọi hoạt động về xây dựng, thay đổi kết cấu hạ tầng trong trường đều phải hỏi ý kiến, xin phép chính quyền xã. Việc tự ý đào, chặt cây mà không báo cáo của các trường là hoàn toàn sai, không thể chấp nhận được”, ông Trần Văn Đạo bức xúc. (Sài Gòn Giải Phóng 30/3, Tr11) đầu trang(
Ngày 29.3, Văn phòng UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, đối tượng vi phạm bị xử phạt này là ông Nguyễn Văn Thể, sinh năm 1983, ngụ tại thôn Thanh Bình, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông.
Theo biên bản của Đội Kiểm lâm cơ động số 1 (Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng), ông Thể đã có hành vi mua bán và vận chuyển lâm sản trái pháp luật với tang vật 2,559m3 gỗ xẻ (quy đổi thành 4,094m3 gỗ tròn), chủng loại thông 3 lá thuộc nhóm IV.
Mới đây, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn Thể: Phạt tiền 25 triệu đồng về hành vi mua bán lâm sản trái phép, phạt tiền 25 triệu đồng về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật; buộc ông Thể nộp vào ngân sách nhà nước 150.280.000 đồng, tương đương giá trị phương tiện xe ô tô vi phạm.
Cùng đó, cơ quan chức năng còn tịch thu của ông Nguyễn Văn Thể toàn bộ số gỗ vi phạm nói trên. (Nông Thôn Ngày Nay 30/3, Tr6) đầu trang(
Từ đầu năm tới nay, lực lượng kiểm lâm huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam) đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát lâm sản trên địa bàn. Nhờ đó, trên địa bàn không còn điểm nóng về khai thác, chặt phá rừng; số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm đáng kể.
Là địa bàn miền núi, đời sống người dân huyện Đông Giang còn nhiều khó khăn nên thường xảy ra tình trạng chặt phá rừng.
Để ngăn chặn tình trạng phá rừng, xác định tuyên truyền cho người dân hiểu về tầm quan trọng của rừng vẫn là biện pháp hàng đầu nên từ đầu năm đến nay, Hạt kiểm lâm huyện Đông Giang đã phối hợp với các xã, thôn, bản tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), các chính sách về lâm nghiệp cho các hộ dân.
Công tác tuyên truyền được triển khai bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng như in tờ rơi, áp phích, các cuộc họp thôn, bản. Nhờ đó, đã nâng cao ý thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng (BVR).
Đồng thời, Chi cục đã bố trí cán bộ kiểm lâm địa bàn xã, đội kiểm lâm cơ động - PCCCR và các trạm kiểm lâm triển khai lực lượng bám sát địa bàn, tuần tra, truy quét tại các khu rừng trọng điểm và vùng giáp ranh để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.
Năm 2014, lực lượng Kiểm lâm và các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện đã phát hiện, lập biên bản 119 vụ (giảm 5 vụ so với năm 2013) vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó, tạm giữ 15,171m3 gỗ tròn; 130,147m3 gỗ xẻ; 2 kg dăm, rễ cây Huỳnh đàn; 733 kg Hạt ươi; 11 xe ôtô; 4 xe môtô; 1 cưa xăng, nộp ngân sách Nhà nước 567 triệu đồng.
Ngoài ra, UBND huyện chỉ đạo “Họp kiểm điểm trước dân” các đối tượng có hành vi “Hủy hoại rừng” chuyển từ năm 2013 sang tại địa bàn xã Ba, xã Tư và buộc các đối tượng ký cam kết không xâm phạm vào rừng trái phép với bất kỳ mục đích gì.
Từ đầu năm đến nay, Hạt kiểm lâm huyện đã tổ chức trên 30 lượt tuần tra, truy quét về khai thác khoáng sản trái phép có xâm hại đến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
Qua đó, phá hủy: 85 máy nổ, 29 lán trại, 22 máy bơm nước, 3 máy cối xây đá, 3 máy phát điện, 1 máy tời, 2 máy hơi, 1.450 lít dầu Diezen, 5.900 mét ống dây dẫn nước và nhiều loại dụng cụ, phương tiện khác, xử phạt vi phạm hành chính 52 triệu đồng; Đẩy đuổi ra khỏi rừng 10 xe múc và hàng trăm đối tượng cư trú bất hợp pháp ra khỏi địa bàn.
Trong công tác phát triển rừng, đến nay Hạt kiểm lâm đã giao khoán cho Ban quản lý rừng phòng hộ và các nhóm hộ gia đình tổng diện tích 37.209 hecta.
Ông Đinh Viết Khánh - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam cho biết: “Nhờ triển khai nhiều biện pháp quyết liệt từ cơ sở, đặc biệt sự phối hợp chặt chẽ giữa kiểm lâm, công an, quân đội và chính quyền các cấp trong công tác quản lý, BVR được duy trì thường xuyên nên số vụ vi phạm pháp luật về công tác quản lý, BVR giảm hẳn so với cùng kỳ năm 2013, trên địa bàn không xảy ra “điểm nóng” về chặt phá rừng”.
Để giữ rừng hiệu quả, từ nay đến cuối năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhân dân trong quản lý, BVR; đa dạng hóa hình thức tuyên truyền; nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ kiểm lâm; tăng cường lực lượng kiểm lâm giám sát, kiểm tra các điểm nóng về phá rừng và khai thác lâm, khoáng sản trên địa bàn; tập trung tổ chức nhiều đợt truy quét tại vùng giáp ranh và các điểm nóng về khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép... để ngăn chặn việc buôn bán, tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép.
Tuy nhiên, để công tác quản lý, BVR và PCCCR đạt hiệu quả, bên cạnh sự nỗ lực của ngành kiểm lâm cần có sự tham gia của cả cộng đồng.
Thực tế cho thấy, ở những nơi nào chính quyền địa phương chỉ đạo quyết liệt công tác quản lý, bảo vệ rừng và có sự tham gia tích cực của ngành chức năng, hội, đoàn thể và người dân thì địa bàn đó rất ít xảy ra tình trạng phá rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường số Xuân Ất Mùi, Tr31)đầu trang(
Sau khi hơn 500 cây xanh bị “thảm sát” chỉ trong chớp nhoáng, sau khi con đường đẹp nhất Việt Nam Nguyễn Chí Thanh tan hoang và khi sự bức xúc của người dân dường như đã đến đỉnh điểm, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội buộc phải quyết định dừng chặt phá 6.700 cây xanh.
Nhưng dường như đã quá muộn, những nhát dao nhanh chóng đốn hạ cây xanh cũng là những nhát dao đốn hạ lòng tin của người dân vào lãnh đạo thành phố Hà Nội. Dù trong những động thái tiếp theo, Hà Nội đã tạm dừng, đã kiểm điểm và nhận thiếu sót, đã kỷ luật một số cán bộ cấp phòng của Sở Xây dựng thì người Hà Nội và nhân dân cả nước vẫn chẳng hết hoài nghi.
Vì rằng, trong vụ “thảm sát” cây xanh Hà Nội, việc con voi cuối cùng xử phạt một con muỗi. Đành rằng, Sở Xây dựng Hà Nội có lỗi. Nhưng liệu họ có gan làm việc động trời, nếu không có sự cho phép của những người đứng đầu chính quyền TP. Hà Nội?
1.Những ngày qua, sự đau xót, phẫn nộ của người dân Hà Nội nói riêng và người dân cả nước nói chung đã lên đến đỉnh điểm khi 500 cây cổ thụ, những cây xanh đã làm nên một phần hồn cốt Hà Nội đã bị “thảm sát” chỉ trong nháy mắt.
Đã có những người dân Hà Nội cố thủ trên cây để phản đối việc đốn hạ, đã có những cuộc tuần hành đòi hỏi cho cây được sống của người dân thủ đô. “Cơn bão trong lòng dân” trở nên dữ dằn như vậy cũng có lẽ phần nào do cách ứng xử và cách làm quá vội vàng của một số sở, ngành cùng với sự phê duyệt dự án chặt bỏ 6.700 cây xanh của các tuyến phố nội thành.
Cách làm này thể hiện rõ sự "thiếu tầm" của lãnh đạo Hà Nội. Đây chính là cốt lõi của câu chuyện gây “bão” để rồi, ông Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, sau khi vấp phải “bão dư luận” đã vội yêu cầu thuộc cấp phải chấn chỉnh, nhận khuyết điểm trước dân.
Thực ra, việc đốn chặt và trồng mới cây xanh mỗi năm, thay thế cho số cây cũ đã mục, bị sâu, thối rễ hoặc mọc không như ý, gây mất an toàn cho dân đi đường... là việc làm không mới, thủ đô nhiều nước cũng đã làm.
Song để làm như một cuộc tổng tấn công vào cây xanh như vừa rồi thì quả là thiếu cân nhắc, nó đã động đến tình cảm và sự nâng niu trân quý của người dân Hà Nội nói riêng, người dân cả nước nói chung. Điều này thực ra cũng không có gì lạ bởi Hà Nội là trái tim của cả nước. Cả nước luôn hướng về Hà Nội.
Giá như một công việc được xem là nhạy cảm như vậy, Hà Nội chỉ cần cung cấp thông tin đầy đủ trên các phương tiện truyền thông. Căn cứ vào kết quả điều tra thực địa ra sao?
Có thể tổ chức tọa đàm và trả lời câu hỏi của dân trên truyền hình địa phương, làm sao đó để dân có nhiều thông tin hơn, họ sẽ chia sẻ với chính quyền vì sao phải chặt hạ? Tin rằng nó sẽ rất khác.
2.Lãnh đạo Hà Nội đã sai khi vội vàng phê duyệt một đề án tàn phá cây xanh. Và lãnh đạo Hà Nội lại tiếp tục sai khi đối chất, trả lời công luận và dư luận xã hội. Từ phát ngôn nghe đã “sốc”: “Chặt cây không cần hỏi dân” của Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Phan Đăng Long đến cuộc họp báo chớp nhoáng, thiếu tinh thần cầu thị của Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng.
Báo giới và người dân Thủ đô vừa thất vọng và đầy bức xúc khi những thắc mắc, hoài nghi không được phúc đáp một cách công khai, rõ ràng trong cuộc họp báo chiều 20/3.
Hơn 20 câu hỏi phản ánh ý nguyện chính đáng của người dân về việc chính quyền Hà Nội cần phải cung cấp thông tin minh bạch liên quan đến dự án như vai trò quản lý nhà nước trong sử sụng tài sản công (ở đây là cây xanh), sử dụng tiền đóng thuế của người dân, những tác động tiêu cực của dự án... đã không được trả lời thỏa đáng.
