|
Ngày 18 tháng 05 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Chiều 15.5, các lực lượng chức năng đã tiến hành mổ khám nghiệm cá thể gấu ngựa chết chiều qua tại gia đình ông Hứa Minh Khoa, trú tại tổ 12, Khu 5, phường Hà Tu, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
“Đây là một trong hai con gấu của gia đình đã nuôi được hơn 10 năm và đều rất khỏe. Sáng qua gấu vẫn ăn rất tốt, nhưng có dấu hiệu ho thì đến chiều lăn đùng ra chết” – ông Khoa cho biết. Khám nghiệm cho thấy, cá thể gấu này bị viêm phổi rất nặng và bị xuất huyết đường ruột.
Ngay sau khi mổ khám nghiệm, các lực lượng chức năng đã đem đi thiêu hủy tại bãi rác Đèo Sen, phường Hà Tu, TP.Hạ Long, nhằm vừa đảm bảo an toàn vệ sinh vừa tránh bị kẻ xấu khai quật, dưới sự chứng kiến của đại diện Trung tâm cứu hộ gấu Tam Đảo.Như vậy, tính từ đầu năm tới nay, trên địa bàn TP.Hạ Long đã có trên 10 cá thế gấu chết, nâng tổng số gấu chết trên toàn tỉnh Quảng Ninh, lên trên 110 con, mà nguyên nhân chủ yếu do suy sinh dưỡng và bệnh tật. (Lao Động 15/5)đầu trang(
Đáp ứng nhu cầu của người chơi lan, nhiều người đã vào tận các cánh rừng sâu để khai thác lan rừng tràn lan đem về thành phố bán.
Tại Tp.Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), không khó để bắt gặp những tuyến phố chuyên bán lan rừng tự phát như: Phan Đình Giót, Lê Duẩn, Ngô Quyền… Nhiều loài lan rừng như Hoàng Thảo, Thủy Tiên, Kim Điệp, Dã hạt, Lan đuôi mèo, Nghinh xuân, Đuôi cáo, Mỹ nhung, Giã hạc, Hoàng phi hạt… được bày bán tràn lan trên vỉa hè, trong đó có không ít loại được người chơi lan nhận định là quý và rất hiếm.
Các loại lan rừng được người dân vào tận rừng sâu để hái đem về bán lại cho người buôn hoa hoặc trực tiếp gùi ra các tuyến phố bán cho người chơi hoa. Vì là lan rừng chính hiệu nên mặt hàng này rất được khách hàng ưa chuộng, nơi đây lúc nào cũng tấp nập người buôn kẻ bán.
Anh Y Basimon (42 tuổi, ngụ xã Cư Ê bua, Tp.Buôn Ma Thuột) là người đã có thâm niên hơn 5 năm đi hái và bán lan rừng, giới thiệu tường tận các loại lan mà anh đem bán. Anh Basimon cho biết, thường người đi lấy lan rừng tập trung thành 1 nhóm, cùng đem theo cơm nắm, khoai, sắn… làm lương thực đi đường; mang theo một số dụng cụ như dao, liềm, cưa tay. Mỗi chuyến đi thường mất khoảng 3 đến 5 ngày và khu vực được người lấy lan ưa thích là các khu rừng sâu ở các huyện xa như: Ea Súp, Krông Bông…
“Giờ lan rừng cũng hiếm dần, không nhiều như trước nên muốn lấy được lan càng hiếm thì phải vào tận rừng càng sâu, nơi đó mới có lan đẹp. Lan thường tập trung ở trên các cây cổ thụ rất cao, nên chúng tôi phân công người trẻ trèo lên để lấy và bẻ các cành cây có lan mọc trên đó”, anh Basimon kể.
Anh còn cho biết, mỗi lần đi lấy được khoảng 3, 4 kg lan, anh chia nhỏ ra để bán theo nhánh với giá từ vài chục ngàn đồng cho đến vài trăm nghìn đồng/cây. Có loại theo chùm lớn anh bán theo ký giá từ 300 nghìn đồng/kg. Mỗi ngày ra chợ bán lẻ lan rừng, anh có thu nhập từ 300.000 – 500.000 đồng. Số tiền không nhỏ này đã giúp kinh tế gia đình anh đỡ vất vả so với chỉ làm rẫy nương.
Khi được hỏi về việc lấy lan rừng ảnh hưởng đến sự tồn tại của loài hoa này trong tự nhiên, anh Basimon lắc đầu và thật thà trả lời: “Mình mà không đi hái thì người khác cũng hái hết thôi, nên thấy có tiền là tôi lại đi hái…”.
Cũng có thâm niên nhiều năm đi lấy lan rừng, chị H’Trang Êban (25 tuổi, ngụ xã Cư Ê bua) phấn khởi cho biết, lan rừng bán rất chạy, chưa có ngày nào chị bán ế, đặc biệt trong dịp lễ, tết khách đến hỏi mua lan lại ngày một tăng lên.
Chia sẻ về loại lan khách chơi lan thích nhất, chị H’Trang cho biết đó là loại lan Nghinh xuân, lan Phi điệp, Trầm… các loại này quý nở hoa rất đẹp nên giá cả cũng cao hơn các loại khác.
Việc đi lấy lan rừng không phải lúc nào cũng gặp suôn sẻ, những người bán lan nơi đây vẫn nhớ trường hợp bị tai nạn lúc hái lan của anh Ama Miu (27 tuổi, buôn Ea Bông, xã Cư Êbua ), khi anh đang cố trèo lên 1 cây cổ thụ ở độ cao trên 10m cố gắng cưa cành lan rất đẹp ở trên đó. Không may anh dẫm phải cành khô, ngã xuống bất tỉnh. Anh Ama Miu may mắn giữ được tính mạng nhưng phải nằm viện hơn nửa năm.
Việc bán lan rừng sẽ không rầm rộ nếu không có đông đảo người đến mua, thú chơi lan rừng ngày càng gia tăng nên tại nơi bán lan rừng lúc nào cũng không ngớt người mua và lùng các loại lan rừng hiếm.
Nhiều khách mua lan cho biết, các loại lan rừng được ưa chuộng bởi đặc trưng hiếm và hoa của các loại lan nở rất đẹp, có mùi hương đặc trưng mà các loại lan thường không thể sánh được.
Anh Lê Năng Hảo (ngụ Tp.Buôn Ma Thuột) là khách hàng thân thuộc của nhiều người đi lấy lan rừng, cho biết: Trồng lan rừng không khó, nếu mua lan rời thì chỉ cần mua chậu đất bỏ than và vỏ dừa khô rồi cho lan vào trồng, chăm sóc bình thường lan sẽ sống. Còn đối với các giò lan hiếm, mọc sẵn trên các cành cây thì để nguyên cả cành về treo lên vừa làm cảnh vừa thưởng thức.
“Chơi lan rừng khiến tôi bị “nghiện” vì những nét đặc trưng không thể thiếu của hoa này, cứ có loài nào mới được bán là tôi mua ngay, người bán hoa ở đây cũng rất sành về hoa, họ còn cho chúng tôi xem cả ảnh lúc các loài hoa này lúc nở đẹp thế nào để dễ bán”, anh Hảo chia sẻ.
Một số khách hàng còn thích mua lan rừng làm quà tặng những người thân ở các tỉnh xa. Anh Hoàng Văn Nam (ngụ huyện Buôn Đôn) cho biết, anh thường mua hoa lan rừng để tặng cho họ hàng mình: “biết ở Đắk Lắk mình có nhiều lan rừng hiếm, nên tôi thường mua gửi vào Sài Gòn, Bình Dương cho họ hàng mình, họ thích lắm vì giống này ở dưới đó không ai bán lan rừng mà giá cả lại phải chăng như ở đây”.
Thú chơi lan rừng gia tăng dẫn đến lượng người đi lấy lan rừng ngày nhiều, việc cả khách mua hàng lẫn người bán không ý thức được hành vi của mình trực tiếp ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên khiến các loại lan rừng đứng trước nguy cơ bị "xóa sổ", nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài.
Ông Y Sy – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk - cho biết, việc người dân lấy lan rừng là vi phạm pháp luật, hiện một số loại lan rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng do người dân đi lấy lan tràn lan.
“Hiện Chi cục Kiểm lâm đã và đang chỉ đạo các chủ rừng và Hạt kiểm lâm tích cực công tác tuần tra, bảo vệ ngăn chặn mọi hành vi đi lấy lan rừng của người dân, nhằm bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên trước sự xâm hại của con người”, ông Y Sy nhấn mạnh. (VOV Giao Thông 16/5)đầu trang(
Hàng trăm hécta rừng sản xuất của Nhà nước ở các xã Ngọc Định, Thanh Sơn (huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) đã và đang bị người dân địa phương xâm hại, đốt phá, khai thác trái phép vô tội vạ.
Thực tế này đã tồn tại nhiều năm qua, gây mất cân bằng sinh thái, đẩy nguy cơ cháy rừng lên mức báo động, thế nhưng chính quyền các cấp ở tỉnh Đồng Nai vẫn... im lặng. Riêng lãnh đạo xã Ngọc Định còn tiếp tay cho người nhà phá rừng, khai thác đất rừng trái phép.
Khu rừng La Ngà thuộc các xã Thanh Sơn, Ngọc Định (huyện Định Quán) và một phần xã Đắc Lua (huyện Tân Phú), tỉnh Đồng Nai do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà (Vinafor La Ngà) quản lý, có tổng diện tích hơn 23.000ha, đang bị người dân địa phương thi nhau “xẻ thịt”. Dọc hai bên sông La Ngà hiện nay có rất nhiều tán rừng gỗ tếch, gỗ giá tỵ đã bị người dân đốn phá trơ gốc, thay vào đó là những vườn cây ăn trái với đủ loại: xoài, mít, điều...
Không ít vườn cây ăn trái đã ra quả đến tuổi thu hoạch, cũng có khu vườn vừa được trồng cây ăn trái cao hơn gang tay. Trên cánh rừng tiểu khu 40 thuộc các ấp Hòa Thành, Hòa Trung (xã Ngọc Định), những ngày đầu tháng 4-2015, người dân địa phương vẫn ngang nhiên vào đốt rừng gỗ tếch, chặt phá cây giá tỵ để chiếm đất trồng xoài, keo lá tràm.
Càng đi sâu vào khu vực rừng giáp lòng hồ Trị An, chúng tôi thấy rừng càng bị “xẻ thịt” tan hoang. Rất nhiều cây gỗ tếch bị người dân triệt dần sự sống bằng cách đốt cháy lá, hoặc chặt nửa thân cây, khoét lỗ ở gốc... Dưới những cây rừng đang “hấp hối”, người dân đem cây xoài vào trồng xen kẽ. Điều chúng tôi lấy làm lạ là khu vực rừng tếch bị người dân xâm hại này chỉ cách trụ sở của Vinafor La Ngà (đơn vị được giao quản lý rừng) chưa đến 1km và cách UBND xã Ngọc Định chỉ khoảng 2km nhưng hoạt động phá rừng, khai thác đất rừng trái phép vẫn diễn ra công khai hàng ngày.
Ông Nguyễn Văn D., một cán bộ về hưu ở ấp Hòa Trung (xã Ngọc Định), cho biết tình trạng xâm hại, chặt phá cây rừng, khai thác đất rừng La Ngà trái phép bắt đầu từ năm 1995 và nở rộ trong những năm gần đây.
“Xuất phát từ việc Vinafor La Ngà tự ý ký hợp đồng giao khoán một số diện tích đất lâm nghiệp ở Lâm trường 3 và 4 cho tư nhân nhưng không trình lên cấp có thẩm quyền. Sai phạm này sau đó được phát hiện, có 103/196ha rừng giao khoán bị xâm hại, tuy nhiên việc xử lý các sai phạm của chính quyền và ngành chức năng đến nay vẫn không triệt để, thiếu quyết liệt nên người dân bất chấp pháp luật, tiếp tục phá rừng”, ông D. bức xúc. Còn một cán bộ của Vinafor La Ngà cho rằng do gần đây có thông tin “ảo”, hết năm 2015, Vinafor La Ngà sẽ giao hơn 11.000ha rừng cho địa phương chuyển mục đích sang đất canh tác, nên hiện người dân ồ ạt vào phá rừng, chiếm đất.
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, diện tích rừng sản xuất do Nhà nước đầu tư tại các xã Thanh Sơn, Ngọc Định bị người dân xâm hại, đốt phá, khai thác trái phép đến nay đã hơn 400ha. Đáng nói hơn, trong số các trường hợp phá rừng, lấn chiếm và khai thác đất rừng trái phép có gia đình, người thân của Bí thư Đảng ủy xã Ngọc Định - ông Hồ Nam Thắng.
Cụ thể, ngày 19-10-2014, bà Trần Thị Lan (chị vợ ông Thắng) chở 1.300 cây con (keo lá tràm, xoài...) vào tập kết tại tán rừng lô 43, khoảnh 2, tiểu khu 40 và trồng trên phần đất rừng đã đốt phá trước đó. Hành vi vi phạm này của bà Lan đã được Vinafor La Ngà lập biên bản, tuy nhiên theo quan sát của chúng tôi, đến nay nhiều hécta rừng do bà Lan chặt phá trái phép để trồng cây ăn trái vẫn tồn tại.
Ngoài bà Lan, từ năm 2013 đến nay, bà Trần Thị Xa (chị họ của ông Thắng) và chồng là ông Phạm Văn Đông cũng ngang nhiên vào tiểu khu 40 đốt rừng, lấy đất trồng gần chục hécta điều, xoài. Để có nước tưới cây, vợ chồng bà Xa còn ngang nhiên đưa phương tiện vào múc, ủi 1,23ha rừng gỗ tếch thuộc các lô 69 và 80 (tiểu khu 40), lập trái phép 3 hồ tích nước. Trong khi hàng loạt vi phạm của gia đình chị vợ và chị họ của ông Thắng chưa được cơ quan chức năng xử lý, mới đây, người dân địa phương lại bức xúc hơn khi thấy bà Trần Thị Tình (vợ ông Thắng) và Hồ Hoàng Hà (con ông Thắng) cũng vào phá rừng, trồng xoài ở tiểu khu 40. Vinafor La Ngà đã lập biên bản vi phạm đối với bà Trần Thị Tình, tuy nhiên việc xử lý bà Tình và khắc phục hậu quả diện tích rừng bị xâm hại đến nay vẫn chưa được các cơ quan chức năng liên quan thực hiện.
“Chúng tôi rất bức xúc trước việc một số người dân thiếu ý thức, vì lợi ích cá nhân đã vào tàn sát rừng của Nhà nước. Và càng bức xúc hơn khi người thân, gia đình của ông bí thư Hồ Nam Thắng ngang nhiên phá rừng, khai thác đất rừng trái phép nhưng không bị cơ quan chức năng xử lý. Rất nhiều lần bà con phản ánh việc này đến xã, sau đó công an xã, Vinafor La Ngà có vào lập biên bản nhưng rồi đâu lại đấy, việc phá rừng vẫn tiếp diễn. Là người đứng đầu một địa phương, khi biết người nhà có hành vi vi phạm pháp luật, lẽ ra ông Thắng phải ngăn chặn, đằng này ông làm lơ, tiếp tay là điều khó chấp nhận”, ông Nguyễn Tuấn Gi. ở xã Ngọc Định bức xúc. Người dân địa phương cho biết, hiện nay gia đình ông Thắng còn đứng ra mua đất rừng bằng giấy tay của người dân chiếm được ở tiểu khu 40, sau đó san ủi làm ao nuôi cá.
