|
Ngày 29 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Phòng CSĐT tội phạm kinh tế và chức vụ (PC46) Công an Nghệ An cho biết đã khởi tố vụ án “Vi phạm quy định về vận chuyển trái phép động vật hoang dã quý hiếm”, khởi tố bị can vụ vận chuyển này.
Bị can Nguyễn Văn Lập (34 tuổi, trú tại xóm 8, xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu) là đối tượng vận chuyển con hổ nặng 120 kg trên xe tải.
Chiếc xe này bị Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49) Công an Nghệ An phối hợp đội tuần tra CSGT Diễn Châu phát hiện, bắt giữ lúc 16g ngày 22-12 trên quốc lộ 1, địa bàn thị xã Hoàng Mai.
Sau khi bắt giữ, PC49 chuyển giao cho PC46 xử lí. Theo PC46, đây là vụ án cấp huyện nên sau khi khởi tố sẽ bàn giao cho Công an thị xã Hoàng Mai xử lý tiếp.
Lời khai ban đầu của bị can Lập cho biết, ngày 22-12 khi đang lái xe trên đường gặp một người trú ở xã Quỳnh Giang kéo xe ba gác nhờ chở thuê con hổ ướp lạnh ra Thanh Hóa với giá 8 triệu đồng.
Từ lời khai này, PC46 đang mở rộng chuyên án truy tìm chính chủ của con hổ bị xẻ thịt và ướp lạnh. Cũng theo xác định của PC46, con hổ ướp lạnh này là hổ thật. (Tuổi Trẻ 29/12; Pháp Luật TPHCM 29/12) đầu trang(
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, đội cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường quận Nam Từ Liêm đã bắt quả tang xe taxi của hãng Mai Linh đang vận chuyển hai cá thể động vật hoang dã quý hiếm thuốc nhóm 1B (nghiêm cấm khai thác và sử dụng dưới mục đích thương mại).
Vào hồi 14 giờ ngày 26/12, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một xe taxi mang thương hiệu của hãng Mai Linh BKS 30A - 02750 đang vận chuyển hai động vật rừng hoang dã trên đường Đỗ Đức Dục thuộc địa bàn phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm.
Ngay lập tức, tổ công tác đội cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an quận Nam Từ Liêm đã tiếp cận và yêu cầu chiếc xe taxi trên dừng lại để kiểm tra hành chính.
Trong lúc tiến hành kiểm tra, đội cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an quận Nam Từ Liêm đã phát hiện trong xe có một thùng cát tông cỡ lớn để sau xe. Sau khi tiến hành kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện hai cá thể động vật hoang dã thuộc nhóm 1B được quy định trong nghị định 32/2006/NĐ-CP và nghị định 160/2013/NĐ-CP (Động vật nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại).
Hai cá thể hoang dã quý hiếm thuộc nhóm 1B này là hai con Culi loại lớn vẫn còn sống. Sau khi bắt quả tang, tổ công tác công an quận Nam Từ Liêm đã tiến hành lập biên bản tịch thu số tang vật, đưa người và xe về công an quận Nam Từ Liêm tiếp tục phục vụ công tác điều tra.
Tại cơ quan điều tra, tài xế taxi của hãng Mai Linh khai nhận tên họ là Đào Giáp Tiến sinh năm 1977 có hộ khẩu thường trú tại làng Mưu Nha, Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm. (Pháp Luật & Xã Hội 28/12) đầu trang(
Lúc 2h30 sáng 28.12, Đội Kiểm lâm cơ động số 2 thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng trên đường đi tuần tra, truy quét hoạt động khai thác, vận chuyển gỗ lậu. Đến khu vực xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh (Lâm Đồng), lực lượng đã phát hiện một chiếc xe tải đang chở gỗ lậu.
Ông Vũ Xuân Hải (SN 1961) - đội trưởng và ông Cao Viết Lư (SN 1973) - cán bộ Đội cơ động số 2 ra hiệu dừng xe. Không những không chấp hành hiệu lệnh dừng xe, lái xe còn liều lĩnh rú ga cho xe đâm thẳng vào đội kiểm tra khiến ông Hải tử vong, ông Lư bị thương.
Tại Công an huyện Đạ Tẻh, đối tượng lái xe khai tên là Hoàng Minh Trung (SN 1995), trú tổ dân phố 9, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
Hiện Công an huyện Đạ Tẻh thu giữ tang vật một xe tải và khoảng 1,5m3 gỗ để tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Dân Việt 29/12; Pháp Luật TPHCM 29/12) đầu trang(
Cơ quan cảnh sát điều tra (Bộ Công an) vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh khám xét và bắt tạm giam đối với Lê Văn Hải (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa) về hành vi “nhận hối lộ”.
Cơ quan cảnh sát điều tra (Bộ Công an) vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh khám xét và bắt tạm giam đối với Lê Văn Hải (40 tuổi, trú tại đường Đình Hưng, phường Đông Cương, TP Thanh Hóa), đội phó Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa (Đội kiểm lâm số 1), về hành vi “nhận hối lộ”.
Sáng 1-8, tổ công tác của đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 Thanh Hóa do ông Hải làm tổ trưởng tuần tra, kiểm soát trên quốc lộ 1 phát hiện một ôtô đang chở một số gỗ quý không có thủ tục vận chuyển nên yêu cầu tài xế đưa xe và hàng về trụ sở đội để xử lý.
Chiều cùng ngày, ông Nguyễn Võ Nguyên, đại diện chủ hàng, đến làm việc thì bị yêu cầu nộp 100 triệu đồng. Đến khoảng 18g cùng ngày, ông Nguyên đến gặp nhân viên kiểm lâm Lê Đức Hải để đưa 100 triệu đồng thì lực lượng công an ập vào bắt quả tang.
Quá trình mở rộng điều tra vụ Lê Đức Hải nhận tiền, cơ quan điều tra tình nghi ông Lê Văn Hải là người trực tiếp chỉ huy bắt giữ xe gỗ này và chỉ đạo việc nhận 100 triệu đồng của ông Nguyễn Võ Nguyên. (Tuổi Trẻ 27/12; Người Lao Động 27/12) đầu trang(
Liên quan đến bài viết “Kiểm lâm giải cứu gỗ lậu?” mà Báo Người Lao Động đã phản ánh, ông Nguyễn Thành Cẩn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, đã kết luận nội dung tố cáo Chi cục Kiểm lâm giải cứu gần 125 m3 gỗ lậu là đúng sự thật
Vụ việc làm thất thu và gây thiệt hại cho nhà nước hơn 327 triệu đồng. Dù hậu quả nghiêm trọng nhưng ông Cẩn chỉ đạo cấp dưới “kiểm điểm nghiêm túc và có hình thức xử lý kỷ luật” chứ không chuyển sang cơ quan điều tra.
Theo kết luận do ông Cẩn ký, Chi cục Kiểm lâm Tiền Giang đã có ít nhất 3 phi vụ giải cứu gỗ lậu. Theo đó, vụ thứ nhất vào ngày 21-11-2013, Công an tỉnh Tiền Giang kiểm tra xe tải BKS 63C- 023.28 do tài xế Phạm Văn Thuận điều khiển, chở 35 m3 gỗ xẻ hộp nhóm III, IV.
Ông Thuận xuất trình một bộ hồ sơ gồm hóa đơn và bảng kê lâm sản do một hạt kiểm lâm của tỉnh Đắk Lắk ký nhưng xác nhận cho xe BKS 63C-007.89. Theo ông Thuận, số gỗ này của bà Huỳnh Thanh Tuyền (ngụ huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Qua điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang xác định: “Hồ sơ vận chuyển không phải là bộ hồ sơ của lô gỗ vận chuyển trên xe 63C-023.28”.
Khi được Công an tỉnh Tiền Giang bàn giao vụ việc, ông Nguyễn Thanh Trúc, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động, đã mời công an chứng kiến, kiểm tra số gỗ thực tế trên xe là loại gì và lập biên bản, kết luận: “Có 163 hộp gỗ được kiểm tra thực tế không đúng với hồ sơ”.
Tuy nhiên sau đó, chính ông Trúc lại giải cứu lô gỗ lậu này bằng cách mời 3 thợ cưa đến giám định rồi kết luận chỉ có 3,791 m3 là gỗ lậu nên tịch thu, phạt bà Tuyền 40 triệu đồng; số còn lại được “hoàn khổ chủ”. Về vụ này, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định 3 thợ cưa Huỳnh Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thành, Nguyễn Bá Tòng chỉ là tài xế, lơ xe và chữ ký trong biên bản “giám định” cũng không phải của họ.
Trước đó, ngày 14-5-2013, Công an tỉnh Tiền Giang cũng bắt xe tải BKS 66S-6282 do tài xế Trương Thành Lợi (SN 1966, ngụ tỉnh Đồng Tháp) điểu khiển, chở 37,208 m3 gỗ bằng lăng không có hóa đơn chứng từ. Ông Lợi khai số gỗ này của ông Phạm Ngọc Tuấn.
Ông Tuấn khai mua số gỗ nói trên của Công ty TNHH Sơn Đông do ông Nguyễn Trung Quyến làm giám đốc. Trong khi đó, ông Quyến chưa xác định được đây có phải là số gỗ mà bên ông xuất cho ông Tuấn hay không. Sau đó, khi xử lý theo thẩm quyền, chi cục kiểm lâm cũng lập biên bản vi phạm chỉ có 12 hộp gỗ bằng lăng (3,939 m3) và xử phạt 40 triệu đồng, số còn lại trả cho ông Tuấn.
Chưa hết, ngày 13-6-2013, Công an tỉnh Tiền Giang bắt 2 xe chở 42 m3 gỗ bằng lăng xẻ hộp. Tài xế xuất trình hóa đơn ghi ngày 14-6-2013, do cơ sở của ông Nguyễn Văn Năm (ngụ huyện Cai Lậy) bán cho bà Nguyễn Thị Lệ (ngụ thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang).
Qua lời khai của ông Năm, công an tiếp tục phát hiện thêm 95 hộp gỗ (23,5 m3) tại cơ sở ông Năm cũng không có nguồn gốc. Sau đó, chi cục kiểm lâm được công an bàn giao và tạm giữ tổng cộng 231 hộp gỗ (66,3 m3).
Tại đây, ông Năm khai toàn bộ số gỗ trên không phải của mình mà chỉ xuất hóa đơn khống cho ông Trần Văn Nhuận (ngụ huyện Cai Lậy). Tuy nhiên, sau khi công an tỉnh có văn bản chuyển hồ sơ, Kiểm lâm Tiền Giang chỉ tịch thu 12,1 m3 gỗ lậu và trình UBND tỉnh xử phạt 75 triệu đồng; 54,2 m3 gỗ lậu còn lại được trả cho ông Năm.
Nghị định số 99/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản quy định rõ hành vi mua bán, kinh doanh, vận chuyển gỗ không có nguồn gốc hợp pháp với tổng khối lượng trên 20 m3 thì phải bị xử lý hình sự. (Người Lao Động 27/12) đầu trang(
Chiều 26-12, thượng tá Lê Như Toản - Trưởng Phòng Tham mưu, người phát ngôn Công an tỉnh - cho biết đang củng cố hồ sơ, giám định số lượng rùa biển tại 3 cơ sở chế tác rùa biển ở xã Phước Đồng, TP Nha Trang, nếu có dấu hiệu phạm tội sẽ khởi tố vụ án.
Hiện cơ quan công an đã hoàn tất việc khám xét khẩn cấp tại xưởng chế tác rùa biển và nhà riêng của Hoàng Tuấn Hải (42 tuổi; ngụ xã Phước Đồng, TP Nha Trang; được cho là chủ của 3 cơ sở chế tác rùa biển trên), thu giữ nhiều tài liệu, đồ vật liên quan.
Theo ông Toản, qua gần 7 ngày kiểm đếm, đoàn công tác liên ngành của tỉnh Khánh Hòa vẫn chưa thống kê xong số lượng rùa biển bị bắt giữ, cất giấu trái phép tại xã Phước Đồng trong trang trại nuôi heo của bà Vũ Thị Hải Thanh (38 tuổi).
Ông Lê Văn Dũng, Chánh Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, cho biết số lượng rùa biển bị bắt lần này rất lớn, trọng lượng ước khoảng 6 tấn rùa tươi nên việc kiểm đếm mất rất nhiều thời gian. Khai với cơ quan chức năng, ông Hải thừa nhận toàn bộ số rùa trên là của ông gửi tại trang trại của bà Thanh.
Tại trang trại này, những con rùa lớn, đường kính mai lên đến 70-80 cm nằm xếp đống lên nhau dài cả trăm mét. Mùi hóa chất xộc lên nồng nặc. Trong các bể formol là những con rùa còn nguyên vẹn hình hài. Theo nhận định ban đầu, rùa biển ở đây gồm vích, tráng bông và đồi mồi. Đây là những loài bị cấm săn bắt, buôn bán, vận chuyển và sử dụng.
Trước đó, vào ngày 19-11, tại 2 kho hàng khác của ông Hải, cũng nằm trên địa bàn xã Phước Đồng, xác rùa biển vứt la liệt, chất đống cao lên gần nóc nhà. Hàng ngàn con rùa nằm chỏng chơ khắp nơi trong xưởng đang được cắt ra để nhồi bông hoặc bị dìm trong những thùng formol bốc mùi nồng nặc. Lực lượng chức năng phải điều 6 chuyến xe tải mới chở hết 4,4 tấn rùa về kho tạm giữ.
Theo ông Lê Văn Dũng, hiện cơ quan chức năng đang lúng túng vì không biết chứa số rùa này ở đâu bởi kho của Viện Hải dương học đã hết chỗ trong khi xác rùa vẫn còn tươi, bốc mùi kinh khủng nên không doanh nghiệp nào đồng ý tiếp nhận.
Ông Hoàng Tuấn Hải khai với cơ quan công an ông là chủ của các kho rùa trên. Ông mua gom rùa của ngư dân với giá từ 200.000 - 800.000 đồng/con, tùy trọng lượng, sau đó ngâm hóa chất để chế tác thành đồ mỹ nghệ.
Tuy nhiên theo tìm hiểu, chủ thực sự của các cơ sở này là một người tên Hoàng Minh C. hay còn gọi là C. “đồi mồi”. Các cơ sở chế tác rùa này tồn tại hàng chục năm nay, lúc cao điểm ông C. thuê vài chục nhân công làm việc. Thế nhưng, ông Nguyễn Văn Hưởng, Chủ tịch UBND xã Phước Đồng, cho hay ông không hề biết gì. Còn ông Lê Văn Dũng cho rằng các cơ sở này nằm lẩn khuất trong khu dân cư nên rất khó phát hiện. Chỉ khi lực lượng của Bộ Công an “nằm vùng” trinh sát mới phát hiện được.
Theo bà Nguyễn Thị Phương Dung, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV), nhiều năm qua, ENV nghiên cứu khoa học về rùa biển và phát hiện nhiều chip gắn trên rùa tập trung ở TP Nha Trang. Trong quá trình tìm hiểu từ đầu mối thu gom tại cảng Sa Kỳ hay huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), ENV xác minh ngư dân thường bán cho một người tên C. tại TP Nha Trang. Ông này còn hỗ trợ tài chính, ứng trước tiền cho các đối tượng săn bắt trái phép rùa biển.
Theo bà Dung, ông C. “đồi mồi” rất ít khi trực tiếp thu mua rùa biển mà thông qua những đầu nậu ở các tỉnh ven biển thu mua từ ngư dân đánh bắt được, sau đó chở bằng xe đông lạnh về Nha Trang bán lại cho ông C. Tại đây, sau khi chế tác, ngâm tẩy, đánh bóng, rùa được chất lên xe đi bằng đường bộ hoặc đường thủy ra cửa khẩu Móng Cái để xuất sang Trung Quốc.
“Nhu cầu dùng rùa làm vật trang trí trong nước rất ít. Do đó phải có đường dây vận chuyển, tiêu thụ các sản phẩm sang Trung Quốc và một số nước khác. Bên cạnh đó, ông Hoàng Tuấn Hải không phải là “nhân vật chính”, người đứng sau “đạo diễn” là ông C. “đồi mồi”. Hiện ENV đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu thu thập được về đường dây tổ chức đánh bắt, thu gom, chế tác, tiêu thụ trái phép rùa biển này cho cơ quan chức năng” - đại diện ENV cho biết.
Theo bà Nguyễn Thị Phương Dung, rùa biển là loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, được bảo vệ ở cấp độ cao nhất theo quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam. Mọi hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôi, nhốt rùa biển hoặc vận chuyển, buôn bán sản phẩm, bộ phận của loài này đều bị xem xét xử lý hình sự. Mức án tối đa lên đến 7 năm tù bất kể số lượng, khối lượng hay giá trị tang vật theo Bộ Luật Hình sự. (Người Lao Động 27/12)đầu trang(
Ngày 25-12, Xí nghiệp cây xanh 1 thuộc Công ty TNHH một thành viên Công viên cây xanh TP.HCM đã cắt cành, đốn hạ cây cổ thụ cao trên 12m, đường kính gốc khoảng 70cm trên tuyến đường Tôn Đức Thắng, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM (đoạn trước Nhà máy đóng tàu Ba Son).
Đây là cây cổ thụ thứ 4 được đơn vị trên đốn hạ trong vòng hai tháng qua. Việc đốn hạ các cây cổ thụ này được Sở Giao thông vận tải TP cấp phép vì nằm trong phạm vi dự án tuyến đường sắt đô thị số 1 đang được triển khai thi công.