Quyền được biết thông tin của người dân vẫn chưa được tôn trọng, và nghĩa vụ của cơ quan Nhà nước với tư cách là cơ quan cung cấp dịch vụ công cũng làm chưa tròn.
Bởi thế sẽ không có gì ngạc nhiên nếu báo chí, người dân vẫn còn hoài nghi tính vô vụ lợi trong chủ trương chặt phá 6.700 cây xanh, dù Phó Chủ tịch TP Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng tuyên bố “hoàn toàn không có lợi ích nhóm, tiêu cực trong việc này”.
Cũng đừng ngạc nhiên khi mọi người vẫn còn nghi ngờ tính chính trực, chân thành sửa chữa sai lầm và thực sự lắng nghe dân dù ông Hùng nói có vẻ rất thực lòng: “Tôi xin tiếp thu, xin nhận trách nhiệm của các cơ quan thực hiện. Xin nghiêm túc nhận thiếu điểm rút kinh nghiệm”.
Lắng nghe dân không có nghĩa là lúc nào chính quyền cũng phải làm theo dư luận, đi theo ý kiến số đông. Lắng nghe dân không phải là xin lỗi nhằm xoa xịu dư luận rồi để đó. Những quyết định không nhận được sự đồng thuận của toàn dân không phải lúc nào cũng sai.
Cái mà người dân bức xúc là chặt hạ đồng loạt cả những cây khỏe mạnh, xanh tốt, vừa tốn kém vừa mất đi cái “hồn” của Hà Nội. Cái mà dân hoài nghi là sự mập mờ, thiếu công khai, minh bạch trong việc sử dụng tài sản công, tiền thuế của dân.
Cái mà người dân cần là những quyết định có trách nhiệm, đứng trên lợi ích của dân, thực sự vì dân và đã được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi triển khai.
Bởi vậy việc Hà Nội dừng dự án không phải là một đặc ân của chính quyền dành cho dân; nó cũng không phải là sự ban phát, kiểu “dân xin, chính quyền cho” mà là trách nhiệm của chính quyền đang sử dụng tiền thuế của dân.
Tiếp cận thông tin là một quyền của người dân, và chính quyền có nghĩa vụ trả lời. Rất tiếc, từ sự mập mờ của dự án, đến phát ngôn gây sốc “không cần hỏi ý kiến dân”...,chính quyền Hà Nội đã để vuột mất cơ hội “làm rõ trắng đen” trước dân, sứt mẻ niềm tin của dân chúng. Và trên hết chính quyền Hà Nội nợ người dân những quyết định có trách nhiệm và sự minh bạch!
3.Từ việc tàn sát cây xanh ở Nội, đã đến lúc cần thẳng thắn đặt ra câu hỏi: Người ta đang Hà xây dựng hay tàn phá Thủ đô? Liên tiếp trong thời gian qua, nhiều câu chuyện xảy ra đang khiến cho lòng tin của người dân Hà Nội với lãnh đạo thành phố ngày một xói mòn.
Từ con đường Trường Chinh với những đường gấp khúc có thể coi là kỳ cục nhất và chỉ có thể có ở Hà Nội được lãnh đạo cao nhất Thủ đô- Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị- cho rằng đó là “đường cong mềm mại” đến đề án “tàn sát, tận diệt” cây xanh rồi việc Phó Giám đốc Sở GTVT “cưỡng lệnh” điều chuyển, sắp xếp luồng tuyến vận tải của lãnh đạo thành phố đều khiến người dân lo lắng trước thực trạng: Trật tự, kỷ cương ở Hà Nội đang có vấn đề?
Cấp trên cứ chỉ đạo nhưng thiếu kiểm tra, đôn đốc còn cấp dưới thì thoải mái “tung hỏa mù”, tự tung tự tác làm những điều sai trái, bỏ quên chỉ đạo của cấp trên, vì “nhóm lợi ích” mà ngang nhiên xâm hại vào lợi ích chung của Thủ đô.
Khi cấp dưới như những “quân âm binh” nổi loạn thì làm sao có thể điều hành bộ máy quản lý thực thi công vụ theo kỷ cương phép nước, theo lợi ích chung được? Trở lại việc "thảm sát" cây xanh vừa qua, không thể không đặt vấn đề trách nhiệm của ông Chủ tịch thành phố đến đâu?
Và trách nhiệm của ông Phó Chủ tịch Nguyễn Quốc Hùng thế nào? Chẳng lẽ các ông chỉ biết nói một câu "rút kinh nghiệm" rồi phủi hết trách nhiệm, quay lại kiểm cấp dưới như một người ngoài cuộc?
Xã hội nào, đô thị nào cũng phải dựa vào dân mới có thể vững mạnh. Trong rất nhiều vấn đề bất cập của Hà Nội vừa qua, dường như lãnh đạo Hà Nội chẳng cần hiểu dân nghĩ gì, mong muốn gì. Mới hiểu vì sao lòng dân nổi. (Nhà Báo & Công Luận 31/3, Tr3)đầu trang(
Cơ quan CSĐT Bộ Công an vừa gửi giấy triệu tập 8 cán bộ kiểm lâm Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 1, chi cục kiểm lâm Thanh Hóa.
Ông Lê Quốc Việt- phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa - cho biết thông tin trên vào chiều 5-8. Số cán bộ này có liên quan đến việc kiểm tra, xử lý vi phạm chiếc ô tô chở gỗ mang biển kiểm soát 37C- 060.12 ngày 1-8.
Đây cũng là vụ liên quan đến việc C48- Bộ Công an bắt giữ ông Lê Đức Hải- trạm trưởng của đội trên vào chiều tối 1-8 để điều tra hành vi nhận hối lộ của ông Hải.
Tám cán bộ kiểm lâm bị cơ quan CSĐT Bộ Công an triệu tập gồm: Lê Văn Hải- phó đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 1, Nguyễn Xuân Vịnh- kiểm lâm viên, Lê Chí Thanh- kiểm lâm viên, Nguyễn Hữu Trung- kiểm lâm viên, Nguyễn Bá Phúc- kiểm lâm viên, Lê Nguyên Chất- cán bộ thanh tra pháp chế, Đỗ Đình Chung- kiểm lâm viên, Nguyễn Thế Vinh- kiểm lâm viên.
Ông Lê Quốc Việt cho biết thêm, sau khi nhận được giấy triệu tập của cơ quan CSĐT Bộ Công an, số cán bộ kiểm lâm nêu trên đã ra Hà Nội làm việc.
Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa yêu cầu số cán bộ liên quan đến việc kiểm tra, xử lý vi phạm chiếc ô tô chở gỗ mang biển kiểm soát 37C- 060.12 ngày 1-8 phải hợp tác với cơ quan CSĐT Bộ Công an để sớm có kết quả điều tra vụ việc.
Ngày 5-8, lãnh đạo chi cục, các phòng chuyên môn đã làm việc với Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng số 1 để làm công tác chính trị, tư tưởng cho tập thể, cán bộ, công chức, viên chức đội này, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Việc có xử lý kỷ luật, thuyên chuyển cán bộ ở đội trên hay không, đến nay chi cục đang chờ kết quả kết luận của cơ quan điều tra C48 và công tác thanh tra của chi cục. (Tin Môi Trường 30/3)đầu trang(
Trong những năm trở lại đây, vùng sinh cảnh sống của voi trên các cánh rừng trên cả nước nói chung và ở Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Huống nói riêng bị thu hẹp, dẫn đến tình trạng xung đột giữa voi và người dân.
Hiện voi rừng vẫn thường xuyên ra phá hoại hoa màu, vườn cây ăn trái của người dân sống ven rừng, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, đe dọa trực tiếp đến sinh mạng, tinh thần và ảnh hưởng đển cuộc sống của các hộ dân sống trong sinh cảnh voi hoạt động.
Theo điều tra của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), hiện trên cả nước chỉ có 3 địa phương còn các đàn voi châu Á sinh sống đó là Nghệ An, Đắk Lắk và tỉnh Đồng Nai. Đàn voi châu Á ở Việt Nam hiện đang bị đe dọa và số lượng đàn sụt giảm nghiêm trọng.
Riêng tại Nghệ An, theo báo cáo điều tra tổng thể loài voi châu Á của các chuyên gia Việt Nam và Ấn Độ vào tháng 12/2001, số lượng voi ở khu vực Vườn Quốc gia Pù Mát và các đơn vị phụ cận Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, có từ 15-20 cá thể (khoảng 4 đàn).
Tại Khu BTTN Pù Huống có 01 đàn có từ 01 - 03 cá thể tại địa bàn xã Nam Sơn, Bắc Sơn (huyện Quỳ Hợp) thuộc vùng đệm và phụ cận của Khu BTTN Pù Huống.
Ngoài số lượng cá thể đàn voi rừng liên tục giảm, thì sinh cảnh và vùng hoạt động của đàn voi cũng ngày càng bị thu hẹp.
Ông Dương Ngọc Hùng - Giám đốc Khu Bảọ tồn thiên nhiên Pù Huống cho biết, vùng phân bố của voi bị thu hẹp, sinh cảnh xuống cấp, thiếu thức ăn và muối khoáng đã dẫn đến tình trạng xung đột giữa người và voi ngày càng gay gắt.
Voi kéo về rẫy của dân để tìm thức ăn, khiến cho người dân luôn trong tình trạng hoang mang lo sợ. Khoảng 2 - 3 năm trở lại đây, người dân tại xã Bắc Sơn (huyện Quỳ Hợp) thường xuyên bị các cá thể Voi xuống phá phách hoa màu.
Điều đáng nói, mức độ tàn phá hoa màu, cây ăn trái của đàn voi rừng đối với người dân trong vùng ngày càng gia tăng. Chỉ riêng tại xã Bắc Sơn, huyện Quỳ Hợp, năm 2014 đã có hơn 4 lần voi rừng về phá phách hoa màu, dẫm đạp cây cối.
Theọ nghiên cứu của các nhà khoa học, voi châu Á có tập tính sinh sống ở vùng rừng thứ sinh, rừng rụng lá, tre nứa và rừng hỗn giao. Voi thường sống theo từng đàn từ 8-20 cá thể và có xu thế phát triển thành từng nhóm nhỏ theo truyền thống gia đình gồm voi bố, voi mẹ và voi con.
Voi thường ăn măng tre, cỏ và nhiều loài cây bụi. Theo khảo sát, có 62 loài thức ăn mà voi châu Á thường ăn. Trong đó, riêng tại khu vực Khu BTTN Pù Huống có 14 loài cây rừng mà voi làm thức ăn. Có 9 loại cây, quả nông nghiệp voi thường ăn như mít, chuối, mía, ngô, dứa, lúa...