Trách nhiệm, vai trò của đơn vị quản lý rừng La Ngà ở đâu khi rừng liên tục bị tàn phá? Để trả lời câu hỏi này, phóng viên Báo SGGP đã làm việc với ông Nguyễn Thanh Lâm, Giám đốc Vinafor La Ngà. Ông Lâm cho biết: “Đơn vị vẫn thường xuyên bố trí lực lượng tuần tra, giám sát, ngăn chặn, xử lý nạn xâm hại rừng. Tuy nhiên, do lực lượng mỏng (toàn công ty chỉ có 80 người) nên không thể giám sát 24/24 giờ trước hành vi xâm hại rừng của người dân”.
Ông Lâm thừa nhận hiện nay, tại 2 xã Thanh Sơn và Ngọc Định có hơn 400ha rừng bị người dân xâm hại, lấn chiếm. “Để xảy ra tình trạng này, công ty xin nhận trách nhiệm. Đành rằng, rừng là do Vinafor La Ngà quản lý, tuy nhiên để ngăn chặn hiệu quả nạn xâm chiếm, đốt phá, khai thác đất rừng trái phép hiện nay đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải vào cuộc”, ông Lâm nói.
Đối với những người thân của ông Hồ Nam Thắng có hành vi xâm hại rừng (bà Tình, bà Lan, bà Xa, ông Đông, Hồ Hoàng Hà …), ông Lâm cho biết Vinafor La Ngà đã nhiều lần mời lên làm việc, lập biên bản vi phạm và chuyển chính quyền địa phương, ngành chức năng xử lý, còn xử lý thế nào là do đơn vị có thẩm quyền.
Về phía lãnh đạo địa phương, ông Hồ Nam Thắng, Bí thư Đảng ủy xã Ngọc Định, thừa nhận bà Trần Thị Lan (chị vợ ông) có xâm hại rừng, trồng cây ăn trái trái phép trên đất rừng, việc này ông có nhắc nhở bà Lan. Đối với trường hợp bà Trần Thị Tình, ông Thắng khẳng định vợ ông không đốt phá rừng, khai thác trái phép trên đất rừng. Để xác thực, chúng tôi đưa biên bản vi phạm do Vinafor La Ngà lập đối với bà Tình cho ông Thắng xem, nhưng ông không đọc qua và thoái thác “cái này là vu khống, làm tầm bậy”.
Chúng tôi tiếp tục đưa hình ảnh Hồ Hoàng Hà cầm rựa phát rừng, ông Thắng nói đây là ảnh con ông vào suối câu cá, chứ không phá rừng. “Câu cá sao không mang cần câu, mang rựa làm gì?”, ông Thắng lại chuyển ý khác “đất rừng, đất bán ngập lòng hồ Trị An bị lấn chiếm, xâm hại hiện nay không chỉ có ở Ngọc Định, mà còn diễn ra ở Phú Ngọc, Thanh Sơn”. Về việc ông đứng ra mua đất rừng bằng giấy tay do người dân lấn chiếm, rồi san ủi, xây ao nuôi cá, ông Thắng giãi bày: “Chỉ là hỏi để mua cho người thân, nhưng chưa mua”.
Thực tế trên cho thấy, rừng La Ngà đang ngày càng bị “xẻ thịt”, mà nguyên nhân có cả sự buông lỏng của đơn vị quản lý, sự tiếp tay của lãnh đạo địa phương. Bao giờ rừng La Ngà hết “chảy máu”?
Ông Phạm Thái Lai, ngụ ấp 3, xã Phú Ngọc (Định Quán, Đồng Nai), cho biết: “Nếu chính quyền, ngành chức năng tỉnh Đồng Nai không vào cuộc xử lý hoạt động phá rừng ngay lúc này, tôi nghĩ thời gian tới an ninh trật tự tại khu rừng La Ngà sẽ khó đảm bảo. Vì đến nay, gia đình ông Thắng đã chiếm và khai thác trái phép hơn 20ha rừng. Thấy người nhà lãnh đạo chiếm rừng, trồng cây ăn trái, nhiều người dân cũng vào phá rừng, trồng cây nhưng bị người nhà ông Thắng lớn tiếng, rượt đuổi. Đã từng có ẩu đả tại khu rừng nói trên...” (Sài Gòn Giải Phóng 16/5)đầu trang(
Vụ cháy hơn 10 ha rừng tràm ở Cà Mau xảy ra mới đây đã một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ cháy rừng mà nguyên nhân trực tiếp là do một bộ phận người dân thiếu ý thức, cơ quan có trách nhiệm lơ là, mất cảnh giác trong công tác bảo vệ rừng.
Hiện nay, theo nhận định của Trung tâm dự báo Khí tượng-Thủy văn T.Ư, các tỉnh ở khu vực miền trung, Tây Nguyên và Nam Bộ đang trong thời kỳ cao điểm về cháy rừng, hầu hết diện tích rừng có nguy cơ cháy rất cao, thường xuyên ở cấp độ nguy hiểm. Do đó, hơn lúc nào hết, ngành lâm nghiệp, các lực lượng chức năng, chính quyền các địa phương có rừng và người dân cần tiếp tục chủ động, nâng cao ý thức phòng, chống cháy rừng.
Năm nay được đánh giá là hiện tượng El Nino sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta; nắng nóng, khô hạn diễn ra gay gắt; mùa khô kéo dài; lượng mưa giảm so với trung bình nhiều năm tại nhiều địa phương khu vực miền trung. Do đó, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn, trọng điểm là tỉnh Nghệ An, khu vực đèo Hải Vân, địa bàn giáp ranh tỉnh Thừa Thiên-Huế và TP Ðà Nẵng, tỉnh Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa...
Theo Tổng cục Thống kê, tính chung bốn tháng đầu năm nay, diện tích rừng cả nước bị thiệt hại là 785 ha, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 534 ha. Song điều đáng quan tâm là mặc dù Cục Kiểm lâm thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng tại một số địa phương có rừng, công tác chuẩn bị các phương án phòng, chống cháy rừng đã được chỉ đạo, tập huấn chuẩn bị tốt, song nhiều nơi, chính quyền, ngành chức năng và người dân vẫn còn chủ quan nên đã để xảy ra cháy rừng, thậm chí còn có tình trạng chết người do cháy rừng gây ra.
Ðiều này đồng nghĩa với việc công tác phòng, chống cháy rừng của chính quyền các địa phương mặc dù đã có sự chủ động chuẩn bị nhưng chưa đi vào thực chất, ý thức bảo vệ rừng vẫn còn đang bị xem nhẹ.
Trước thực tế nhiều địa phương có rừng đang đối mặt với nguy cơ cháy rừng cao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có văn bản yêu cầu ngành lâm nghiệp và các địa phương kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định phòng cháy, chữa cháy rừng, nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đề xuất khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tập trung nâng cao hiệu quả các phương án phòng, chống; tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức tới mọi người dân. Ðồng thời, đề nghị các chủ rừng cam kết phòng, chống cháy rừng khi tham gia trồng mới, khoanh nuôi tái sinh; quản lý chặt chẽ việc khai thác lâm sản; kiện toàn lực lượng kiểm lâm; củng cố lại công tác chỉ đạo từ trung ương tới cơ sở và đề nghị các địa phương quy định ngay chế độ khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân có thành tích, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia kịp thời.
Ðể công tác bảo vệ rừng đạt hiệu quả, chính quyền các địa phương có rừng, ngành lâm nghiệp, các lực lượng chức năng cũng cần coi công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là nhiệm vụ trọng tâm; tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm bảo đảm kịp thời xử lý các tình huống xảy ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy, quy định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt nương làm rẫy và các hành vi dùng lửa khác ở những khu vực trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao.
Chủ động và thường xuyên nâng cao ý thức của cả cộng đồng xã hội trong phòng, chống mới góp phần làm hạn chế tới mức thấp nhất cháy rừng. (Nhân Dân 15/5)đầu trang(
Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết, vừa phát hiện và bắt giữ môt xe tải đang có hành vi chở hơn 11m3 gỗ lậu ở huyện Ea H’Leo.
Nhận được tin báo từ quần chúng kết hợp với công tác nắm tình hình địa bàn, khoảng 2h sáng ngày 16-5, tại quốc lộ 15, đoạn qua địa bàn thôn 1, xã Ea Sol, huyện Ea H’Leo, một tổ công tác của phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện đối tượng Phạm Quốc Văn Phong (trú tại phưòng Bình Tân, thị xã Buôn Hồ) điều khiển chiếc xe ôtô tải mang BKS: 36L - 7693 chở đầy gỗ lậu. Qua kiểm tra, tổ công tác xác định có 4,13 m3 gỗ cà chít thuộc nhóm 3.
Từ lời khai của Phong, tổ công tác đến địa điểm vừa bốc gỗ ở tiểu khu 16, xã Ea Sol, huyện Ea H’Leo và tiếp tục bắt thêm gần 7m3 gỗ cà chít và căm xe.
Hiện tổ công tác của phòng Cảnh sát kinh tế đã thu gom chuyển giao toàn bộ 11,2 m3 gỗ cho hạt kiểm lâm huyện Ea H’Leo để xử lý theo thẩm quyền và lập hồ sơ để xử lý Phạm Quốc Văn Phong theo quy định của pháp luật. (An Ninh Thủ Đô 17/5)đầu trang(
Hiện nay, hàng ngàn hộ dân các huyện Ea H’leo, Krông Năng, Cư Kiun, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, đang bước vào vụ trồng tiêu. Việc “ồ ạt” mở rộng diện tích cây hồ tiêu khiến cho tình trạng người dân chặt phá rừng lấy gỗ làm trụ, ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Huyện vùng sâu Ea H’leo là địa phương “nóng” nhất tình trạng người dân vào rừng chặt gỗ làm trụ tiêu.
Ông Phan Tiến Dũng, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện, cho biết Ea H’leo hiện có 2.648ha hồ tiêu, trong đó có đến 70% các hộ dân sử dụng gỗ rừng để làm trụ.
Trước vụ trồng tiêu mới, các đối tượng đã vào rừng, đốn hạ nhiều cây gỗ quý như (căm xe, cà chích vàng), xẻ thành nhiều trụ, có đường kính 15-20cm, chiều dài 3,8-4m, sau đó dùng các phương tiện xe đầu kéo, xe máy tự chế vận chuyển gỗ ra khỏi rừng về sử dụng, hoặc bán cho các hộ trồng tiêu.
Do các cánh rừng trên địa bàn huyện Ea H’leo, Krông Năng đã cạn kiệt, các đối tượng chuyên khai thác gỗ ở các xã Cư M’lan, Cư Mốt (huyện Ea Súp) xã Ea Khal, Ea H’leo, Ea Sol, (huyện Ea H’leo) đã vào sâu bên trong các cánh rừng của Lâm trường Chư Pả (huyện Ea Súp), giáp ranh tỉnh Gia Lai, để khai thác gỗ trái phép.
Với giá tiêu bán trên thị trường hiện nay dao động từ 150-170.000 đồng/kg, lợi nhuận hơn nhiều so với các loại cây trồng khác, nhiều hộ dân đã mở rộng diện tích cây hồ tiêu, nên nhu cầu sử dụng gỗ làm trụ ngày càng lớn.
Để chuẩn bị cho vụ tiêu mới, gia đình anh Nguyễn Huy Hiệp, xã Ea H’leo đã mua 600 trụ gỗ với giá 250.000 đồng/trụ, trồng sẵn tại khu đất trống của gia đình, chỉ cần chờ mưa xuống là anh bắt đầu trồng tiêu. Theo anh Hiệp, trụ gỗ rẻ hơn trụ bêtông, chỉ cần mua về là có thể trồng tiêu được ngay, nên gia đình vẫn ưu tiên sử dụng trụ gỗ. Tuy nhiên hiện nay, do trụ gỗ ngày càng khan hiếm, các đầu nậu phải khai thác, vận chuyển từ trong các khu rừng sâu về, nên nhiều nơi giá trụ tiêu bị đẩy lên cao.
Mặc dù các địa phương đã nhiều lần khuyến cáo người dân nên sử dụng các loại trụ sống như cây gòn xanh, keo, trụ bêtông... để thay thế trụ gỗ, giảm thiểu tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật, nhưng do việc sử dụng trụ gỗ tương đối thuận lợi so với trụ bêtông, nên người dân vẫn đua nhau vào rừng chặt gỗ làm trụ tiêu, bất chấp khuyến cáo của các ngành chức năng.
Hàng ngày trên tuyến Quốc lộ 14 và các tuyến đường liên thôn, xã đi qua địa bàn các xã Ea H’leo, Ea Ral, thị trấn Ea Đrăng (Ea H’leo), thị xã Buôn Hồ, có hàng trăm lượt phương tiện vận chuyển gỗ trụ tiêu. Để tránh các lực lượng chức năng, các đối tượng thường di chuyển từ 4-7 giờ sáng và từ 15-18 giờ chiều. Nhiều trường hợp vận chuyển gỗ không bị kiểm tra xử lý, gây mất an toàn giao thông.
Tỉnh Đắk Lắk và các địa phương, các chủ rừng cần có các biện pháp ngăn chặn, hành vi khai thác gỗ rừng, xử lý nghiêm các đối tượng chặt phá, vận chuyển gỗ trái phép, quản lý bảo vệ rừng một cách hiệu quả. (Vietnam+ 17/5)đầu trang(
Nếu năm 1980, Đắk Lắk - tỉnh có nhiều voi nhất Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung - có 502 cá thể voi được thuần dưỡng, thì đến tháng 5.2015 đã sụt giảm tới 458 con trong vòng 35 năm.
Đàn voi nhà Đắk Lắk đã biến mất hơn 90%, không những thế, chúng càng ngày càng già yếu, không ít voi chết khi tuổi thọ chỉ bằng một nửa so với voi rừng, do bãi chăn thả bị thu hẹp, thiếu thức ăn, phải lao động quá sức trong sản xuất cũng như phục vụ du lịch.
Từ đầu năm tới nay, đàn voi nhà Đắk Lắk không ngừng sụt giảm. Voi đực 35 tuổi Book Khăm (Quản tượng: Y Thái/ Chủ sở hữu: Đặng Văn Long) chết tháng 1.2015; voi đực 29 tuổi Khăm Thưng (Y K tấc Êban/ Y Đôn Êban) chết tháng 3.2015; voi đực Khăm Phui 31 tuổi (Y Thư/ Y Thư) chết tháng 3.2015; voi cái 41 tuổi Na Liêng (Y Tim Rya/ Cty CPTM & DL Buôn Đôn) chết tháng 4.2015… Tính đến tháng 5.2015, tổng số voi nhà của Đắk Lắk chỉ còn lại 44 con. (Lao Động 16/5)đầu trang(
Hàng loạt voi nhà gục chết gần đây ở Đắk Lắk dấy lên lo ngại về số phận đàn voi ít ỏi trước những thách thức làm du lịch quá tải, bệnh tật, thiếu ăn, môi trường sống thu hẹp...
Cụ ông Ae Nô bán nước giải khát đóng chai và một ít mía cây cạnh khu du lịch Buôn Đôn (xã Krông Na, H.Buôn Đôn, Đắk Lắk), cho hay bán mía 5.000 đồng/cây cho khách du lịch cưỡi voi muốn cho voi ăn để... chụp ảnh. Mỗi ngày cụ bán vài bó mía, ngày lễ đông khách thì bán hơn chục bó, mỗi bó 10 cây. Cụ kể, gia đình cụ trước đây từng nuôi 3 - 4 con voi, giờ thì không còn con nào. “Ngày trước, khi chưa biết làm du lịch, voi được thả vào rừng cả tuần, kiếm ăn thoải mái, con nào cũng béo khỏe. Giờ thấy voi thương quá, cả ngày không được ăn gì ngoài mấy bó mía du khách cho để mua vui”, cụ già 80 tuổi này cám cảnh.