Trước đó, đơn vị trên cũng đã đốn hạ 3 cây xanh ở tuyến đường Tôn Đức Thắng. Được biết hàng cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng có từ thời Pháp tồn tại hơn trăm năm. Việc đốn hạ cây xanh trên đoạn đường này làm bao người phải nuối tiếc. (Tin Môi Trường 25/12; Pháp Luật TPHCM 26/12, tr6) đầu trang(
Tiếp nhận thông tin Báo Đời sống & Tiêu dùng phản ánh trong bài “Hà Tĩnh: Phá rừng phòng hộ làm trang trại, chính quyền chậm xử lý”, UBND huyện Vũ Quang đã có văn bản yêu cầu lực lượng kiểm lâm và UBND xã vào cuộc kiểm tra việc sẻ phát, bao chiếm rừng trái pháp luật tại tiểu khu 69 và 71 thuộc quản lý của UBND xã Sơn Thọ.
Như đã thông tin, thời gian qua, tại khu vực rừng phòng hộ vùng đệm Vườn quốc gia Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh) đã bị một số cá nhân chặt phá, khoanh vùng làm trang trại nhưng chưa được cơ quan chức năng quản lý cho phép. Sự việc diễn ra gây bức xúc trong người dân, nhiều lần phản ánh lên chính quyền địa phương nhưng những cơ quan này được cho là chậm xử lý nên tình trạng phá rừng càng diễn ra gay gắt.
Tiếp thu sự việc báo nêu, ngày 15/12, UBND huyện Vũ Quang đã ban hành văn bản yêu cầu Hạt Kiểm lâm Vũ Quang và UBND xã Sơn Thọ kiểm tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp vi phạm (nếu có). Báo cáo lại kết quả trước ngày 22/12 về UBND huyện.
Liên quan đến sự việc trên, ông Nguyễn Văn Minh – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vũ Quang cho biết, sau khi sự việc được báo chí thông tin, lực lương kiểm lâm đã trực tiếp vào hiện trường phá rừng để kiểm tra thực địa, đã xác định được 5 đối tượng sẻ phát, lấn chiếm rừng.
Ông Minh cũng cho hay, UBND huyện Vũ Quang cũng đã ra Quyết định thành lập tổ kiểm tra việc người dân sẻ phát, bao chiếm rừng, trái pháp luật, tại tiểu khu 69 và 71 thuộc xã Sơn Thọ quản lý.
Theo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vũ Quang, năm 2013 UBND tỉnh Hà Tĩnh thu hồi 1600 ha rừng của Ban quản lý rừng Ngàn Phố giao cho xã Sơn Thọ để chia cho dân phát triển kinh tế và cho một số doanh nghiệp trên địa bàn thuê để làm trang trại. Trong đó có 450 ha chia cho doanh nghiệp để làm kinh tế. Hiện tại huyện đang chờ ý kiến của tỉnh, làm đề xuất lên các cơ quan ban ngành để chờ giải quyết.
“Trong quá trình làm hồ sơ để giao đất, giao rừng cho dân thì có một số hộ gia đình manh động đã vào sẻ phát, bao chiếm một phần diện tích rừng trong đó. Hiện tại các trường hợp này chúng tôi đang giao cho xã và kiểm lâm địa bàn kết hợp với nhau kiểm tra, điều tra làm rõ các đối tượng, xem số liệu mức độ như thế nào lập biên bản để xử lý, trong một thời gian ngắn phải có báo cáo kết quả về UBND huyện” – ông Minh cho biết.
Nhận định về vụ việc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vũ Quang cho rằng, “việc người dân vào sẻ phát diện tích rừng chưa chuyển đổi mục đích sử dụng thì phải có biện pháp xử lý nghiêm; nếu như xã không đủ năng lực, thẩm quyền để xử lý thì sẽ chuyển sang cho Hạt Kiểm lâm huyện. Còn nếu rừng rậm, cây bụi mà trước đây đã giao khoán cho các hộ gia đình thì có thể cho họ sẻ phát để trồng lại rừng nhằm phát triển kinh tế cho địa phương”.
Ông Minh cũng khẳng định, việc cấp rừng cho các doanh nghiệp để làm trang trại là chưa có, huyện chỉ mới hướng dẫn cho các doanh nghiệp làm hồ sơ. Mặt khác, việc phân định ranh giới giữa diện tích rừng đã giao cho dân và diện tích rừng tự nhiên chưa giao rất khó, nên khi kiểm lâm vào cuộc sẽ có số liệu cụ thể và có phương án xử lý, trả nguyên lại hiện trạng.
Làm việc với phóng viên ngày 19/12, ông Phạm Quốc Thanh – Phó chủ tịch UBND huyện Vũ Quang cho biết, đến nay đã có hơn 1600ha rừng mới bàn giao về cho huyện Vũ Quang để lập đề án giao cho dân, do trong quá trình điều chỉnh địa giới hành chính nên 773ha sẽ giao cho xã Hương Điền, còn hơn 934ha được giao cho xã Sơn Thọ quản lý.
Ông Thanh thừa nhận có tình trạng, “đang trong quá trình hoàn tất thủ tục, giấy tờ nhưng một số hộ dân tự phát đã vào xâm chiếm, chặt phá rừng. Khi tiến hành kiểm tra, đoàn đã phát hiện hơn 16 ha rừng bị chặt phá, sẻ đốt ở 8 vị trí khác nhau trong tiểu khu 79 và 61. Trong đó có hộ ông Nguyễn Quảng Quyền chiếm 4ha và ông Phạm Hữu Hào chiếm 7ha là những hộ có diện tích sẻ phát lớn nhất”.
Phó Chủ tịch UBND huyện Vũ Quang khẳng định, “dù diện tích sẻ phát lớn nhưng những hộ dân này chưa hề có giấy tờ gì, cũng như chưa được ai giao rừng. Hiện tại huyện đã lập đoàn vào kiểm tra, các hộ vi phạm sẽ giao cho xã Sơn Thọ vào giải tỏa”. (Đời Sống & Tiêu Dùng 26/12) đầu trang(
Thực hiện các giải pháp bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), năm 2014, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm tham mưu cho UBND huyện phối hợp với công an, quân sự, biên phòng, dân quân tự vệ trong tuần tra, kiểm tra rừng và đấu tranh chống buôn lậu lâm sản; kiện toàn ban chỉ đạo (BCĐ) bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, chủ rừng Nhà nước; tập trung phát dọn thực bì làm giảm vật liệu cháy ở 207 ha khu vực trọng điểm cháy rừng; phối hợp với Ban Dân vận Tỉnh ủy, MTTQ tỉnh thành lập trên 1.400 tổ tuyên truyền thôn, bản về BVR, PCCCR; xây dựng 124 khu dân cư “3 không”; tổ chức 2.697 hội nghị tuyên truyền cho trên 90.000 lượt người dân tham gia; tập trung quản lý cưa xăng, đưa vào 1.311 bản quy ước BVR thôn, bản...
Bên cạnh đó, công tác thực hiện pháp luật bảo vệ và phát triển rừng được chú trọng. Trong năm 2014, lực lượng kiểm lâm tỉnh đã phát hiện, xử lý 812 vụ vi phạm hành chính, tịch thu 473 m3 gỗ các loại; 1.052 kg động vật hoang dã, 14 xe máy, 22 cưa xăng... thu nộp ngân sách Nhà nước trên 15,4 tỷ đồng.
Trong đó, phát hiện, xử lý hành chính 205 vụ có nguồn gốc tỉnh ngoài vận chuyển qua Thanh Hóa, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 10,6 tỷ đồng, chiếm 68,8% số thu toàn lực lượng. (Báo Thanh Hóa 26/12)đầu trang(
Năm 2014, Chi cục Kiểm lâm đã xây dựng và triển khai Phương án nâng cao năng lực và trách nhiệm cho cán bộ kiểm lâm để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Xác định thực hiện Phương án nâng cao năng lực và trách nhiệm cho cán bộ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm, Chi cục Kiểm lâm đã tăng cường chỉ đạo, đôn đốc các hạt kiểm lâm cơ sở triển khai thực hiện. Chi cục thành lập Tổ công tác kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng tại các hạt kiểm lâm; ban hành “Bộ câu hỏi và đáp án về hoạt động của Kiểm lâm”, đồng thời yêu cầu các đơn vị trực thuộc tổ chức cho 100% công chức kiểm lâm nghiên cứu, học tập nội dung bộ câu hỏi.
Sau đó, các đơn vị tổ chức kiểm tra kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của công chức kiểm lâm bám sát nội dung bộ câu hỏi, gửi kết quả về Chi cục Kiểm lâm để có những đánh giá cụ thể nhất.
Chi cục tổ chức cho 140 công chức kiểm lâm viết bài kiểm tra kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ. Trong đó, đối tượng được kiểm tra là trạm trưởng các trạm kiểm lâm, cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật, thanh tra - pháp chế; công chức kiểm lâm phụ trách địa bàn và công chức kiểm lâm đội cơ động. Kết quả, cơ bản các bài kiểm tra đều đạt yêu cầu, giúp cán bộ kiểm lâm nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
Trong thực hiện Phương án, Chi cục Kiểm lâm quan tâm, chú trọng đến việc hướng dẫn cơ sở xây dựng phương án quản lý, bảo vệ rừng; phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện, cấp xã; đồng thời, giúp cơ sở rà soát, xây dựng quy chế phối hợp với các ngành, đơn vị có liên quan trên địa bàn trong thực hiện công tác bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo đó, Chi cục xây dựng đề cương mẫu và chỉ đạo các hạt kiểm lâm tham mưu cho UBND các huyện, thành phố xây dựng phương án bảo vệ rừng, chống chặt, phá rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn. Các công chức kiểm lâm phụ trách địa bàn tham mưu, giúp UBND các xã xây dựng phương án cấp xã bám sát tình hình thực tế, bảo đảm đúng thời gian quy định. Đến nay, các huyện, thành phố đã hoàn thành và ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Chi cục lập sơ đồ tuyến tuần tra chi tiết, trong đó tập trung tại 58 xã có rừng tự nhiên, có nhiều lâm sản quý hiếm thuộc 7 huyện, thành phố. Kết quả, tổng số diện tích bảo vệ rừng hiện có 4.046 khoảnh, trên 425.000 ha đã được giao cho 40 trạm kiểm lâm và 30 chốt bảo vệ rừng để thực hiện việc quản lý và bảo vệ rừng. Qua kiểm tra, đánh giá, công chức kiểm lâm, người lao động hợp đồng tuần rừng đã cơ bản thực hiện việc kiểm tra, tuần tra các khu rừng trong phạm vi được phân công theo đúng số lượt quy định.
Từ đầu năm đến nay, 150 công chức kiểm lâm đã kiểm tra các tuyến tuần rừng được 5.636 lần/210 tuyến; 77 người lao động hợp đồng tuần rừng được 4.333 lần; trạm trưởng các trạm kiểm lâm đã kiểm tra các tuyến tuần rừng được 1.214 lần/210 tuyến…
Kết quả đạt được trong thực hiện Phương án nâng cao năng lực và trách nhiệm cho cán bộ đã góp phần thiết thực cho cán bộ kiểm lâm làm tốt hơn công tác bảo vệ, phát triển rừng. Trong tình hình hiện nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng còn gặp nhiều khó khăn và diễn biến phức tạp do lực lượng kiểm lâm còn mỏng, trang thiết bị phục vụ còn ít, trình độ, nghiệp vụ của một số công chức kiểm lâm còn hạn chế…
Thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Phương án, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ và ý thức trách nhiệm của mỗi công chức trong thực hiện nhiệm vụ được giao. (Báo Tuyên Quang 27/12) đầu trang(
Sau khi báo Kinh tế nông thôn đăng loạt bài phản ánh tình trạng phá rừng Nạ Dệt (thuộc thôn Ba Bàu, xã Hàm Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam), ngày 23/12, UBND tỉnh có Công văn số 4633/UBND-KTN do Phó chủ tịch Huỳnh Thanh Cảnh ký gửi báo cho biết đang yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc xử lý.
Công văn nêu rõ: UBND tỉnh Bình Thuận trân trọng cảm ơn quý báo Kinh tế nông thôn đã phản ánh vụ phá rừng Nà Dệt, qua đó tỉnh có thêm thông tin để xem xét, xử lý. Vụ phá rừng này đang được UBND tỉnh Bình Thuận chỉ đạo cơ quan chức năng của tỉnh khẩn trương kiểm tra, xử lý. Khi có kết quả, UBND tỉnh Bình Thuận sẽ thông tin ngay đến quý báo.
Báo Kinh tế nông thôn hoan nghênh tinh thần vào cuộc xử lý vụ việc báo nêu của UBND tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, trong Công văn số 4633/UBND-KTN, UBND tỉnh Bình Thuận không nêu rõ tỉnh giao cơ quan chức năng nào và mốc thời gian hoàn thành việc kiểm tra, xử lý tình trạng phá rừng Nà Dệt.
Ngoài ra, trong công văn, UBND tỉnh Bình Thuận không nhắc đến số điện thoại bàn 0623821717 gọi điện, dùng những lời lẽ sặc mùi xã hội đen đe dọa phóng viên: “Mày cứ đợi đấy, tao ghi âm hết rồi, chưa biết mèo nào cắn mỉu nào đâu. Mày nên nhớ, 30 chưa phải là Tết đâu. Tao thề không xin được huyết mày tao không phải là người. Mày cứ đợi đấy”.
Điều này khiến bạn đọc nghi ngờ trong việc kiểm tra xử lý còn mập mờ của cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận. Và nhiều bạn đọc nghi vấn: “Vì sao khu rừng thuộc lâm phần quản lý của Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam, cán bộ của xí nghiệp luôn được phân công canh giữ rừng trực 24/24 giờ nhưng thực trạng tàn phá vẫn diễn ra ngang nhiên như chốn “không nhà”. Hay là những người có liên quan có “ô dù”, có người bao che những hành vi sai trái trái với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. (Kinh Tế Nông Thôn 27/12) đầu trang(
Tại tiểu khu 448b, thuộc diện tích rừng tự nhiên và đất lâm nghiệp của Trường Trung học Lâm nghiệp Tây Nguyên (xã Ayun, huyện Mang Yang), Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ (Công an tỉnh) và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức diễn tập công tác chữa cháy rừng đợt II-2014.
Tham gia diễn tập có lực lượng kiểm lâm các huyện: Đak Đoa, Mang Yang, Đak Pơ, Kông Chro, Kbang, thị xã An Khê cùng các Ban Quản lý rừng phòng hộ, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp, Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, 3 Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), cùng lực lượng các xã Ayun, Đak Yă, Đak Jơ Ta (huyện Mang Yang).
Tại buổi diễn tập, tình huống giả định đưa ra là người dân sử dụng lửa bất cẩn để lửa cháy lan vào rừng. Nhận được tin báo, UBND xã Ayun đã huy động các lực lượng chức năng của xã và các xã liền kề đến chữa cháy rừng, đồng thời báo cáo huyện cử lực lượng đến ứng cứu. Do tính chất phức tạp của vụ cháy nên huyện phải báo cáo khẩn cấp để ngành chức năng của tỉnh đến chữa và dập tắt cháy rừng, không để lây lan trên diện rộng.
Đây là đợt diễn tập lần II về công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh với mục đích nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp thẩm quyền và chủ rừng, đồng thời nâng cao khả năng chỉ huy PCCCR các cấp khi có tình huống cháy rừng rừng xảy ra. (Báo Gia Lai 26/12) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn cho biết: Từ đầu năm đến nay, tình hình khai thác, vận chuyển, mua bán và cất giữ lâm sản trái phép trên địa bàn huyện đã giảm so với cùng kỳ năm 2013.
Xác định địa phương là điểm nóng về tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh nên từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát việc khai thác và vận chuyển lâm sản trên địa bàn.
Qua công tác kiểm tra, lực lượng Kiểm lâm đã phát hiện và xử lý gần 70 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 14 vụ với cùng kỳ năm 2013, tịch thu hơn 80m3gỗ các loại và một số tang vật gồm xe máy và cưa xăng, xử phạt và thu nộp ngân sách trên 1 tỷ đồng.
Theo đánh giá của lực lượng Kiểm lâm, mặc dù tình trạng khai thác, tiêu thụ lâm sản trái phép có giảm nhưng mức độ ngày càng tinh vi hơn. Các đối tượng buôn lậu đã sử dụng phương tiện như xe hơi hoặc cơi nới thùng xe để vận chuyển gỗ nên cũng gây không ít khó khăn cho cán bộ kiểm lâm trong quá trình kiểm tra, theo dõi và xử lý. (Đài PTTH Bắc Kạn 26/12) đầu trang(
Huyện Lang Chánh có gần 51.000 ha đất lâm nghiệp (trong đó có hơn 31.000 ha rừng tự nhiên và gần 18.500 ha rừng trồng), chiếm 86% diện tích đất tự nhiên.
Vì vậy, Để khai thác hiệu quả thế mạnh này công tác phối hợp tuyên truyền bảo vệ rừng, PCCCR(Phòng cháy chữa cháy rừng) và về việc vận động nhân dân xây dựng mô hình khu dân cư “3 không”, trên địa bàn được các cấp ủy Đảng, chính quyền hết sức quan tâm.
Thời gian qua công tác phối hợp tuyên truyền bảo vệ rừng, PCCCR và về việc vận động nhân dân xây dựng mô hình khu dan cư “3 không” giữa MTTQ huyện và hạt Kiểm lâm luôn được duy trì và phát triển mạnh, thông qua chương trình phối hợp, đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và các tầng lớp nhân dân về công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng; rừng được bảo vệ tốt hơn, cháy rừng cơ bản được kiểm soát, trên địa bàn huyện không có tụ điểm, điểm nóng về phá rừng, khai thác, buôn bán, vận chuyển, kinh doanh chế biến lâm sản trái phép; các ổ nhóm, đường dây lâm tặc đã cơ bản bị xóa bỏ.