Hiện voi châu Á được sách đỏ thế giới xếp vào loại EN - nguy cấp. Trong khi đó, sách đỏ Việt Nam đã xếp loài voi này vào loại CR - cực kỳ nguy cấp. Trong Nghị định 32 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm đã xếp voi châu Á vào nhóm IB - loài nguy cấp, quý hiếm cần có chế độ bảo vệ nghiêm ngặt.
Việc bảo tồn và phát triển bền vững quần thể voi hoang dã, đồng thời khôi phục, bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm nguy cấp và đa dạng sinh học vùng sinh cảnh voi sinh sống là việc làm cấp bách cần phải khẩn trương thực hiện.
Tháng 5 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 763/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013 — 2020” với mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững những quần thể voi hoang dã có tại Việt Nam hiện nay.
Vườn quốc gia Pù Mát đã chủ trì và xây dựng dự án “Bảo tồn voi tại Nghệ An giai đoạn 2013 - 2020” và được tỉnh Nghệ An phê duyệt. Kinh phí thực hiện dự án trong hai năm 2014-2015 là 30 tỉ đồng.
Kinh phí thực hiện dự án trong hai năm 2014 - 2015 tại Nghệ An là 30 tỉ đồng, tuy nhiên đến nay đề án cũng chỉ mới nhận được 300 triệu đồng do UBND tỉnh cấp, tương đương 1 % kinh phí cần thiết mà chủ đầu tư của dự án toàn tỉnh là vườn quốc gia Pù Mát.
Như vậy, vấn đề khó khăn nhất hiện nay chính là tiền giành cho triển khai đề án. Trong khi chờ đợi nguồn ngân sách được cấp thì cuộc sống người dân ở các vùng ven của Khu BTTN Pù Huống đang bị đe dọa còn số lượng và môi trường sống của đàn voi rừng thì đang trở nên nguy cấp. (Khuyến Học & Dân Trí số Xuân Ất Mùi, Tr33)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đây là mục tiêu phấn đấu của ngành Lâm nghiệp được đưa ra tại Hội nghị triển khai kế hoạch 2015 của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức.
Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp kiêm Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam (BV&PTR) cho biết: Hiện toàn quốc đã có 37 tỉnh thành lập Quỹ BV&PTR, với số tiền thu được từ năm 2011- 2014 là 3.893 tỷ đồng (bình quân khoảng gần 1.000 tỉ đồng/năm).
Trong đó, thu nhập từ tiền chi trả DVMTR của hộ nhận khoán bảo vệ rừng đã có bước cải thiện đáng kể, một số lưu vực ở Lâm Đồng, Đắk Nông, Lai Châu, thu nhập từ tiền DVMTR đạt từ 10 – 15 triệu đồng/hộ/năm; góp phần quản lý bảo vệ khoảng 5,78 triệu ha rừng cung ứng DVMTR.
Riêng trong năm 2014, số thu từ DVMTR đạt hơn 1.335 tỷ đồng. Trong đó, Quỹ BV&PTR ở trung ương thu hơn 996,38 tỷ đồng; các Quỹ BV&PTR các tỉnh thu hơn 338,62 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Bá Ngãi khẳng định, chính sách chi trả DVMTR đã và đang được coi là chủ trương, chính sách xã hội hóa nghề rừng, chứng tỏ tính hiệu quả, góp phần triển khai thành công kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội tại các địa phương. Đồng thời tạo ra nhiều việc làm và từng bước nâng cao thu nhập của người dân gắn bó với rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người ở các vùng miền núi.
Với kết quả trên, ông Nguyễn Bá Ngãi cũng cho biết thêm, mục tiêu trong năm 2015, ngành Lâm nghiệp sẽ phấn đấu duy trì nguồn thu đạt khoảng 1.307 tỷ đồng, đảm bảo chi trả cho trên 5 triệu ha rừng được quản lý bảo vệ bằng tiền DVMTR và giải ngân kịp thời số tiền DVMTR đến các chủ rừng theo quy định hiện hành. (Thời Báo Tài Chính VN 31/3)đầu trang(
Báo Đại Đoàn Kết đã có bài viết phản ánh "Khô hạn làm cạn tài nguyên”, đề cập môi trường cho chim sinh sống bị thu hẹp bởi công tác quản lý và bảo vệ sân chim còn nhiều vấn đề cần phải chấn chỉnh.
Ngày 27-3-2015, ông Nguyễn Tấn Khương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bạc Liêu cho biết: "Báo Đại Đoàn Kết phản ánh việc nuôi gà trong vườn chim, kênh mương bị cạn kiệt, máy bơm nước chữa cháy để trong nhà kho, giăng lưới bắt cá ảnh hưởng đến nguồn nước để chim uống vào mùa khô…” là hoàn toàn chính xác.
Để khắc phục vấn đề báo nêu, Sở đã chỉ đạo cho Ban quản lý khu bảo tồn sân chim Bạc Liêu giải tỏa chuồng gà, cấm tuyệt đối không giăng lưới bắt cá ảnh hưởng nguồn nước cho chim uống, Ban quản lý sân chim nhanh chóng lập tờ trình UBND tỉnh xin kinh phí nạo vét hệ thống kênh mương đang bị cạn kiệt, trước mắt phải bơm nước mặn vào các trục kênh mương để trữ nước phòng chống cháy, các thiết bị máy bơm nước chữa cháy phải đặt sẵn ngoài vườn chim và tạm thời đóng cửa vườn chim để bảo vệ nghiêm ngặt phòng chống cháy trong những tháng mùa khô.
Những vấn đề nêu trên, nếu ban quản lý khu bảo tồn sân chim không thực hiện nghiêm túc, Sở sẽ xem xét và có hình thức kỷ luật. (Đại Đoàn Kết 31/3, Tr11)đầu trang(
Sau 5 năm thành lập Tổng cục Lâm nghiệp (2010 - 2015), ngành lâm nghiệp Việt Nam đã có những đổi thay rõ rệt, đặc biệt là về chính sách.. NNVN đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Bá Ngãi (ảnh), Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp xung quanh vấn đề này.
Xin ông cho biết những thành tựu nổi bật nhất của ngành lâm nghiệp sau khi thành lập tổng cục?
Trước tiên, tôi cảm ơn NNVN đã quan tâm phối hợp thực hiện tốt công tác tuyên truyền lĩnh vực lâm nghiệp trong thời gian qua. Được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngành lâm nghiệp đã có những đóng góp quan trọng trong phát triển đất nước, đặc biệt là khu vực nông thôn miền núi, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và an ninh, quốc phòng.
Từ năm 2011 đến nay, sau khi thực hiện thành công dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, ngành lâm nghiệp triển khai thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Qua gần 5 năm thực hiện, độ che phủ rừng tăng từ 39,7% (năm 2011) lên 41,5% (năm 2014), dự kiến đạt 42% vào năm 2015. Có thể nói rằng, đã bắt đầu vào giai đoạn phát triển ổn định.
Tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật về rừng giảm dần về số vụ từ 39.175 vụ/năm trong giai đoạn 2006 - 2010 xuống 28.037 vụ/năm trong giai đoạn từ 2011 đến nay. Giảm 80% diện tích rừng bị phá trái pháp luật trong 5 năm qua (từ 6.339 ha/năm trong giai đoạn 2006 - 2010 xuống 4.170 ha/năm).
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm "4 tại chỗ" được tăng cường. Số vụ cháy rừng giảm từ 569 vụ/năm giai đoạn 2006 - 2010 xuống 384 vụ/năm. Tốc độ tăng trưởng giá trị SX lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2014 tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, bình quân đạt 4,6%/năm (năm 2011 đạt 3,4%, năm 2012 đạt 4,6%, năm 2013 đạt 5,9%, năm 2014 đạt 7,09%).
Năm 2015, phấn đấu tốc độ tăng giá trị SX lâm nghiệp từ 7 - 7,2%. Sản lượng gỗ khai thác gỗ rừng trồng tăng gấp hơn 2,5 lần trong vòng 5 năm qua. Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản phát triển mạnh với nhiều thành phần kinh tế, sản phẩm ngày càng đa dạng, đáp ứng yêu cầu thị trường.
Đến nay đồ gỗ Việt Nam đã xuất đi trên 100 nước và vùng lãnh thổ. Giá trị XK gỗ và lâm sản ngoài gỗ tăng xấp xỉ 1,5 lần trong 3 năm, từ 4,2 tỷ USD năm 2011 lên 6,3 tỷ USD năm 2014. Chính sách huy động các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng theo hướng xã hội hóa ngày càng có hiệu quả.
Ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 25%, chủ yếu đầu tư cho trồng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và hỗ trợ trồng rừng còn lại 75% vốn được huy động từ các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước.
Hợp tác quốc tế về lâm nghiệp tiếp tục phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Ngành lâm nghiệp đã hợp tác với 28 đầu mối và tổ chức lâm nghiệp quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế; hợp tác với các nước có chung đường biên giới được tăng cường.
Nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng thực hiện các chỉ tiêu phát triển ngành. Mặc dù thống kê về số vụ vi phạm lâm luật, số vụ hành hung người bảo vệ rừng có giảm, nhưng thực tế công tác giữ rừng vẫn còn hết sức gian nan…
Có vẻ như chúng ta vẫn còn thiếu những chính sách, chế tài cho công tác bảo vệ, phát triển rừng, xin ông đánh giá về những tồn tại hiện nay của ngành? Tổng cục Lâm nghiệp được thành lập năm 2010 tại Quyết định số 04/2010/QĐ-TTg trên cơ sở Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm thuộc Bộ NN-PTNT.
Mặc dù đạt được những thành công như trên, nhưng ngành lâm nghiệp còn nhiều tồn tại và đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức lớn, không chỉ trong công tác bảo vệ và phát triển rừng mà cả trong phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Tình trạng phá rừng, khai thác rừng tự nhiên, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép còn diễn ra phức tạp ở một số địa phương; năng suất, chất lượng, giá trị rừng SX thấp. Chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm, 80% diện tích rừng tự nhiên là rừng nghèo.
Rừng trồng chủ yếu là rừng gỗ nhỏ chưa đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Thu nhập bình quân trên 1 ha rừng trồng mới đạt khoảng 7 - 8 triệu đồng/ha/năm.
Đa số người dân làm nghề rừng còn nghèo, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập của hộ nông dân miền núi… Trình độ, tay nghề lao động lâm nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu.
Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào SX còn nhiều bất cập; công nghiệp phụ trợ, vật tư phục vụ SX lâm nghiệp phụ thuộc vào nhập khẩu. Quy mô SX còn nhỏ, thiếu tổ chức liên kết theo chuỗi, kết cấu hạ tầng yếu kém; công nghệ và quản trị các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lạc hậu.