Ông Y Thông Khăm, Chủ tịch UBND xã Krông Na, cho biết xã có số voi nhà nhiều nhất tỉnh (19 con), hầu hết đều tham gia làm du lịch, ban ngày cõng khách, ban đêm được đưa đi cột ngoài rừng bằng dây xích để kiếm ăn. Khi thức ăn ngày càng khan hiếm, voi lại không được thả rông như trước vì “đụng đâu cũng có nương rẫy” thì voi cũng ngày càng yếu hơn xưa.
“Voi nhà hiện nhiều bệnh lắm, nhất là bệnh đường ruột. Voi làm du lịch người ta cho gì ăn đó; có khi mía, trái cây nhiễm thuốc trừ sâu cũng được cho voi ăn, lâu ngày trở bệnh mà không rõ nguyên nhân”, ông Thông Khăm nhận định. Vị chủ tịch xã thời trai trẻ từng làm nài voi này cũng cho rằng chính quyền chẳng thể làm gì hơn trước tình cảnh voi yếu sức và chết do hầu hết thuộc sở hữu các hộ cá thể hay doanh nghiệp du lịch...
Trong gần 5 tháng đầu năm nay, có 5 voi nhà ở Đắk Lắk bị chết. Còn ông Nguyễn Công Chung, Phó giám đốc Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk, cho biết từ năm 2011 đến nay trên địa bàn tỉnh có 9 voi nhà chết, nhưng gần đây số voi chết dồn dập và tập trung nhiều hơn cả. Theo ông Chung, không thể nói tất cả voi chết đều do làm du lịch quá sức, nhưng có thể thấy tình trạng chung là voi nhà ở Đắk Lắk đều nhiều tuổi, sức đề kháng ngày càng yếu, trong khi thức ăn từ rừng thiếu thốn, chế độ chăm sóc còn nhiều bất cập.
“Từ năm 1999, nhà nước cấm săn bắt, thuần dưỡng voi rừng nên không còn bổ sung voi trẻ. Hầu hết voi nhà đang nuôi đều từ 30 tuổi trở lên, nhiều con trên 40 tuổi. Qua theo dõi, tuổi thọ của voi nhà đang giảm đi, chỉ còn khoảng 50 tuổi”, ông Chung nói.
Đáng lo ngại, theo ông Chung việc chăm lo sức khỏe, tuổi thọ của voi, ngăn chặn đà sụt giảm số voi nhà lại không đơn giản, do việc khai thác voi làm du lịch và khâu dinh dưỡng cho voi đều tùy thuộc các chủ voi. Với nguồn kinh phí từ ngân sách hạn hẹp, hằng năm trung tâm bảo tồn voi chỉ tổ chức được một số hoạt động tập huấn chăm sóc voi, thăm khám định kỳ, tiêm thuốc bổ, tẩy giun sán, chữa bệnh ngoài da...
“Không thể biết voi đang ủ bệnh gì để phòng ngừa, điều trị vì chúng tôi chưa có máy móc, thiết bị hiện đại khám kỹ cho voi; trong khi đó, gửi mẫu máu voi đi xét nghiệm một số nơi thì bị từ chối”, ông Chung nói. (Thanh Niên 17/5)đầu trang(
Thớt nghiến đã làm hàng trăm nghìn hécta rừng bị “băm nát” không thương tiếc, trong đó có rừng đặc dụng Phong Quang (Hà Giang) đang bị lâm tặc ngày đêm rình mò nhằm chặt hạ.
Rừng đặc dụng Phong Quang với tổng diện tích gần 9.000ha. Trong đó, phần lớn diện tích rừng ở khu vực giáp biên với những cây nghiến cổ thụ vài trăm năm tuổi. “Rừng vàng” Phong Quang đã và đang bị chặt hạ để tuồn những thớt nghiến sang Trung Quốc.
Từ mặt đường lớn vào bản Phìn Sảng, xã Minh Tân (Vị Xuyên) chỉ dài chưa đến 10 cây số nhưng đi xe máy cũng phải mất cả tiếng đồng hồ vì đường dốc, toàn đá hộc trơn trượt. Ở Phìn Sảng, có trạm biên phòng thuộc Đồn biên phòng Thanh Thủy cắm chốt. Tổ công tác có 6 chiến sỹ biên phòng và 3 cán bộ thuộc Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang tăng cường.
Thượng úy Hoàng Tô Long, Trạm trưởng Trạm kiểm soát biên phòng cùng một chiến sỹ đưa chúng tôi ngược dốc qua vùng đệm để vào lõi của khu rừng rộng 9 nghìn hécta này. Rừng Phong Quang với hệ thực vật đa dạng từ nhóm tứ thiết đến hoàng đàn, gù hương, lát. Nhưng điểm nổi bật nhất của rừng Phong Quang chính là nghiến. Nghiến có lẽ là loài cây sống khỏe với số lượng lớn nhất trong khu rừng này.
Có những cây nghiến mà chúng tôi ướm thử phải 10 người ôm mới xuể phần rễ. Người ta tạm gọi đó là những cây nghiến cổ thụ. Còn những cây nghiến dăm người ôm trong rừng Phong Quang không phải là hiếm. Những rễ cây thọc sâu xuống đất rồi nhô lên phá tung tảng đá lớn phía trên cũng dễ để thấy về một khu rừng nguyên sơ đến mức nào. Đó là chưa kể đến những phần rêu đã “ăn đời ở kiếp”, sống ký sinh vào nghiến cả trăm năm để lại những mảng bám dày vài đốt ngón tay.
Tôi và Thượng úy Hoàng Tô Long dừng chân tại nơi mà rất nhiều cây nghiến đã bị đốn hạ. Nghiến nằm ngả nghiêng, ngang dọc trong rừng. Có những cây lâm tặc mới chỉ đốn ngã, chưa kịp cưa cắt đem đi. Có những cây đã bị khai thác chỉ còn trơ lại những khúc sần sùi. Có những cây to dễ đến vài trăm năm tuổi, có những cây mới chỉ ngót ngét trăm năm. Lại có những cây bị chặt hạ nhưng đổ xuống vực núi nên lâm tặc không dám mạo hiểm xuống cưa cắt.
Thượng úy Long nhận định: “Phần nhiều gỗ nghiến bị cưa ra thành những vanh thớt có độ dày khoảng 30cm để dễ dàng vận chuyển ra ngoài. Địa bàn các thôn Hoàng Lỳ Pả, Thượng Lâm, Tà Lèng được coi là điểm nóng của tình trạng khai thác này. Thời kỳ cao điểm tại Thượng Lâm có tới vài ba chục người vào rừng cắt gỗ vận chuyển bán sang Trung Quốc qua khu vực mốc 246”.
Anh Đặng Đình Công, cán bộ pháp chế Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang cung cấp cho chúng tôi số liệu tháng 12-2014 với 58 đối tượng vi phạm. Những người vận chuyển thớt nghiến sang Trung Quốc chủ yếu là bà con địa phương. Khi được thuê với một số tiền nhỏ, họ sẵn sàng gùi thớt qua biên giới. Một người, một ngày cũng gùi được vài ba cái thớt từ rừng sang phía bên kia biên giới.
Trong suốt quãng đường mà Thượng úy Long đưa chúng tôi đi, đâu đâu cũng có những hình ảnh khai thác gỗ nghiến. Có những cây nghiến đã bị cưa chặt cả chục năm nay, có những cây bị cưa dăm năm về trước, có những cây vết cưa còn mới tinh.
Từ những cây nghiến đó, chúng tôi dễ dàng nhận ra đủ kiểu khai thác mà lâm tặc đã thực hiện. Cây to quá không thể dùng rìu hay cưa thì chúng đốt gốc. Đây là cách khai thác truyền thống của lâm tặc, khi lửa cháy ngấm vào trong gốc thì cây sẽ tự đổ.
Những cây gỗ này khi đổ xuống, chúng không thể cưa ngang cây mà xẻ khoét từng miếng nhỏ rồi lấy miếng gỗ ra. Thường mỗi khoanh gỗ bị khoét có độ dày và rộng đủ để làm hai tấm thớt. Cứ thế, chúng khoét dần cho tới khi cây nghiến trơ lại phần tạp như con cá trơ lại phần xương. Với thủ đoạn tinh vi này, lâm tặc đã triệt hạ hàng trăm cây nghiến cổ thụ và vận chuyển gỗ ra ngoài, vượt qua biên giới một cách dễ dàng.
Ông Nguyễn Việt Hưng, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang cho biết, việc người dân ồ ạt lên rừng chặt nghiến là do lái buôn Trung Quốc trả giá thớt nghiến quá cao. Họ còn trang bị cho người dân cưa xăng để sẵn sàng phá rừng. Theo ước tính của ông Hưng, ở các thôn “điểm nóng” từng có khoảng 70% các gia đình có cưa máy.
Chính quyền tỉnh Hà Giang đã tăng cường lực lượng kiểm lâm phối hợp với biên phòng và dân quân địa phương cùng giữ rừng nhưng không hoặc ít có tác dụng. Một phần vì chênh lệch lực lượng, phần nữa bởi lâm tặc luôn biết cách chọn địa bàn hoạt động. Chúng luôn cử người cảnh giới, thấy bóng dáng kiểm lâm hoặc biên phòng là tháo chạy. (An Ninh Thủ Đô 16/5)đầu trang(
15/5, Công an huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã bắt tạm giam hai đối tượng liên quan đến vụ việc gây hỏa hoạn thiêu rụi 12ha rừng tràm vào ngày 14/5.
Hai đối tượng bị bắt tạm giam phục vụ cho công tác điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy rừng tràm đều là dân địa phương, gồm đối tượng Võ Hoàng Ni (26 tuổi) và Phạm Quốc Tính (41tuổi).
Theo nguồn tin ban đầu, hai đối tượng này vào rừng dùng lửa khai thác mật ong gây ra vụ cháy rừng tràm đang ở trong giai đoạn cảnh báo cháy cực kỳ nguy hiểm.
Ban đầu mới chỉ là đám cháy nhỏ nhưng hai đối tượng này không truy hô nhờ lực lượng đến trợ giúp mà tự tìm cách chữa cháy đến khi ngọn lửa bùng phát lớn, hai đối tượng này vội tháo chạy.
Trước đó, ngày 14/5, đã xảy ra vụ cháy rừng tràm tại Nông trường 402 ở xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, do Cục Hậu cần Quân khu 9 quản lý.
Khi cháy xảy ra, chủ rừng, kiểm lâm đóng trên địa bàn và người dân địa phương đã tích cực phối hợp chữa cháy, sau nhiều giờ mới khống chế hoàn toàn đám cháy.
Theo Ban Giám đốc Nông trường 402 cho biết diện tích rừng đang khai thác bị cháy khoảng 10ha, còn cây đứng (chưa khai thác) cháy khoảng 2ha, cây tràm trồng đã 9 năm tuổi.
Vụ việc hiện đang được các ngành chức năng tỉnh Cà Mau tiếp tục điều tra làm rõ. (Người Lao Động 16/5; VnExpress + Công Lý + Thanh Niên + Người Đưa Tin + Vietnam+ 15/5)đầu trang(
Sáng 15/5, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Nam tổ chức lớp tập huấn công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại.
Đây là một trong những hoạt động hưởng ứng ngày Quốc tế đa dạng sinh học (22.5) năm 2015. Hơn 50 cán bộ làm công tác Tài nguyên và Môi trường ở các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh tham gia tập huấn.
Tại buổi tập huấn, các học viên được nghe các chuyên đề về: Chức năng, nhiệm vụ của ngành Tài nguyên và Môi trường trong công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học; hướng dẫn cách lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo tồn đa dạng sinh học; Giới thiệu một số sinh vật ngoại lai và cách phòng trừ sinh vật ngoại lai xâm hại.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, những năm qua, sự xâm hại của sinh vật ngoại lai, đặc biệt là cây mai dương đang gây ra những thiệt hại kinh tế rất lớn cho người dân. Chính vì thế, hưởng ứng ngày Quốc tế đa dạng sinh học (22.5) hằng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên phối hợp với các huyện, thị, thành phố tổ chức chiến dịch ra quân diệt cây mai dương.
Bên cạnh báo cáo các chuyên đề, báo cáo viên còn lồng ghép giới thiệu một số quy định Pháp luật liên quan đến đa dạng sinh học, cũng như khẳng định giá trị của đa dạng sinh học đối với cuộc sống con người và sự cần thiết phải bảo tồn đa dạng sinh học.
Thông qua lớp tập huấn sẽ nâng cao năng lực về công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cho cán bộ làm công tác Tài nguyên và Môi trường tại các địa phương, từ đó tham mưu tích cực cho các cấp lãnh đạo để phát huy hiệu quả vai trò của đa dạng sinh học trong phát triển kinh tế xã hội, hướng đến phát triển bền vững. (Đài PTTH Quảng Nam 15/5)đầu trang(
Vào lúc 18h 30 ngày 14.5, tại khối 2, thị trấn Tây Sơn, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), Phòng 6, C49 (Cục CSMT - Bộ Công an) phối hợp với công an huyện Hương Sơn bắt quả tang một ôtô vận chuyển trái phép động vật hoang dã (tê tê và kỳ đà).
Xe ô tô nói trên mang BKS 29H 7679 do Nguyễn Thế Cường điều khiển, trên xe có 9 con tê tê đang sống, trọng lượng 51kg; 27 cá thể tê tê đã chết, trọng lượng 81 kg; 54 cá thể kỳ đà còn sống, trọng lượng 103 kg và 16 cá thể kỳ đà chết trọng lượng 27kg.
Vụ việc đang được các cơ quan chức năng tiến hành điều tra xử lý theo qui định. (Đại Đoàn Kết 16/5; Lao Động 15/5)đầu trang(
UBND TP Hội An cho biết, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam vừa công nhận bốn loài cây tại đảo Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp, TP Hội An) là cây di sản Việt Nam.
Theo đó, bốn loài cây được công nhận bao gồm: ba cây ngô đồng đỏ, có tuổi đời từ 155-250 năm, sống tại thôn Bãi Làng, đảo Hòn Lao. Cây đa có tuổi đời 610 năm, sống trên sườn đông đảo Hòn Lao. Cây kén và cây nánh có tuổi đời gần 200 năm, được trồng ở cửa Miếu thờ Ông Tổ nghề Yến tại Bãi Hương.
Bốn loài cây trên không chỉ có giá trị về mặt sinh học, môi trường sinh thái mà còn có giá trị về văn hóa, giáo dục, lịch sử, kinh tế-xã hội gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của vùng đảo Cù Lao Chàm. (Văn Hoá 15/5)đầu trang(
Bò tót lai thế hệ F1 ở Vườn Quốc gia Phước Bình (tỉnh Ninh Thuận) sẽ tiếp tục được lai tạo với bò nhà để cho ra thế hệ F2 - ông Nguyễn Công Văn, Giám đốc Vườn Quốc gia Phước Bình, cho biết tại hội thảo khoa học nghiên cứu và phát triển đàn bò tót lai tổ chức ở Ninh Thuận ngày 15-5.
Dự án lai tạo bò tót thế hệ F2 vừa được Bộ Khoa học và Công nghệ (KH-CN) phê duyệt với kinh phí 13 tỉ đồng, sau khi đề tài “Nghiên cứu giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò tót lai F1” được 2 sở KH-CN Ninh Thuận và Lâm Đồng cùng Vườn Quốc gia Phước Bình thực hiện thành công.
Trang trại bò tót tại Vườn Quốc gia Phước Bình đang thuần dưỡng 10 con bò tót lai F1, tuổi từ 2-4 năm, trọng lượng 300-400 kg/con, nặng gấp đôi bò nhà và đang tăng trưởng tốt.