An ninh rừng trên địa bàn huyện nhiều năm liền ổn định, độ che phủ rừng không ngừng tăng lên theo từng năm. Có được kết quả đó, trước hết phải nói đến sự lãnh đạo sát sao của huyện ủy, chỉ đạo, điều hành có hiệu quả của UBND huyện và đặc biệt có sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể và sự đồng thuận của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện, trong đó có vai trò hết sức to lớn của MTTQ các cấp.
Công tác tuyên truyền về quản lý và bảo vệ rừng trong năm qua cũng được các tổ chức đoàn thể tham gia tích cực, dưới sự phối hợp tuyên truyền nhân dân các thôn bản đã tự quả lý, bảo vệ rừng và PCCCR theo nội dung 3 không ở từng khu dân cư, chỉ đạo mặt trận thành viên cơ sở phối hợp với kiểm lâm địa bàn thành lập 90 tổ đội tuyên truyền ở thôn bản với 450 người tham gia, xây dựng quy chế hoạt động, trực tiếp xuống cộng đồng dân cư để tổ chức tuyên truyền, trong năm 2014 đã tổ chức tuyên truyền 97 cuộc với 7050 lượt người tham gia, tổ chức cho trên 800 hộ đăng ký cam kết thực hiện việc tham gia xây dựng khu dân cư 3 không trên tổng số 16 thôn của 10 xã trên địa bàn huyện, phối hợp tham mưa cho cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức rà soát, thông kê đưa vào quả lý số lượng cưa xăng trên địa bàn, kết quả tính đến thời điểm hiện tại đã rà soát, cấp giấy chứng nhận sử dụng cưa với tổng số 217 cái, hướng dẫn cấp giấy đăng ký sử dụng cưa xăng và yêu cầu các chủ hộ ký cam kết không cho mượn, sử dụng cưa vào hoạt động khai thác lâm sản trái phép, trong năm huyện đã trồng được gần 800 ha rừng tập trung, trong đó diện tích trồng mới đạt trên 500ha, đạt 100% kế hoạch tỉnh giao.
Chính quyền các xã đã hoàn tất việc thống kê và quản lý chặt chẽ việc sử dụng gỗ làm nhà của các hộ dân, cương quyết không cho làm nhà khi không xác minh rõ nguồn gốc. Cách làm này, giúp xử lý và ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các trường hợp tích trữ, sử dụng gỗ bất hợp pháp.
Bên cạnh đó, việc kiểm tra, giám sát tại các cơ sở chế biến lâm sản cũng được tăng cường, bảo đảm theo quy định của pháp luật về kinh doanh, chế biến lâm sản. Đây là những hoạt động có ý nghĩa thiết thực trong công tác tuyên truyền vận động và giáo dục đoàn viên, thanh thiếu niên chấp hành tốt các qui định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, tích cực tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng, được các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương đánh giá cao, nhiệt tình ủng hộ.
Song song với công tác bảo vệ rừng, huyện Lang Chánh hết sức chú trọng đến mục tiêu phát triển rừng bền vững nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con. Huyện phấn đấu đến năm 2015, nâng độ che phủ rừng trên địa bàn toàn huyện từ 78,7% lên 85% theo mục tiêu đề ra tại Đại hội Đảng bộ huyện Lang Chánh lần thứ XXI. (Thanhhoa.gov.vn 27/12)đầu trang(
Đóng chân trên địa bàn miền núi rẻo cao huyện Kỳ Sơn (Nghệ An), là một trong 61 huyện nghèo nhất của cả nước nên BQL rừng phòng hộ Kỳ Sơn đã gặp rất nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ và PCCR.
Những năm gần đây đơn vị đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế miền núi với nhiều chính sách, chương trình dự án được đầu tư hỗ trợ đồng bào vùng sâu, vùng xa ngày càng nhiều hơn như: Dự án BV&PTR giai đoạn 2012 - 2020; chương trình 30a… nên đời sống của bà con đồng bào dân tộc được cải thiện. Cùng với đó BQL đã làm tốt công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về bảo vệ và PCCR tới tận từng người dân trên địa bàn huyện.
Bám sát vào tình hình thực tế tại cơ sở, BQL rừng phòng hộ Kỳ Sơn đã đề cao công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được ngành lâm nghiệp cũng như các cấp chính quyền, địa phương trong huyện quan tâm thực hiện.
Từ đầu năm đến nay, đơn vị đã tuyên truyền, họp dân 20/20 xã trên địa bàn, số lượng người dân tham gia trên 5.400 lượt người, nội dung tuyên truyền chủ yếu là các văn bản của nhà nước về công tác QLBVR, PCCCR và tác hại của việc mất rừng đối với con người và môi trường.
Đến nay mỗi thôn, bản trên địa bàn huyện đều đã thành lập tổ phòng cháy chữa cháy rừng tại chỗ, có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tại những khu vực rừng có nguy cơ cháy cao trong mùa nắng nóng nhằm kịp thời phát hiện cháy và xử lý kịp thời.
BQL rừng phòng hộ được giao quản lý trên 76.009,84ha rừng hiện có, trong đó 54.805,44ha rừng phòng hộ và 21.204,4ha rừng sản xuất. Phần lớn diện tích rừng của địa phương này đều ở nơi địa hình phức tạp, hiểm trở nên việc trồng rừng, bảo vệ cũng như huy động các phương tiện, nhân lực chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra rất khó khăn.
Vì vậy, huyện Kỳ Sơn đã tích cực chỉ đạo cán bộ xuống tận thôn bản để động viên và hướng dẫn bà con kỹ thuật, bàn giao hiện trường trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, đồng thời phổ biến các chủ trương chính sách, quy chế pháp lệnh phát triển và bảo vệ rừng của Nhà nước ban hành.
Đồng thời chú trọng công tác PCCCR, đề ra các phương án cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng và PCCCR nhằm giảm thiểu thấp nhất thiệt hại về rừng do cháy rừng gây ra. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền và chủ động xử lý nên trong năm qua đã không để xảy ra vụ cháy rừng.
Ông Cao Văn Quỳnh - Trưởng BQL rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn cho biết: Đơn vị tập trung cao độ, chỉ đạo quyết liệt trong công tác chống chặt phá rừng, khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép. Thực hiện tốt phương châm bảo vệ rừng tại gốc, hạn chế đến mức thấp nhất số vụ, diện tích và lâm sản bị khai thác trái phép...
Để đạt mục tiêu bảo vệ rừng tận gốc, đơn vị đã tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành trên địa bàn như: Hạt kiểm lâm, chính quyền địa phương xã, bản cùng với các tổ chức đoàn thể khác như: Thanh niên, phụ nữ để tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác khoanh nuôi, bảo vệ và PCCCR cho người dân bằng nhiều hình thức như lồng ghép với các cuộc họp thôn, bản, tuyên truyền trực tiếp đến những hộ sống gần rừng… đồng thời, đã xây dựng phương án PCCCR cấp huyện, cấp xã ngay từ đầu năm với phương châm 4 tại chỗ là “lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ” và 4 sẵn sàng là “chỉ huy sẵn sàng, lực lượng sẵn sàng, phương tiện hậu cần sẵn sàng, thông tin liên lạc sẵn sàng”.
Cùng với đó, những diện tích đất rừng phòng hộ đã được BQL ký hợp đồng giao khoán cho các hộ dân để có những chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời bà con các biện pháp phòng chống cháy rừng một cách có hiệu quả.
“Đóng trên địa bàn của huyện biên giới, diện tích rừng và đất rừng được giao quản lý có nhiều xã giáp nước bạn Lào, địa hình lại hiểm trở, trong khi đó lực lượng còn mỏng, chế độ còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của một số nhân viên trong đơn vị. Vì vậy để anh em yên tâm công tác bảo vệ “rừng vàng” thì chúng tôi mong muốn UBND tỉnh hàng năm bổ sung biên chế theo quy định tại Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg cho đơn vị”, ông Quỳnh nêu kiến nghị. (PhuongNam.Net.Vn 26/12) đầu trang(
Thời gian qua, công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền; các sở, ngành, đơn vị chức năng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và triển khai thực hiện kịp thời, quyết liệt các biện pháp bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tuy nhiên, các tháng đầu năm 2014 thời tiết khô hạn gay gắt, kéo dài, ý thức sử dụng và kiểm soát lửa trong sản xuất, sinh hoạt của một bộ phận dân cư gần rừng, trong đó có cả người dân Campuchia sống ven biên giới đốt đồng cỏ cháy lan vào rừng ở một số khu vực giáp biên giới với Campuchia, nhưng do chuẩn bị tốt công tác trực canh phòng, ứng phó chữa cháy kịp thời nên diện tích rừng bị cháy giảm hơn năm trước (giảm 8,75ha), mức độ thiệt hại không lớn.
Mùa khô năm 2014-2015, theo dự báo của các cơ quan Khí tượng - Thủy văn, thời tiết sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ cháy cao, để chủ động tăng cường thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (sau đây viết là PCCCR) và chống phá rừng trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành công văn số 3464/UBND-KTN yêu cầu Giám đốc các sở, ngành, đơn vị có liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố có rừng tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt các nội dung chủ yếu sau đây:
Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 05/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 8915/BNN-TCLN ngày 05/11/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tăng cường công tác bảo vệ rừng và PCCCR.
Chủ động có kế hoạch thực hiện tốt công tác PCCCR và chống phá rừng mùa khô 2014-2015 trên phạm vi toàn tỉnh; trong đó, cần tập trung thực hiện sâu rộng công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi người, nhất là đối với các khu vực dân cư sống gần rừng, ven rừng nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc tham gia PCCCR; ngăn chặn các hành vi phá rừng, trộm cắp lâm sản, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy.
Các cơ quan: Báo Tây Ninh, Đài Phát thành - Truyền hình Tây Ninh, Đài Truyền thanh các huyện, xã có kế hoạch thường xuyên cập nhật, đăng tải, cung cấp thông tin, hình ảnh về bảo vệ rừng; dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở từng khu vực và trên phạm vi toàn tỉnh.
Công an tỉnh, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống ngành mình xây dựng phương án, kế hoạch và các huyện, xã, Ban quản lý rừng và cơ quan Kiểm lâm thực hiện tốt các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện tham gia chữa cháy rừng và chống phá rừng.
Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp các đơn vị quản lý rừng, Chi cục Kiểm lâm thực hiện ngay các biện đôn đốc các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình nhận khoán trồng rừng, bảo vệ rừng khẩn trương hoàn thành việc chăm sóc bảo vệ, PCCCR.
Rà soát, hoàn thiện ngay các phương án, kế hoạch phối hợp PCCCR và chống phá rừng trên từng địa bàn cơ sở, nhất là các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng và phá rừng cao. Tổ chức một số điểm tập huấn, diễn tập để rút kinh nghiệm, nâng cao khả năng phối hợp, xử lý tình huống giữa các lực lượng tại chỗ, sẵn sàng ứng cứu kịp thời khi xảy ra cháy rừng. Xây dựng, thi công các công trình PCCCR, mua sắm bổ sung các trang thiết bị cần thiết đáp ứng yêu cầu cho công tác PCCCR.
Tổ chức lực lượng trực, tuần tra canh phòng 24/24 giờ mỗi ngày trong suốt mùa khô. Kết hợp tuần tra canh phòng PCCCR với ngăn chặn, xử lý các hành vi phá rừng, trộm cắp lâm sản, lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp trái pháp luật.
Chi cục Kiểm lâm tham mưu, giúp thường trực Ban chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chủ động tổ chức kiểm tra định kỳ và đột xuất việc thực hiện phương án, kế hoạch PCCCR, chống phá rừng tại các huyện, xã có rừng và các đơn vị được giao quản lý rừng.
Tổ chức trực 24/24 giờ trong ngày tại trụ sở cơ quan Chi cục Kiểm lâm và các Hạt Kiểm lâm trong suốt thời gian cao điểm mùa khô để tiếp nhận và xử lý thông tin về PCCCR và chống phá rừng; thường xuyên cung cấp thông tin về cảnh báo nguy cơ cháy rừng đến các địa phương có rừng, các đơn vị chủ rừng để chủ động bố trí lực lượng, phương tiện tuần tra canh phòng, sẵn sàng huy động lực lượng chữa cháy kịp thời, tại chỗ, không để xảy ra cháy lan, cháy lớn trên diện rộng.
Chủ tịch UBND các huyện, thành phố phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện, thành phố và các đơn vị quản lý rừng rà soát, xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng thật cụ thể, sát với tình hình thực tế trên từng khu vực, đảm bảo phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời mọi hành vi xâm hại đến rừng; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện ứng cứu khi xảy ra cháy rừng.
Nơi nào thiếu chỉ đạo kiểm tra để xảy ra cháy rừng, phá rừng thì Chủ tịch UBND huyện, thành phố, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn và đơn vị được giao quản lý rừng nơi đó phải chịu trách nhiệm trước cấp trên theo quy định pháp luật.
Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo nhanh và báo cáo định kỳ về PCCCR và chống phá rừng theo hệ thống từ các đơn vị cơ sở đến các huyện, thành phố về cơ quan thường trực Ban chỉ đạo của tỉnh (Sở Nông nghiệp và PTNT), để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh, Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Ban chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giúp Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các nội dung chỉ đạo nêu trên; đồng thời đề xuất củng cố, kiện toàn lại Ban chỉ đạo và Tổ chuyên viên giúp việc đảm bảo hoạt động có hiệu quả. (Tayninh.gov.vn 26/12) đầu trang(
Được sự hỗ trỡ của Dự án CRSD. Vừa qua tại khách sạn Mường Thanh - huyện Diễn Châu. Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức hội thảo đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi biển ven bờ Nghệ an; đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển.
Tham dự buổi hội thảo có Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm chủ trì hội nghị, Lãnh đạo Sở khoa học công nghệ, lãnh đạo chi cục Nuôi trồng thủy sản, Lãnh đạo Trung tâm khuyến nông, Trung tâm giống thủy sản, Lãnh đạo trường đại học Vinh. Về phía huyện có Lãnh đạo UBND huyện, Đại diện phòng nông nghiệp huyện và các Trạm khuyến nông, cán bộ xã vùng ven biển.
Để đánh giá đúng mức độ đa dạng sinh học vùng biển ven bờ tại Nghệ An, đặc điểm phân bố động thục vật và mức độ, nguyên nhân suy giảm, giúp cơ quan quản lý có thêm cơ sở ban hành các chính sách phù hợp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các nguồn lợi ven biển của tỉnh. Trong 2 năm 2013 và 2014 Trung tâm thực hành - Thí nghiệm Trường Đại học Vinh đã nghiên cứu đề tài "đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi biển ven bờ Nghệ an; đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển".
Thời gian thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 11/2014 kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy về đa dạng loài với hệ động vật đã thu 1500 mẫu, phân tích được 8 ngành có 52 bộ, 152 họ và 431 loài trong đó có 114 loài có giá trị kinh tế ( 70 loài cá, 28 loài động vật thân mềm, 16 loài giáp xác); xách định được 24 loài động vật có nguy cơ bị đe dọa. Đối với hệ thực vật thu 290 mẫu phân tích được 3 ngành với 27 bộ; 47 họ với 251 loài trong đó 9 loài rong có giá trị kinh tế; 2 loài thực vật có nguy cơ bị đe dọa.
Các loài quý hiếm có giá trị kinh tế đã xách định danh mục các loài thủy sinh vật gồm 123 loài, trong đó có 70 loài cá, 16 loài giáp xác, 28 loài động vật thân mềm, 9 loài rong; có 24 loài động vật và 2 loài thực vật có nguy cơ bị đe dọa và được liệt kê vào sách đỏ Việt Nam cần bảo vệ.
Bên cạnh đó, các vùng đa dạng xác định được 2 vùng có độ đa dạng nguồn lợi sinh học cao của sông Lam với 32 loài có giá trị kinh tế cao chiếm 26.02% và vịnh Diễn Châu có 25.20%. Hai vùng được bảo vệ là do có số loài nguy cơ bị đe dọa vịnh Diễn Châu 14 loài nguy cơ chiếm 53.85%, cửa sông Lam 9 loài chiếm 34.62%.
Qua buổi hội thảo cũng đã được nhiều đại biểu thống nhất cao các giải pháp bảo tồn sinh vật cảnh; đặc biệt có nguy cơ tuyệt chủng. Ngoài ra cần thực hiện tốt vấn đề quản lý và khai thác tài nguyên đa dạng sinh học vùng ven biển, nâng cao năng lực quản lý cho các cấp quản lý cấp huyện và xã...đồng thời xây dụng các cơ chế chính sách phù hợp với tình hình từng địa phương, gắn liền với phát triển kinh tế về bảo vệ đa dạng sinh học. (Khuyennongnghean.com.vn 26/12)đầu trang(
UBND huyện Yên Dũng tổ chức Hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2014, triển khai nhiệm vụ năm 2015; sơ kết công tác xây dựng mô hình “Dân vận khéo” trong vận động nhân dân tham gia PCCCR.
Hiện nay, trên địa bàn huyện Yên Dũng có 1.679 ha rừng; diện tích từng có nguy cơ cháy cao là trên 1.400 ha, toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã được giao cho các tổ chức, hộ gia đình quản lý.