Năng suất lao động trong chế biến lâm sản của Việt Nam, còn thấp so với các nước trong khu vực và rất thấp so với các nước tiên tiến trên thế giới. Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những hạn chế trên.
Trong những nguyên nhân đó một phần do hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực lâm nghiệp chưa đồng bộ, việc tổ chức hướng dẫn và năng lực tổ chức thực hiện chính sách ở một số địa phương còn nhiều hạn chế. Một số chính sách chưa được thực hiện một cách triệt để như giao đất giao rừng, chính sách hưởng lợi, khuyến lâm...
Chính sách đầu tư, tín dụng, tài chính cho lâm nghiệp còn nhiều bất cập, hạn chế. Tổng cục Lâm nghiệp đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp. Năm 2015, tổng cục xây dựng đề nghị dự án Luật Lâm nghiệp trình Quốc hội khóa XIV, đồng thời chủ trì xây dựng 14 văn bản quy phạm pháp luật khác.
Đẩy mạnh tái cơ cấu Nhiều người đúc kết, dân chỉ giữ rừng khi đời sống của họ được đảm bảo. Thưa ông, ngành lâm nghiệp đã và đang có những chính sách gì để cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn miền núi?
Trong thời gian qua, ngoài việc tiếp tục triển khai tốt một số chính sách như Nghị quyết 30a, Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển rừng SX... thì nhiều văn bản quan trọng của ngành tiếp tục được ban hành, trong đó có một số chính sách có tính đột phá như Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, Nghị định 117 về tổ chức, quản lý hệ thống rừng đặc dụng và các văn bản khác.
Bộ NN-PTNT cũng đã tham mưu cho Chính phủ ban hành một số chính sách mới như chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc. Các chính sách thúc đẩy tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Chính sách về đất đai cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư…
Từ các chính sách trên đã tạo ra được nguồn lợi cho người dân tham gia làm nghề rừng như quyền sử dụng đất, ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân… Giai đoạn 2010-2011, nguồn thu từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt 493.336 triệu đồng; năm 2012 đạt 1.100 tỷ đồng; năm 2013 đạt 1.068 tỷ đồng; năm 2014 đạt 1.330,6 tỷ đồng, dự kiến năm 2015 là 1.307 tỷ đồng.
Mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia XK đồ gỗ và lâm sản, nhưng hiệu quả SX lâm nghiệp còn thấp so với khu vực và thế giới. Nguyên nhân do đâu và chúng ta kỳ vọng gì ở Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp?
Nếu nói về tăng trưởng của ngành Lâm nghiệp là không thấp và tăng dần đều. Trong 3 năm gần đây, đều trên 4,6% (2011), 5,9% (2012) và 7,09% (2013). Tuy nhiên, tỷ trọng của giá trị SX ngành lâm nghiệp trong tổng giá trị ngành nông nghiệp là khá khiêm tốn, chỉ chiếm bằng 3,9%.
Có 2 lý do đó là: Thứ nhất, SX lâm nghiệp còn nhỏ, phân tán bởi các chủ rừng là hộ gia đình (trên 1 triệu hộ) và chủ yếu trồng rừng gắn với quản lý bảo vệ rừng và cải tạo rừng. Giá trị gia tăng thấp, năng suất lao động thấp; năng suất, sản lượng rừng thấp, chất lượng sản phẩm thấp.
Thứ hai, do cách tính không đầy đủ. Đó là mới tính đến giá trị SX trong giai đoạn tạo rừng, quản lý bảo vệ rừng và khai thác, chưa tính đến giá trị SX (giá trị gia tăng) trong giai đoạn chế biến lâm sản và XK thương mại. Đây chính là giai đoạn tạo giá trị cao.
Cách tính chủ yếu dựa vào giá trị đầu tư, hỗ trợ của nhà nước, chưa tính đến giá trị đầu tư bằng lao động, nguồn lực cộng đồng, của chủ rừng ngoài nhà nước, nên thực chất, giá trị SX chịu chi phí cao hơn như cách tính toán hiện tại.
Để khắc phục tình trạng trên, tổng cục cũng đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là: Thứ nhất, tăng giá trị SX thông qua giá trị gia tăng và mở rộng quy mô SX theo đúng đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Đó là tăng năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng, giá trị gia tăng sản phẩm qua chế biến lâm sản. Thứ hai, cần điều chỉnh cách tính toán, đảm bảo đúng, đủ để hạch toán và quản lý, điều chỉnh quá trình SXKD. (Nông Nghiệp Việt Nam 31/3, Tr13)đầu trang(
Tranh thủ thời tiết khá thuận lợi, các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tích cực trồng rừng vụ xuân và cây phân tán. Đến thời điểm này, toàn tỉnh đã trồng được khoảng trên 3.200 ha rừng, dự tính đến hết tháng 3/2015 sẽ kết thúc trồng rừng vụ xuân.
Nhận thức rõ trồng rừng là hướng đi hiệu quả trong phát triển kinh tế, nên hàng năm cấp ủy, chính quyền và nhân dân Bài Sơn (Đô Lương) tích cực hưởng ứng kế hoạch trồng rừng
Ông Thái Đình Lợi - Chủ tịch UBND xã cho biết: “Năm nay xã trồng trên 100 ha rừng nguyên liệu tập trung, trồng rừng dự án 147 là 25 ha. Ngay sau khi được giao kế hoạch, chúng tôi đã có các văn bản hướng dẫn các xóm tổ chức cho các hộ dân đăng ký trồng rừng và trồng cây phân tán.
Đồng thời hướng dẫn bà con trồng rừng kỹ thuật, đôn đốc phát dọn thực bì, cuốc hố, nghiệm thu sơ bộ hiện trường trồng rừng trước Tết Nguyên đán. Đến thời điểm này, toàn xã đã trồng được trên 20 ha rừng, phấn đấu năm nay sẽ trồng được trên 70 ha rừng vụ xuân”.
Chúng tôi đến xóm Hương Sơn (xã Bài Sơn), nơi có phong trào trồng rừng vụ xuân khá nhộn nhịp, ông Nguyễn Hữu Long - đang tích cực cùng gia đình rải giống keo vào các hố cho biết: “Gia đình tôi đăng ký trồng 1,5 ha keo lai dâm hom. Công việc nặng nhọc nhất vẫn là đào hố trồng cây, một số vụ trồng rừng chậm tiến độ do đào hố không kịp.
Năm nay gia đình tôi thuê máy xúc để đào hố, thời gian đào bằng máy chỉ mất 1 ngày, trong khi trước đây 3 lao động phải đào trên 10 ngày mới xong. Đào hố bằng máy có ưu điểm là đỡ sức lao động, đúng với quy trình kỹ thuật hơn. Đến thời điểm này, chúng tôi đã trồng được 0,8 ha, khoảng 7 ngày tới sẽ trồng hết diện tích theo hướng thâm canh, tăng năng suất. Trước đây, trồng chay không bón phân, nay theo hướng dẫn của cán bộ các cấp, chúng tôi bón 0,2kg phân vi sinh/gốc…”.
Gia đình ông Nguyễn Hữu Hưng ở xã Bài Sơn cũng đưa máy vào sản xuất nên công tác chuẩn bị hiện trường trồng rừng hoàn thành sớm. Ông đã thuê 5 lao động trồng trong 4 ngày vừa qua được 1,8 ha rừng, dự kiến khoảng 4 ngày tới sẽ trồng xong 2,5 ha keo lai.
Để thuận lợi cho công tác trồng rừng, ngay từ đầu vụ, các xóm đã huy động nhân lực, duy tu, sửa chữa các tuyến đường nguyên liệu, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển phân bón và cây giống lên hiện trường.
Ông Phan Hồng Tiến - Giám đốc Công ty TNHH-MTV lâm nghiệp Đô Lương cho hay: Theo chỉ tiêu của tỉnh, năm 2015, Công ty được giao trồng trên 600 ha rừng, trong đó có 300 ha rừng dự án 147 và 40 ha rừng phòng hộ, còn lại rừng do Công ty tự bỏ vốn trồng.
Đối với diện tích rừng trồng dự án 147 trải rộng các xã Thượng Sơn, Lam Sơn, Hồng Sơn, Bài Sơn, Đông Sơn… bà con đã trồng được gần 200 ha. Trước đây thường xảy ra hiện tượng thiếu giống, nay nhờ cải tạo nâng cấp vườn ươm nên năm nay Công ty sản xuất được trên 1,5 triệu cây giống các loại (chủ yếu kem dâm hom và keo hạt ngoại), đảm bảo cung ứng trồng rừng cho toàn huyện Đô Lương và các huyện lân cận.
Còn tại Công ty TNHH-MTV nông lâm nghiệp Sông Hiếu (Quỳ Hợp) đang tích cực triển khai trồng rừng trên khắp các huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong… Riêng tại tiểu khu 249 thuộc xã Nghĩa Mai do Lâm trường Nghĩa Đàn quản lý, công nhân của Lâm trường đang tranh thủ thời tiết thuận lợi để trồng rừng. Theo chỉ tiêu, đơn vị trồng 200 ha rừng, trong đó trồng 100 ha rừng vụ xuân
Ông Hồ Đình Thế - Giám đốc Công ty TNHH-MTV nông lâm nghiệp Sông Hiếu cho biết: “Năm 2015 Công ty trồng trên 650 ha rừng, trong đó dự án 147 là 100 ha, còn lại 450 ha, Công ty bỏ vốn trồng rừng. Để thuận lợi cho công tác trồng rừng, ngay từ đầu năm Công ty đã huy động 16 máy xúc, máy ủi, duy tu sửa được hàng trăm km đường nguyên liệu tạo thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư trồng rừng. Đến thời điểm này, 100% diện tích đã đào xong hố, hiện đã trồng được trên 40 ha keo
Khác với các địa phương khác thường tập trung trồng rừng vụ xuân và vụ thu thì Công ty lại tập trung trồng rừng vụ xuân hè, trồng từ sau Tết Nguyên đán và kết thúc vào tháng 8/2015”. Để trồng rừng thâm canh, đơn vị đầu tư 15 triệu đồng/ha trong đó bao gồm tiền giống, phân bón và chăm sóc.
Trong năm 2015, Công ty đã xây dựng mô hình trồng keo lai giống Úc trên 200 ha. Về mặt kinh tế, trồng keo lai giống Úc sau khi trồng khoảng 10 năm cho thu hoạch từ 180 - 250 m3 gỗ/ha, cao gấp 2- 3 lần rừng trồng như hiện nay.