Năm 2008, một con đực trong đàn bò tót gần 30 con cư trú ở các cánh rừng của 2 huyện miền núi Ninh Sơn, Bác Ái (tỉnh Ninh Thuận) bỗng nhiên tách bầy, lang thang xuống rừng thuộc Tiểu khu 20 của Vườn Quốc gia Phước Bình. Sau đó vài tháng, con bò tót này đã phối với bò cái chăn thả của người dân địa phương để cho ra đời những con bò tót lai đầu tiên. (Người Lao Động + Quân Đội Nhân Dân 16/5)đầu trang(
VKSND tỉnh Khánh Hòa vừa ra cáo trạng mới vụ ăn chặn trầm hương, kỳ nam (trầm kỳ) xảy ra tại huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa) cuối tháng 9/2012, truy tố bị can Nguyễn Thành Trung (nguyên Trưởng Công an huyện Khánh Sơn) về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
26/9/2012, các sĩ quan công an Khánh Sơn là Vũ Anh Trung, Nguyễn Hồng Hà, Trần Lệ Kiên và một người dân là Luân Văn Nam đã giữ và bán hai cục trầm kỳ thu của người tìm trầm, gây thiệt hại lợi ích nhà nước 4,15 tỷ đồng. Ông Nguyễn Thành Trung biết hai cục trầm kỳ là tài sản do phạm tội mà có, nhưng vẫn chủ trì việc mua bán.
Theo bản án sơ thẩm ngày 20/6/2014 TAND huyện Khánh Sơn, ông Nguyễn Thành Trung bị phạt 10 năm tù. Ông Trung kháng án, phủ nhận việc tham gia bán trầm kỳ. Xét xử phúc thẩm vụ án này, ngày 30/9/2014 TAND tỉnh Khánh Hòa tuyên hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố lại. (Tuổi Trẻ 16/5; Tiền Phong 15/5)đầu trang(
Theo thông tin từ Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện 165 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 82 vụ so cùng kỳ năm 2014.
Đáng lưu ý là số vụ vận chuyển lâm sản trái phép bằng các thủ đoạn tinh vi như vận chuyển bằng xe du lịch hay cơi nới thùng xe để chứa gỗ cũng giảm hẳn.
Trong đó lớn nhất là vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép với 67 vụ, cất giữ lâm sản trái phép 56 vụ, còn lại là các vi phạm khác. Lực lượng Kiểm lâm đã tiến hành lập biên bản xử lý hành chính 133 vụ, tịch thu hơn 160 m3gỗ quy tròn các loại ( giảm 60m3 so với cùng kỳ năm 2014), tịch thu 34 xe máy, 25 cưa xăng, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 1,4 tỷ đồng.
Thời điểm này, cùng với việc tăng cường lực lượng kiểm lâm xuống các địa bàn theo dõi, hướng dẫn người dân xử lý thực bì, làm tốt công tác Phòng chống cháy rừng và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho vụ trồng rừng năm 2015, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng chỉ đạo Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố đẩy mạnh việc tuần tra, kiểm tra tại những khu vực thường xuyên xảy ra tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng; Kiên quyết xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, kịp thời phát hiện và triệt phá các ổ nhóm, tụ điểm khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. (Đài PTTH Bắc Kạn 16/5)đầu trang(
14-5, UBND tỉnh đã có Quyết định số 1750/QĐ-UBND về việc phê duyệt chủ trương lập dự án xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học, điều tra, lập danh mục khu hệ động, thực vật rừng Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động (huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa).
Mục đích nhằm điều tra, đánh giá hiện trạng thành phần các loài động, thực vật hiện có trong khu bảo tồn; xác định vùng phân bổ, xây dựng bản đồ phẩn bổ và báo cáo chuyên đề về các loài động, thực vật quý hiếm; xây dựng cơ sở dữ liệu, lập danh mục hệ động, thực vật.
Địa điểm thực hiện tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1.200 triệu đồng được lấy từ nguồn vốn sự nghiệp kinh tế hàng năm của ngân sách tỉnh. Thời gian thực hiện trong 2 năm (2015 và 2016), do Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm Chủ đầu tư.
UBND tỉnh giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa căn cứ nội dung được phê duyệt để tổ chức triển khai lập dự án và trình duyệt theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền pháp luật quy dinh; Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở NN&PTNT và các ngành, đơn vị liên quan, theo chức năng nhiệm vụ, có trách nhiệm phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và tạo điều kiện để Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh hóa thực hiện chủ trương trên. (Báo Thanh Hoá 15/5)đầu trang(
Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã (ĐVHD) Bái Tử Long thuộc Vườn Quốc gia Bái Tử Long đóng chân ở đảo Ba Mùn (xã Minh Châu, huyện Vân Đồn) là trung tâm cứu hộ ĐVHD duy nhất của Quảng Ninh. Tuy nhiên, hiện nay Trung tâm chưa được quan tâm đầu tư tương xứng, khiến nơi đây trở nên đìu hiu, không phát huy được vai trò của mình.
Ngày 5-5, Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long phối hợp với các đơn vị chức năng di chuyển 2 cá thể gấu về Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam. Tần ngần đứng bên chuồng gấu trống rỗng, anh Khúc Thành Liêm, Giám đốc Trung tâm tâm sự: Việc di chuyển 2 cá thể gấu này là cần thiết, bởi không chỉ thực hiện chỉ đạo của Chính phủ mà còn là vì nơi đây thực sự chưa đáp ứng được các tiêu chí về cứu hộ cho loài gấu. Quả thực khu vực cứu hộ gấu có chuồng trại nhỏ hẹp, thiếu ánh sáng, hoàn toàn không có các tiểu cảnh để gấu vận động, vui chơi, hệ thống vệ sinh chuồng trại không đồng bộ…
Dẫn chúng tôi dạo một vòng quanh khu vực cứu hộ, anh Liêm cho biết thêm: Ngoài khu vực cứu hộ gấu, các khu vực cứu hộ các loại động vật khác hiện có tại Trung tâm cũng đều nhỏ hẹp và đang xuống cấp. Hiện Trung tâm chỉ có 1 chuồng linh trưởng với sức chứa tối đa 20 cá thể; 1 chuồng rùa với sức chứa tối đa 50 cá thể; 1 chuồng thú ăn thịt nhỏ với sức chứa tối đa 10 cá thể, con số khá nhỏ so với nhu cầu cứu hộ hàng năm và tất cả đều đã hư hỏng xuống cấp.
Trung tâm hiện chưa có khu vực cứu hộ, chăm sóc, nuôi dưỡng các loại rắn, thú móng guốc... nên các loại thú này nếu được chuyển về Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long thì cũng chỉ có thể tiếp nhận rồi thả về rừng tự nhiên ngay chứ không nuôi dưỡng, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ cho chúng được.
Điều này là sai quy trình, bởi nguyên tắc đối với đối tượng động vật bị nuôi nhốt, vận chuyển, buôn bán này là phải được cứu hộ trước rồi mới thả về tự nhiên. Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long cũng chưa có khu cứu hộ bán hoang dã. Trong khi đó đối với một số loại động vật do đã bị nuôi nhốt lâu ngày, quên cuộc sống hoang dã thì lại rất cần phải có khu vực này để chúng làm quen, thích nghi và dần phục hồi bản năng sinh tồn mới có thể thả về môi trường tự nhiên.
Ngoài hạn chế về hạ tầng, hiện Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long cũng khó khăn về con người. Trung tâm đang có 5 cán bộ nhân viên, hầu như phải túc trực tại chỗ, thời điểm tiếp nhận nhiều ĐVHD mọi người đều phải làm thêm giờ và không có ngày nghỉ. Còn về kinh phí hoạt động chủ yếu được trích từ nguồn chi thường xuyên của Vườn Quốc gia Bái Tử Long, khá eo hẹp; các đợt cứu hộ đột xuất chưa có cơ chế hỗ trợ kinh phí kịp thời nên Trung tâm đã khó lại càng khó hơn.
Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long ngay từ khi thành lập, năm 2010 đã được xác định là Trung tâm Cứu hộ ĐVHD duy nhất của Quảng Ninh và có tầm quan trọng trong hoạt động cứu hộ ĐVHD cả nước. Bởi vị trí của Trung tâm là vùng đảo, gần với môi trường tự nhiên của các loại động vật, rất thuận lợi trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, thả về môi trường tự nhiên của các động vật được cứu hộ. Hơn nữa Trung tâm nằm trong khu vực vốn là đầu mối trung chuyển, buôn bán ĐVHD ra nước ngoài của cả nước (Quảng Ninh có đường giáp biên giới dài và nhiều cửa khẩu thông thương với Trung Quốc).
Thực tế mỗi năm các đơn vị chức năng của tỉnh phát hiện và bắt giữ hàng trăm vụ vận chuyển, buôn bán ĐVHD trái phép với trọng lượng hàng tấn ĐVHD các loại. Ngay trong năm 2014, Quảng Ninh bắt giữ gần 100 vụ vi phạm liên quan đến ĐVHD với trọng lượng gần 6,5 tấn, trong đó chủ yếu là ĐVHD loại quý hiếm với trên 4,5 tấn; động vật thông thường chiếm trên 1,9 tấn. Trong 4 tháng đầu năm nay các đơn vị chức năng cũng bắt giữ gần 20 vụ vi phạm liên quan đến ĐVHD với trọng lượng gần 1,4 tấn, trong đó loại động vật quý hiếm chiếm gần 1,1 tấn, còn lại là động vật thông thường.
Điều đáng nói là các đối tượng ĐVHD được thu giữ trong các vụ vi phạm này đều cần phải được cứu hộ ngay, bởi vậy khi được chuyển về Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long sẽ rất kịp thời và đảm bảo tỷ lệ sống cao cho các ĐVHD. Thế nhưng với cơ sở hạ tầng như hiện nay thì phần lớn số ĐVHD trong các vụ vi phạm bị phát hiện buộc phải di chuyển tới Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Sóc Sơn (Hà Nội).
Thực tế từ đầu năm tới nay, Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long đã phải từ chối nhiều đợt cứu hộ do không đủ năng lực, trong đó có 2 đợt cứu hộ rắn hổ mang chúa với trọng lượng gần 500kg. Theo Chi cục Kiểm lâm, số rắn hổ mang chúa này đã được đưa về Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Sóc Sơn thế nhưng do di chuyển xa nên số cá thể rắn bị yếu, chết rất nhiều, hiệu quả cứu hộ không cao.
Có thể nói với vị thế và tầm quan trọng của mình, đáng nhẽ Trung tâm Cứu hộ ĐVHD Bái Tử Long phải được đầu tư tương xứng, thế nhưng thực tế hiện nay Trung tâm này đang còn rất nhiều khó khăn. Trong tình hình ấy Trung tâm khó có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn là tiếp nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng cho ĐVHD như mục tiêu đề ra. Đây là điều mà các đơn vị chức năng tỉnh cần phải suy nghĩ để có sự đầu tư phù hợp. (Báo Quảng Ninh 15/5)đầu trang(
Cùng với việc mực nước tại các sông suối giảm mạnh do thời tiết nắng nóng kéo dài thì từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa cũng đã xảy ra 2 vụ cháy rừng làm thiệt hại khoảng 14,65 ha.
Để giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng gây ra, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa đã giao cho các đơn vị liên quan thông báo kịp thời thông tin về cấp độ dự báo cháy rừng cho các chủ rừng, các xã phường để có kế hoạch, biện pháp chỉ đạo công tác phòng chống cháy rừng.
Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư về công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, cần tiếp tục tổ chức lực lượng kiểm lâm phối hợp với chính quyền, với dân, nắm bắt thông tin và xử lý kịp thời các đám cháy phát sinh ngay từ ban đầu, không để bùng phát thành các đám cháy lớn. (Đài PTTH Khánh Hoà 14/5)đầu trang(
Thị Nại là đầm nước lợ lớn nhất tỉnh, có hệ sinh thái (HST) và nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, để đầm Thị Nại thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao và ứng phó với nguy cơ biến đổi khí hậu (BÐKH), rất cần sự chung tay của các cơ quan, đơn vị và nhân dân trong việc phục hồi, quản lý HST rừng ngập mặn ở đây.
Đầm Thị Nại có diện tích mặt nước khoảng 5.060 ha, bãi triều rộng 1.800 ha, dài 16km, rộng 5.000m. Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên HST rừng ngập mặn (RNM) đầm Thị Nại có tính đa dạng sinh học rất cao.
Các yếu tố thủy lý, thủy hóa của đầm Thị Nại ổn định và giàu dinh dưỡng, tạo điều kiện cho các loài thủy sinh vật phù du phát triển phong phú, đa dạng; đồng thời là nguồn cung cấp thức ăn và là nơi cư trú, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị.
Trong đầm có 116 loài cá, trong đó 25 loài có giá trị kinh tế cao; 14 loài tôm với 3 loài có giá trị kinh tế cao; trên 110 loại rong, đặc biệt rong câu chỉ vàng có sinh khối lớn. Khu hệ động vật thân mềm của đầm có 100 loài, trong đó có những loài có giá trị kinh tế cao. RNM đầm Thị Nại còn là nơi làm tổ, kiếm ăn, nơi trú đông của nhiều loài chim nước, chim di cư…, là vành đai xanh góp phần quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, phòng chống và giảm thiểu thiệt hại thiên tai.
Tuy nhiên, những năm qua HST đầm Thị Nại đã phải đối diện trước không ít nguy cơ suy thoái. Theo ông Man Thống Nhất, Phó Chi cục trưởng Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh, những năm 1985-2000 do nhận thức về lợi ích đem lại từ HST RNM đầm Thị Nại còn hạn chế, nhất là lợi ích trước mắt từ nuôi tôm xuất khẩu, hệ thống RNM đầm Thị Nại bị chặt bỏ làm ao nuôi tôm với diện tích lớn. Mất RNM là mất nơi sống, nơi sinh sản, vườn ươm của nhiều loài động vật thủy sản, môi trường nước bị suy thoái. Đồng thời, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã thải ra môi trường một lượng lớn nước thải, chất thải rắn không được xử lý, cùng với việc phá RNM lấy đất nuôi tôm đã hủy hoại môi trường, sản lượng các loài thủy sản giảm mạnh.
Theo Phó giáo sư-tiến sĩ Võ Sĩ Tuấn, Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, mấy chục năm qua, tác động của con người làm cho HST RNM đầm Thị Nại ngày càng suy thoái. Nếu như năm 1973 diện tích RNM đầm Thị Nại là 561 ha thì đến năm 1988 còn 137 ha và đến năm 2003 chỉ còn lại 50 ha. Về nguồn lợi thủy sản, chỉ tính trong khoảng thời gian 2008-2014, khu vực đầm Thị Nại bị suy giảm nghiêm trọng sản lượng cá đối (nhóm cá nổi liên quan đến RNM); biến mất nguồn lợi cá bống, cá chốt (nhóm sống đáy); suy giảm nghiêm trọng hàu (bám đáy) và sá sùng (sống vùi); gần như không còn hàu giống và sìa giống.
Trước những nguy cơ suy thoái HST RNM đầm Thị Nại, những năm qua UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở TN&MT, Sở NN&PTNT và chính quyền địa phương, chú trọng thực hiện công tác phục hồi, quản lý HST RNM đầm Thị Nại.