Xác định công tác PCCCR là một nhiệm vụ trọng tâm của địa phương nên UBND huyện đã chỉ đạo quyết liệt các biện pháp về PCCCR trên địa bàn; thực hiện đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền và tập huấn nghiệp vụ PCCCR; xây dựng và duy trì hoạt động hiệu quả mô hình “Dân vận khéo” trong công tác vận động nhân dân tham gia PCCCR; quan tâm đầu tư các phương tiện, máy móc, trang thiết bị và dụng cụ PCCCR; đẩy mạnh thực hiện các công trình phòng cháy như đường băng cản lửa, các biển báo cấp dự báo cháy rừng, biển cấm lửa, biển nội quy bảo vệ rừng…
Do thực hiện đồng bộ các giải pháp PCCCR, năm 2014 số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy đều giảm so năm 2013. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện xảy ra 4 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 7 ha rừng. Các lực lượng tham gia chữa cháy đều tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao, hạn chế thiệt hại do cháy rừng.
Tại Hội nghị, 2 huyện Yên Dũng, Việt Yên và thành Phố Bắc Giang đã ký quy chế phối hợp thực hiện công tác PCCCR trên dãy núi Nham Biền nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng và PCCCR. (Bacgiang.gov.vn 26/12) đầu trang(
Trong những năm qua, tỉnh Gia Lai đã thực hiện nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng; nâng cao độ che phủ rừng lên 53% và giữ ổn định độ che phủ trong những năm tiếp theo, góp phần đảm bảo môi trường sinh thái, giảm nhẹ hậu quả thiên tai, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 900.000 ha rừng và đất rừng, trong đó có 58.000ha rừng đặc dụng, 154.000 ha rừng phòng hộ và hơn 650.000ha rừng sản xuất. (Tin Tức 29/12, tr9) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, năm 2014, toàn tỉnh đã xảy ra 57 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 414,24 ha rừng, so với năm 2013, số vụ cháy tăng 50 vụ, diện tích tăng 407,368 ha.
Trong đó, địa bàn TP Quy Nhơn xảy ra 13 vụ cháy, thiệt hại gần 80,53 ha, trong đó rừng phòng hộ gần 69 ha; huyện Phù Cát xảy ra 12 vụ cháy, thiệt hại 121,55 ha; huyện Tây Sơn 10 vụ, diện tích thiệt hại 67,44 ha; huyện Tuy Phước xảy ra 8 vụ, diện tích thiệt hại trên 22 ha… Nguyên nhân gây cháy rừng là do người dân thiếu kiến thức, ý thức bảo vệ, phòng, chống cháy rừng.
Cũng từ đầu năm đến nay, các hạt kiểm lâm, đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng đã xử lý hành chính 598 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ, phòng chống cháy rừng, tịch thu trên 345,5 m3 gỗ các loại. (Báo Bình Định 27/12) đầu trang(
Ngày 27/12, lãnh đạo Đội Kiểm soát Hải quan Hải Phòng cho biết, đơn vị đang tạm giữ gần 4 tấn cây giống thông đỏ để điều tra, làm rõ vụ việc nhằm đưa ra các biện pháp xử lý tiếp theo.
Đây là lô hàng vi phạm được vận chuyển từ Hàn Quốc về cảng Đình Vũ ngày 3/12/2014.Doanh nghiệp nhận hàng trên vận đơn là Công ty Duy Tùng, địa chỉ tại TP Móng Cái (Quảng Ninh).
Tuy nhiên khi làm việc với cơ quan chức năng, phía đại diện Công ty Duy Tùng từ chối nhận hàng. Đồng thời lô hàng cũng không có giấy tờ hợp pháp.Theo giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, trực thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, lô cây giống trên thuộc họ thanh tùng. Giống cây này nằm trong danh mục những loài động vật, thực vật hoang dã hiện chưa bị đe doạ tuyệt chủng, nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng.
Sau khi kiểm tra mẫu vật do lực lượng Hải quan thu giữ, đại diện Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng) cho biết, đây là giống thông đỏ, loài cây rất quý hiếm. Hiện nay, trên cả nước chỉ có khoảng 40 cây thông đỏ có đường kính từ 25cm đến 30cm, được trồng ở Lâm Đồng. Để cây thông đỏ đạt được đường kính như vậy (khoảng 30cm) phải mất khoảng 100 năm.
Hiện, Hải quan Hải Phòng phối hợp với các lực lượng chức năng đang điều tra, làm rõ vụ việc. (Đời Sống & Pháp Luật 27/12) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp, năm 2014, toàn tỉnh bảo vệ 127.237 ha rừng, đạt 94%; trong đó, 92.258/93.184 ha rừng cung cấp dịch vụ môi trường, 34.979/41.221 ha rừng bảo vệ.
Toàn tỉnh có 7.888/10.980 ha rừng khoanh nuôi tái sinh, đạt 74%; 385/642 ha rừng chăm sóc, đạt 60%; 2.125,3/2.083 ha rừng trồng, đạt 102%.
Trong 2.125,3 ha rừng trồng, có: 333 ha/480 ha rừng trồng phòng hộ; 800,6 ha/778 ha rừng trồng sản xuất gia đình; 154,3/825 ha rừng trồng sản xuất của doanh nghiệp, hợp tác xã; 837,4 ha rừng trồng cây phân tán và các chương trình khác. (Báo Cao Bằng 28/12) đầu trang(
Năm 2014, ngành lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn do tình hình kinh tế suy thoái, nguồn vốn hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) giảm so với những năm trước...
Tuy nhiên, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, đến nay, kế hoạch BV&PTR trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt, một số chỉ tiêu hoàn thành vượt mức kế hoạch tỉnh giao.
Trong năm, toàn tỉnh đã trồng được hơn 4 triệu cây phân tán các loại và 11.250 ha rừng tập trung, vượt 3,6% kế hoạch được giao. Việc phối hợp với các ngành, cơ quan liên quan cùng người dân được thực hiện khá tốt nên công tác quản lý, bảo vệ vốn rừng thực hiện một cách hiệu quả, an ninh rừng tiếp tục giữ vững.
Theo đó, tài nguyên rừng phục hồi nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, tác dụng phòng hộ của rừng ngày càng được nâng cao, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm...
Công tác khai thác rừng được chuyển từ khai thác rừng tự nhiên sang khai thác rừng trồng. Năm qua, số gỗ rừng trồng được khai thác đạt khoảng 300.000 m3, 25 triệu cây luồng và 60.000 tấn nứa cũng đã được khai thác. Toàn tỉnh hiện có 168 cơ sở chế biến lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.
Nhiều doanh nghiệp trong số đó đã đầu tư công nghệ tiên tiến, quy mô và công suất khá lớn, như: Nhà máy Chế biến gỗ MDF Thành Nam, công suất 120.000 m3 gỗ/năm, HTX sản xuất gỗ công nghiệp Minh Quang, công suất 10.000 m3 sản phẩm/nămđều trên địa bàn huyện Như Xuân... Các cơ sở chế biến đã giải quyết được đầu ra cho gỗ, luồng trồng, nâng cao giá trị kinh tế cho người trồng rừng, đồng thời tạo động lực để người dân tự giác và hào hứng hơn trong việc tham gia trồng và bảo vệ rừng.
Nhằm từng bước chuyển đổi mô hình phát triển lâm nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế rừng, trong năm, Chi cục Lâm nghiệp đã tham mưuđể Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức chuyển thành công hàng trăm ha rừng nguyên liệu gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn.
Thực tế cho thấy, sau một thời gian chuyển đổi, tăng trưởng của rừng tăng lên rõ rệt, giá trị kinh tế dự kiến sẽ tăng khoảng 2,5 lần so với kinh doanh gỗ nhỏ. Các huyện trọng điểm luồng của tỉnh đều vào cuộc để cùng ngành nông nghiệp phục tráng rừng luồng, tạo tiền đề để áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng rừng luồng. Ngành cũng đang trình UBND tỉnh ban hành chính sách khuyến khích phát triển vùng thâm canh luồng tập trung tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015 - 2020.
Nét mới trong công tác bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn tỉnh phải kể đến thành công ban đầu trong việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Năm 2014, ngành lâm nghiệp đã triển khai thu được 9,6 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, tạo ra nguồn tài chính bền vững cho hoạt động BV&PTR, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống của người làm nghề rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó khuyến khích được người dân chung tay cùng ngành chức năng BV&PTR.
Trong công tác tuyên truyền, cũng đã làm chuyển biến tư duy của đồng bào dân tộc miền núi trong việc BV&PTR. Điển hình nhất phải kể đến việc đồng bào dân tộc Mông, huyện Mường Lát động viên nhau trồng hàng trăm ha rừng xoan, lát...
Tại huyện Thường Xuân, diện tích trồng quế đang được mở rộng nhờ có những quy hoạch cụ thể. Đây là tín hiệu vui cho vùng quế Châu Thường nổi tiếng bởi nhiều năm gần đây, sản phẩm vỏ quế không tìm được đầu ra, cây trồng đặc sản của vùng bị chặt bỏ nhiều. Nay, cây quế Thường Xuân được phát triển theo mộtđề án cụ thể, cơ bản có thị trường đầu ra và tận dụng hết phụ phẩm sau khai thác: lá quế được dùng ép dầu, rễ quế sẽ được ngâm rượu bán ra thị trường, thân quế sẽ được dùng để sản xuất gỗ ép...
Có dịp đi dọc các huyện miền núi của tỉnh thời gian này, ai cũng nhận ra màu xanh ngút ngàn của những cánh rừng phủ kín nhiều diện tích đất trống, đồi trọc những năm trước. Rừng càng thêm xanh, khí hậu được điều hòa, nguồn nước ngầm được điều tiết phù hợp, tình trạng sạt lở, lũ lụt theo đó cũng ít “hung dữ” hơn...Đời sống người dân miền núi nói chung, người trồng rừng trên địa bàn tỉnh càng thêm hy vọng về những đổi thay tích cực. (Báo Thanh Hóa 28/12) đầu trang(
Nhằm góp phần vào việc bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn công ty Pearloil (Tephrite) LTD cùng với Ban quản lý rừng Phòng hộ hợp đồng thực hiện việc bảo tồn giống Kỳ Đà nước ở Cần Giờ.
Tại Khu du lịch sinh thái Dần Xây đã diễn ra buổi lễ khánh thành khu nuôi dưỡng Kỳ Đà nước, đây là một trong những chuỗi hoạt động của hợp đồng được ký kết. Đến tham dự buổi lễ có Ông Hugh Sykes đại diện từ công ty Pearloil (Tephrite) LTD và ông Cát Văn Thành – Phó Trưởng Ban Quản lý rừng Phòng hộ.
Trong buổi lễ, Ông Cát Văn Thành phát biểu chúc mừng và gởi lời cám ơn chân thành đến công ty Pearloil (Tephrite) LTD và khẳng định sự hợp tác này là hành động mang ý nghĩa về môi trường, nó góp phần cân bằng hệ sinh thái cho khu rừng ngập mặn, làm cho rừng ngập mặn không chỉ là nơi đẹp về cảnh quan mà còn là nơi đa dạng, phong phú về thành phần loài; và cũng là nơi thích hợp để bảo tồn các loài thực vật và động vật hoang dã.
Hy vọng công tác bảo tồn mang tính khoa học, loài Kỳ Đà nước sẽ phát triển tốt trên mảnh đất Cần Giờ này, mang lại giá trị cao về môi trường sinh thái tự nhiên. (UBND Huyện Cần Giờ 27/12) đầu trang(
Ngày 27/12, ông Hồ Cảnh Minh, trưởng Ban quản lý rừng Lán Tranh, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) cho biết, đang đề nghị kỷ luật, buộc thôi việc đối với ông Nguyễn Ngọc Bắc vì đã để xảy ra phá rừng trong thời gian dài.
Hiện hồ sơ của vụ phá rừng quy mô lớn xảy ra tại tiểu khu 286A, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà này cũng đã được Hạt kiểm lâm huyện Lâm Hà chuyển sang cho cơ quan cảnh sát điều tra củng cố xem xét khởi tố để điều tra.
Trước đó, các cơ quan chức năng phát hiện ở tiểu khu 286A, một lượng lớn cây rừng đã bị triệt hạ, phân thành nhiều khúc bỏ nằm ngổn ngang. Nhiều cây gỗ xá xị gốc to bằng cả một người ôm không hết bị “lâm tặc” đốn hạ, đào luôn cả gốc, trong số này có những gốc xá xị đã được đục đẽo, cưa xẻ thành những bộ bàn ghế ngay tại hiện trường.
Các cơ quan chức năng huyện Lâm Hà đã vào cuộc xác minh, thu giữ hơn 20m3 gỗ tại hiện trường. ước tính có hàng chục mét khối gỗ khác đã bị “lâm tặc” vận chuyển ra khỏi hiện trường. (Công An Nhân Dân 28/12, tr2)đầu trang(
Rừng phòng hộ Cần Giờ có tổng diện tích 35.286,53 ha được chia ra 24 Tiểu khu và 2 khu vực là An Hòa, An Phước.
Trong những năm qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ đã tổ chức giao khoán bảo vệ tài nguyên rừng cho 141 hộ gia đình, 14 tổ chức đóng trên địa bàn cùng với lực lượng tại chỗ của 06 Phân khu và 01 Đội Cơ động – Bảo vệ rừng.
Công tác giao khoán bảo vệ tài nguyên rừng cùng với việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ rừng, nhà chốt đều khắp trên toàn địa bàn và tập trung tại các khu vực trọng điểm, xung yếu.
Trong năm 2014 đã kéo giảm số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng so với năm 2013 là 52,5% (năm 2013: 40 vụ, năm 2014: 19 vụ). Nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, ngày 24 tháng 12 năm 2014 Ban Quản lý rừng phòng hộ đã tổ chức bàn giao ranh giới diện tích, diện trạng rừng và đất lâm nghiệp cho đơn vị Công an Huyện tại khoảnh 7 tiểu khu 24 – rừng phòng hộ Cần Giờ với tổng diện tích 275,79 ha.
Tính đến thời điểm hiện nay, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ đã giao khoán bảo vệ rừng cho 15 tổ chức, đơn vị. Hy vọng trong thời gian tới các đơn vị nhận khoán sẽ phối hợp tốt với Ban Quản lý rừng phòng hộ tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra, bảo vệ rừng, ANTT trên toàn địa bàn quản lý, nhằm kéo giảm số vụ vi phạm hơn nữa. (UBND Huyện Cần Giờ 27/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt “Đề án điều chỉnh diện tích Vườn Quốc gia Ba Vì tại tỉnh Hòa Bình”. Theo đó, điều chỉnh 1.114,46ha Vườn Quốc gia Ba Vì về tỉnh Hòa Bình quản lý. Diện tích này thuộc huyện Kỳ Sơn, bao gồm 2 xã: Xã Yên Quang 781,56ha; xã Phú Minh: 332,9ha.
Tổng diện tích của Vườn Quốc gia Ba Vì là 10.814,6ha thuộc địa giới hành chính của 16 xã thuộc 3 huyện của TP Hà Nội và 2 huyện của tỉnh Hòa Bình. Sau khi điều chỉnh, diện tích Vườn Quốc gia Ba Vì thuộc địa giới hành chính tỉnh Hòa Bình là 2.535,95ha.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải bàn giao rừng và đất lâm nghiệp nguyên trạng, bảo đảm nguyên canh, không xáo trộn các chủ hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Các công trình đã đầu tư của Vườn Quốc gia Ba Vì bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước được bàn giao cho UBND tỉnh Hòa Bình tiếp tục quản lý sử dụng... (Quân Đội Nhân Dân 28/12)đầu trang(
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát vừa ra chỉ thị về việc phát động Tết trồng cây nhớ ơn Bác Hồ nhân dịp xuân Ất Mùi 2015.
Bộ NN&PTNT yêu cầu các địa phương lồng ghép và gắn kết việc trồng cây với kế hoạch thực hiện các dự án trồng rừng và đặc biệt là dự án trồng rừng thay thế đối với các dự án đã chuyển đổi rừng sang mục đích sử dụng khác.
Tại miền Bắc, phong trào trồng cây sẽ diễn ra vào dịp xuân mới còn tại miền Nam bắt đầu trồng vào dịp sinh nhật Bác 19/5.
Thời gian tới, Tổng Cục Lâm nghiệp sẽ thực hiện rà soát quy hoạch 3 loại rừng (tự nhiên, phòng hộ, đặc dụng). Yêu cầu đặt ra là sẽ duy trì hợp lý diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng, phát triển rừng nguyên liệu tập trung và khai thác một cách có hiệu quả, bền vững; tiếp tục tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng rừng kinh tế, trồng rừng gỗ lớn được cấp chứng chỉ phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Ước tính trong năm2014 diện tích rừng trồng mới tập trung đạt gần 212 ngàn ha, giảm 6,8%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 50 triệu cây, giảm 25,3 triệu cây. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,5%. (Chính Phủ 28/12) đầu trang(
Theo kết quả nghiên cứu hiệu quả các chính sách giao đất, giao rừng (GĐGR) đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) do Ủy ban Dân tộc và Hội đồng Dân tộc Quốc hội thực hiện tại 6 điểm: xã Thọ Xuân, Như Thanh (Thanh Hóa); xã Thượng Lộ, Nam Đông (Thừa Thiên- Huế); xã Xuân Dài, Tân Sơn (Phú Thọ); xã Ba Cung, Ba Tơ (Quảng Ngãi); xã Gung Ré, Di Linh (Lâm Đồng); xã Phan Dũng, Tuy Phong (Bình Thuận) cho thấy, hầu hết các hộ DTTS khi được hỏi biết đến chính sách GĐGR thì có phân biệt được các hình thức GĐGR và các nghĩa vụ, quyền lợi cơ bản.
Tuy nhiên, họ chưa hiểu rõ nghĩa vụ, quyền lợi, cơ chế hưởng lợi và các chính sách hỗ trợ GĐGR có thể được hưởng. Đặc biệt, người dân không có nhiều thông tin về nguồn quỹ đất hiện có. Đáng chú ý, các chính sách về quyền hưởng lợi của chủ rừng quy định nhiều, nhưng với chu kỳ dài và quy mô manh mún, nhỏ lẻ thì thực tế mức độ hưởng lợi rất ít. Ngoài ra, các thủ tục, cách tính nội dung và mức độ hưởng lợi phức tạp, thiếu chế tài và năng lực thực thi, khiến hộ gia đình và các cấp quản lý khó thực hiện.