Năm 2015, theo kế hoạch toàn tỉnh trồng trên 7.500 ha rừng thuộc các dự án 147, dự án JICA... Cùng đó, người dân và các doanh nghiệp tự bỏ vốn trồng trên 7.500 ha, nâng tổng số diện tích rừng nguyên liệu trên 15.000 ha. Riêng vụ xuân trồng 4.200 ha rừng, còn lại trồng rừng vụ thu.
Sở Nông nghiệp & PTNT chỉ đạo các đơn vị nông lâm trường cung ứng trên 20 triệu cây giống các loại cho bà con trồng rừng. Sở thành lập đoàn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh giống tại các vườn ươm nhằm nâng cao chất lượng giống. Xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm về lĩnh vực giống lâm nghiệp, nhằm lành mạnh hóa công tác sản xuất cung ứng giống tốt cho người trồng rừng.
Tính đến thời điểm này, toàn tỉnh đã trồng được khoảng trên 3.200 ha rừng, dự tính khoảng đến hết tháng 3/2015 sẽ kết thúc trồng rừng vụ xuân. Vụ trồng rừng năm nay, Sở Nông nghiệp & PTNT đã chỉ đạo trồng khoảng 30% diện tích keo nhập ngoại (keo Úc) nhằm hạn chế keo dăm, tăng cường keo gỗ lớn để nâng giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích.
Tuy nhiên, việc trồng rừng gỗ lớn còn gặp nhiều khó khăn như: thời gian trồng rừng dài, vốn đầu tư lớn, kỹ thuật trồng, chăm sóc cây gỗ lớn còn hạn chế, do đó chưa thu hút được nhiều hộ trồng rừng tham gia.
Chưa kể hiện nay, bà con còn khó khăn về nguồn vốn nên chưa đầu tư nhiều, một số địa phương còn tình trạng trồng “chay”, không bón phân nên hiệu quả chưa cao. (Báo Nghệ An 30/3)đầu trang(
Dự án khôi phục và quản lý rừng bền vững (gọi tắt KFW6) sau gần 10 năm triển khai đã chấm dứt nguồn vốn viện trợ. Quản lý hậu dự án ra sao, trồng bao lâu thì thu hoạch, cơ chế chính sách hưởng lợi như thế nào... là những câu hỏi cần được giải quyết.
Khác với các chương trình trồng rừng trước đây, dự án KFW6 bắt đầu thực hiện tại 3 huyện Nông Sơn, Hiệp Đức và Đại Lộc giai đoạn 2005 - 2014. Nguồn vốn tài trợ của Chính phủ Đức khá lớn, các khâu quy hoạch đất, tái thiết rừng, hạn mức giao cho từng hộ, thôn, xã rất chặt chẽ nên không rơi vào tình trạng chồng lấn diện tích, bỏ hoang.
Ở các khu rừng sản xuất kết hợp chức năng phòng hộ, cái được lớn nhất là bảo vệ đất và nguồn nước vùng bị đe dọa về sinh thái. Người dân địa phương có công ăn việc làm, có thể tìm kế sinh nhai dưới mảnh rừng của mình. Gần 16 tỷ đồng được chuyển cho người tham gia trồng rừng dự án.
Tại huyện Nông Sơn, người tham gia dự án còn phát sinh lãi hơn 1,1 tỷ đồng. Nhiều năm người dân hưởng lợi dự án vô cùng phấn khởi trước tiền công trồng, chăm sóc rừng được chi trả tương xứng. Vì nhìn thấy được đa lợi ích, nhiều mục đích nên dự án ban đầu chỉ thiết kế trồng 1.600ha tại Nông Sơn nhưng đến nay người dân hưởng ứng phủ xanh gần 2.000ha.
Ông Nguyễn Cử - Giám đốc Ban quản lý dự án KFW6 cho biết, việc khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên ở lưu vực đầu nguồn sông có ý nghĩa sống còn trong điều hòa tiểu khí hậu vùng và tăng đa dạng sinh học, qua đó đóng góp vào sự ổn định trong khâu sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài, tránh tình trạng xâm lấn đất rừng.
Thực tế, ở những vùng trồng rừng chưa ổn định, thường xảy ra việc tranh chấp đất rừng dai dẳng. Phần lớn khoảnh rừng của người dân trồng đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khảo sát trạng thái rừng dự án, nhà tài trợ rất hài lòng về mặt che phủ, hợp lý trong bố trí cây trồng bản địa với chức năng phòng hộ và cây kinh tế. Hầu hết người dân làm chủ được đất rừng nên cách chăm sóc, khôi phục tuân thủ theo quy trình lâm sinh. Thời điểm này, nhiều rừng cây đã 10 năm tuổi, đang chờ thu hoạch và nguồn lợi đem lại không nhỏ.
Ông Nguyễn Văn Lanh - Phó Trưởng phòng NN&PTNT Nông Sơn, thành viên của ban điều hành dự án KFW6 cho biết, bất cập lớn nhất là rừng trồng từ năm 2005 đến nay quá lớn, rất nhiều đơn xin khai thác của người dân chưa giải quyết do tỉnh chưa có chủ trương thu hoạch.
Vùng đất màu mỡ chỉ cần trồng keo 5 - 6 năm là có thể khai thác. “Trên địa bàn phủ xanh gần 2.000ha rừng, không ít diện tích trong số đó đã già cỗi không còn phát triển thêm nhưng vẫn chưa biết có được khai thác hay không.
Cơ chế hưởng lợi như thế nào về rừng vẫn chưa cụ thể. Cho nên cần đảm bảo lợi ích cho người tham gia trồng rừng và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” – ông Lanh nói.
Dự án KFW6 chỉ ưu tiên phát triển rừng sản xuất, giúp dân ổn định đời sống nhưng nhiều cây trồng vừa có giá trị kinh tế vừa mang chức năng phòng hộ. Tại các huyện Đại Lộc, Hiệp Đức, ngoài cây keo còn trồng sao đen, xoan ta, lim xanh, dầu rái…
Đại diện ngành tài nguyên – môi trường huyện Hiệp Đức cho rằng, địa phương cấp 1.143 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân trồng rừng KFW6, nếu kéo dài chu kỳ trồng đến 10 năm trở lên mới khai thác thì người dân lấy gì để sinh nhai, có vốn để tái đầu tư rừng nên Ban quản lý dự án KFW6 phải bàn giao sớm rừng cho địa phương quản lý, khuyến khích người dân cắt tỉa, khai thác đúng chu kỳ.
Theo ông Đoàn Văn Được – cán bộ hiện trường dự án KFW6 huyện Đại Lộc, diện tích rừng phủ xanh trên đất nương rẫy là chính, phương pháp trồng hỗn giao sao đen, thầu đâu, keo. Khi trồng khoanh nuôi tái sinh chủ yếu bảo vệ sinh thái môi trường chứ không vì mục đích sinh thái, song diện tích keo đã lớn cần thu hoạch ngay.
Trả lời câu hỏi sao không cho người dân khai thác keo già trong vùng dự án, ông Nguyễn Cử - Giám đốc Ban Quản lý dự án KFW6 cho rằng, đang thời kỳ cuối chờ nghiệm thu hiện trường nên ở Trung ương chưa cho phép khai thác. Sau khi được cho phép khai thác gỗ, người dân sẽ được hưởng lợi 100%, chỉ đóng góp một ít chi phí cho địa phương và dĩ nhiên có phương án phát triển vốn rừng tiếp theo.
Đến nay, sau gần 10 năm trồng vẫn chưa có địa phương nào khai thác rừng KFW6. Trong khi đó, Giám đốc Sở NN&PTNT Huỳnh Tấn Đức lại bảo, chưa có quy định pháp luật nào không cho phép người dân khai thác rừng hưởng lợi cả, nhưng quan điểm chung là kéo dài chu kỳ thu hoạch, có thể hơn 10 năm trồng để nâng cao giá trị kinh tế.
Chủ trương của tỉnh không khuyến khích đầu tư nhà máy dăm gỗ là vì không muốn rừng nguyên liệu bị bán non, rẻ. Gỗ rừng trồng có thể phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ mỹ nghệ...
Chủ dự án phải khẩn trương bàn giao rừng cho địa phương quản lý và đầu mối quản lý rừng tốt nhất nên giao cho kiểm lâm. “Dự án kết thúc nên vấn đề quan trọng là xây dựng cho được cơ chế chính sách hưởng lợi; có giải pháp quản lý hiệu quả sau đầu tư để đạt được mục tiêu cuối cùng của dự án là khôi phục và quản lý rừng bền vững” – ông Đức nói.
Ngành nông nghiệp chỉ đạo chủ dự án và các ngành lâm nghiệp, kiểm lâm tham mưu cơ chế quản lý sau đầu tư vừa đảm bảo quyền lợi cho người tham gia trồng rừng vừa phát triển bền vững vốn rừng. (Báo Quảng Nam 30/3)đầu trang(
Sau phiên đàm phán cấp cao lần thứ 4 vào tháng 12 năm 2014, Việt Nam và EU đã nhất trí cơ bản 7 trong số 9 phụ lục của Hiệp định VPA.
Trong 2 năm 2013 và 2014, Chính phủ Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật mới thuộc ngành lâm nghiệp, do vậy, hiện nay phía Việt Nam đang tiến hành rà soát và điều chỉnh tất cả các tiêu chí, chỉ số và bằng chứng về định nghĩa gỗ hợp pháp theo các văn bản pháp luật mới có hiệu lực đến ngày 31/3/2015.
VPA là Hiệp định đối tác tự nguyện nhằm thực thi kế hoạch hành động “Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT)” của Châu Âu. VPA là Hiệp định thương mại song phương cấp Chính phủ giữa EU và Việt Nam.
Theo đó, hai bên thỏa thuận Việt Nam thiết lập Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (TLAS) để xác minh và cấp phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và SPG xuất khẩu vào EU nhằm tránh phải thực hiện trách nhiệm giải trình theo quy chế gỗ của EU (EUTR có hiệu lực từ tháng 3/2013).
Việt Nam và EU bắt đầu đàm phán Hiệp định này từ tháng 11/2010. Tính đến nay đã có 4 phiên đàm phán cấp cao, 8 phiên cấp kỹ thuật và 29 cuộc họp trực tuyến được diễn ra. Hiện, hai đoàn đàm phán đang tiếp tục thống nhất một lộ trình làm việc để có thể hoàn chỉnh Hiệp định với mong muốn kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp định vào cuối năm 2015.