Ông Võ Sĩ Tuấn cho biết: Thời gian qua, Viện Hải dương học đã phối hợp với Sở TN-MT và một số cơ quan nghiên cứu triển khai thực hiện công tác phục hồi, quản lý HST RNM đầm Thị Nại, với những chương trình, như: Thiết lập Khu sinh thái Cồn Chim, nhằm phục hồi HST RNM, bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn lợi thủy sản hợp lý; tiến hành quy hoạch phục hồi RNM trong phân vùng chức năng theo mục tiêu nuôi trồng thủy sản bền vững; triển khai đề tài phục hồi HST RNM đầm Thị Nại với các mô hình: trồng tập trung; trồng phân tán kết hợp nuôi thủy sản; trồng RNM và dịch vụ giải trí…
Ông Man Thống Nhất cho biết: Từ năm 2010 đến nay, các đơn vị thuộc Sở NN&PTNT và TN&MT đã phối hợp triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án (DA), như: DA “Nâng cấp hệ thống đê và trồng RNM để ứng phó với BĐKH vùng đầm Thị Nại”; DA “Dịch vụ HST tạo khả năng ứng phó với BĐKH ở TP Quy Nhơn”; DA “Lá chắn xanh tăng cường khả năng ứng phó của cộng đồng ven biển trước những tác động của thiên tai”; DA “Thích ứng với BĐKH và nước biển dâng tại khu vực ven biển đảo”; DA “Nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH ở TP Quy Nhơn”…
Qua các DA này đã trồng mới khoảng 110 ha RNM. Riêng Ban quản lý Khu sinh thái Cồn Chim đầm Thị Nại, đến năm 2014 đã trồng được 72,6 ha RNM tập trung, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương huy động nhân dân trồng được 49 ha. Ngoài ra, các đơn vị của 2 Sở còn cung cấp giống cây cho nhân dân trồng được 600 ha RNM phân tán.
Kết quả, chất lượng nước môi trường chung của đầm Thị Nại ngày càng được cải thiện, các thông số như pH, COD, NO3 nhìn chung ổn định qua các năm, có giá trị trung bình phù hợp trong ngưỡng thích hợp. Việc khôi phục diện tích RNM đã góp phần ổn định điều kiện môi trường theo hướng có lợi cho đối tượng nuôi, hạn chế dịch bệnh và khôi phục nghề nuôi thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi tôm ven đầm phát triển theo hướng bền vững.
Ông Đinh Văn Tiên- Phó giám đốc Sở TN-MT, kiêm Giám đốc Văn phòng điều phối về BĐKH (CCCO) tỉnh - cho biết: Mục tiêu tỉnh đề ra là đến cuối năm 2015 sẽ trồng mới 338,5 ha RNM, bảo vệ 408,5 ha RNM tập trung, xây dựng vườn ươm 1,2 ha. Giai đoạn 2016 - 2020 trồng mới 52,9 ha và bảo vệ 461,4 ha RNM… (Tài Nguyên & Môi Trường 14/5)đầu trang(
Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam phối hợp với các đơn vị chức chức năng của Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Môi trường đang chuẩn bị tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Liên kết cùng bảo tồn đa dạng sinh học cho phát triển bền vững” đúng vào Ngày Đa dạng sinh học quốc tế (22/5) năm nay.
Đây là hoạt động thiết thực nhằm tập hợp lực lượng và thống nhất hành động giữa cơ quan quản lý các ngành, các cấp và cộng đồng. Bao gồm các nhà khoa học, các doanh nghiệp, những người làm công tác truyền thông trong cả nước, cùng chung tay góp sức bảo tồn đa dạng sinh học, hướng tới phát triển bền vững đất nước.
Tọa đàm này sẽ diễn ra ngay sau Lễ Mít tinh chào mừng Ngày ĐDSH quốc tế (ngày 22/5/ 2015) tại Phòng họp Vườn Bách thảo, Ngọc Hà, Ba Đình Hà Nội, với sự tham gia của các vị đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan, cùng nhiều tổ chức phi Chính phủ và các cơ quan truyền thông. Trong đó có các Tổng cục: Lâm nghiệp, Môi trường; Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam; Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam và các Hội trực thuộc VUSTA, cùng một số nhà báo, đại diện các tổ chức Quốc tế tại nước ta như: WWF, IUCN, UNDP, Pannature… (Khoa Học & Đời Sống 15/5)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Liên quan đến “dự án tỷ đô - trồng cây mắc ca”, sáng ngày 17/5/2015, bên lề Hội nghị xúc tiến đầu tư Tây Nguyên lần thứ 3, phóng viên đã có cuộc trao đổi ngắn với TS. Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch Thường trực Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – LienVietPostBank về câu chuyện rất “nóng” này.
Qua kết quả Hội thảo “Chiến lược phát triển cây mắc ca tại Tây Nguyên” cách đây 3 tháng thì đến nay Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, Him Lam và các nhà đầu tư đã làm được rất nhiều việc.
Đến nay đã hình thành được 2 nhà máy chế biến mắc ca, một của nhà đầu tư Úc ở Khe Sanh, Quảng Trị đã khởi công; một nhà máy nữa của Him Lam sẽ khởi công vào tháng 7 để trước hết đón đầu sản phẩm, bao tiêu mắc ca cho nông dân.
Thứ 2, Ngân hàng Liên Việt đã ban hành quy định quy trình cho vay cây mắc ca. Hôm nay, tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư và an sinh xã hội lần thứ 3, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, Him Lam sẽ ký với Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên bản ghi nhớ, trong đó riêng Lâm Đồng sẽ được đầu tư khoảng 10 ngàn tỷ đồng cho mắc ca và các đối tượng khác.
Ngân hàng Liên Việt cũng duy trì 20 ngàn tỷ trong 10 năm nữa cho Tây Nguyên để phục vụ các dự án phát triển cây mắc ca và tái canh cây cà phê, trồng xen giữa cà phê và mắc ca.
Ngân hàng Liên Việt cũng đã nghiên cứu kỹ các thị trường Mỹ, Úc, Trung Quốc và đã hợp đồng với các chuyên gia Úc để làm việc cho Him Lam, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt chuyên về phát triển thị trường và kỹ thuật mắc ca.
Ở Tây Nguyên cũng như các tỉnh khác trên cả nước, Ngân hàng Liên Việt có kế hoạch xây dựng các trường học, Liên Việt cùng với Công ty CP Him Lam xác định đến năm 2016 cố gắng mỗi một tỉnh thành có một trường chuẩn quốc gia. Ở Tây Nguyên Ngân hàng Liên Việt đã xây cơ bản xong và chuẩn bị xây thêm một số trường học, mẫu giáo và xây nhà tạm. Trước hết, năm nay Ngân hàng Liên Việt đã đóng góp 5 tỷ để xây dựng nhà tạm cho các hộ dân nghèo và cùng hệ thống ngân hàng đóng góp số tiền 80 tỷ của cả hệ thống ngân hàng trong ngày hôm nay để trao cho Ban chỉ đạo Tây Nguyên làm công tác an sinh xã hội.
Hiện đang có nhiều luồng ý kiến khác nhau về cây mắc ca. Ngân hàng Liên Việt cho rằng sẽ đi theo đúng kế hoạch, vì hiện nay, sau 3 tháng, Thủ tướng Chính phủ đã có 3 văn bản chỉ đạo các bộ, ngành và các tỉnh quy hoạch cây mắc ca, xác định nguồn giống mắc ca. (An Ninh Tiền Tệ 18/5)đầu trang(
Đoàn chuyên gia nông nghiệp Mỹ vừa có chuyến khảo sát, đánh giá về tình hình trồng mắc ca tại Tây Nguyên, theo đề án phát triển mắc ca của Công ty Cổ phần Him Lam…
Sau khi tận mắt chứng kiến nông dân Việt Nam trồng xen mắc ca trong vườn cà phê, chè… nhằm tận dụng lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng và lao động, đoàn chuyên gia nông nghiệp đến từ nước Mỹ đã khẳng định: Đây là cách làm khác biệt, phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, tạo thêm sản phẩm có tính cạnh tranh cao và giúp đa dạng nguồn thu cho nông dân trong tương lai.
Ông Dick Kim, một chuyên gia đến từ vùng lãnh hải Micronesia của Mỹ, cho biết: Nhu cầu tiêu dùng về sản phẩm mắc ca trên thế giới ngày càng tăng, trong khi diện tích trồng cây mắc ca trên thế giới không nhiều, đây chính là lợi thế đầu tiên cho Việt Nam. Theo ông Kim, đời sống kinh tế toàn cầu ngày một nâng lên, lợi ích sức khỏe của hạt mắc ca cũng được khẳng định và phổ biến rộng rãi, khiến nhu cầu sử dụng loại hạt này ngày càng lớn, nhất là tại Mỹ, châu Âu, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác. Ngay tại Việt Nam, thu nhập người dân cũng đang cải thiện, một bộ phận người tiêu dùng có thu nhập cao sẵn sàng chi tiền để sử dụng các loại hạt tốt cho sức khỏe, trong đó có mắc ca.
Ông Kim cũng giải thích băn khoăn lớn nhất của nhiều người, là tại sao mắc ca có giá trị kinh tế, nhu cầu sử dụng lớn, nhưng các nước như Úc, Mỹ không phát triển nhanh diện tích? Nguyên nhân chính là chi phí lao động tại các nước này rất cao, trong khi quả mắc ca không chín đồng loạt, rất khó để cơ giới hóa. Việc thu hoạch mắc ca kéo dài trong nhiều tháng và phải sử dụng nhiều lao động trực tiếp, khiến giá thành sản xuất tại các nước này không có tính cạnh tranh. Ngược lại, đây lại là lợi thế cực lớn của Việt Nam. Thử so sánh, chi phí trả công lao động bên Mỹ hay Úc lên tới 17 USD/giờ. Với số tiền này có thể trang trải 2 ngày công cho một lao động tại Việt Nam.
Còn ông Arona Palamo, một cố vấn cao cấp về nông nghiệp vùng lãnh hải Tây Somoa của Mỹ thì nhận định: Ở VN, nông dân trồng xen cây mắc ca cùng chè và cà phê là điểm khác biệt với các nước (chủ yếu trồng chuyên canh). Với mô hình trồng xen, sẽ tạo ra lợi ích lớn khi tận dụng tối đa sự thuận lợi của khí hậu, thổ nhưỡng và nguồn lao động trong chăm sóc cùng lúc nhiều loại cây trồng. Việc trồng xen còn giúp nông dân Việt Nam đa dạng nguồn thu và luôn có tiền trang trải cuộc sống gia đình trong thời gian (6 – 7 năm) đợi mắc ca cho thu hoạch trái. Tuy nhiên, đoàn chuyên gia cũng chỉ ra những hạn chế.
Theo ông Dick Kim, vườn mắc ca tại Việt Nam trồng giống thực sinh khá nhiều, hiệu quả không cao, đây cũng là sự khác biệt với các nước (chủ yếu trồng giống mắc ca ghép). Trong một vườn mắc ca tại Lâm Đồng, đoàn còn thấy nông dân trồng rất nhiều giống mắc ca khác nhau...
Đại diện Công ty Cổ phần Him Lam, đơn vị đang phối hợp với Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) triển khai dự án trồng mắc ca tại Tây Nguyên, cho biết: “Khi so sánh lợi thế cây mắc ca với các loại cây trồng khác, chúng tôi nhận thấy, nếu không triển khai dự án này thì sẽ mất đi một cơ hội tăng thêm nguồn thu cho người nông dân”.
Chính vì vậy, dự án này đã được Công ty Cổ phần Him Lam mời các chuyên gia nông nghiệp quốc tế sang khảo sát, đánh giá khách quan, từ đó đưa ra các bước đi phù hợp cho quá trình triển khai dự án. Hàng loạt các công việc khác như xây dựng vườn ươm giống, xây dựng quy trình chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ tài chính và mua bảo hiểm cho bà con nông dân trồng mắc ca..., cũng đang được Công ty thực hiện hết sức chặt chẽ. (Nông Nghiệp VN 18.5)đầu trang(
Sáng 15/5, UBND tỉnh tổ chức buổi làm việc để nghe và cho ý kiến Dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh về mức phụ cấp cho cán bộ lâm nghiệp cấp xã thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Viết Đường chủ trì buổi làm việc.
Đến thời điểm hiện nay, đội ngũ cán bộ lâm nghiệp cấp xã toàn tỉnh là 356 người hoạt động trên địa bàn 300 xã thuộc 21 huyện, thành, thị có rừng và đất lâm nghiệp theo đúng quy định. Tuy nhiên, hiện tại đội ngũ này chỉ được hưởng chế độ phụ cấp 200 ngàn đồng/người/tháng. Với số tiền phụ cấp trên không đảm bảo chi phí cho các hoạt động thực tế tham mưu, kiểm tra bảo vệ rừng.
Trước thực tế đó Sở NN & PTNT đề nghị tăng mức phụ cấp hoạt động đối với đội ngũ cán bộ lâm nghiệp xã theo phương án: Đối với các xã biên giới và vùng đặc biệt khó khăn hưởng hệ số 0,55 tương đương 632 ngàn đồng/người/tháng; Các địa phương còn lại hưởng hệ số 0,35 tương đương 402 ngàn đồng/người/tháng.
Kết luận tại buổi làm việc, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Viết Đường yêu cầu sở NN & PTNT phải rà soát đầy đủ các yêu cầu và căn cứ về giá cả và thu nhập của cán bộ lâm nghiệp xã để điều chỉnh mức tăng phụ cấp. Đồng ý với nội dung điều chỉnh tăng phụ cấp cho cán bộ lâm nghiệp xã theo phương án mà Sở NN & PTNT đề nghị; Xây dựng dự thảo Nghị quyết để trình HĐND tỉnh. (Đài PTTH Nghệ An 15/5)đầu trang(
Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia đến năm 2020 đặt mục tiêu giảm dần chế biến dăm giấy xuất khẩu (XK), mới đây, Bộ Nông nghiệp và PTNT yêu cầu các địa phương không cấp phép thành lập mới các cơ sở, doanh nghiệp chế biến dăm gỗ.
Nhưng ngành này đang mang lại kim ngạch XK không nhỏ, giúp phát triển diện tích rừng trồng, tạo việc làm và thu nhập cho hàng vạn lao động. Vậy đâu là lời giải cho mâu thuẫn này?
Trong báo cáo Xuất khẩu dăm gỗ của Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014, TS.Tô Xuân Phúc (tổ chức Forest Trends) cho biết, ngành chế biến và XK dăm gỗ đạt được con số phát triển vô cùng ấn tượng trong khoảng một thập kỷ qua. Kể từ năm 2011, Việt Nam đã trở thành quốc gia có lượng dăm gỗ XK lớn nhất thế giới, năm 2014, kim ngạch XK dăm gỗ đạt 958 triệu USD với sản lượng 6,97 triệu tấn dăm khô, tương đương 13,9 triệu mét khối gỗ nguyên liệu. Hiện, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ dăm lớn nhất của Việt Nam.
Cả nước hiện có 130 cơ sở chế biến XK dăm đang vận hành, tăng 16% so với con số 112 nhà máy năm 2012. Với tổng công suất thiết kế của các nhà máy trên 8 triệu tấn dăm khô/năm, các nhà máy hoạt động hết công suất sẽ đòi hỏi lượng gỗ nguyên liệu đầu vào tương đương trên 16 triệu mét khối, hầu hết từ nguồn rừng trồng. Tuy nhiên, sự phát triển quá nóng của ngành dăm trong khi ngành chế biến gỗ đang thiếu trầm trọng nguyên liệu đầu vào, phụ thuộc vào nhập khẩu đang nảy sinh những mâu thuẫn khi các doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ cho rằng, sự phát triển của ngành dăm tạo ra sự thiếu hụt nguyên liệu đầu vào cho chế biến.
Thêm vào đó, XK dăm thực chất là hình thức xuất khẩu nguyên liệu thô, không tạo được giá trị gia tăng trong sản phẩm, không nâng cao giá trị thu nhập từ trồng rừng vì chu kỳ khai thác chỉ từ 5 - 6 năm, trong khi nếu kéo dài chu kỳ lên 10 - 12 năm có thể cung cấp gỗ lớn cho chế biến.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngành dăm cho rằng, hiện nay nhiều hộ gia đình không có đủ các điều kiện cần thiết để trồng rừng gỗ lớn do thiếu vốn đầu tư, họ luôn phải chịu sức ép khai thác rừng trồng sớm để trang trải cho cuộc sống và tái đầu tư trồng rừng. Vì vậy, việc phát triển ngành dăm còn góp phần thúc đẩy nghề trồng rừng phát triển, từ đó nâng cao độ che phủ rừng.