Theo TS Đặng Kim Sơn, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: Khảo sát tại một số xã ở Thanh Hóa, Phú Thọ, Thừa Thiên - Huế, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Bình Thuận...cho thấy, người dân đều chưa được hưởng lợi nhiều từ rừng.
Nguyên nhân do đất, rừng giao chủ yếu xấu nên ít nguồn lợi; thời gian trồng rừng để có thể hưởng lợi từ rừng lâu; việc xác định nội dung, tính toán mức hưởng lợi phức tạp, thiếu chế tài đánh giá, đặc biệt thiếu sự giám sát của người dân. Cũng theo TS Đặng Kim Sơn, tiền khoán hiện nay là 200.000 đồng/ha/năm, nếu có chi trả dịch vụ môi trường thì 350.000 đồng trong khi đó phần lớn DTTS có diện tích GĐGR ít, chỉ 2-3ha. Với mức tiền khoán như vậy, đóng góp cho thu nhập của hộ gia đình là không đáng kể.
Thực tế, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chủ động thực hiện hầu hết các công đoạn đầu tư trồng rừng, chăm sóc tiêu thụ sản phẩm, nhưng cơ chế phân chia sản phẩm chưa tương xứng với đóng góp, dịch vụ cung cấp cho bên nhận khoán, trong khi đó Ban Quản lý rừng lạm thu phí.
Điển hình như 30 hộ đồng bào Dao Tiền khi tái định cư từ vùng lõi Vườn Quốc gia Xuân Sơn được phổ biến mỗi hộ sẽ được trợ cấp 50 triệu đồng khi di dời, nhưng đến khi triển khai thì chỉ được trợ cấp mỗi hộ 5 triệu đồng; tại Như Thanh- Thanh Hóa, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sim thu 600.000 đồng/năm/ha trồng rừng keo, 400.000 đồng/ha trồng rừng luồng, ngoài ra khi người dân muốn trồng keo, luồng trên các diện tích rừng khoán phải nộp cho Ban quản lý một khoản tiền từ 2- 4 triệu đồng/ha.
Đảm bảo sinh kế cho đồng bào DTTS là mục đích mà chính sách GĐGR hướng tới. Tuy nhiên sau 20 năm triển khai chính sách GĐGR, tỷ lệ nghèo của đồng bào DTTS vẫn chiếm gần 60%, có một số dân tộc lên đến 90%. Đồng bào từ trước đến nay vẫn sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp với tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm trên 90% và thu nhập từ nông nghiệp chiếm khoảng 65%, trong khi đó thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 8,5%. Như vậy, nếu xét về mục tiêu ban đầu thì chính sách GĐGR đã không như mong muốn.
Ông Danh Út- Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cho rằng, các chính sách về GĐGR cần thay đổi nhận thức, nhất là về hiệu quả sinh kế của chính sách này đối với đồng bào DTTS. Trong đó, các chính sách đưa ra phải phù hợp với đặc tính kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường, năng lực và trình độ phát triển của từng nhóm DTTS. (Đại Đoàn Kết 27/12, tr10) đầu trang(
Từ bao đời nay, người dân xã miền núi Khánh Thượng, huyện Ba Vì sống dựa lưng vào dãy núi Tản hùng vĩ, chăm chỉ tìm kế sinh nhai.
Thế nhưng, thu nhập từ những rừng keo, bạch đàn hay những vạt dong riềng rộng lớn của bà con nơi đây còn thấp và thiếu bền vững. Bởi vậy, Đề án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái mới được triển khai thí điểm trên địa bàn xã được mong chờ là hướng đi mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.
Khánh Thượng là xã miền núi xa nhất của Thủ đô nằm bên dòng sông Đà. Đây chính là ngã ba tiếp giáp giữa Hà Nội, Hòa Bình và Phú Thọ (phía Đông Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Tây cách con sông Đà là tỉnh Phú Thọ). Do địa hình hiểm trở nên giao thông đi lại là trở ngại lớn đối với hoạt động sản xuất của bà con nơi đây. Vì vậy, việc vận chuyển nông sản ra thị trấn huyện, hay trung tâm TP bán là cả một vấn đề nan giải.
Ấy nhưng, bù lại, những ngọn núi, vạt đồi của Khánh Thượng được thiên nhiên ưu đãi ban cho lớp đất màu mỡ, tơi xốp nên rất thuận lợi cho việc trồng cây gây rừng. Lâu nay, trên những vạt rừng xanh ngút ngàn ấy, người dân chỉ quen với hình ảnh những cây keo khẳng khiu, chen chúc bên những khóm tre, trúc và cây dại. Giờ đây, trước thềm năm mới gõ cửa, trên một số ngọn đồi, ngoài cây keo, cây chè, đã bắt đầu thấy những mầm xanh của cây gỗ lát, cây sấu hay mít siêu quả.
Trong làn gió hanh hao và hơi lạnh của núi rừng khi vừa qua tiết Đông chí, khu vườn rừng của gia đình ông Nguyễn Chí Thanh, thôn Gò Đá Chẹ, xã Khánh Thượng ngổn ngang nhiều hố đất nâu mới trồng những cây trám, cây sấu cao chừng 40 - 80cm vừa nhú lộc xanh.
Đi thăm khu vườn đồi rộng hơn 5ha của gia đình, ông Thanh không giấu nổi sự hào hứng và kỳ vọng vào dự án chuyển đổi trồng rừng sinh thái mà ông là một trong những hộ tiên phong của xã mạnh dạn triển khai. Ông Thanh cho biết, trước đây, gia đình chỉ trồng keo lấy gỗ kết hợp với trồng chè. So với các loại cây màu khác, cây keo không đòi hỏi đầu tư nhiều vì rất dễ sống, nguồn cây giống dồi dào, song hiệu quả kinh tế đạt thấp, chỉ khoảng 60 triệu đồng/ha.
Trong khi đó, từ lúc trồng đến khi thu hoạch, vòng đời của cây keo cần ít nhất tới 6 - 7 năm, có nơi lên 9 - 10 năm. Chuyển đổi sang trồng rừng sinh thái, với sự hỗ trợ của Sở NN&PTNT Hà Nội, ông Thanh đã bắt tay vào trồng các loại cây gỗ lát, trám đen xen canh với nhóm cây ăn quả như mít, ổi, xoài… "Việc trồng cây ăn quả xen canh dưới tán rừng, khi thu hoạch trái xong vẫn còn cây nên đảm bảo môi trường sinh thái" - ông Thanh cho biết.
Cách nhà ông Nguyễn Chí Thanh chừng 500m, ngọn đồi của gia đình anh Đinh Ngọc Hoàng bắt đầu thấy sự xuất hiện của các cây gỗ lát và những khóm mây nếp mới được trồng vừa bén rễ lên xanh xen lẫn những cây keo chừng hơn 2 tuổi.
Anh Hoàng cho biết, trước đây diện tích đồi rừng gần 2ha của gia đình chủ yếu là trồng sắn, dong riềng và khoảng 2 - 3 năm trở lại đây, anh mới bắt tay vào trồng keo. Tuy nhiên, với kinh nghiệm làm thực tế và qua khảo sát tại địa phương, anh nhận thấy hiệu quả kinh tế của cây keo khá hạn chế, lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ cháy rừng trong mùa khô.
Bởi vậy, với khát khao tìm hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất lâm nghiệp, anh Hoàng đã đăng ký tham gia dự án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái. Trong đó phần trên đỉnh đồi, anh trồng cây gỗ lát, dần xuống dưới thấp hơn là các loại cây ăn quả.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý". Chính vì vậy, để khai thác những mỏ vàng ấy, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất rừng sản xuất là rất cần thiết và Đề án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái được người dân tin tưởng, kỳ vọng sẽ là hướng đi khai phá được những "mỏ vàng" tiềm năng trên dãy núi Ba Vì này.
Nằm ở sườn Tây núi Ba Vì, cách trung tâm huyện trên 35km, trung tâm TP Hà Nội 82km, Khánh Thượng có diện tích đất tự nhiên khoảng 28km2. Xã có dân số gần 2.000 hộ với trên 8.000 nhân khẩu được phân bố trên địa bàn khá rộng của 13 thôn, làng. Xã miền núi này là nơi sinh sống của 3 dân tộc anh em gồm Kinh, Mường, Dao, trong đó dân tộc Mường chiếm 62% toàn xã.
Thời gian qua, được sự hỗ trợ của UBND TP Hà Nội với Kế hoạch 166 về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc miền núi Thủ đô giai đoạn 2013 - 2015, rồi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hay Chương trình 135, đời sống của bà con nông dân nơi đây đã có nhiều chuyển biến.
Hệ thống điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng, nâng cấp ngày càng khang trang hơn. Trẻ em các thôn bản được cắp sách đến trường trong niềm vui rộn ràng khi có lớp học rộng rãi, sạch sẽ. Người dân khi ốm đau đã có trạm y tế được trang bị khá đủ đầy.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Trường - Chủ tịch UBND xã Khánh Thượng, vấn đề đáng quan tâm nhất là phát triển sản xuất ở địa phương chưa mạnh. Dù là xã thuần nông, song các mô hình sản xuất mang lại thu nhập cao trên địa bàn lại chưa nhiều, phần lớn người dân có thu nhập từ trồng rừng.
Ông Trường cho biết thêm, dù trồng keo, bạch đàn thu nhập không cao nhưng cũng là nguồn thu quan trọng đối với người dân ở xã vùng núi này. Bởi vậy, nếu dự án chuyển đổi thí điểm từ trồng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái mang lại hiệu quả cao sẽ mở ra hướng đi mới cho bà con nông dân.
Xã Khánh Thượng có 3 hộ tham gia Đề án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái. Tham gia dự án, người nông dân được hỗ trợ 100% cây giống, 50% phân bón. Theo đơn vị cung cấp giống, các giống cây ăn quả được hỗ trợ cho bà con đều là giống cây ghép nên thời gian đậu quả sớm.
Phía đơn vị này sẽ phối hợp với các đơn vị chuyên môn của Sở NN&PTNT, huyện, xã tổ chức hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra việc đào hố, trồng cây và nghiệm thu dự án. Đến khi nghiệm thu xong, đơn vị cung cấp cây giống tiếp tục duy trì chế độ "bảo hành" cho cây và theo sát bà con nông dân đến khi mô hình thành công.
Bà Mai Minh Hương - Phó Trưởng Phòng trồng trọt (Sở NN&PTNT) cho biết, bắt tay vào triển khai đề án, Sở đã thường xuyên thông tin tuyên truyền, hướng dẫn chính quyền địa phương và người dân về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi khi tham gia. Đồng thời lập kế hoạch điều tra cụ thể tại từng địa phương để áp dụng vào thực tế.
Sở NN&PTNT cũng yêu cầu đơn vị tư vấn cung cấp cây giống là các loài cây bản địa, đảm bảo chất lượng và phù hợp với tính chất thổ nhưỡng của các địa phương có rừng. Khi các xã hoàn thành việc trồng rừng, Sở phối hợp với các Hạt kiểm lâm thường xuyên kiểm tra tình hình phát triển và sinh trưởng của cây, kịp thời nắm bắt tình hình duy trì mô hình của các hộ dân trồng rừng.
Mặc dù toàn bộ kinh phí, cây giống và phân bón được TP hỗ trợ trong năm 2014 nhưng Phòng Trồng trọt phối hợp với các ngành chức năng giám sát việc thực hiện mô hình trong thời gian 3 năm và yêu cầu các hộ trồng rừng tuân thủ các quy định của đề án. "Trong tương lai khi những cánh rừng được phủ xanh sẽ mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân. Đồng thời, góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái, giảm lũ quét, hạn chế đất bạc mầu" - bà Hương chia sẻ.
Chủ trương thực hiện đề án chuyển đổi rừng trồng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái của TP được các ngành, các cấp và chính quyền địa phương nhiệt tình ủng hộ. Tuy nhiên, thực tế hiện nay đời sống của đa số người dân làm nghề rừng còn khó khăn, chưa ổn định.
Ông Lê Quang Tiến - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm đề nghị UBND các huyện, thị xã có rừng cần quan tâm hơn nữa và chỉ đạo sát sao các xã thực hiện đề án, tuyên truyền để người dân hiểu rõ mục đích, lợi ích của việc chuyển đổi rừng trồng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái.
Năm 2015, Đề án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái dự kiến sẽ triển khai tại 38 xã, phường thuộc 5 huyện, thị xã có rừng trên địa bàn TP là: Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai, Ba Vì, Chương Mỹ.
Theo số liệu thống kê, rà soát của Sở NN&PTNT, tổng diện tích đăng ký nhu cầu chuyển đổi rừng sản xuất trồng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái là 1.621,64ha. Cụ thể: Sơn Tây 111,99ha, Thạch Thất 197,7ha, Quốc Oai 1.108,43ha, Ba Vì 104,07ha, Chương Mỹ 99,45 ha. (Kinh Tế & Đô Thị 27/12, tr11) đầu trang(
Thời điểm này, trên những dãy núi, đồi nhấp nhô, cằn cỗi của các xã Yên Trung, Yên Bình (huyện Thạch Thất) đang nhú lên mầm non của các loại cây lát hoa, sấu, trám đen…
Việc chuyển đổi từ rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái đang được coi là hướng đi nhằm mang lại sức sống mới cho rừng và cải thiện thu nhập cho người dân.
Sống dưới chân những ngọn núi khô cằn, thu nhập của người dân hai xã Yên Bình và Yên Trung chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, trong đó có nghề trồng rừng. Đã bao đời nay, người dân cần mẫn trồng keo, bạch đàn phủ xanh đất trống, đồi trọc nhưng hiệu quả kinh tế còn rất hạn chế.
Ông Đặng Văn Nông, thôn Thung Mộ, xã Yên Bình cho biết, ông có hơn 1ha đất trồng rừng vừa thu hoạch keo sau 7 năm trồng, thu về 60 triệu đồng. Số tiền ấy nghe thì có vẻ nhiều với người dân cần cù chịu khó nơi đồng rừng, nhưng chia ra trong từng ấy năm, thì mỗi năm chưa thu nổi 10 triệu đồng.
Bởi thế, ngoài trồng rừng, ông Nông còn phải xoay sở tìm kế sinh nhai trên gần 1 mẫu ruộng. Rồi từ cây lúa, cây khoai, vài năm trở lại đây, ông đã chuyển sang trồng hoa cho thu nhập khá. Cũng chính bởi thu nhập từ trồng keo, bạch đàn thấp nên bà con nông dân ít quan tâm đến chăm sóc, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng.
Ông Nông chia sẻ, do không được quan tâm chăm sóc thường xuyên trong khi thảm thực bì lại dày, vào mùa khô rất dễ bén lửa gây cháy rừng. Giống như Thung Mộ, việc trồng rừng ở các thôn khác của xã Yên Bình cũng trong tình trạng tương tự. Theo một số người dân, trước đây trồng keo trung bình từ 8 - 10 năm mới cho khai thác nhưng hiện nay người dân đã có ý thức hơn trong việc trồng, chăm bón nên thời gian thu hoạch chỉ khoảng 5 - 6 năm. Người dân có thể bán gỗ keo theo cây hoặc theo trọng lượng (kg). Mặc dù vậy, hiệu quả kinh tế từ trồng keo, bạch đàn là rất thấp.
Có hộ dân lúc túng bấn còn chặt cả cây keo non tuổi đem đi bán. Bởi thế, rừng keo vốn hiệu quả thu nhập đã thấp lại càng trở nên bấp bênh hơn. Thậm chí, có những diện tích đất rừng bị bỏ hoang, trở thành đất trống đồi trọc, vừa gây xói mòn, rửa trôi đất vừa lãng phí tài nguyên đất rừng.
Đang trăn trở tìm hướng đi mới bền vững cho rừng trồng ở địa phương nên khi biết có đề án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái trên địa bàn TP do Sở NN&PTNT triển khai, ông Đặng Văn Nông mạnh dạn đăng ký tham gia. Được sự hỗ trợ của Sở NN&PTNT, đến nay, gia đình ông đã bắt tay vào trồng rừng sinh thái, bao gồm lát (cây lấy gỗ) và cây ăn quả như sấu, trám đen.
Ông cho biết, trước đây, người dân địa phương đã từng trồng thử sấu và trám đen song do không được xử lý kỹ thuật trong khâu giống nên cây lâu có quả, nhiều hộ chuyển sang khai thác gỗ. Tuy nhiên, tham gia vào Đề án lần này, ông Đặng Văn Nông đã được tập huấn kỹ thuật và quan trọng hơn là được cung cấp nguồn giống đảm bảo chất lượng. Trong đó, cây sấu là giống ghép nên chỉ sau khoảng 3 năm là được thu hoạch trái.
"Khi cây cho thu hoạch trái, người dân sẽ có thu nhập hàng năm thay vì đợi 5 - 6 năm như trồng keo hiện nay. Nhờ đó, đời sống của người dân sẽ được cải thiện hơn" - ông Nông hào hứng chia sẻ.
Cũng vui mừng không kém khi tham gia dự án chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái là chị Trương Kim Hoa, thôn Dục, xã Yên Bình. Diện tích chuyển đổi của gia đình chị khoảng 11ha. Đây là một trong những mô hình chuyển đổi được quy hoạch khá bài bản với hệ thống dẫn nước tưới từ khe suối đến khắp các ngọn đồi.