Theo thông tin do Trung tâm Giáo dục và Phát triển cung cấp dựa trên các thông tin và tài liệu được công bố từ Tổng cục Lâm nghiệp, đến nay, Việt Nam và EU cơ bản đã đàm phán và thống nhất hầu hết nội dung 9 phụ lục kỹ thuật của VPA, cụ thể:
Phụ lục 1: Danh mục hàng hóa đưa vào hiệp định để cấp phép FLEGT. Hai bên đã nhất trí danh mục hàng hóa đưa vào Hiệp định gồm có: 13 mã hàng và 3 tiểu mã hàng (thuộc chương 44 và chương 94 – danh mục các mặt hàng XNK của Việt Nam).
Tổng cộng sẽ có 23 phân nhóm mặt hàng và 113 số lượng mặt hàng. Các mặt hàng này đều được liệt kê theo danh mục mặt hàng phải làm trách nhiệm giải trình trong quy chế gỗ EU.
Phụ lục 2: Khuôn khổ định nghĩa gỗ hợp pháp. Hai bên đã thống nhất chia định nghĩa gỗ hợp pháp thành hai nhóm: Tổ chức và hộ gia đình với yêu cầu pháp lý khác nhau. Chủ trương là đối với đối tượng hộ gia đình sẽ hạn chế tối đa thủ tục hành chính cho việc xác minh tính hợp pháp của gỗ.
Sau phiên đàm phán cấp cao lần thứ 4, hai bên đã nhất trí về 7 nguyên tắc của định nghĩa gỗ hợp pháp. Phía Việt Nam đang tiến hành rà soát lại tất cả các tiêu chí, chỉ số và bằng chứng thuộc 7 nguyên tắc này theo quy định của các văn bản pháp luật mới, có hiệu lực đến ngày 31/3/2015.
Phụ lục 3: Điều kiện cho phép lưu thông tự do các sản phẩm gỗ được cấp phép FLEGT từ Việt Nam vào EU. Phụ lục này phải tuân theo quy định của EU, không được đàm phán.
Quy định quy trình xác minh giấy phép FLEGT từ Việt Nam do các cơ quan thẩm quyền của EU tiến hành gồm có: Nộp giấy phép; Kiểm tra tính hiệu lực của giấy phép,; Các yêu cầu bổ sung thông tin và Xác minh tính phù hợp của giấy phép với từng chuyến hàng.
Phục lục 4: Điều kiện quy định cấp phép FLEGT và các thông số kỹ thuật cho giấy phép FLEGT. Hai bên đã thống nhất được các nội dung cơ bản của phụ lục gồm: Sử dụng thống nhất thuật ngữ giấy phép cấp cho chuyến hàng - “shipment”; giấy phép FLEGT được cấp cho một chuyến hàng, một nhà xuất khẩu qua một cửa khẩu duy nhất thuộc EU, tại một thời điểm; cơ quan thẩm quyền cấp phép FLEGT là cơ quan CITES Việt Nam; giấy phép phải được in trên giấy chống giả, sử dụng bằng tiếng Anh và tiếng Việt.
Phụ lục 5: Hệ thống TLAS. Đây là vấn đề vướng mắc nhất hiện nay bởi hai bên còn khác nhau về quan điểm. Trong khi Việt Nam cho rằng đây là hiệp định song phương giữa Việt Nam và EU nên hệ thống TLAS chỉ quy định xác minh và cấp phép FLEGT cho các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường EU thì phía EU lại cho rằng hệ thống TLAS cần phải thiết kế cho toàn bộ thị trường EU, các thị trường xuất khẩu khác và thị trường nội địa.
Phụ lục 6 và 7: Điều khoản tham chiếu đối với hoạt động giám sát độc lập hệ thống cấp phép FLEGT và tiêu chí đánh giá hoạt động của TLAS. Hai phục lục này đã được hai bên đàm phán và thống nhất về yêu cầu và nhiệm vụ của hoạt động đánh giá độc lập.
Phụ lục 8: Công bố thông tin. Phụ lục này quy định cam kết của hai bên trong việc công bố thông tin liên quan đến thực hiện hiệp định. Tại phiên đàm phán cấp cao lần thứ 4, hai bên đã nhất trí phần lớn nội dung về phục lục công bố thông tin.
Phụ lục 9: Chức năng của Ủy ban hỗn hợp thực hiện hiệp định JIC. Tại phiên cấp kỹ thuật lần thứ 8, hai bên đã nhất trí trưởng đoàn Việt Nam là một lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, còn phía EU là đại sứ EU tại Việt Nam.
Về lộ trình đàm phán và các bước tiếp theo, dự kiến từ nay đến cuối năm sẽ có 2 phiên đàm phán cấp cao lần thứ 5 tại Hà Nội và lần thứ 6 tại Brussels, Bỉ. Ngoài ra, 3 cuộc họp cấp kỹ thuật lần 9 từ ngày 14-15/4/2015 tại Hà Nội, lần 10 vào tháng 7/2015 và lần 11 sẽ diễn ra trước khi kết thúc đàm phán.
Trên cơ sở các buổi làm việc kể trên, hai bên cố gắng giải quyết các vướng mắc để có thể kết thúc đàm phán vào cuối năm 2015. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 31/3)đầu trang(
Phòng cảnh sát ĐTTP về kinh tế và chức vụ (PC46) Công an Hà Tĩnh đang vào cuộc điều tra những bất thường tại dự án đường lâm nghiệp gần 20 tỉ đồng mà đơn vị thi công phản ánh bị cán bộ dự án cấu kết với nhà báo "làm tiền" doanh nghiệp.
Chiều 22.3, thượng tá Phạm Văn An - Trưởng phòng PC46 Công an Hà Tĩnh - cho biết, đơn vị đang xác minh, điều tra những thông tin về sự bất thường của dự án "Hệ thống đường phục vụ sản xuất lâm nghiệp phát triển rừng và bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, tỉnh Hà Tĩnh” (giai đoạn 1) tại xã Cẩm Lạc (Cẩm Xuyên) và Hương Vĩnh (Hương Khê).
Dự án có mức đầu tư khoảng 18,36 tỉ đồng từ nguồn vốn mục tiêu quốc gia. Nhà thầu là liên doanh hai Công ty gồm: Cty Cổ phần Xây dựng Quốc Hưng (trụ sở tại thị trấn Nghèn, Can Lộc, Hà Tĩnh) và Cty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Khải Hoàn (trụ sở tại thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh). BQL Dự án xây dựng cơ bản ngành NN&PTNT Hà Tĩnh là chủ đầu tư. Đơn vị tư vấn giám sát là Cty Cổ phần Xây lắp và Xử lí nền móng Hà Tĩnh.
Thượng tá An cho biết, sẽ cho kiểm tra lại toàn bộ những hồ sơ liên quan đến dự án này, từ hồ sơ đấu thầu đến năng lực nhà thầu. "Công trình này đang thi công dở dang nên sẽ kiểm tra, xem xét theo kiểu dở dang.
Chứ nếu sai phạm của công trình khi hoàn thành thì xem xét khác", thượng tá An nói. Liên quan đến thông tin thi công ẩu dự án này, Sở Xây dựng Hà Tĩnh cũng đã cử đoàn thanh tra vào cuộc, kiểm tra chất lượng thi công.
Thời gian qua, báo chí đã có nhiều thông tin về những bất thường trong việc thi công ẩu, thông thầu tại dự án này. Ngay sau đó, ông Phan Bá Kiểng - GĐ Cty CPXD Quốc Hưng - phản ánh, một số nhà báo cấu kết với cán bộ kỹ thuật tên T của BQL dự án ngành NNPTNT Hà Tĩnh "hù dọa" lấy hàng trăm triệu đồng của Cty ông với cam kết “bao thầu”.
Cán bộ tên T cho biết, có chuyện mình trao đổi với ông Kiểng để cầm tiền đi lo lót và được ông Kiểng đưa tiền cho đi gặp báo chí, nhưng do phóng viên cương quyết không nhận nên đã cầm về trả lại cho ông Kiểng.
Sau đó, Sở Thông tin & truyền thông Hà Tĩnh, Hội Nhà báo Hà Tĩnh đã có công văn đề nghị cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ thông tin cán bộ dự án cấu kết nhà báo làm tiền doanh nghiệp.
Ông Phan Thành Giáp - Trưởng Phòng PA83 Công an Hà Tĩnh - cho biết, hiện phòng đang triển khai xác minh thông tin nói trên. Ông Nguyễn Xuân Hành - Trưởng BQL Dự án xây dựng cơ bản ngành NN&PTNT Hà Tĩnh - cũng cho biết, đã chỉ đạo một cán bộ của cơ quan có dư luận cấu kết với một số nhà báo lấy tiền của doanh nghiệp giải trình, làm sáng tỏ.
Trước đó, trao đổi với PV LĐ&ĐS, ông Phan Bá Kiểng - Giám đốc Cty CPXD Quốc Hưng - khẳng định, công ty mình thi công đảm bảo, không có chuyện thi công ẩu, thông thầu như báo chí phản ánh.
Tuy nhiên, dư luận đặt câu hỏi, nếu không có gì khuất tất, tại sao ông Kiểng lại thông tin có cán bộ dự án cấu kết nhà báo "làm tiền" doanh nghiệp của ông? Tại sao cán bộ tên T khẳng định, có cầm tiền của ông Kiểng đi "lo lót" báo chí hàng trăm triệu dù việc lo lót không thành. (Lao Động 30/3)đầu trang(
UBND tỉnh vừa phê duyệt mức tổng dự toán thu của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng năm 2015 gần 144 tỷ đồng.
Trong đó, nguồn thu năm 2015 hơn 64,2 tỷ đồng, còn lại chuyển từ năm 2014 sang. Tổng dự toán chi năm 2015 hơn 64,2 tỷ đồng; trong đó, dành gần 2 tỷ đồng lập các đề án và giao khoán bảo vệ rừng và hơn 58 tỷ đồng chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
UBND tỉnh yêu cầu Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh có trách nhiệm thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định của Chính phủ, khi có phát sinh và thực hiện chi thường xuyên, trích lập các quỹ khác. (Báo Quảng Nam 30/3)đầu trang(
Trước năm 2005, cả gia đình sáu người của ông Phạm Văn Đùng ở xã Ba Dinh, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) chủ yếu sống nhờ nguồn thu duy nhất là phát rẫy làm nương nên điều kiện sống hết sức khó khăn. Ông Đùng còn nhớ lắm, ngày đó đói quanh năm, cả nhà chỉ trông vào mấy mảnh nương. Mùa nào được còn đỡ. Mùa nào mất là đói triền miên...
Năm 2005, ông Đùng tham gia Dự án phát triển ngành Lâm nghiệp (WB3) và được hỗ trợ vốn vay trồng gần bốn ha rừng Keo Lai.