Thông tin trái chiều giữa các ngành đặt các nhà quản lý vào những khó khăn nhất định trong việc xác định ưu tiên phát triển cho các ngành có sử dụng nguồn gỗ rừng trồng làm nguyên liệu đầu vào. Đây chính là lý do khiến ngành dăm gỗ không được ưu tiên phát triển, được thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia đến năm 2020 và Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp với mục tiêu điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ, nhất là các sản phẩm XK theo hướng tăng tỷ trọng giá trị lâm sản sử dụng nguồn nguyên liệu được gây trồng trong nước, hạn chế tối đa XK sản phẩm thô (bao gồm cả dăm gỗ).
Tháng 2/2015, Bộ Nông nghiệp và PTNT ra quyết định phê duyệt kế hoạch triển khai phương án quản lý sản xuất dăm gỗ giai đoạn 2014 - 2020, trong đó nhấn mạnh: rà soát, sắp xếp các cơ sở sản xuất dăm gỗ gắn với vùng nguyên liệu nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả trong sản xuất dăm. Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng kiến nghị tăng thuế XK dăm gỗ và giảm thuế XK đối với sản phẩm gỗ tinh chế XK.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho rằng, việc đánh thuế XK dăm gỗ là cần thiết nhưng phải nhắm vào đối tượng các doanh nghiệp vì hiện nay, lợi nhuận chủ yếu rơi vào tay nhà sản xuất và thương lái thu mua gỗ nguyên liệu.
Tuy nhiên, ông Võ Đình Tuyên, Vụ Quản lý ngành (Văn phòng Chính phủ), cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đã và sắp ký hàng loạt các hiệp định thương mại, việc sử dụng chính sách thuế đối với doanh nghiệp là không phù hợp, đi ngược với xu thế phát triển chung.
TS.Tô Xuân Phúc cũng bày tỏ quan ngại, nếu Chính phủ áp dụng thuế XK dăm gỗ, thay vì tự mình chịu đựng, các doanh nghiệp sẽ chuyển toàn bộ chi phí có liên quan đến thuế vào giá mua nguyên liệu đầu vào. Kết quả là các hộ gia đình cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy dăm là nhóm đối tượng phải chịu thuế chứ không phải doanh nghiệp. “Nếu điều này xảy ra, tác động tiêu cực của việc áp dụng thuế XK dăm là rất lớn bởi hàng trăm nghìn hộ gia đình miền núi, bao gồm nhiều hộ nghèo, hiện cung cấp nguyên liệu cho ngành dăm phải gánh chịu mức thuế này”, ông Phúc nói.
Đồng tình với quan điểm này, ông Lê Công Cẩn, Giám đốc Công ty TNHH Cát Phú (Bà Rịa - Vũng Tàu), doanh nghiệp chuyên sản xuất dăm gỗ XK, băn khoăn: “Vì sao phải đặt ra phương án quản lý chặt chẽ, phải hạn chế, đánh thuế xuất khẩu, áp thuế giá trị gia tăng và tăng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với ngành dăm gỗ mà thực chất là những người trồng rừng phải gánh chịu, đồng thời nó cũng đi ngược với xu thế hội nhập quốc tế và các hiệp định thương mại mà Việt Nam đã và sắp ký kết?”.
Ông Cẩn phân tích, trong cơ cấu giá thành hiện nay của ngành dăm gỗ, chi phí cho nguyên liệu chiếm khoảng 50%, còn lại dành cho khai thác, vận chuyển, sản xuất, quản lý và XK. Nếu đánh thuế XK dăm gỗ và các chính sách thuế khác thì các khoản này chỉ có thể hạch toán vào giá nguyên liệu và có hai khả năng xảy ra hoặc là tăng giá bán cho chế biến gỗ hoặc giảm giá trị thu nhập của người trồng rừng.
Cũng theo ông Cẩn, sự phát triển của ngành dăm gỗ đã góp phần làm thay đổi diện mạo của khu vực nông thôn, miền núi, giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho hàng vạn lao động nông nhàn, nâng cao độ che phủ rừng. Theo thống kê, trong năm 2014, với khối lượng xuất khẩu khoảng 6,96 triệu tấn khô đem lại cho ngành vận tải 4.200 tỷ đồng doanh thu; cung ứng khoảng 200 triệu cây con và 150.000ha rừng trồng mới, tương đương doanh thu 2.500 tỷ đồng; sản lượng hàng hóa qua cảng là 14 triệu tấn, tổng doanh thu bốc xếp đạt khoảng 560 tỷ đồng.
Giá xuất khẩu dăm gỗ cũng tăng mạnh, từ 60 USD/tấn khô những năm đầu mới XK hiện đã đạt 142 USD/tấn khô, năng suất trồng rừng từ 30 tấn/ha nay tăng lên 100 tấn/ha, giá trị rừng trồng từ 15 triệu đồng/ha tăng lên 100 triệu đồng/ha, thậm chí tại những vùng thâm canh tốt có thể đạt 160 triệu đồng/ha.
“Nhiều người đang gán cho ngành dăm gỗ một thứ tội là XK nguyên liệu thô, làm cạn kiệt tài nguyên, nguồn lợi quốc gia. Nhưng trong khi nhiều cánh rừng đang bị xâm hại và cạn kiệt thì ngành dăm gỗ đã góp phần phát triển những cánh rừng trồng mới thông qua việc tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu. Tuy là xuất khẩu nguyên liệu thô nhưng nó được trồng trên những vùng đất xa xôi, cằn cỗi và được tái tạo liên tục. Giá trị rừng khi thu hoạch hiện nay đang thỏa mãn lợi ích cho người trồng rừng, do đó mọi nguồn lực đất đai còn hoang hóa hoặc không thể trồng cây khác có giá trị cao hơn đều được sử dụng trồng rừng nguyên liệu”, ông Cẩn nói.
Trên cơ sở đó, ông Cẩn kiến nghị, các chính sách mới ban hành phải tiếp tục thúc đẩy ngành trồng rừng nguyên liệu phát triển theo hướng tăng diện tích, tăng năng suất và tăng giá trị. Tiếp tục duy trì sự phát triển của ngành dăm gỗ trong đó có sự phát triển của ngành trồng rừng. Dùng nhân tố ổn định này để có chính sách khuyến khích đầu tư chế biến sâu, mang lại hàm lượng giá trị gia tăng cao.
Trong báo cáo, TS.Tô Xuân Phúc cũng đưa ra những đề xuất: Trước khi áp dụng thuế XK dăm cần phải có đánh giá chi tiết và khách quan về thực trạng của ngành, đặc biệt về nguồn cung nguyên liệu và động lực đầu tư sản xuất gỗ rừng trồng của hộ gia đình. Bên cạnh đó, cần có nghiên cứu sát thực về mối quan hệ tương tác giữa ngành dăm và các ngành khác có sử dụng nguồn nguyên liệu từ rừng trồng, từ đó giúp cho việc hình thành các chính sách, bao gồm cả chính sách thuế được ban hành và áp dụng hiệu quả hơn. (Kinh Tế Nông Thôn 15/5)đầu trang(
Ngày mới giải phóng, rừng tràm U Minh còn tới nửa triệu ha. Rừng tràm như một bể nước ngọt khổng lồ tích trữ nước ngọt trong mùa mưa. Ðến mùa khô, nước ngọt từ trong rừng chảy ra đẩy mặn ra biển, không cho mặn xâm nhập sâu vào đất liền. Ngày trước mùa khô, mặn xâm nhập vào khoảng từ 30 đến 50 km. Nay mặn vào tới 70-90 km làm thấp lúa và hại màu.
Ðể ngăn mặn xâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu Long, theo tôi cần khôi phục rừng tràm U Minh, không để diễn ra cảnh phá rừng trồng lúa, nuôi tôm như vừa qua. Nhất là phải nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân, không để xảy ra cháy rừng vào mùa khô.
Ngày trước chúng ta đã có hệ thống kênh, mương để phòng, chống cháy rừng. Nay chúng ta không có biện pháp phòng, chống cháy rừng hợp lý, trong khi nhiều kênh, mương bị bồi lấp... và rừng tràm thường xuyên bị cháy khiến diện tích rừng tràm ngày càng bị thu hẹp lại. Diện tích rừng càng nhỏ thì tác dụng trữ nước ngọt giảm và khả năng ngăn mặn xâm nhập cũng giảm theo.
Việc giữ rừng, phát triển rừng ven biển còn có ý nghĩa chống biến đổi khí hậu ở vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, cải thiện đời sống cho nhân dân. (Nhân Dân 16/5)đầu trang(
Thực hiện Nghị định 99 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, hàng năm tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ chi trả khoảng 20 tỷ đồng cho dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, kế hoạch năm 2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ tiến hành rà soát hiện trạng và xây dựng phương án chi trả cho 3 lưu vực thủy điện A Lưới, Bình Điền và Hương Điền năm 2014. Đây là những lưu vực đều có điện tích thuộc địa bàn huyện A Lưới.
Hiện huyện A Lưới có tổng diện tích rừng khoảng 92 nghìn ha, trong đó diện được chi trả dịch vụ môi trường rừng: 70 nghìn ha, chiếm 76,1% diện tích. Với tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2014 trên 13,6 tỷ đồng, trong đó chi trả cho 457 hộ gia đình, 153 nhóm hộ, 25 cộng đồng là trên 9,5 tỷ đồng, còn lại chi trả cho 4 tổ chức, đơn vị doanh nghiệp như: BQL rừng phòng hộ A Lưới, Khu Bảo tồn sao la TT-Huế, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Phong Điền, Cty TNHH Lâm nghiệp Nam Hòa. Bình quân 1 ha được chi trả 195 nghìn đồng/ha, khu vực có số tiền chi trả lớn nhất là lưu vực thủy điện A Lưới 574 nghìn đồng/ha, thấp nhất là 53 nghìn đồng/ha đối với lưu vực thủy điện Bình Điền.
Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng kịp thời không chỉ giúp cho hoạt động tuần tra, quản lý, bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả hơn mà còn góp phần hỗ trợ người dân có điều kiện để tổ chức, phát triển sản xuất khi rừng được giao cho cộng đồng và tổ chức quản lý. (Đài PTTH TT-Huế 15/5)đầu trang(
Trong khi núi đồi bây giờ xanh kiểu “da beo” vì nạn trồng và khai thác keo ồ ạt gây nhiều hệ lụy trong mùa nắng lẫn mùa mưa, thì những cánh rừng tự nhiên xanh thẳm nối dài bên Tỉnh lộ 624 thuộc xã Hành Tín Đông (Nghĩa Hành) trở thành quý hiếm. Khu rừng này đã mang đến nhiều nguồn lợi cho bà con nơi đây.
Khu rừng thuộc núi Lớn thôn Khánh Giang, Trường Lệ rộng trên 1.400ha. Nguyên thủy đây là rừng nguyên sinh, với đa loài động, thực vật quý hiếm. Năm 2006, trước nạn phá rừng trồng cây nguyên liệu diễn ra khắp nơi, xã Hành Tín Đông nhận sự tài trợ của Cộng hòa Liên bang Đức khoanh nuôi, bảo vệ khu rừng tự nhiên này. Hiện rừng còn nguyên giá trị là nhờ sự bảo vệ của dân làng. Vì thế, hàng năm, rừng đã đem lại cuộc sống no đủ cho người dân nhờ cung cấp các lâm sản phụ, tạo nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và che chắn khi bão lũ xảy ra.
Ông Dương Ngọc Linh-thành viên trong đội giữ rừng cộng đồng thôn Trường Lệ, cho biết: “Thời điểm này là mùa thu hoạch lâm sản phụ như mật ong, dầu rái, lá nón... ở rừng. Mùa xuống giống vụ hè thu nên làng chẳng có ai...”. Đang trao đổi, ông Linh nhận điện thoại báo “rừng động”, lập tức ông bỏ lửng câu chuyện, gọi thêm hai thành viên khác băng đồng, ngược đường mòn lên rừng. Chúng tôi vội theo, đi chừng khoảng 500m là đến chân núi Lớn. Rừng cây hiện ra trên núi đá lởm chởm. Những cây chò, sến, lim và dầu rái to cả người ôm cách bìa rừng không xa...
Ông Linh giải thích: “Các loại cây này vẫn còn nguyên vẹn ở các khu rừng vùng giáp ranh. Từ đây đến đó còn khá xa. Các cháu không đến nơi nổi đâu”. Nói rồi, với đôi chân nhanh như sóc, ông cùng các thành viên giữ rừng vội vàng đi vào rừng.
Ở lại, chúng tôi có dịp “khảo sát” các loại cây ông Linh vừa giới thiệu. Nhiều cây to, tán rộng. Phía dưới những tán cây lớn có nhiều tầng cây khác, dây leo chằng chịt. Chúng tôi nghe từ xa vọng lại tiếng gà rừng, tiếng chim cu gáy và cả tiếng mang tác... Một âm thanh quen thuộc từ rừng tự nhiên mà lâu lắm rồi chúng tôi mới có dịp nghe lại. Giá mà có nhiều khu rừng xanh như thế thì đồi núi, làng quê sẽ thanh bình biết bao!Khoảng hơn một giờ sau đoàn người quay lại. Ông Cao Thanh Hà, cho biết: “Rừng vẫn còn nguyên vẹn!”. Ông Linh tiếp lời: “Đội có 12 người, chia làm 3 nhóm. Bất kể mưa hay nắng, cứ một tháng, mỗi nhóm đi bảo vệ rừng từ 3-4 lần, chưa kể lúc “rừng động”. Các thành viên tham gia giữ rừng đến nay gần 10 năm nên đã quen thuộc từng vị trí của cây. Vì vậy, mất một cây là anh em đều biết...”.
Khu rừng tự nhiên này nằm giáp giữa các huyện Ba Tơ, Mộ Đức là điều kiện thuận lợi cho lâm tặc phá rừng. “Biết đi là vất vả, nguy hiểm, nhưng giữ rừng là giữ cuộc sống cho bà con nên anh em thường động viên nhau lên đường. Có khi đuổi được lâm tặc ra khỏi rừng thì trời cũng nhá nhem tối, quần áo ướt sũng... nhưng không ai bỏ cuộc. Vì vậy, mà rừng cứ mãi thêm xanh!”, ông Linh nói.
Theo nhiều người dân nơi đây, cứ vào khoảng tháng 4, tháng 5 bà con lên rừng khai thác mật ong về bán. Bình quân một lít bán được từ 400-500 nghìn đồng. Mật nơi đây được giá, bởi nó có mùi thơm của đa loại hoa từ cánh rừng tự nhiên này, chứ không giống mật từ những cánh rừng keo.
Ở khu rừng tự nhiên Khánh Giang, Trường Lệ cây dầu rái còn cho bà con thu nhập khá. Hiện mỗi lít dầu rái có giá từ 23-25 nghìn đồng. Mỗi tháng bà con thu hoạch từ 4-5 lần, mỗi lần khoảng 40 lít. Ông Linh nhẫm tính, một tháng ông kiếm được khoảng 3-3,6 triệu đồng từ tiền bán dầu rái. Sở dĩ dầu rái có giá là do những năm gần đây ngư dân đóng thuyền, thúng nan nhiều nên thu mua dầu rái với số lượng lớn. Tuy giá dầu rái tăng cao, nhưng bà con trong làng không ai xâm phạm của ai. Bà con đều ý thức giữ gìn để thu hoạch.