Chỉ sau một thời gian trồng cây giống, đến nay khu chuyển đổi đất rừng của chị Hoa đã được "đánh thức" với màu xanh non mới nhú của các cây gỗ lát, sấu, mít, xoài… Dọc hai bên, chị trồng mây nếp vừa có tác dụng làm hàng rào bảo vệ, vừa tăng thêm giá trị kinh tế. Điều đáng nói, với phương châm "lấy ngắn nuôi dài", trong thời gian chờ cây lấy gỗ và cây ăn quả cho thu hoạch, chị Hoa đã trồng xen canh rất nhiều loại rau như đậu cove Hà Lan, cây chùm ngây, su hào, bắp cải… theo phương thức hữu cơ.
Chị cho biết, các cây họ đậu còn có tác dụng cung cấp một lượng đạm đáng kể, tăng chất dinh dưỡng nuôi các cây lấy gỗ và cây ăn quả. Theo dự kiến, sang năm tới, khi các cây lát và cây ăn quả phát triển mạnh, bắt đầu tạo tán, chị Hoa sẽ trồng xen canh loài rau bò khai bên dưới để tăng thêm thu nhập.
Tại xã Yên Trung, mô hình trồng rừng 12ha của Công ty CP Kova cũng đang trong thời kỳ cây mở lá non. Nhờ thời tiết thuận lợi và tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật (mật độ trồng 1.600 cây/ha) nên diện tích rừng đã trồng đều phát triển khá tốt.
Ông Nguyễn Văn Liễu - Phó Giám đốc Công ty cho biết, tham gia Đề án chuyển đổi keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái đã tạo cơ hội để phát triển mạnh du lịch sinh thái với nhiều hình thức đa dạng, trong đó phát huy thế mạnh của Khu du lịch Thác Bạc - Suối Sao.
Với mô hình chuyển đổi từ rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái, các hộ dân sẽ được TP hỗ trợ 100% cây giống và 50% phân bón trong năm đầu tiên. Theo tính toán ban đầu, thu nhập từ mô hình chuyển đổi cao gấp 5 - 7 lần trồng keo, bạch đàn. Điều quan trọng hơn là khi hiệu quả kinh tế tăng, bà con nông dân sẽ có ý thức cao hơn trong việc bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển rừng bền vững.
Thực hiện đề án, tính đến thời điểm này, huyện Thạch Thất đã trồng được khoảng 42ha rừng sinh thái, vượt kế hoạch 15ha. Tuy thời điểm trồng cây năm nay muộn so với mọi năm nhưng do thời tiết có mưa nên cây vẫn phát triển, sinh trưởng tốt, tỷ lệ cây sống cao.
Ông Nguyễn Văn Toàn - Phó trưởng Phòng Kinh tế huyện Thạch Thất cho biết, xác định Đề án chuyển đổi keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người nông dân, ngay từ đầu năm, huyện đã triển khai tuyên truyền rộng rãi về đề án tại các xã có rừng và được đông đảo cán bộ và Nhân dân nhiệt tình ủng hộ. Bên cạnh đó, huyện tiến hành khảo sát thực tế các thiết kế của đơn vị tư vấn tại các xã triển khai, phối hợp với Phòng Trồng trọt (Sở NN&PTNT) và đơn vị tư vấn cung cấp đủ cây giống cho bà con.
Tiến Xuân, Yên Trung, Yên Bình là 3 xã miền núi có đồng bào dân tộc sống tập trung của huyện Thạch Thất với tổng diện tích tự nhiên hơn 7.000ha, trong đó có hơn 1.700ha là núi rừng với cảnh quan môi trường thuận lợi cho phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
Với đặc điểm nằm liền kề với nhau ở vùng núi phía Tây huyện Thạch Thất, mỗi xã đều có tuyến giao thông chạy qua. Phía Bắc có Đại lộ Thăng Long đi qua Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, chạy dọc theo 3 xã là tuyến đường 446. Do vậy, nhiều người dân tin tưởng rằng, sau khi chuyển đổi thành công sang trồng rừng sinh thái, các xã miền núi này sẽ trở thành những vùng đất "vàng" về du lịch sinh thái của Thủ đô.
Tuy nhiên, trên thực tế việc chuyển đổi từ rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn nên người dân vẫn gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện. Do đó, để mô hình phát triển thuận lợi và ngày càng nhân rộng, người dân địa phương mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, đầu tư của TP, Sở NN&PTNT trong các năm tiếp theo. (Kinh Tế & Đô Thị 26/12, tr10) đầu trang(
Xuất khẩu (XK) gỗ và các sản phẩm gỗ của nước ta năm 2014 ước đạt 6,2 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2013; nhưng nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tốn phí hơn 2,2 tỷ USD, tăng tới 42%.
Ngành chế biến gỗ XK càng tăng trưởng nhanh thì bài toán nguyên liệu gỗ càng căng thẳng, nhất là trong bối cảnh Chính phủ cấm khai thác gỗ rừng tự nhiên.
Phát biểu tại hội thảo công bố kết quả nghiên cứu “Tổng quan cung - cầu gỗ Việt Nam: Thực trạng và xu hướng” do Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam Viforess phối hợp với Tổ chức Forest Trends tổ chức, TS.Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends, cho biết, tính toán về nguồn cung - cầu gỗ tại Việt Nam khác xa so với số liệu mà Tổng cục Lâm nghiệp từng công bố.
Theo ông Phúc, nguồn cung gỗ nguyên liệu của nước ta từ khai thác nội địa và nhập khẩu. Tổng lượng gỗ khai thác trong nước hàng năm tương đương với 31 triệu mét khối gỗ quy tròn.Trong đó, gỗ khai thác từ rừng trồng gần 17,5 triệu mét khối; gần 6 triệu mét khối từ nguồn cây phân tán được khai thác; gỗ từ các vườn cao su thanh lý 2 triệu mét khối và từ rừng tự nhiên chuyển đổi 1,94 triệu mét khối cũng là nguồn quan trọng cho ngành gỗ.
Trong 5 năm qua, bình quân mỗi năm nước ta nhập khẩu gần 2 triệu mét khối gỗ tròn và gỗ xẻ, 1,1 triệu mét khối ván gỗ để phục vụ cho sản xuất đồ gỗ. Năm 2014, nước ta nhập khẩu hơn 9 triệu mét khối gỗ, trong đó nhập gỗ từ Lào chiếm 27,4%, Campuchia 12%, Hoa Kỳ 11,3%... Trung Quốc là thị trường cung cấp gỗ lớn thứ 4 của Việt Nam, chiếm 10,2% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Với hơn 90 triệu dân, thị trường nội địa nước ta đang và sẽ tiếp tục được mở rộng, tạo động lực cho phát triển ngành gỗ. Năm 2013, tổng lượng gỗ quy tròn được sử dụng tại thị trường nội địa lên tới gần 18 triệu mét khối, bao gồm: khoảng 4 triệu mét khối được đưa vào sản xuất đồ gỗ; 4,17 triệu mét khối được sử dụng làm nhà ở của các hộ miền núi; 1,64 triệu mét khối được sử dụng phục vụ cho các công trình xây dựng, như cốt pha, khung lắp ghép; gần 7,5 triệu mét khối gỗ được sử dụng để sản xuất giấy và bột giấy.
Về XK, mỗi năm Việt Nam XK một lượng gỗ và sản phẩm gỗ tương đương 25 triệu mét khối gỗ quy tròn, bao gồm: 10,2 triệu mét khối dưới dạng đồ gỗ; 12 triệu mét khối dưới dạng dăm gỗ; 1,3 triệu mét khối dưới dạng ván gỗ công nghiệp; 0,92 triệu mét khối dưới dạng các sản phẩm giấy; ngoài ra, XK một lượng nhỏ (0,18 triệu mét khối) gỗ tròn và (0,33 triệu mét khối) gỗ xẻ, chủ yếu là theo hình thức tạm nhập tái xuất.
TS. Tô Xuân Phúc nhận định, bức tranh tổng quan cung - cầu gỗ của Việt Nam cho thấy: nguồn gỗ rừng trồng ngày càng trở nên quan trọng. Chiến lược phát triển của ngành gỗ là giảm dần tỷ trọng gỗ nguyên liệu nhập khẩu, thông qua việc đẩy mạnh nguồn cung gỗ trong nước, đặc biệt là từ nguồn rừng trồng, tạo nguồn cung nguyên liệu cho ngành chế biến đồ gỗ.
Lượng gỗ rừng trồng tăng nhanh, chứng tỏ các chính sách giao đất giao rừng cho hộ gia đình đang được thực hiện đúng hướng. Tuy nhiên, một số lĩnh vực đang cạnh tranh về nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào, giữa dăm, chế biến đồ gỗ và giấy.
Hiện Nhà nước đã đóng cửa rừng tự nhiên nhằm bảo vệ những cánh rừng tự nhiên còn lại. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngành chế biến gỗ đang mở rộng, việc đóng cửa rừng sẽ càng đẩy nguồn cung gỗ nguyên liệu vào tình trạng căng thẳng. Với tổng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho chế biến đồ gỗ XK và tiêu dùng trong nước ước tính lên tới 42 triệu mét khối/năm, tính toán thấy sẽ thiếu hụt 20 triệu mét khối/năm trong những năm tới.
TS Nguyễn Vinh Quang (Viforest) cho hay, cây cao su đang đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp gỗ nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ. Hiện tại, lượng gỗ cao su hàng năm khai thác từ các vườn thanh lý khoảng 2 triệu mét khối. Theo ước tính, đến năm 2030, lượng gỗ cao su có thể đạt mức 6 triệu mét khối/năm. Có tới 90% sản phầm đồ gỗ chế biến từ gỗ cao su là để XK, chủ yếu là vào châu Âu. Tuy nhiên, một điều bất lợi là, đang thiếu những cơ chế về tính pháp lý của gỗ cao su.
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, cây cao su trồng trên đất rừng sẽ được coi là rừng cao su. Mà đã là gỗ rừng thì theo quy định của EU là phải tuân thủ quy trình gỗ hợp pháp, tức là việc khai thác phải có giấy phép của cơ quan chức năng, kèm với các loại giấy tờ cần thiết khác như chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép đầu tư trồng rừng…
Thế nhưng hiện nay, các doanh nghiệp (DN) trồng cao su trên đất rừng có thể tự do khai thác bất cứ lúc nào, mà không xin bất cứ giấy phép gì, các DN này quen đối xử với cao su là cây công nghiệp chứ không phải cây lâm nghiệp. Trong thời gian tới, khi gỗ cao su được đưa vào Định nghĩa gỗ hợp pháp và Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ, việc khai thác và sử dụng gỗ cao su sẽ gặp khó khăn. Bởi vậy, cần phải nhìn ra vấn đề này để thích ứng kịp thời.
Tuy nhiên, ông Cao Chí Công, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp lại không đồng tình với những số liệu mà Forest Trends công bố. “Tôi thực sự sốc khi số liệu về cung – cầu nguyên liệu gỗ đưa ra ở đây cao gấp hơn 2 lần so với con số mà Tổng cục Lâm nghiệp công bố hàng năm. Tổng lượng gỗ khai thác trong nước không thể vượt qua được 15 triệu mét khối. Ngành Lâm nghiệp đang đàm phán với Liên minh châu Âu để ký kết Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA), con số này sẽ ảnh hưởng tới kết quả đàm phán. Tới đây, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ phải ngồi lại với Forest Trends để rà soát xem phương pháp tính toán số liệu có sức thuyết phục hay không, để tìm ra số liệu chính xác, có độ tin cậy nhất”, ông Công nói.
GS.TS Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, cho rằng, những kết quả nghiên cứu về cung - cầu thị trường gỗ sẽ cung cấp thêm thông tin cho việc hoạch định chính sách, giúp các cá nhân và tổ chức tham gia thị trường gỗ có chiến lược và hành động phù hợp trong tương lai. Sự vênh nhau giữa các số liệu trong các hợp phần hình thành lên cung - cầu chỉ ra thực trạng hiện nay về tính không đồng nhất, thậm chí là thiếu các dữ liệu thống kê có liên quan.
Nhất là tình trạng số liệu về lượng gỗ khai thác, khối lượng gỗ XK hiện nay theo công bố giữa các ngành: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Hải Quan rất khác nhau. Điều này sẽ dẫn đến việc xây dựng chính sách và chiến lược không phù hợp thực tế. Muốn xây dựng được chiến lược nguyên liệu, giảm lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, các cơ quan nhà nước và các tổ chức phi chính phủ phải bắt tay nhau nghiên cứu bài bản hơn. (Kinh Tế Nông Thôn 26/12) đầu trang(
Trong những năm qua, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Sơn Dương luôn là một trong những doanh nghiệp đi đầu của tỉnh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh lâm nghiệp.
Để có được những kết quả đó, thời gian qua, công ty luôn phát huy tốt vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong chỉ đạo tổ chức sản xuất, cùng với đó việc tổ chức thực hiện giao khoán rừng cho người dân đã và đang phát huy hiệu quả.
Trụ sở Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Sơn Dương là một tòa nhà mới xây, khang trang, nằm ngay giữa trung tâm thị trấn Sơn Dương; nhìn qua đã thấy cái “sự ăn nên, làm ra”.
Quả thực, những con số kết quả sản xuất, kinh doanh đến thời điểm hiện tại của năm 2014 thật hết sức ấn tượng: Doanh thu của công ty đạt gần 5 tỷ đồng, tăng 122% kế hoạch; lợi nhuận trước thuế đạt 350 triệu đồng, bằng 318% kế hoạch; nộp ngân sách Nhà nước đạt 650 triệu đồng, bằng 764% kế hoạch; thu nhập bình quân đạt 6 triệu đồng/người/tháng. Năm 2010, tổng vốn đầu tư của công ty trên 45 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 3,6%, đến năm 2013 đã tăng lên trên 48 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 16%.
Trong nhiều năm qua, công ty luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, tạo sức mạnh của Đảng trong chỉ đạo, tổ chức sản xuất. Hiện Công ty có 30 đảng viên, trong đó có 28 đảng viên chính thức và 2 đảng viên dự khuyết. Mỗi năm công ty phát triển từ 1 - 2 đảng viên mới. Các đảng viên trong Chi bộ đều có năng lực chuyên môn tốt, trong đó có 21 đảng viên có trình độ đại học, 9 đảng viên có trình độ trung cấp; Chi bộ Công ty nhiều năm liền đạt trong sạch, vững mạnh.
Công tác chỉ đạo tổ chức sản xuất được thể hiện qua các buổi sinh hoạt chi bộ hàng tháng. Hàng tháng, chi bộ đều có Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ, kế hoạch sản xuất cụ thể, chi tiết tới tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của công ty; căn cứ vào đó, các tổ đảng tiến hành tổ chức thực hiện. Sau mỗi tháng như vậy đều có đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm để có biện pháp khắc phục, xây dựng mục tiêu Nghị quyết cho tháng tới.
Từ năm 2005, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Sơn Dương triển khai áp dụng mô hình liên doanh, liên kết với người dân địa phương trong trồng và khai thác rừng. Đây là cách làm mà nhiều công ty lâm nghiệp cũng đã áp dụng, nhưng quá trình thực hiện thì không phải công ty nào cũng thành công và đạt được những kết quả như mong muốn.
Cách làm này được thực hiện bằng hình thức: Đất trồng rừng trên diện tích đất của công ty, công ty đảm nhiệm cung ứng giống, vật tư phân bón, thiết kế, chi phí quản lý chu kỳ. Người dân có trách nhiệm bỏ công trồng và chăm sóc rừng. Tới thời điểm khai thác công ty và người dân định giá khối lượng và chia tỷ lệ hưởng thụ là 37%, người dân hưởng thụ 63% giá trị rừng cây đứng (chưa tính công khai thác).
Phần khai thác người dân bỏ công có thêm thu nhập từ công khai khác. Với cách làm trên, công ty luôn tạo cho người dân trồng rừng có thêm thu nhập, có ý thức trách nhiệm cùng với công ty trong việc chăm sóc và bảo vệ rừng, nhờ đó, sản lượng gỗ khai thác trên mỗi ha ngày một tăng. Nếu như trước đây, mỗi ha cho khai thác đạt sản lượng 75 đến 80 m3, thì nay đạt 100 đến 120 m3/ha và có thể tăng tới 150 m3/ha vào diện tích chu kỳ rừng mới trồng.
Chị Vi Thị Hồng, Giám đốc Công ty chia sẻ, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng trong những năm gần đây, sản xuất, kinh doanh của công ty liên tục có lãi và đạt mức tăng trưởng khá như vậy trước hết là nhờ phát huy vai trò lãnh đạo của chi ủy Đảng trong công ty.
Từ những biện pháp chỉ đạo kịp thời hiệu quả đã tạo cho mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân, người lao động trong công ty luôn đoàn kết một lòng, thực sự tin tưởng vào các Nghị quyết chỉ đạo của cấp trên, của chi bộ, ban giám đốc cùng các đoàn thể chính trị đã nêu cao vai trò trách nhiệm thực hiện hiệu quả sản xuất, kinh doanh góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng đề ra.
Công ty đã thực hiện tốt phương châm phối hợp với người dân đôi bên cùng có lợi, tạo điều kiện tối đa cho người dân hưởng lợi do vậy đã tạo động lực cho người dân có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ rừng. (Báo Tuyên Quang 26/12)đầu trang(
Người dân tham gia trồng rừng Flitch được dự án này hỗ trợ bằng ngoại tệ (USD). Tuy nhiên, để đến được nơi trồng rừng họ phải vượt qua những núi đá cheo leo, dốc cao dựng đứng như mái nhà, vì vậy chỉ có ngựa mới thồ cây giống lên tới đỉnh để trồng.