Nhờ sự giúp đỡ của các cán bộ dự án (DA), từ chỗ chưa có kinh nghiệm triển khai trồng rừng thương mại, ông từng bước làm chủ kỹ thuật và đến năm 2010 đã được thu hoạch với giá bán trung bình khoảng 90 triệu đồng một ha rừng thành phẩm.
Ông đã trả được nợ ngân hàng, xây được ngôi nhà gỗ khang trang thay cho căn nhà vách đất và sắm sửa các vật dụng cần thiết trong gia đình.
Ông Đùng chia sẻ, mình sống giữa rừng, nhưng ngoài phát rẫy làm nương đâu có tính đến việc trồng rừng? Mà có nghĩ tới cũng đâu có vốn? DA này đã giúp những người dân như mình tiếp cận được với vốn tín dụng ưu đãi, kỹ thuật trồng rừng hiện đại. Thu nhập từ rừng đã giúp mình và nhiều người như mình thoát khỏi cái nghèo, cái đói...
Cũng giống như ông Đùng, nông dân Hồ Đa Thê, xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế, cho biết, trước khi có DA, công việc chính của ông và dân trong tám thôn bị di dời vì xây dựng hồ chứa nước ở xã Lộc Bổn là đi làm thuê.
Đất rất cằn cỗi, không trồng được thứ gì theo thói quen. Bà con không biết trồng rừng và chưa yên tâm vì chưa được giao quyền sử dụng đất... Sau 10 năm, DA đã mang lại thay đổi ghê gớm. Rừng là nguồn thu nhập chính. Bà con yên tâm trồng rừng vì được là chủ rừng thật sự, được vay vốn...
Theo Chủ tịch UBND xã Ba Dinh (Ba Tơ, Quảng Ngãi) Trịnh Xin, nhờ tham gia DA này, cuộc sống của những người dân qua từng năm đã có nhiều thay đổi. Nếu mỗi hộ nghèo có từ 1 -2 ha rừng, thì sau khi thu hoạch, trừ tất cả chi phí cũng cho thu nhập 60 triệu đồng/ha trong khoảng 5 năm. Điều kiện kinh tế gia đình được cải thiện đáng kể, góp phần đem lại sự ổn định của địa phương...
Ông Nguyễn Tân Đạt, Chủ tịch UBND xã Cát Lâm, huyện Phú Cát, tỉnh Bình Định, một trong những xã đã tham gia thực hiện DA từ đầu khi DA mới triển khai năm 2005, cho biết: toàn xã có hơn 750 ha rừng được trồng theo WB3, trước khi tham gia DA nơi đây là vùng đất cát bạc màu, năng suất cây trồng hằng năm thấp.
Bây giờ vùng đất khô khát ngày nào đã xanh thắm những vườn cây keo lai, bạch đàn... Từ chỗ trồng rừng tự phát, đến nay nông dân đã hiểu biết kỹ thuật trồng rừng, đã biết thâm canh rừng và đã có niềm tin là có thể làm giàu từ trồng rừng.
WB3 là DA mới của ngành lâm nghiệp Việt Nam được thực hiện theo hình thức: Chính phủ vay của Ngân hàng Thế giới (WB), rồi cho người dân vay lại với lãi suất ngang bằng lãi suất cho vay hộ nghèo với thời gian dài hạn.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Lan, chuyên gia cao cáp về Môi trường của WB, Chủ nhiệm WB3, DA đã hỗ trợ hoạt động đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khoảng 35.000 hộ.
Các hộ nông dân có thể dùng nó để vay vốn lãi suất thấp từ nguồn vốn quay vòng của DA do Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) quản lý.
Đến nay, đây là DA đầu tiên, và cũng là DA duy nhất ở Việt Nam sử dụng phương pháp cho vay lại trong hoạt động trồng rừng tiểu điền, là hình thức được chứng minh bền vững hơn so phương pháp truyền thống trợ cấp hoạt động trồng rừng.
Giám đốc Ban Điều phối T.Ư dự án WB3 Phạm Quốc Chiến chia sẻ, triển khai từ năm 2005 đến năm 2015 tại các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên – Huế Nghệ An và Thanh Hóa, WB3 đã mang lại hiệu quả về kinh tế, và tác động tích cực về xã hội và môi trường cho các cộng đồng địa phương.
Thông qua hỗ trợ trồng rừng, DA đã giúp nhiều gia đình thoát nghèo. Các tỉnh thuộc vùng DA đều thuộc những tỉnh nghèo, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nên tỷ lệ đói nghèo còn cao hơn so bình quân chung cả nước, thế nhưng sau đó, khoảng cách này ngày một thu hẹp lại.
Tính đến tháng 3-2015, tại sáu tỉnh DA đã thành lập được 806 nhóm nông dân trồng rừng với 26.968 hộ dân tham gia.
Khoảng 850 héc-ta rừng đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật, xã hội và môi trường quốc tế nghiêm ngặt đã được cấp Chứng nhận quản lý rừng quốc tế trong một chương trình câấp chứng chỉ thí điểm.
Hơn 400 km đường lâm sinh, 86 chòi canh lửa và 102 bảng thông tin trên khắp vùng DA đã được xây dựng để nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng, giảm thiểu nguy cơ cháy rừng...
Theo Phó Tổng Giám đốc NHCSXH Nguyễn Văn Lý, người dân đã thực hiện vay vốn ưu đãi của DA để đầu tư vào trồng rừng theo hướng thâm canh, điều mà các chương trình hay DA trước đây của ngành lâm nghiệp chưa làm được.
Chính sách đầu tư kiểu "cho vay" nhưng với lãi suất ưu đãi đã phát huy tối đa quyền tự quyết định cũng như trách nhiệm của người dân trước phương án sản xuất, kinh doanh của mình.
Họ đã thật sự quan tâm gắn bó với rừng của họ để bảo đảm kinh doanh rừng có lãi, không những trả được nợ mà phải giàu lên từ rừng chứ không như kiểu đầu tư "cho không" như trước đây.
Đây chính là thành công đầu tiên DA mang lại, nó thể hiện ở chỗ đã dần thay đổi cách nghĩ, cách làm của người dân vùng nông thôn miền núi. Đưa sản xuất lâm nghiệp truyền thống sang kinh doanh lâm nghiệp bền vững, biến những người nông dân trồng rừng thuần túy sang những nhà kinh doanh lâm nghiệp.
Trong vòng 10 năm, DA đã trồng mới được 76.571 ha rừng. Theo đánh giá của các chuyên gia quôc tế và trong nước thì hơn 72% diện tích rừng trồng của WB3 đã đạt và tuân thủ các tiêu chuẩn để cấp chứng chỉ rừng.
Trong đó, DA đã thí điểm cấp chứng chỉ rừng cho 323 hộ với diện tích 783,49 ha, đã tạo thêm việc làm cho 43.743 hộ gia đình tăng thu nhập, so mục tiêu DA ban đầu là 19.000 hộ thì đây là một con số chứng tỏ sự thành công của DA.
Thông qua tham gia các hoạt động DA, trình độ của người nghèo được nâng lên đã góp phần giảm tệ nạn xã hội, góp phần tác động tích cực nâng cao đời sống an sinh xã hội, ổn định xã hội ở địa phương.
Ông Vũ Xuân Thôn, Trưởng ban quản lý các DA Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đánh giá, thay đổi tập quán của người dân, từ trông chờ sự hỗ trợ sang vay vốn để trồng rừng.
Hàng trăm nghìn hộ nông dân sẽ làm theo 43.000 hộ đã tham gia DA. Thành công này là rất lớn. Người trồng rừng, qua trồng rừng, đã sống lâu dài được với rừng. Rừng đã được trồng theo đúng quy hoạch của DA, còn người dân có vay vốn và cũng đã hoàn vốn. Đó là sự bền vững nhất.
Tham dự buổi Tổng kết DA mới diễn ra tại TP Huế, Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam Victoria Kwakwa bày tỏ: Các phương pháp sản xuất lâm nghiệp hiện đại của DA này là một phần trong nỗ lực đổi mới ngành lâm nghiệp tại Việt Nam.
Tôi rất vui khi DA mang lại lợi ích xã hội kinh tế cho người dân, thu được hiệu quả. Điều quan trọng là sau DA, chúng ta sẽ làm thế nào vì còn có nhiều diện tích lâm nghiệp mà chưa được hỗ trợ như trong DA này.
Làm sao để duy trì thành công, và mở rộng nó? Hy vọng rằng những bài học kinh nghiệm hay của WB3 có thể được nhân rộng, nhờ thế nhiều hộ gia đình Việt Nam sẽ được tiếp cận đến tín dụng, cũng như những phương pháp trồng rừng hiện đại.
Về phía NHCSXH, ông Nguyễn Văn Lý khẳng định, mặc dù DA kết thúc vào ngày 31-3-2015, quỹ quay vòng do NHCSXH quản lý sẽ tiếp tục vận hành thêm 20 năm nữa, rất nhiều hộ gia đình sẽ còn được tiếp cận nguồn tín dụng này.
Chúng tôi có 40.000 tỷ đồng vốn cho vay mới năm 2015. Dự kiến năm 2036 thì trả hết nợ. NHCSXH sẽ cam kết thu đủ vốn 100%, thủ tục ưu đãi nhất cho người dân. Đề xuât WB tiếp tục DA này cho một số vùng khác như: vùng tây bắc, cát ven biển miền trung, vùng ngập mặn...(Thời Nay 30/3, Tr5)đầu trang(
Ngành Lâm nghiệp đang chọn khâu giống để "làm quyết liệt, tạo đột phá", trong đó sẽ đẩy mạnh kiểm soát chất lượng giống, tăng sử dụng giống theo kỹ thuật mô-hom. Ngành cũng đang nỗ lực để nâng cao giá trị rừng trồng theo chuỗi liên kết, hạn chế xuất khẩu gỗ dăm, tăng chế biển sâu, nâng cao giá trị sản phẩm.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn nói: "Sản phẩm lâm nghiệp có chu kỳ dài và để tạo ra 1 giống mới trong nước có thế phải mất hàng chục năm, nên chúng ta phải tận dụng thành tựu khoa học quốc tế để chuyến giao, ứng dụng vào sản xuất trong nước. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học vào các cơ sở sản xuất chế biến, có những giải pháp ưu tiên để những doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị, ứng dụng ngay"
Những năm lại đây, công tác nghiên cứu cải thiện giống cây lâm nghiệp có những tiến bộ vượt bậc, góp phần nâng cao năng suất và chất lưọng rừng trồng trên cả nước, từ 10-15 m3/ha/năm giai đoạn 1990 2000 lên 15-20 m3/ha/ năm giai đoạn 2000-2010, cá biệt có nơi lên đến trên 30m3/ ha/năm.