Hơn 430 hộ người Kinh và Hrê sinh sống ven triền núi Khánh Giang, Trường Lệ còn được hưởng nguồn thu từ mây, lá nón... Bà Phạm Thị Lem người Hrê ở tổ 2, thôn Trường Lệ bảo rằng: “Đồng bào quen tập quán đốt rẫy làm nương. Nhưng nguồn thu từ nương rẫy không bằng lâm sản phụ từ rừng xanh mang lại. Bà con trong làng ai cũng động viên không được phá rừng, không chặt cây, đốt lấy mật ong bừa bãi gây cháy rừng mà ảnh hưởng cuộc sống chính mình. Nhiều năm rồi, rừng cho nguồn nước để cấy sạ, sinh hoạt khỏe lắm!”.
Mùa nắng rừng tự nhiên ở Khánh Giang, Trường Lệ cho màu xanh mát mắt, cho nguồn nước đủ đầy để cấy sạ hai mùa lúa xanh tốt. Mùa mưa bão về rừng như tấm lá chắn, giữ bình yên cho dân làng. Trận lũ lụt cuối năm 2013 và tháng 3 vừa qua, đồi núi khắp nơi bị xói mòn, sạt lở uy hiếp đến nhà dân, đến ruộng đồng, thì những cánh đồng ở khu vực này vẫn bình yên. Ông Cao Thanh Hà, bộc bạch: “Cũng nhờ rừng cả! Nước chảy từ trên cao đổ xuống, nhưng qua nhiều tầng lớp cây chắn nên sức nước về đến đồng, đến làng đã giảm dần. Vì vậy mà dân làng mới bình yên, nhà cửa nằm sát bên rừng vẫn còn nguyên vẹn”.
Chính từ lợi ích rừng tự nhiên mang lại mà ông Đào Thanh Công-Chủ tịch UBND xã Hành Tín Đông từng đề nghị lên ngành chức năng, tỉnh tiếp tục cấp kinh phí để xã mở rộng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng theo mô hình cộng đồng. Hiện toàn xã có gần 3.460ha rừng. Trong đó, rừng khoanh nuôi, bảo vệ theo mô hình cộng đồng khoảng 1.400ha. Số còn lại là rừng các dự án lâm nghiệp và rừng trồng cây nguyên liệu keo. Cây keo tuy có lợi trước mắt, nhưng hủy hoại môi sinh lâu dài. Xã xin kinh phí để trồng vào bảo vệ cây lâu năm trên diện tích trồng keo. Có vậy thì màu xanh ở Khánh Giang, Trường Lệ sẽ được giữ mãi và ngày càng lan rộng. (Báo Quảng Ngãi 16/5)đầu trang(
“Ban phát đất rừng cho quan chức”: Báo cáo không minh bạch
Báo cáo của Sở Tài nguyên và môi trường (TN MT) Bình Phước về vụ “Ban phát đất rừng cho quan chức” ở Bình Phước có những dấu hiệu không minh bạch trong việc “ban phát” đất rừng.
Sở Tài nguyên và môi trường (TN MT) Bình Phước vừa có báo cáo gửi Bộ TN MT về tình hình giao, cho thuê đất nông lâm nghiệp trên địa bàn. Báo cáo này chủ yếu giải trình quanh nội dung vụ “Ban phát đất rừng cho quan chức” mà Tuổi Trẻ (ngày 29 và 30-10-2014) từng phản ánh.
Báo cáo này lập luận “không có trường hợp ưu ái trong sử dụng đất, ban phát đất cho cán bộ công chức”. Tuy nhiên, chính nhiều nội dung trong báo cáo này lại chứng minh điều ngược lại, cho thấy những dấu hiệu không minh bạch trong việc “ban phát” đất rừng cho quan chức.
Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước do giám đốc Nguyễn Phú Quới (ông Quới cũng nằm trong danh sách số ít cán bộ được “ban phát” đất rừng với 6,6ha do vợ ông Quới đứng tên) ký về đối tượng, tiêu chí để được thuê đất lâm nghiệp trồng cao su thì “UBND tỉnh không ban hành văn bản quy định”.
Việc xem xét đối tượng cho thuê chỉ căn cứ “trên cơ sở đơn xin thuê đất” rồi “UBND tỉnh chấp thuận chủ trương cho thuê đất và giao Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), các ban quản lý rừng khảo sát, lựa chọn vị trí thực hiện”.
Việc cho cán bộ thuê đất rừng “mỗi hộ 5-10ha”, theo Sở TN&MT Bình Phước, nhằm khắc phục tình trạng khó khăn của cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ yên tâm công tác sau khi tách từ tỉnh Sông Bé.
Tuy nhiên trên thực tế dù Bình Phước có hàng ngàn cán bộ nhưng không phải cán bộ nào cũng được cho thuê đất, mà ngược lại trong danh sách được “ban phát” đất rừng ấy người ta thấy nổi lên chủ yếu là các cán bộ lãnh đạo của Sở NN&PTNT, Sở TN&MT, văn phòng UBND tỉnh...
Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước, tổng cộng chỉ có 116 hộ gia đình, cá nhân được cho thuê đất rừng trồng cao su (trong đó Sở TN&MT không nêu cụ thể bao nhiêu cán bộ, người nhà cán bộ).
Còn theo điều tra của Tuổi Trẻ, nhiều cán bộ nằm trong danh sách được “ban phát” đất rừng không hề khó khăn, có cán bộ đã có nhiều hecta cao su ở nơi khác nhưng vẫn được “ban phát” đất rừng.
Như vậy, mặc dù báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước không thừa nhận có việc “ưu ái”, “ban phát” đất rừng cho cán bộ, nhưng qua báo cáo này và trên thực tế cho thấy đúng như Tuổi Trẻ phản ánh: chỉ một số ít cán bộ “biết”, làm đơn thì được cho thuê đất rừng và tiêu chí cho thuê chủ yếu dựa vào... “tình nghĩa”.
Báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước cũng giải trình về các nội dung: việc thực hiện chính sách hỗ trợ người dân thiếu đất ở, đất sản xuất; việc quy hoạch, phát triển trồng cao su trên địa bàn tỉnh, trình tự thực hiện các dự án chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cây cao su....
Trong đó, báo cáo cho rằng “việc quy hoạch phát triển trồng cây cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước được thực hiện theo đúng hướng dẫn của Bộ NN&PTNT, theo đúng quy hoạch đã được cấp thẩm quyền phê duyệt...”.
Ngoài ra, báo cáo còn nêu “việc quy hoạch và thực hiện quy hoạch cấp đất cho các hộ đồng bào dân tộc, các hộ nghèo và không có đất như nêu trên là cơ bản đáp ứng nhu cầu đất ở, đất sản xuất của các hộ tại địa phương...”.
Như vậy, báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước không hề nhắc tới những số liệu, dẫn chứng rất cụ thể mà báo chí nêu đã chứng minh điều ngược lại so với chính báo cáo của cơ quan này. Đó là số liệu còn hàng ngàn hộ dân có nhu cầu cấp đất sản xuất nhưng tỉnh đang thiếu tới 6.148ha để cấp cho họ (số liệu của Thanh tra tỉnh Bình Phước).
Sở TN&MT tỉnh Bình Phước cũng đã không nhắc gì tới số liệu diện tích rừng tự nhiên của tỉnh này giảm nghiêm trọng: nếu như năm 2002 Bình Phước có tới 127.800ha rừng tự nhiên thì hơn 10 năm sau, vào năm 2013 chỉ còn 58.600ha, giảm hơn một nửa mà Tuổi Trẻ đã nêu.
Báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước còn bộc lộ thực tế nhiều cán bộ được “ban phát” đất rừng đã “né”, trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với khu đất được thuê.
Mặc dù từ năm 2007-2009 nhiều cán bộ đã nhận đất rừng, thanh lý cây rừng và trồng cao su nhưng tới nay vẫn chưa làm thủ tục thuê đất, chưa đóng tiền thuê đất và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác với Nhà nước.
Theo Sở TN&MT tỉnh Bình Phước, “một số trường hợp sau khi trồng xong cây cao su vẫn không liên hệ với Sở TN&MT để lập thủ tục, khi cần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn hoặc cho các mục đích khác thì các hộ này mới liên hệ lập thủ tục thuê đất”.
Theo điều tra của Tuổi Trẻ, “một số trường hợp” mà Sở TN&MT tỉnh Bình Phước nêu có cả lãnh đạo của chính sở này và lãnh đạo Sở NN&PTNT, cán bộ văn phòng UBND tỉnh dù được cho thuê đất từ lâu nhưng thời gian gần đây mới làm thủ tục thuê đất.
Việc chưa làm thủ tục thuê đất thực chất là “né”, chậm làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Theo Sở TN&MT, trong số 116 hộ gia đình, cá nhân được cho thuê đất thì tính tới tháng 3-2015 mới có 75 hộ, cá nhân lập thủ tục thuê đất.
Đối với các trường hợp này, Sở TN&MT tỉnh Bình Phước báo cáo với Bộ TN&MT là “khi lập thủ tục thuê đất sẽ thực hiện truy thu số tiền thuê đất chưa nộp theo đúng quy định”.
Cụ thể: đối với các hộ, cá nhân chưa lập thủ tục thuê đất thì thời điểm tính tiền thuê đất được xác định từ ngày UBND tỉnh ra quyết định dự án trồng cao su (từ năm 2007-2009).
Đối với các hộ, cá nhân đã lập thủ tục thuê đất nhưng thời điểm lập thủ tục sau thời gian nhận đất trên thực tế thì cũng sẽ căn cứ vào ngày UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt dự án để tính tiền thuê đất.
Báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước chưa nêu số tiền cụ thể sẽ truy thu từ các cán bộ, hộ gia đình và cá nhân chưa nộp tiền thuê đất là bao nhiêu.
Liên quan việc “ban phát đất rừng cho quan chức” mà báo Tuổi Trẻ đã nêu, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Văn Lịch - phó tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ TN&MT) - cho biết sau khi báo Tuổi Trẻ có một số bài đề cập đến nội dung “ban phát đất rừng”, Bộ TN&MT đã yêu cầu Sở TN&MT tỉnh Bình Phước báo cáo và nhận được báo cáo “giải trình” của Sở TN&MT tỉnh Bình Phước.
Theo ông Lịch, việc Sở TN&MT Bình Phước báo cáo cũng chỉ là thông tin từ một phía. Vì vậy để có đầy đủ cơ sở, Tổng cục Quản lý đất đai đã giao Cục Quy hoạch đất đai lập đoàn kiểm tra vào kiểm tra thực tiễn trong Bình Phước.
Ông Lịch cho biết hiện đoàn kiểm tra của Cục Quy hoạch đất đai đang xem xét từng vấn đề, sau đó sẽ có báo cáo kết luận về những việc cụ thể trong giao đất rừng tại Bình Phước. “Tới đây có kết luận cụ thể về việc giao đất rừng, chúng tôi sẽ có báo cáo cụ thể gửi Bộ TN&MT và gửi tới báo” - ông Lịch nói.
Theo một lãnh đạo Cục Quy hoạch đất đai, bước đầu trong quá trình kiểm tra cho thấy có một số vấn đề trong giao đất rừng ở Bình Phước cần phải xem xét kỹ như việc tỉnh này chưa có văn bản quy định về tiêu chí cụ thể trong giao đất rừng. (Tuổi Trẻ 16/5)đầu trang(
Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các cty lâm nghiệp tỉnh Bình Thuận
Sáng 15/5, UBND tỉnh họp thông qua phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp do UBND tỉnh quản lý. Ông Lê Tiến Phương-Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.
Thực hiện lộ trình chuyển đổi theo Luật Doanh nghiệp, toàn tỉnh có 4 công ty lâm nghiệp chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình mới, đó là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Hàm Tân, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bình Thuận, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Sông Dinh và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Tánh Linh. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp 4 đơn vị đang quản lý sử dụng trên 31.000 ha.
Theo phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp, hình thức sắp xếp được thực hiện như sau: đối với 2 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bình Thuận và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Hàm Tân sẽ thực hiện phương án hợp nhất, chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do Nhà nước nắm phần vốn góp chi phối (từ 65% trở lên).
Đối với công ty TNHH MTV lâm nghiệp Sông Dinh sẽ chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp, thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Đối với Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Tánh Linh sẽ tiến hành giải thể, việc xử lý tài chính, tài sản, đất đai thực hiện theo quy định tại Nghị định 118 của Chính phủ; đảm bảo giải quyết tốt chính sách đối với người lao động theo quy định của pháp luật.
Phát biểu tại cuộc họp, ông Lê Tiến Phương-Chủ tịch UBND tỉnh thống nhất những nội dung của dự thảo phương án tổng thể sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp trong tỉnh. Chủ tịch UBND tỉnh cũng giao cho Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn khẩn trương hoàn chỉnh dự thảo phương án tổng thể sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp dựa trên các ý kiếp góp ý các của đại biểu tại cuộc họp này, để trình Ban thường vụ Tỉnh ủy xem xét chậm nhất vào ngày 18/5 tới. (Đài PTTH Bình Thuận 15/5)đầu trang(
Báo Tuổi Trẻ trồng cây xanh trên đảo Phan Vinh (Trường Sa)
Sáng 15-5, giữa trùng khơi đầy nắng và gió trên đảo Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa, báo Tuổi Trẻ phối hợp với các cơ quan chức năng chủ trì lễ trồng cây trên đảo này.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Thế Chữ - phó tổng biên tập báo Tuổi Trẻ - cho biết nối dài các chương trình hướng về biển đảo do báo Tuổi Trẻ phát động và được sự đón nhận của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước những năm qua, từ năm 2012 báo Tuổi Trẻ phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan đã tổ chức và thực hiện chương trình “Trường Sa xanh”.
Theo đó, trong năm 2014 báo Tuổi Trẻ tổ chức trồng 200 cây xanh trên đảo Trường Sa Lớn, tổ chức lễ trồng tượng trưng 20 cây xanh trên đảo Phan Vinh hôm nay (15-5).
Trong thời gian tới, báo Tuổi Trẻ sẽ tiếp tục chương trình trồng cây xanh trên đảo Phan Vinh và các đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa.
“Qua những ngày được thăm và làm việc trên quần đảo Trường Sa, các thành viên trong đoàn công tác chúng tôi càng hiểu và thấm thía hơn ý nghĩa, giá trị của cây xanh trên đảo. Không chỉ mang lại cảnh quan môi trường mà còn che chở cho quân và dân trên đảo trước sóng gió, mưa bão, thời tiết cực kỳ khắc nghiệt trên quần đảo Trường Sa” - ông Lê Thế Chữ nói.
Về phía chỉ huy đảo Phan Vinh, trung tá Ngô Đình Xuyên (phó chỉ huy trưởng, tham mưu trưởng đảo Phan Vinh) chia sẻ cây xanh trên đảo chính là một trong những biểu tượng cho sức sống của đảo nói chung cũng như của quân dân trên đảo. Vì vậy sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên cũng như sự quan tâm, hỗ trợ, động viên từ đất liền, trong đó có các chương trình do báo Tuổi Trẻ tổ chức, là để cán bộ, chiến sĩ tiếp tục hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. (Tuổi Trẻ 16/5)đầu trang(
Sáng 16-5, tại đồi Công đoàn, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã diễn ra Lễ phát động “Tháng hành động trồng rừng” tập trung, trồng cây phân tán, với sự tham gia hưởng ứng của lãnh đạo, cán bộ và đông đảo nhân dân.
Ngay sau Lễ phát động, hơn 1.500 cây thông ba lá được trồng tại khu vực đồi Công đoàn và khu quy hoạch dân cư Bạch Đằng - Ngô Quyền, TP Đà Lạt.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn Yên nhấn mạnh, việc trồng cây xanh, trồng rừng và bảo vệ rừng ngày càng có ý nghĩa chiến lược quan trọng, chúng ta cần duy trì thường xuyên và trở thành nét đẹp truyền thống trong nhân dân.