Người dân ở xã Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân) đua nhau sắm ngựa để thồ cây giống, vật tư phục vụ việc trồng rừng. Ban đầu chỉ có 1 cặp ngựa, nay đàn ngựa thồ của xã gần 100 con. Ngựa thồ góp phần “trải dài màu xanh” dự án.
Ảnh hưởng không khí lạnh, trời mưa nặng hạt, nhưng mờ sáng, anh Nguyễn Tấn Long ra chỗ đám đất trống trước Chi nhánh Công ty cổ phần 3/2 ở xã Xuân Quang 3 (huyện Đồng Xuân) tháo tấm bạt quấn trên lưng ngựa rồi cho 3 con ngựa thồ “xuất bến”.
Anh Long nói: “Đang là mùa mưa nên phải mặc “áo mưa” cho ngựa đỡ lạnh”. Trên đường đi, anh Long cho hay, quê anh ở xã Xuân Lãnh, anh dắt ngựa qua đây thồ mướn cây keo giống. Đường từ đây về nhà xa nên tối anh ngủ ké nhà người quen trong xóm, còn ngựa thì dùng sợi dây dài cột vào cọc trên đám cỏ. Ban đêm lúc ngủ thì thôi, thức giấc ngựa tranh thủ ăn cỏ.
Ghé vào vườn ươm, cây giống được chất lên giỏ cần xé đeo hai bên hông ngựa. Con ngựa thồ đi qua vùng gò đồi rộng lớn tiếp tục leo lên dốc Sương Trắng rồi chùi xuống Lỗ Chảo mới qua đến vùng 13, giáp ranh xã An Nghiệp (huyện Tuy An).
Tại đây, một tốp người dàn hàng ngang đang hì hục trồng rừng. Nhẹ tay bưng cây giống trên lưng ngựa xuống xếp lớp bên gốc cây to, anh Long cười nói: “Ở đây nhiều hộ gia đình tham gia trồng rừng Flitch, chỗ đất triên và gần phía ngoài dốc người dân quanh vùng dùng xe gắn máy vận chuyển “ăn” hết rồi, còn lại chỗ xa trong này vượt lên dốc dựng đứng mới “để phần” lại cho ngựa”.
Buổi chiều, tại một vườn ươm cây giống ở thôn Lãnh Vân (xã Xuân Lãnh) ngựa thồ lớp ra lớp vào. Ông Nguyễn Văn Phúc, một nài ngựa đang chất cây keo giống lên giỏ cần xé cho hay: Thồ một cây giống lên đến nơi là 1.500 đồng, sức ngựa một chuyến thồ 100 cây, trong đó có kèm theo “nồi đất” (túi ni lông chứa đất ươm cây giống), một ngày đi 2 chuyến là cùng. “Ban đầu ham tiền thồ thiếu điều “cong lưng ngựa”, tối đó ngựa ăn cỏ lẻm thẻm. Nghỉ 2 ngày, ngựa mới lại sức, về sau tùy theo đường đèo dốc mà tôi cho ngựa thồ đúng tải để làm ăn lâu dài”.
Chiều, mặt trời còn ló cây sào, ông Võ Văn Tiên dắt cùng lúc 3 con ngựa về chuồng bỏ cỏ cho ngựa ăn. Ông Tiên cho biết, ngựa của ông gần tháng nay “nằm rừng” thồ cây ở xã vùng cao Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân), cách nhà (xã Xuân Lãnh) 40 cây số. Đi làm ăn xa nên phải dỡ thức ăn cho ngựa. “Ngày thường cắt cỏ bỏ trong cái xô nước, ngựa vừa ăn cỏ vừa uống; còn lúc ngựa thồ hàng thì cho ăn “sang” hơn, mỗi lần ăn bỏ thêm đường đen (đường trầm) và ít muối cho ngựa uống.
Muối giúp ngựa giữ nước trong cơ thể, còn đường đen “tăng lực”, ngựa nó “hảo” nước đường lắm! Sáng nào cũng vậy, cơm nước xong là tôi chất cây giống, phân lên giỏ cần xé trên lưng ngựa, rồi tôi nối dây dắt 3 con ngựa trườn lên dốc, tập kết trên rẫy rồi chùi xuống lại, cứ thế một ngày trung bình kiếm gần 1 triệu đồng cả sức người, sức ngựa” - ông Tiên nói.
Một con ngựa thồ hiện nay mua với giá 20 triệu đồng đối với ngựa đực, còn ngựa cái đắt hơn, lên đến 22 triệu đồng. Ngựa cái thồ yếu nhưng tâm lý nhiều người thích sắm ngựa cái vì “dễ dạy” hơn, ngựa đực thồ mạnh nhưng khi ra đường, thấy ngựa cái thì lao đến, ghì cương lại thì nó “hung hăng” với chủ.
Hỏi về số lượng đàn ngựa thồ của xã, ông Trịnh Minh Thái, Phó chủ tịch UBND xã Xuân Lãnh cho biết: Khi dự án Flitch triển khai, ban đầu, chỉ một hộ sắm cặp ngựa thồ phục vụ trồng rừng của gia đình, sau đó đi thồ mướn cho nhiều người quanh vùng. Thấy làm ăn có tiền nên nhiều người đua nhau sắm ngựa. Nhiều cặp vợ chồng mới cưới, ra ăn riêng, sắm tài sản trong nhà cũng nhờ ngựa, có nhà sắm đến 4 con ngựa thồ. Nhiều người “tiếp thị” ngựa thồ cho số điện thoại khắp nơi, ai cần gọi là đi thồ hàng.
Ông Huỳnh Pô Pin, Phó giám đốc Ban quản lý dự án Flitch huyện Đồng Xuân cho biết, người dân tham gia trồng rừng được dự án hỗ trợ 500 USD/ha (tương đương 10,5 triệu đồng). Số tiền trên, đầu tư mua cây giống, phân bón và công chăm sóc. Theo quy trình, 1ha trồng 2.000 cây và 1 tấn phân vi sinh.
Cũng theo ông Pin, chỉ tính riêng mùa mưa năm 2014, toàn huyện Đồng Xuân trồng 1.733ha rừng. Trong đó, xã Xuân Lãnh “thủ phủ” ngựa thồ có diện tích trồng rừng theo dự án này nhiều nhất với 708ha, tiếp đến là các xã Xuân Quang 1 trồng trên 600ha, Xuân Quang 2 trồng gần 132ha, Phú Mỡ trồng trên 104ha, Xuân Quang 3 trồng trên 97,6ha, Xuân Phước trồng 90,6ha…
Còn từ khi triển khai năm 2009, đến nay, dự án Flitch đã đầu tư cho việc trồng rừng sản xuất, cải tạo vườn hộ, quản lý bảo vệ trên 3.200ha rừng. “Từ trước đến nay, người dân trồng rừng thuộc dự án Flitch chủ yếu nhờ sức ngựa” - ông Pin khẳng định.
Năm 2009, anh Ka Pa Út, dân tộc Chăm H’Roi ở thôn Suối Cối 2, xã Xuân Quang 1 trồng 1,2ha keo lai, sau khi bỏ túi số đô la từ dự án hỗ trợ. Đến nay, rừng cây anh trồng phát triển tốt, có người hỏi mua 85 triệu đồng nhưng anh không bán. “Tôi tính để ráng 2 năm nữa bán kiếm 100 triệu đồng luôn thể” - anh Út nói.
Và câu chuyện trồng rừng Flitch hiện đang là đề tài được các nông dân huyện Đồng Xuân đem ra thảo luận khi họ ngồi lại bên nhau. Nếu như trước đây, chiều tối, nhiều người đàn ông trong xóm rủ nhau ngồi uống nước trà trước hiên nhà bàn chuyện đồng áng thì nay tập trung bàn chuyện trồng rừng kinh tế.
Ngồi bên hiên nhà, ông Nguyễn Phi Long ở xã Xuân Quang 3 chỉ cái nón còn để ngửa trước thềm nói: “Tôi mới đi trồng rừng về. Mùa mưa tận dụng công nhàn rỗi trong gia đình dỡ cơm lên rẫy ở lại luôn trưa để trồng rừng. Cây giống thuê ngựa vận chuyển, lấy đó đắp đó, nhận tiền đô trả công cho ngựa thồ”.
Từ xã Xuân Quang 3, vượt qua 60km lên trên một rẫy cao trên đỉnh làng Đồng, xã Phú Mỡ, vợ chồng chị La Mô Thị Xinh đang trồng cây giống khoe: Năm nay tôi trồng 3ha rừng của dự án Flitch. Trước đây vùng đồi núi này là rẫy sắn bắp “ăn” mấy mùa rồi giờ trồng lại rừng. Trên đường “xuống núi”, ghé UBND xã Xuân Quang 1.
Tại đây, nhiều người dân đến hội trường UBND xã nhận tiền từ dự án Flitch. Ngồi đếm số tiền được nhận 10 triệu đồng, ông Nguyễn Thanh Bầu tham gia dự án nói: “Tôi trồng cây đầu mùa mưa, qua một tháng, lứa cây sống 100% nên được cán bộ kỹ thuật của dự án đến hiện trường nghiệm thu đạt yêu cầu. Hôm nay, cán bộ quản lý dự án thông báo giải ngân, tôi đến nhận tiền”. Phía dưới hội trường và ngoài tiền sảnh, nhiều người trồng rừng Flitch nét mặt rạng ngời chờ đến lượt nhận tiền.
Ông Huỳnh Pô Pin cho biết thêm: “Năm nay, sau khi trồng rừng được một tháng, Ban quản lý dự án nghiệm thu số lượng cây sống đạt theo yêu cầu thì dự án tạm ứng 50%, rồi đến mùa mưa năm sau (2015) nghiệm thu lần nữa, cây phát triển tốt, người trồng nhận đủ. Rừng Flitch ở đây chủ yếu trồng trên rẫy cũ”.
Tiến sĩ Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT Phú Yên cho biết, dự án Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống người dân vùng Tây Nguyên (Flitch) do Bộ NN-PTNT quản lý, được triển khai trực tiếp trên 60 xã của 22 huyện thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên và tỉnh Phú Yên, với tổng diện tích hơn 1 triệu ha.
Tổng vốn đầu tư gần 100 triệu USD (phần lớn từ nguồn vốn vay của ADB). Dự án bao gồm 4 hợp phần: Ðầu tư phát triển và quản lý tài nguyên rừng bền vững; cải thiện sinh kế của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng; xây dựng năng lực và công tác quản lý dự án. Triển khai từ năm 2009, dự án kết thúc tháng 12/2014. (Báo Phú Yên 27/12)đầu trang(
UBND tỉnh vừa phê duyệt Quy hoạch hệ thống rừng giống, vườn giống, vườn ươm giống cây trồng lâm nghiệp tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Quy hoạch đề ra mục tiêu đến năm 2016, cung cấp 60% giống từ nguồn giống được công nhận, trong đó 50% giống từ nhân giống sinh dưỡng (vô tính); đến năm 2020, cung cấp 80% giống từ nguồn giống được công nhận, trong đó 80% giống từ nhân giống sinh dưỡng và đến năm 2030, cung cấp trên 90% giống từ nguồn giống được công nhận, trong đó trên 90% giống từ nhân giống sinh dưỡng cho trồng rừng phòng hộ, sản xuất.
Đồng thời hình thành mạng lưới sản xuất và cung ứng giống theo hướng xã hội hóa nghề giống cây lâm nghiệp với nhiều thành phần kinh tế; 100% các nguồn giống và cơ sở sản xuất kinh doanh giống được kiểm soát chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp theo thủ tục giám sát chuỗi hành trình giống đối với toàn bộ các loài cây trồng chính. Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm đủ số cán bộ, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Theo quy hoạch, các dự án được ưu tiên đầu tư gồm: dự án Hỗ trợ đầu tư nâng cấp nhà nuôi cấy mô Trạm Giống cây trồng lâm nghiệp thuộc Trung tâm Giống - Kỹ thuật cây trồng Phú Yên và Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Phú Yên; dự án Xây dựng rừng giống chuyển hóa, trồng rừng giống, chọn lọc cây mẹ từ rừng tự nhiên, chọn lọc cây mẹ từ rừng trồng, cây phân tán; dự án Đào tạo ứng dụng công nghệ mô, chọn loài, khảo nghiệm giống mới cho cán bộ thuộc Trung tâm Giống - Kỹ thuật cây trồng Phú Yên, Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Phú Yên. Tổng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện quy hoạch khoảng 37 tỉ đồng. (Báo Phú Yên 27/12)đầu trang(
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là mô hình hoạt động mới, có tính đặc thù, vừa mang tính chất của một cơ quan tài chính, vừa có nhiệm vụ của một cơ quan chuyên môn lâm nghiệp, môi trường.
Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh và các sở, ngành liên quan, qua 3 năm triển khai Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An đã cơ bản đi vào hoạt động ổn định, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận.
Đàm phán và ký hợp đồng ủy thác với các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là hoạt động quan trọng của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Nghệ An. Đến nay, 3 cơ quan điều hành nghiệp vụ quỹ đã ký được 14 hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR, trong đó có 9 hợp đồng uỷ thác với các cơ sở sản xuất thuỷ điện và 5 hợp đồng với các cơ sở sản xuất cung ứng nước sạch. Hiện tại, quỹ đang trong quá trình đàm phán để ký thêm hợp đồng ủy thác với Nhà máy nước Nghệ An.
Nhờ tích cực đàm phán và triển khai các hợp đồng ủy thác, trong điều kiện khó khăn nhưng quỹ vẫn ổn định và mở rộng được nguồn thu. Đến nay, tổng số tiền ủy thác thu được từ các nguồn đã đạt hơn 125 tỷ đồng, thuộc nhóm các quỹ có mức thu cao trong cả nước, bổ sung nguồn vốn không nhỏ cho công tác bảo vệ phát triển rừng, đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng.
Thực hiện Nghị định số 05/2008/NĐ-CP và Quyết định 3186/QĐ-UBND ngày 21/8/2012 của UBND tỉnh, Quỹ đã triển khai nhiều biện pháp để thu tiền hỗ trợ tái trồng rừng từ các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp. Đến nay, nguồn thu đã đạt 2,2 tỷ đồng. Phần lớn nguồn thu này đã được phân bổ cho các đơn vị để trồng lại rừng theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội về việc trồng bù diện tích rừng bị chuyển đổi sang mục đích khác.
Đơn vị thực hiện tiến độ rà soát lưu vực thủy điện đến nay đạt 100% kế hoạch, cơ bản hoàn thành rà soát phạm vi, ranh giới lưu vực của các nhà máy thủy điện đã đi vào hoạt động; kết quả rà soát đã được UBND tỉnh phê duyệt làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo.
Ngoài ra, đối với các lưu vực Thủy điện Nậm Pông, Chi Khê đang được cơ quan điều hành nghiệp vụ Quỹ chuẩn bị hồ sơ, thủ tục cần thiết để triển khai rà soát vào đầu năm 2015. Đến thời điểm này, tổng diện tích rừng trên các lưu vực thủy điện đã được cấp thẩm quyền phê duyệt hồ sơ thiết kế, giao khoán bảo vệ rừng là 98.000 ha trên tổng số 315.000 ha rừng trong các lưu vực đã được phê duyệt qua kết quả rà soát (mới đạt 32%).
Tiến độ lập hồ sơ thiết kế bảo vệ rừng của chủ rừng và các đơn vị liên quan chậm là một trong những nguyên nhân chính làm chậm tiến độ giải ngân. Để giúp chủ rừng và các đơn vị liên quan đẩy nhanh hoạt động này, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã tiến hành khảo sát lập phương án tổng hợp nhu cầu khối lượng, kinh phí và đề xuất giải pháp thực hiện trình UBND tỉnh phê duyệt để chỉ đạo triển khai thực hiện.
Đồng thời, Quỹ đã chủ động phối hợp với các cơ quan tuyên truyền triển khai nhiều nội dung về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên báo chí, internet, truyền hình, tập huấn, hội nghị...
Thông qua các hoạt động truyền thông, nhận thức về bảo vệ rừng và chính sách chi trả DVMTR của các đối tượng đã được nâng lên, nhưng vẫn chưa đồng đều, do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cả về số lượng và chất lượng tuyên truyền trong thời gian tới.
Đến nay, cơ quan điều hành nghiệp vụ Quỹ đã giải ngân luỹ kế tiền DVMTR và hỗ trợ các dự án từ nguồn thu theo Nghị định số 05/2008/NĐ-CP hơn 45 tỷ đồng cho các chủ rừng, tương ứng với số lượt diện tích rừng được khoán bảo vệ hơn 200 nghìn ha, diện tích hỗ trợ tái tạo rừng quy đổi hơn 500 ha. Qua đó, tỷ lệ giải ngân được nâng lên. Tính riêng năm 2014, đã giải ngân đạt trên 80% so với số thu vào của năm, cao hơn so với cùng kỳ năm trước gấp 3 lần.
Bên cạnh sự nỗ lực hoạt động để đạt được những kết quả như trên, Quỹ còn gặp những khó khăn: Do đặc thù Quỹ BVPTR được thành lập sau thời điểm có một số nguồn truy thu từ trước đó, mặt khác do phần lớn diện tích rừng trong các lưu vực thủy điện chưa được giao khoán và lập hồ sơ thiết kế bảo vệ rừng tại thời điểm đã có nguồn thu DVMTR, nên dẫn đến lượng tồn ngân lớn trong 3 năm qua. Vì vậy, mặc dù tốc độ chi trả DVMTR gần đây đã tăng nhanh đáng kể, nhưng tỷ lệ giải ngân tổng thể vẫn thấp.