So với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia- những nước tiến hành nghiên cứu cải thiện giống cùng thời điểm, Việt Nam đã có những bước tiến nhanh so với các nước này, đặc biệt trong công tác chọn tạo giống mới và nhân giống bằng nuôi cấy mô.
Đến nay, ngành lâm nghiệp đã công nhận được 189 giống, trong đó: 74 giống của 10 loài keo; 76 giống của 5 loài bạch đàn; 22 giống của 4 loài tràm; 4 giống thông Caribe (Pinus caribeae); 10 giống mắc-ca; 2 giống phi lao và 1 giống dẻ ăn quả.
Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2011-2014, Bộ NN&PTNT cũng có quyết định công nhận 45 giống (13 giống quốc gia và 32 giống tiến bộ kỹ thuật), chủ yếu là giống keo lai, bạch đàn, mắc-ca, tràm.
Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ về giống, việc kiểm soát nguồn gốc, chất lượng giống gây “đau đầu” cho cả ngành. Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, cách đây hơn một năm, khi rà soát lại vấn đề giống lâm nghiệp mà “giật mình”.
“Giống trồng rừng chưa tới 40% là giống tạo từ kỹ thuật mô-hom, trong đó chỉ 1,3% giống mô, còn lại là hom. Còn khoảng 60% giống nôm na là giống lượm lặt”- ông Tuấn nói.
Ông Tuấn cho biết, hiện ngành lâm nghiệp đã sử dụng tới hơn 70% là giống có kiểm soát và đó là một nỗ lực lớn của ngành thời gian qua. Tới đây, ngành lâm nghiệp sẽ đẩy mạnh sản xuất giống cây theo kỹ thuật mô-hom.
Cùng đó, ngành sẽ tăng cường quản lý, kiểm tra kiểm soát chuỗi hành trình, từ khâu vật liệu giống, sản xuất giống đến cây giống cho trồng rừng. “Thà không đạt kế hoạch trồng rừng, nhưng dứt khoát không trồng giống kém chất lượng”- ông Tuấn nhấn mạnh.
Một trong những cái “nhất thế giới” của ngành lâm nghiệp Việt Nam hiện nay, nhưng “rất ngại" nhận là quốc gia hàng đầu về xuất khẩu dăm gỗ. Bộ trưởng Cao Đức Phát chia sẽ: Năm trước, trong dịp gặp Đại sứ của Úc, ông ấy chúc mừng tôi vì Việt Nam đã vượt qua Úc, thành nước xuất khẩu dăm hàng đầu thế giới. Tôi nói là tôi cám ơn, nhưng tôi không vui lắm khi chiếm vị trí đó của ông!
Nhìn lại câu chuyện kinh tế rừng ở Việt Nam, có lẽ chuyện “không vui” của Bộ trưởng Phát không phải không có lý . Thực tế, hiện nay giá trị kinh tế mang lại từ rừng trồng ở Việt Nam còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng.
Sản lượng khoảng 90 m3/ ha /chu kỳ, nhưng chủ yếu (khoảng 70%) là gỗ nhỏ, dùng băm dăm, giá trị thấp. Theo lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, hiện Việt Nam mỗi năm sản xuất 18 triệu3 gỗ nguyên liệu, trong đó 13 triệu m3 dùng làm dăm, nhưng giá trị thu về chỉ khoảng 800 triệu USD.
Trong khi đó, khoảng 5 triệu m3 còn lại (chưa kể sản xuất tiêu dùng trong nước) giá trị xuất khẩu mang về cũng khoảng 5,7 tỷ USD (trong kim ngạnh xuất khẩu toàn ngành năm 2014 là hon 6,5 tỷ USD).
Do vậy, trong thời gian tới, cần có chính sách để giúp người dân chuyển dần sang mô hình trồng cây gỗ lớn, thay vì “chặt non” bán dẫm, thu nhập thấp. Ngoài ra, ngành lâm nghiệp cũng có Đề án “kiềm chế”, không tăng cơ sở sản xuất dăm, các địa phương muốn mở mới, phải thỏa thuận với Bộ NN&PTNT, tránh tình trạng phát triển nóng.
Cùng đó, sẽ có chính sách phát triển chế biến sâu sau dăm để nâng cao giá trị, đề xuất việc tăng giá thuê xuất khẩu gỗ dăm. (Tiền Phong số Xuân Ất Mùi, TrCĐ19)đầu trang(
Vào tháng 11/2014, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Vân Đồn (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Vân Đồn) ở xã Hạ Long, huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) mở rộng thêm cơ sở sản xuất chế biến gỗ ghép thanh tại địa điểm nằm sát chỗ ở của các hộ dân thuộc thôn 11, 12 xã Hạ Long.
Chưa đầy 5 tháng sau ngày cơ sở sản xuất đi vào hoạt động, những hộ dân ở khu vực gần công ty rất bức xúc vì cơ sở chế biến gỗ của công ty Lâm nghiệp Vân Đồn xả rất nhiều bụi gỗ ra môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống người dân.
Từ nhiều tháng nay, căn nhà của gia đình anh Lâm Bội Thuật (thôn 11, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn) luôn phải đóng cửa, các khe cửa sổ phải dán kín bằng những tờ báo. Anh Thuật cho biết: do Công ty Lâm nghiệp Vân Đồn trong quá trình sản xuất gỗ đã xả bụi gỗ ra môi trường. Những bụi gỗ này rất độc hại, hít vào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, gây bệnh về đường hô hấp…
Bác Vũ Thị Chung ở thôn 12, xã Hạ Long cũng bày tỏ: Bụi bay cả vào nhà, bám cả vào xoong chảo, bát đĩa. Những ngày trời hanh khô, bụi bay ra như sương mù. Mong chính quyền các cấp sớm vào cuộc để người dân bớt khổ.
Trong khi đó, bà Hoàng Thị Phượng, Trưởng Phòng Tổ chức hành chính, Công ty Lâm nghiệp Vân Đồn lý giải: Do dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015 tại công ty xảy ra sự cố vỡ một phần tường và phần mái bị tung ra. Nhưng ngay sau đó công ty đã xử lý sự cố và bụi gỗ có bay ra bên ngoài nhưng không đáng kể.
Tuy nhiên, theo quan sát của phóng viên tại hiện trường, loại bụi gỗ này có màu vàng nhạt, các hạt bụi bám trên các cành cây ngọn lá, có chỗ bụi dày khi lấy tay gạt qua bụi vón thành cục như bông thuỷ tinh.
Tại một số nhà dân, bụi đã phủ lên mái nhà và phủ kín toàn bộ sân vườn. Cho đến thời điểm hiện tại, Công ty Lâm nghiệp Vân Đồn vẫn chưa có biện pháp xử lý số bụi gỗ, bay ra môi trường khu vực nhà dân.
Theo bà Hoàng Thị Phượng, Trưởng Phòng Tổ chức hành chính, Công ty Lâm nghiệp Vân Đồn: Hiện, công ty chưa nhận được ý kiến phản ánh trực tiếp của người dân. Bà Phượng cũng cho biết, công ty mới mở rộng sản xuất từ tháng 11/2014 nên hiện tại chưa có những báo cáo đánh giá về tác động môi trường.
Còn người dân địa phương cho biết, đã 2 lần gửi đơn thư lên chính quyền xã và huyện kiến nghị xử lý việc gây ô nhiễm môi trường của công ty này.
Ông Hoàng Văn Thanh, Phó Chủ tịch UBND huyện Vân Đồn cho biết: Công ty này do UBND tỉnh Quảng Ninh cấp phép, thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh quản lý. Huyện chỉ có chức năng đôn đốc, nhắc nhở công ty đảm bảo vệ sinh môi trường theo quy định.
Phó Chủ tịch UBND huyện Vân Đồn mong muốn các đơn vị chức năng trên địa bàn tỉnh sớm có biện pháp kiểm tra, đánh giá, xử lý triệt để, làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm của công ty đối với môi trường và các hộ dân sống xung quanh, tránh những hệ luỵ không đáng có.
Người dân xã Hạ Long mong các cơ quan chức năng cùng chính quyền địa phương sớm vào cuộc nhằm đánh giá, xử lý triệt để tình trạng doanh nghiệp sản xuất gây ô nhiễm môi trường. (Tin Tức 30/3, Tr13; Tin Môi Trường 30/3) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Úc là xứ sở của Kangaroo. Điều này chẳng phải tranh cãi. Nhưng tôi thì muốn tìm hiểu về số phận của các chú Kangaroo ở Úc sẽ thê nào? Các chú có trở thành món ăn khoái khẩu trong các nhà hàng quán nhậu ở Úc hay không?
Kangaroo hay còn gọi là chuột túi vì nó giống như con chuột nhưng to hơn và có cái túi trước bụng để đựng con. Có khá nhiều Kangaroo sống tự nhiên trên các đồng cỏ và chúng tự nhiên sinh sôi nảy nở.
Cũng có Kangaroo được nuôi trong trang trại để giết thịt. Tôi đến thăm một trang trại nuôi Kangaroo nhưng mà để cho khách tham quan chứ không phải để giết thịt. Các chú Kangaroo chạy nhảy khắp nơi và khá bạo dạn khi có người đến gần.
Có nhiều chú Kangaroo đã già lụ khụ đi lại cũng khó khăn và khi các chú lìa đời thì người ta đem chôn chứ không giết thịt. Trang trại này nằm ở ngoại ô thành TP Adelaide và có khoảng 200 chú Kangaroo.
Có lần tôi vào một siêu thị và thấy 1 góc nhỏ bán thịt Kangaroo. Tôi hỏi người bán và được biết là bán được ít lắm vì người Úc không thích ăn thịt con vật là biểu tượng của đất nước họ.
Tôi hỏi tiếp là thịt Kangaroo có ngon không thì người bán trả lời: Cũng ngon như thịt bò. Vậy mà hầu như rất ít Kangaroo bị giết thịt ở Úc. Thậm chí chúng còn được bảo vệ khá nghiêm ngặt.
Nếu như ở Việt Nam, một con vật mà thịt mềm như thịt bò thì chắc chắn sẽ bị săn tìm và giết thịt nếu sống ở tự nhiên, dù có thể đó là linh vật.
Như vậy có thể thấy ý thức của họ rất khác ở ta. Có lẽ vì thế mà Kangaroo được sống một cách an nhàn thảnh thơi nhất trên thế giới trong khi nhiều loài khác đang bị tận diệt. (Khoa Học & Đời Sống số Xuân Ất Mùi, Tr11)đầu trang(./.
Biên tập: Diệu Huyền
|
|||