Trong khuôn khổ sự kiện, tại các cơ quan, đơn vị, phường, xã tại địa bàn TP Đà Lạt cũng ra quân, trồng hơn 35 nghìn cây xanh trong khuôn viên công sở, khu dân cư, trường học, các tuyến đường giao thông, bổ sung rừng nội ô thành phố và trồng khoảng 100 ha rừng tập trung. (Nhân Dân 16/5)đầu trang(
Ngày mới giải phóng, rừng tràm U Minh còn tới nửa triệu ha. Rừng tràm như một bể nước ngọt khổng lồ tích trữ nước ngọt trong mùa mưa. Ðến mùa khô, nước ngọt từ trong rừng chảy ra đẩy mặn ra biển, không cho mặn xâm nhập sâu vào đất liền. Ngày trước mùa khô, mặn xâm nhập vào khoảng từ 30 đến 50 km. Nay mặn vào tới 70-90 km làm thấp lúa và hại màu.
Ðể ngăn mặn xâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu Long, theo tôi cần khôi phục rừng tràm U Minh, không để diễn ra cảnh phá rừng trồng lúa, nuôi tôm như vừa qua. Nhất là phải nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân, không để xảy ra cháy rừng vào mùa khô.
Ngày trước chúng ta đã có hệ thống kênh, mương để phòng, chống cháy rừng. Nay chúng ta không có biện pháp phòng, chống cháy rừng hợp lý, trong khi nhiều kênh, mương bị bồi lấp... và rừng tràm thường xuyên bị cháy khiến diện tích rừng tràm ngày càng bị thu hẹp lại. Diện tích rừng càng nhỏ thì tác dụng trữ nước ngọt giảm và khả năng ngăn mặn xâm nhập cũng giảm theo.
Việc giữ rừng, phát triển rừng ven biển còn có ý nghĩa chống biến đổi khí hậu ở vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, góp phần nâng cao năng suất cây trồng, cải thiện đời sống cho nhân dân. (Báo Lạng Sơn 16/5)đầu trang(
Dù Bác Hồ ở thăm đồng bào tuy ngắn, nhưng những lời dặn dò của Bác về tích cực trồng cây gây rừng được đồng bào các dân tộc nơi đây luôn khắc ghi.
Gần đến dịp kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, người dân ở xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La lại càng nhớ Bác nhiều hơn. Năm 1959, khi Bác Hồ lên thăm Tây Bắc, Bác đã nói chuyện và căn dặn bà con nơi đây. Đông đảo nhân dân ở xã Chiềng Ly lúc bấy giờ đã vinh dự được đón Bác. Thời gian Bác ở thăm đồng bào tuy ngắn, nhưng những lời dặn dò của Bác về tích cực trồng cây gây rừng được đồng bào các dân tộc nơi đây luôn khắc ghi và truyền lại cho thế hệ con cháu.
Ông Lường Văn Trọng ở bản Pán, xã Chiềng Ly năm nay 70 tuổi. Khi Bác Hồ về thăm vào tháng 5/1959, ông mới là cậu học trò lớp 4, vinh dự được cùng thầy cô giáo và các bạn học sinh trong trường đến sân vận động Thuận Châu nghe Bác nói chuyện. Cảm xúc lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy Bác bằng da, bằng thịt, ông nhớ rõ lắm. Ông Lường Văn Trọng kể lại: “Sáng mùng 7/5/1959, tôi có mặt ở sân vận động từ rất sớm. Hồi đó không biết được đón Bác Hồ, chỉ biết là có phái đoàn Trung ương lên, vậy thôi. Khi phái đoàn xuất hiện, thấy mọi người hô vang “Hồ Chủ tịch muôn năm”, tôi mới biết đó là Hồ Chủ tịch”.
Cũng theo ông Trọng, tại buổi nói chuyện hôm đó, Bác dặn dò mọi người đã đoàn kết càng đoàn kết, thi đua sản xuất-tiết kiệm, đưa khu tự trị Tây Bắc lên chủ nghĩa xã hội…
Một việc được Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần là phải tích cực trồng cây gây rừng, bởi rừng có tác dụng điều hòa nước, ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe con người…
Thấm nhuần lời dặn của Bác, nhân dân các dân tộc Chiềng Ly đã cùng nhau ra sức thi đua, góp phần đưa cuộc sống ngày một tiến bộ, phát triển. Riêng công tác bảo vệ, phát triển rừng được chú trọng đặc biệt, nhờ vậy, diện tích rừng của xã ngày càng tăng, đến nay đã có gần 2.000 ha.
Hàng năm xã đã trồng mới hàng chục ha rừng cùng nhiều cây phân tán. Xã cũng đã xây dựng quy ước cho 22 bản về công tác bảo vệ rừng. Các quy ước này hướng dẫn cho người dân thực hiện các biện pháp phòng chống cháy rừng, gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với các phong tục tập quán tiến bộ của đồng bào, nhất là đồng bào sống ở vùng sâu, vùng xa.
Cùng với các địa phương khác ở tỉnh, ở huyện, xã Chiềng Ly đã sớm hoàn thành việc giao đất, giao rừng, tạo điều kiện cho người dân có thu nhập từ rừng, từng bước ổn định cuộc sống, từ đó ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng được nâng lên rõ rệt. Đến nay, độ che phủ rừng trên địa bàn đã đạt gần 60%.
Ông Lò Văn Hòa, cán bộ địa chính xã Chiềng Ly cho biết: “Trước kia, có lúc họp, người dân cũng ậm ừ, cũng ký cam kết nhưng họ thường không chấp hành các nội dung đã cam kết. Về sau, từ những buổi tuyên tuyên truyền của chúng tôi, người ta cũng nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng của rừng. Do vậy họ cũng tiến hành làm theo các nội dung mà chúng tôi đã tuyên truyền về công tác quản lý, bảo vệ rừng’.
Cũng nhờ ý thức bảo vệ, phát triển rừng của bà con ngày càng nâng cao mà nhiều năm nay, Chiềng Ly không để xảy ra tình trạng cháy rừng. Nhiều cánh rừng trồng, như rừng bản Huông, Khâu Tú hàng năm được mở rộng diện tích. Nhờ có rừng, nhiều sản phẩm từ rừng đã được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
Cũng nhờ có rừng, nguồn nước tự nhiên ở bản đã đảm bảo nước tưới 2 vụ cho 100 ha ruộng nước và 1 vụ màu, góp phần nâng cao thu nhập trên một diện tích đất canh tác. Qua đó, đời sống của người dân không ngừng được nâng lên.
Năm 2014, tổng thu nhập bình quân đầu người toàn xã đạt 11 triệu đồng/người/năm, tăng gần 20% so với năm trước. Chiềng Ly hiện không còn hộ đói, số hộ nghèo và cận nghèo chỉ còn trên 10%.
Ông Lường Văn Quyết, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch xã Chiềng Ly cho biết: “Thực hiện theo lời dạy của Bác, Đảng bộ xã xác định trong thời gian tới sẽ tiếp tục tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng. Tuyên truyền bằng các phương pháp là tổ chức các cuộc họp bản, tuyên truyền có thể bằng tiếng dân tộc. Xã cũng giao nhiệm vụ cho các trưởng bản các bản trực tiếp ký cam kết với Ủy ban Nhân dân xã, còn các hộ trực tiếp ký cam kết với trưởng bản của mình về công tác quản lý và bảo tốt diện tích rừng của địa phương”.
Gần 60 năm đã trôi qua, song với đồng bào các dân tộc Chiềng Ly, những lời dặn dò ân cần của Bác từ lần Người về thăm năm ấy vẫn vẹn nguyên. Mỗi người đều đang cùng nhau ra sức thi đua, lao động, sản xuất; nỗ lực chăm lo gìn giữ, phát triển rừng và lập thêm những thành tích đáng tự hào dâng lên Bác Hồ kính yêu. (VOV 16/5)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một người phụ nữ Nga 55 tuổi bị gấu tấn công rồi ủi đất và lá cây chôn sống trong khi bà vào rừng thu gom lá bạch dương.
Nạn nhân tên là Natalya Pasternak, 55 tuổi. Sự việc kinh hoàng xảy ra khi bà Natalya cùng bạn vào khu rừng ở gần vùng Tynda ở khu vực Viễn Đông của Nga để thu gom lá bạch dương. Tuy nhiên, cả hai bị gấu tấn công.
Người bạn của bà Natalya đã dùng cành bạch dương để xua đuổi con thú đi và trốn thoát với những vết thương trên lưng. Tuy nhiên, ngay sau đó, con gấu quay trở lại và hung dữ lao vào tấn công bà Nataly.
Con gấu kéo lê bà Natalya đi một quãng khá xa và sau đó ủi đất và lá cây phủ lên gần như toàn bộ cơ thể nạn nhân. Chỉ có đầu và tay của nạn nhân trồi lên mặt đất. Loài gấu có thói quen chôn sống con mồi, để dành ở đó và sẽ quay lại ăn thịt sau.
May thay, lực lượng cứu hộ đã tìm thấy bà Natalya Pasternak kịp thời. Các thanh tra viên động vật hoang dã đã tiếp cận và dùng súng bắn chết con gấu, cứu sống nạn nhân khỏi nấm mồ sâu khoảng vài thước.
"Chỉ có đầu và tay của người phụ nữ trồi lên mặt đất. Bà ấy vẫn có ý thức và câu đầu tiên bà ấy nói với chúng tôi là: "Có phải các anh đã giết chết con gấu?", Sergei Ivanov, một quan chức bảo tồn động vật hoang dã chia sẻ với phóng viên.
Bà Natalya đã được đưa đi cấp cứu. Nạn nhân bị thương nghiêm trọng nhưng sau 5 giờ trên bàn mổ, bà Natalya đã qua cơn nguy kịch.
Gấu tấn công người khá hiếm gặp ở Nga. Tuy nhiên, vào mùa xuân, nguy cơ bị gấu tấn công cao hơn do con thú đang bị đói sau thời gian ngủ đông. (Dân Việt 15/5)đầu trang(
15/5, các thành viên cấp cao của Liên minh Bảo vệ chó châu Á (ACPA) chính thức gửi thư kiến nghị lên Chính phủ Việt Nam kêu gọi chấm dứt nạn trộm cắp, buôn lậu, giết mổ lấy thịt và đối xử tàn nhẫn với loài chó tại Việt Nam.
Là người đứng đầu ACPA, ông John Dalley nhận định, dù những năm vừa qua tại Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể về thái độ và hành vi tiêu thụ thịt chó, song thị trường thịt chó vẫn khá sôi động, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM.
Điều tra của ACPA cho rằng, mỗi năm có hơn 5 triệu con chó bị giết và tiêu thụ tại Việt Nam, trong khi ở đây chưa có nguồn chó nuôi ổn định để cung cấp cho các quán thịt chó. Nhu cầu tiêu thụ cao, nguồn cung không đủ nên dẫn đến nạn bắt trộm chó và nhập lậu chó từ nước ngoài tăng mạnh trong những năm gần đây. Hầu hết nguồn cung thịt chó lậu là từ Thái Lan, Campuchia, Lào.
Ông Lê Đình Chính, Điều phối viên của ACPA tại Việt Nam, nói rằng, hành vi tàn ác đối với loài chó không chỉ ở quá trình vận chuyển mà còn ở nhiều giai đoạn khác như giam nhốt nơi bẩn thỉu, bỏ đói, đánh đập, chích điện, luồn ống bơm nước vào dạ dày chó… trước khi đem chúng đi giết thịt. “Những con chó bị giết thịt đều không rõ nguồn gốc, không được kiểm soát tiêm chủng nên dễ dàng là mầm mống gây nhiều bệnh như tả, giun xoắn, ghẻ, dại... và có nguy cơ lây nhiễm cao cho người dùng".
Ông Chính nói rằng, trong quá trình điều tra, ông chứng kiến nhiều hình ảnh ghê rợn, bẩn thỉu từ những nơi nhốt chó để chờ mổ. “Tôi khẳng định, chỉ một lần chứng kiến như tôi, sẽ có nhiều người bỏ ăn thịt chó vì quá sốc”. Ông Chính đã làm một phóng sự về thực trạng hành hạ loài chó để đưa vào chiến dịch “Về đi Vàng ơi” do ACPA phát động, nhằm nâng cao sự đồng cảm đối với loài chó, kêu gọi chấm dứt nạn trộm cắp, buôn lậu, giết mổ và tiêu thụ thịt chó ở Việt Nam.
Một triệu chữ ký cho chiến dịch “Về đi Vàng ơi” Phát động ngày 14/3 tại TPHCM, chiến dịch “Về đi Vàng ơi” đã thu hút khá nhiều người ủng hộ, trong đó nhiều nghệ sỹ như Uyên Linh, Vũ Cát Tường, Quang Đăng, Chi Pu, Gil Lê, Hà Lê, Quốc Trung, Trương Thị May… Chi Pu cho biết: “Đối với tôi, chó không chỉ là loài vật trung thành mà còn như người bạn tâm tình. Những chú chó rất cần được yêu thương và đối xử tốt. Sau khi xem qua đoạn clip về cảnh các chú chó bị bắt giết dã man, tôi có cảm xúc rất mãnh liệt. Bằng cách tham gia vào chiến dịch này, hy vọng chú chó của tôi hay của các bạn không phải rơi vào tay những nhóm người xấu, buôn bán lậu”.
Bác sĩ Nguyễn Văn Nghĩa, người từng tham gia nhiều chiến dịch giải cứu động vật tại TP HCM cho rằng, sự thiếu hụt chính sách quản lý động vật đã dẫn đến một hệ quả đáng buồn là những kẻ trộm chó bị pháp luật xử lý quá nhẹ dẫn đến việc người mất chó bức xúc, quá khích, thậm chí gây chết người. “Một miếng thịt chó bạn đang nhai có khi bị ám cả mạng người trong đó. Vậy thì miếng thịt chó có ngon lành gì không? Cần phải làm gì để thay đổi?”, bác sĩ Nghĩa nói. ACPA hy vọng chiến dịch “Về đi Vàng ơi” sẽ thu hút trên một triệu chữ ký ủng hộ. (Tiền Phong 16/5)đầu trang(
Cảnh sát Nga đã bắt giữ hai người đàn ông Việt Nam tại chợ Liublino ở Moscow khi hai người này ngang nhiên rao bán đầu hổ Amur trên mạng internet, theo hãng tin Vesti.
Nhân viên cảnh sát đã cải trang thành người mua hàng và hẹn gặp hai người đàn ông Việt Nam tại chợ. Họ chống trả khá quyết liệt trước khi bị khống chế.
Khám xét nơi ở của hai người đàn ông này trên phố Tikhoreski Bulvar, cơ quan chức năng phát hiện hai tủ lạnh chứa đầy thịt hổ. Tại thị trường chợ đen, mỗi kg thịt hổ có giá trên 100.000 rúp (hơn 2.000 USD). Hiện cảnh sát đang tiến hành xác minh nguồn gốc của chỗ thịt hổ trên.
Ngoài ra, trong lúc kiểm tra hai tủ lạnh, cảnh sát còn phát hiện một túi nilon đen được để riêng. Ban đầu, người ta lầm tưởng bên trong chiếc túi là một bàn chân hổ đông lạnh nhưng qua phân tích thì xác định được đó là bàn tay của một loài linh trưởng.
Hổ Amur hay còn gọi là hổ Siberi, hổ Ussuri hoặc hổ Mãn Châu, là loài động vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Quốc tế. Trên thế giới hiện nay chỉ còn lại vài trăm cá thể. Tổng thống Nga Vladimir Putin từng phát động một phong trào bảo vệ loài động vật hoang dã đang trên bờ vực tuyệt chủng này. (VnExpress 16/5)đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||