Phần lớn diện tích lưu vực (khoảng 70%) đã được rà soát ranh giới, nhưng chưa có danh sách và thiết kế bảo vệ rừng cho các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có cung ứng DVMTR để làm cơ sở giải ngân tiền DVMTR. Năm qua, các ban quản lý rừng và các hạt kiểm lâm đã được giao thực hiện nội dung này, nhưng do khối lượng công việc lớn và thiếu kinh phí thực hiện, tiến độ triển khai rất chậm.
Trước thực trạng đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã khảo sát tổng hợp nhu cầu khối lượng công việc, vốn và dự kiến nguồn kinh phí trình phê duyệt để thực hiện. Theo đó, Quỹ dự kiến sẽ tiết kiệm nguồn chi quản lý để hỗ trợ đẩy nhanh thực hiện hạng mục này. Việc thực hiện trách nhiệm kê khai và nộp tiền ủy thác từ một số cơ sở sản xuất thủy điện cũng còn chậm trễ, chưa kịp thời theo tiến độ quy định.
Đến nay, số dư nợ lũy kế tiền DVMTR đã lên tới cả chục tỷ đồng. Vừa qua, Chính phủ và các bộ liên quan đã có ý kiến chỉ đạo khá quyết liệt về vấn đề này. Quỹ sẽ tiếp tục đôn đốc, nhắc nhở và tham mưu thành lập các đoàn liên ngành để kiểm tra, xử lý các đơn vị cố tình chây ỳ việc nộp tiền DVMTR.
Năm 2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng phấn đấu tiếp tục mở rộng nguồn thu, tham mưu Sở NN&PTNT phối hợp với chính quyền các huyện nhằm chỉ đạo các đơn vị đẩy nhanh tiến độ rà soát và phê duyệt hồ sơ thiết kế bảo vệ rừng; đồng thời, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tăng cả số lượng và chất lượng giải ngân. (Báo Nghệ An 27/12)đầu trang(
Những năm qua, việc bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng đã được các cơ quan chuyên môn, các địa phương quan tâm chú trọng và thực hiện đồng bộ các giải pháp.
Do đó, diện tích rừng trồng mới hàng năm của tỉnh luôn đạt và vượt kế hoạch đề ra. Năm 2014, toàn tỉnh đã trồng mới được trên 14.330 ha, đạt gần 104% kế hoạch.
Với nhiều giải pháp đồng bộ, năm 2014 huyện Yên Sơn đã trồng được 4.100,9 ha rừng, đạt 102% kế hoạch. Trong đó trồng rừng dự án hỗ trợ trên 511 ha; trồng rừng tập trung trên 3.000 ha…
Đạt được kết qủa này, ngay từ đầu năm huyện đã sớm giao chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng cho các địa phương, chỉ đạo cho các cơ quan chuyên môn tiến hành rà soát đất lâm nghiệp; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện trồng, chăm sóc và ký cam kết bảo vệ rừng. Qua đó đã từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân trên địa bàn; góp phần thực hiện đạt và vượt kế hoạch trồng rừng đề ra.
Phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương về phát triển kinh tế rừng; các địa phương trong tỉnh đã chú trọng, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho người dân tham gia trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng, góp phần nâng độ che phủ của rừng ngày càng cao.
Để thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch trồng rừng đề ra; cuối năm 2013; các cơ quan chuyên môn của tỉnh đã thực hiện đồng bộ các giải pháp để sẵn sàng cho vụ trồng rừng 2014. Theo đó, các công ty lâm nghiệp chủ động gieo ươm cây giống đảm bảo đúng khung lịch, thực hiện hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ, sản xuất; khai thác rừng; các đơn vị kiểm lâm thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng, tập huấn kiến thức, kỹ thuật cho bà con nhân dân…
Kết quả năm 2014, toàn tỉnh trồng được trên 14.330 ha, đạt 103,9% kế hoạch; trong đó, trồng rừng tập trung đạt trên 13.770 ha, trồng cây phân tán đạt trên 565 ha.Thực hiện tốt việc trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường, mà còn góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, nâng đời sống nhân dân và làm giàu từ kinh tế rừng. (Đài PTTH Tuyên Quang 27/12)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đều tăng trưởng trên 10% so với năm 2013.
Trong đó, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt 335.930m3, tăng 17,1%; khai thác thu mua nhựa thông đạt 13.475 tấn, tăng 15,3% (trong đó trong tỉnh 2.370 tấn, thu mua tỉnh ngoài 11.105 tấn); chế biến lâm sản tăng 11%, trong đó chế biến gỗ đạt 8.735m3, chế biến nhựa thông 13.350 tấn, dăm gỗ xuất khẩu 304.000 tấn, dịch vụ gỗ mỏ cho ngành than 117.300m3; tổng doanh số xuất khẩu lâm sản đạt 49,341 triệu USD, tăng 23,9%. (Báo Quảng Ninh 26/12)đầu trang(
Từ Dự án hỗ trợ đường lâm nghiệp, năm 2014, tỉnh Bắc Kạn đầu tư mở mới 2 tuyến đường lâm nghiệp tại xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể nhằm phát triển nghề trồng rừng.
Hai tuyến đường được đầu tư là tuyến Lủng Tráng và tuyến Chợ Giải - Nà Dài thuộc xã Hà Hiệu huyện Ba Bể với tổng chiều dài 2 tuyến gần 12km với tổng nguồn vốn đầu tư là gần 4 tỷ đồng. Công trình do Chi cục Lâm nghiệp làm chủ đầu tư và đơn vi thi công đã hoàn thành trên 95 % khối lượng công trình.
Để có mặt bằng cho thi công tuyến đường, nhiều hộ dân được hưởng lợi từ tuyến đường lâm nghiệp này đã hiến đất, chặt keo, mỡ năm thứ 3, thứ 4 để đầu tư mở đường phục vụ việc phát triển lâm nghiệp và phục vụ nhu cầu đi lại của bà con các thôn Lủng Tráng, Chợ Dải, Đông Đăm của xã Hà Hiệu. (Đài PTTH Bắc Kạn 27/12) đầu trang(
Ngày 26/12, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng tổ chức tổng kết Dự án trồng rừng ngập mặn ven biển tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Dự án do Hội Chữ thập đỏ Sóc Trăng, Cơ quan đại điện phía Nam của Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Công ty Premier Oil (Công ty dầu khí Anh quốc) thực hiện.
Mục tiêu của dự án là nhằm cải thiện môi trường, hạn chế sự tác động tiêu cực do nước biển dâng, phòng chống xói mòn, sạt lở đất ven biển. Thực hiện chiến lược ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu và góp phần cải thiện môi trường sống, bảo tồn được sự đa dạng sinh học vùng ven biển, trong giai đoạn 1(năm 2011-2013), Dự án trồng rừng ngập mặn ven biển đã trồng được 25 ha rừng tại vùng ven biển.
Tiếp nối sự thành công của giai đoạn đầu, giai đoạn 2 (năm 2013-2014), Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng tiếp tục phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, UBND huyện Trần Đề tổ chức trồng mới hơn 100.000 cây bần con, trên diện tích 20 ha đất quy hoạch và tiếp tục kiểm tra trồng dặm, trồng bổ sung kể cả diện tích 25 ha rừng đã trồng của giai đoạn 1 bị chết, bị sóng cuốn.
Hiện nay, số lượng cây bần được trồng mới trên diện tích 45 ha đạt tỷ lệ cây sống rất cao và đang phát triển tốt. Bên cạnh đó, Dự án còn góp phần tạo thêm việc làm ngắn hạn cho trên 50 lao động nông thôn tại xã Trung Bình thông qua hoạt động trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng với thu nhập từ 1,5 đến 3 triệu đồng/tháng.
Theo bà Nguyễn Thu Hương, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Sóc Trăng: Từ khi các vạt rừng bần ngập mặn được trồng dày lên, các bãi bồi được phủ xanh lấn dần ra biển, đời sống người dân ở địa phương không ngừng được cải thiện; triều cường, gió bão, lốc xoáy cũng bớt hung hãn và không còn đe dọa như trước.
Đó là những tín hiệu vui mà Dự án trồng rừng ngập mặn ven biển mang lại. Trong quá trình thực hiện dự án, nhất là thời điểm chăm sóc và bảo vệ cây rừng, đã phát sinh nhiều khó khăn từ biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng thủy triều dâng, bão lốc.
Ngoài ra, do nhu cầu mưu sinh của hơn 200 hộ dân chỉ sống nhờ vào nguồn thủy sản ven bờ nên nhiều người dân đã bắt cá kèo con vào thời điểm bần trồng non tháng. Để khắc phục tình trạng này, được sự trợ giúp từ Chi cục Kiểm lâm và chuyên gia dự án, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng đã chủ động tìm đối tác cung cấp cây giống, xây dựng vườn ươm để dự trữ nguồn cây bần giống trồng dặm và xác định điều kiện và tiêu chuẩn cây con trước khi trồng; chọn người tình nguyện tham gia chăm sóc, bảo vệ rừng để dự án mang lại hiệu quả tích cực nhất.
Khu rừng ngập mặn bãi biển xã Trung Bình (huyện Trần Đề) là một trong những vùng rừng ngập mặn lớn của tỉnh Sóc Trăng với đa dạng hệ sinh thái biển. Tổng diện tích của khu rừng gần 700 ha với các loại cây chính như bần, mắm, đước. Khu rừng có vai trò rất lớn trong việc chắn sóng, gió, triều cường, thiên tai và là nơi trú ngụ, sinh sản tạo nguồn thủy sản rất lớn.
Việc phủ xanh các vạt rừng ven biển có tác dụng rất lớn trong việc giảm nhẹ thiên tai, ứng phó được với biển đổi khí hậu; đồng thời còn tạo được sự hài hòa trong việc đảm bảo sinh kế cho người dân vùng ven biển với việc bảo vệ, phát triển các loài thủy sản.
Năm 2015, Dự án trồng rừng ngập mặn ven biển tiếp tục đầu tư thực hiện ở ven biển xã Trung Bình, huyện Trần Đề với số lượng trồng mới 100 ngàn cây bần con trên diện tích 20 ha. (Tin Môi Trường 27/12)đầu trang(
Huyện Như Thanh có trên 36.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó có gần 23.000 ha đất rừng sản xuất, 4.000 ha rừng đặc dụng, còn lại là diện tích rừng phòng hộ. Với địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, những năm qua, huyện đã vận động người dân phát triển kinh tế rừng, đặc biệt là trồng và kinh doanh các loại cây gỗ lớn.
Đến thăm rừng keo của gia đình ông Quách Văn Úy, ở thôn 7, xã Xuân Du, ông cho biết: Năm 2005, gia đình nhận khoán hơn 4 ha đất rừng của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Sim. Những năm đầu, gia đình trồng mía nguyên liệu nhưng hiệu quả kinh tế mang lại thấp, vì vậy gia đình ông chuyển sang trồng keo.
3 năm trở lại đây, cây keo bắt đầu cho thu hoạch (chủ yếu là keo nguyên liệu), 1 ha cho giá trị 70 triệu đồng. Được tuyên truyền, vận động của huyện và hạt kiểm lâm về mô hình kinh doanh trồng rừng gỗ lớn, gia đình ông đã cắt tỉa những cây keo thấp, yếu để bán nguyên liệu, để lại gần 1 ha cây to khỏe. Hiện nay, diện tích keo đã được 7 năm tuổi, theo tính toán sau 2 năm nữa keo lấy gỗ của gia đình ông sẽ xuất bán, giá trị thu nhập cao gấp nhiều lần so với bán keo nguyên liệu.
Ông Lê Thanh Ngợi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Như Thanh, cho biết: Từ năm 2008 đến nay, khi thực hiện các dự án hỗ trợ trồng rừng kinh tế, hạt đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phát triển rừng gỗ lớn, đồng thời rà soát diện tích đất lâm nghiệp để cho nhân dân thuận lợi việc trồng rừng.
Bên cạnh đó, hạt phân công cán bộ kiểm lâm địa bàn luôn làm tốt vai trò cán bộ khuyến lâm hướng dẫn nhân dân chuyển hóa rừng trồng từ 3 đến 4 năm tuổi thành rừng kinh doanh gỗ lớn bằng các biện pháp lâm sinh, như: loại bỏ những cây gỗ kém phát triển, phẩm chất xấu, điều chỉnh mật độ cây trồng phù hợp, tạo không gian dinh dưỡng hợp lý cho cây quang hợp và trao đổi chất giúp cây lớn nhanh, kết thúc chu kỳ kinh doanh từ 12 đến 14 năm, cây sẽ đạt trung bình 0,5 m3 gỗ/1 cây.
Ngoài ra, trồng rừng gỗ lớn làm cho đất được cải tạo, giàu dinh dưỡng, bảo vệ môi trường sinh thái; cung cấp gỗ làm nhà, đóng đồ gia dụng, giảm áp lực khai thác gỗ rừng tự nhiên. Về kinh tế, sau khi trồng khoảng 15 năm là cho thu hoạch từ 250 đến 300 m3 gỗ/1 ha, cao gấp 2 đến 3 lần rừng trồng nguyên liệu như hiện nay.
Vì vậy, đến nay diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện đạt 14.800 ha, trong đó có 1.700 ha rừng gỗ lớn, chủ yếu là các cây bản địa, như: Lim, bi, dổi và cây keo lâu năm, tập trung trồng ở các xã Thanh Tân, Thanh Kỳ, Hải Vân, Xuân Khang, Xuân Du... Huyện Như Thanh phấn đấu, hằng năm tỷ lệ trồng rừng gỗ lớn đạt 20% tổng diện tích trồng rừng mới.
Tuy nhiên, để phát triển mô hình kinh doanh gỗ lớn có quy mô, huyện Như Thanh đang gặp không ít khó khăn, như: Chu kỳ kinh doanh rừng dài, vốn đầu tư lại lớn; trong khi đó Nhà nước vẫn chưa có chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân trồng và chăm sóc rừng gỗ lớn nên chưa thu hút được nhiều hộ trồng rừng tham gia. (Báo Thanh Hóa 26/12)đầu trang(
Nhằm giúp người dân gắn bó với rừng và làm giàu từ rừng, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh đã triển khai Dự án trồng cây sa nhân dưới tán rừng phòng hộ tại làng Canh Tiến, xã Canh Liên. Hiện cây sa nhân đang phát triển tốt, mở ra một hướng đi mới, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân địa phương.
Chia sẻ về quá trình “bén duyên” của cây sa nhân với vùng đất Canh Tiến, ông Đoàn Văn Tây, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Vân Canh, cho biết: “Cây sa nhân có tên khoa học Amomum longiligulare T.L.Wu, thuộc họ gừng, là loại cây thân thảo mộc mọc thành từng khóm, sống lâu năm dưới tán rừng. Đây là loại cây dược liệu quý, chuyên trị các bệnh về đường tiêu hóa và còn được dùng làm gia vị nên có giá trị kinh tế cao.
Trong những cánh rừng tự nhiên của làng Canh Tiến, cây sa nhân mọc rải rác ở nhiều nơi. Hàng năm, người dân vẫn thường thu gom quả sa nhân để bán cho thương lái. Từ thực tế trên, Ban quản lý rừng phòng hộ đã xây dựng phương án trồng thử nghiệm cây sa nhân dưới tán rừng, theo hướng thâm canh tại làng Canh Tiến để người dân có thể thoát nghèo bền vững từ loại cây này. Từ đó, ý thức và trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ rừng cũng được nâng cao”.
Ông Phạm Cửu, một người dân được chọn tham gia mô hình thí điểm trồng cây sa nhân dưới tán rừng phòng hộ ở làng Canh Tiến, cho biết: “Tôi sinh sống ở đây đã lâu và thấy nhiều cây sa nhân mọc tự nhiên trong rừng. Hàng năm tôi vẫn thường thu mua trái sa nhân do bà con hái trên rừng, để bán lại cho thương lái. Từ đó, tôi luôn trăn trở làm sao trồng được và nhân rộng loại cây này để gia đình và bà con trong làng phát triển kinh tế.
Khi được Ban quản lý rừng phòng hộ giao cho dự án trồng thí điểm cây sa nhân, tôi hưởng ứng ngay và huy động nhân công phát dọn 0,5 ha rừng được Nhà nước giao khoán, trồng thí điểm 2.000 cây sa nhân. Tôi được dự án hỗ trợ 20 triệu đồng để mua giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và được cán bộ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn việc trồng và chăm sóc. Qua hơn 2 tháng trồng, cây phát triển khá tốt, tỉ lệ cây sống đạt trên 90%, chứng tỏ vùng đất này rất thích hợp với cây sa nhân và việc mở rộng diện tích là rất khả quan”.
Có thể nói, dự án trồng cây sa nhân dưới tán rừng phòng hộ là một hướng đi mới đối với người nông dân, dựa trên nền tảng bảo vệ rừng tự nhiên, đồng thời có thu nhập từ cây sa nhân để cải thiện cuộc sống.
Ông Trần Văn Khổ, Phó trưởng phòng NN-PTNT huyện Vân Canh, cho biết: Sa nhân là loại cây dễ trồng, thích hợp với nơi có độ ẩm lớn, khí hậu mát mẻ; thường trồng bằng cây non, cách nhau khoảng 1m, hàng cách hàng 2,5m. Sau 2 - 3 năm, cây bắt đầu bói quả, sau 5 năm cây mọc lan kín đất, nếu chăm sóc tốt, có thể cho thu hoạch trong 10 năm.
Với giá thị trường hiện nay dao động từ 100 - 200 ngàn đồng/kg quả khô, bình quân một năm người dân sẽ có thu nhập từ 40 - 50 triệu đồng/1ha sa nhân. Vì thế trong tương lai, cây sa nhân sẽ trở thành “cây xóa đói giảm nghèo” cho người dân miền núi. (Báo Bình Định 28/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||