|
Ngày 08 tháng 06 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ban Quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng (BQL) cho biết đang phối hợp với Hạt Kiểm lâm Sơn Trà (Đà Nẵng) tiến hành khảo sát, tổ chức tour “săn” ảnh voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng có tên trong sách đỏ, đang sinh sống trên bán đảo Sơn Trà (TP.Đà Nẵng) vào đầu tháng 7 tới.
Sau một thời gian dài nghiên cứu lịch trình sinh hoạt, tập tính, thói quen của đàn voọc, BQL quyết định sẽ tổ chức tour vào 4 giờ và 16 giờ, hai thời điểm voọc đi ăn quanh tuyến đường Tiên Sa (thuộc bán đảo Sơn Trà).
Ông Nguyễn Đức Vũ, Phó trưởng BQL, cho biết khách tham gia tour “săn” ảnh này sẽ phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định như mang giày thể thao (để không gây tiếng động) khi đi bộ gần 2 km dọc tuyến đường Tiên Sa, máy ảnh phải có ống kính tele để đảm bảo giữ khoảng cách nhất định, không ảnh hưởng đến không gian sinh hoạt của đàn voọc…(Thanh Niên 8/6) đầu trang(
Kiểm lâm tỉnh Bắc Cạn đang tích cực triển khai, hướng dẫn 83 thôn, bản ở vùng lõi, vùng đệm tại ba khu rừng đặc dụng trên địa bàn sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí được hỗ trợ (40 triệu đồng/thôn, bản/năm) để phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, từ đó giảm áp lực đối với rừng.
Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết: “Thực hiện Quyết định số 24 QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 100 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng tôi đang tích cực triển khai hỗ trợ các thôn, bản trong vùng lõi, vùng đệm ba khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh là Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh nam Xuân Lạc và Vườn quốc gia Ba Bể, mỗi thôn, bản 40 triệu đồng/năm để tạo sinh kế lâu dài cho nhân dân. Ngược lại, nhân dân các thôn, bản có trách nhiệm phối hợp lực lượng kiểm lâm quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả”.
Áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn từ năm 2015, với số tiền được hỗ trợ 40 triệu đồng/thôn, bản mỗi năm, người dân sẽ dùng vào việc mua cây, con giống, phân bón, làm chuồng trại, nước sinh hoạt, sửa chữa đường, mua sắm trang, thiết bị phục vụ sinh hoạt cộng đồng...
Hiện nay, kiểm lâm các khu rừng đặc dụng đang đến từng thôn, bản hướng dẫn nhân dân sử dụng số tiền này sao cho thật hiệu quả, đúng mục đích, bảo đảm không thất thoát; đồng thời ký cam kết với từng hộ dân không xâm hại rừng đặc dụng, cung cấp các nguồn tin có giá trị để kiểm lâm bảo vệ rừng.
Thôn Lủng Lỳ có 45 hộ đồng bào dân tộc Dao, chủ yếu là hộ nghèo, do thiếu vốn, không có đất sản xuất, sinh sống ngay tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ. Thời gian vừa qua một số người trong thôn vào rừng khai thác gỗ quý hiếm về làm nhà, cưa thớt bán. Khi được nhận 40 triệu đồng, bà con trong thôn định sử dụng số tiền này để đổ bê tông sân nhà họp thôn. Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải đến họp với nhân dân trong thôn, phân tích để bà con hiểu thực tế, nhà họp thôn mỗi tháng chỉ sử dụng một lần nên chưa cần thiết đổ bê tông, bà con nên dùng số tiền này để làm chuồng chăn nuôi lợn, mua giống lợn thì sẽ hiệu quả hơn.
Được ông Hải phân tích, bà con quyết định, năm nay có 20 hộ được hưởng chính sách, mỗi hộ được nhận hai triệu đồng để làm chuồng lợn, mua lợn giống về chăn nuôi để có thêm thu nhập. Năm sau sẽ luân phiên, có thêm 20 hộ được hưởng chính sách này, cũng làm chuồng trại chăn nuôi.
Ông Cà Tháo Thùng ở thôn Lùng Lỳ cho biết: Có chuồng, có lợn giống rồi, từ nay sẽ chăm chỉ chăn nuôi để lợn chóng lớn, không vào rừng khai thác lâm sản, đào vàng nữa, làm như thế vừa vất vả, lại phạm pháp.
Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ Nguyễn Tiến Dũng cho biết: Các thôn, bản trong vùng lõi, vùng đệm Khu bảo tồn đều là người dân tộc thiểu số, thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm nên đời sống khó khăn, chủ yếu là hộ nghèo. Cuộc sống của nhiều hộ dựa vào khai thác lâm sản, khai thác vàng. Khi mỗi thôn, bản được hỗ trợ 40 triệu đồng/năm để làm chuồng trại, mua giống, vật tư sản xuất... thực chất là tạo sinh kế lâu dài cho các thôn, từ đó giảm áp lực đối với rừng đặc dụng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Cạn trực tiếp thực hiện chủ trương này nên đang chỉ đạo lực lượng bám sát các thôn, bản để hướng dẫn các hộ sử dụng kinh phí thật hiệu quả, đồng thời tuyên truyền để các hộ dân cam kết không xâm hại rừng, thường xuyên cung cấp tình hình, tin tức có giá trị về các hoạt động xâm hại rừng cho kiểm lâm.
Ông Hải chia sẻ: Đây là chính sách có ý nghĩa đối với đời sống nhân dân, tai mắt nhân dân có ở khắp nơi, rừng có biến động gì là nhân dân biết và cung cấp cho kiểm lâm, kiểm lâm dù có đông đến đâu cũng không thể ngày đêm bám sát, bảo vệ được rừng hiệu quả bằng nhân dân. Do đó, chúng tôi sẽ cùng với chính quyền các xã để tạo dựng sinh kế bền vững cho nhân dân sinh sống tại vùng lõi, vùng đệm ở các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh. (Nhân Dân 7/6) đầu trang(
5 và 6-6, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông phối hợp với Ban quản lí Vườn Quốc gia Tà Đùng tổ chức Chiến dịch truyền thông "Bảo vệ rừng, động vật hoang dã và môi trường”.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, trên địa bàn tỉnh này hiện có gần 1.500 loài thực vật thuộc 768 chi, 186 họ và 6 ngành thực vật bậc cao. Trong đó có 8 loài đang cần bảo vệ đặc biệt như: Chà vá chân đen, vượn má vàng, mang Trường Sơn, gà lôi vằn, gà tiền mặt đỏ…
Chiến dịch góp phần bảo tồn các hệ động, thực vật phong phú này, Đắk Nông đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý bảo vệ đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng. Qua đó, giúp người dân thấy rõ được tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng, bảo tồn các loài động thực vật hoang dã. (Đại Đoàn Kết 7/6; VOV 6/6) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa có chỉ đạo khẩn cho các sở, ngành và các địa phương có rừng khẩn trương triển khai các phương án PCCC rừng trước tình trạng nắng nóng đang xảy ra gay gắt trên diện rộng hiện nay.
Theo đó, yêu cầu các huyện, TP tổ chức tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân nâng cao ý thức trong bảo vệ rừng và PCCC rừng; chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện để xử lý, dập tắt kịp thời các vụ cháy rừng nếu xảy ra. Khi dự báo nguy cơ cháy rừng từ cấp 3 trở lên phải nghiêm cấm người dân đốt nương làm rẫy; bố trí người gác rừng tại các vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao.
Sở NN&PTNT được giao tổ chức kiểm tra công tác PCCC rừng tại các địa phương, xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân, chủ rừng có hành vi vi phạm trong PCCC rừng… UBND tỉnh cũng yêu cầu các đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm trong PCCC rừng…(Pháp Luật TPHCM 7/6) đầu trang(
11 giờ ngày 6/6, đám cháy rừng tràm xảy ra tại ấp 16, xã Nguyễn Phích (huyện U Minh). Đây là phần đất rừng của 4 hộ dân, vừa khai thác tràm trong mùa khô năm nay.
Ông Lê Văn Hải, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Cà Mau cho biết, Hạt kiểm lâm U Minh đã huy động máy bơm, lực lượng chữa cháy đến khoanh vùng đám cháy, phòng cháy lan diện tích rừng tràm của các hộ dân".
Chiều cùng ngày, đám cháy đã được dập tắt, khoanh vùng, không có khả năng lây lan ra khu vực xung quanh. Thiệt hại đám cháy vẫn chưa được thống kê.
Được biết, từ đầu mùa khô đến nay, có 2 đám cháy lớn rừng tràm U Minh hạ đều diện tích rừng tràm sau khai thác. (Tiền Phong 6/6) đầu trang(
Đắk Nông: Doanh nghiệp đua nhau…để mất rừng
Chỉ trong vài năm, hàng ngàn héc-ta rừng tự nhiên và đất rừng được UBND tỉnh Đắk Nông giao cho các doanh nghiệp tư nhân thuê đã bị tàn phá, lấn chiếm. Sau khi để mất rừng, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, nhiều doanh nghiệp đã lấy lý do không giữ nổi rừng để trả lại…đất trống.
Hiện tại, UBND tỉnh Đắk Nông đã phê duyệt cho 41 dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn với mục đích vừa phát triển kinh tế vừa quản lý bảo vệ rừng. Tại thời điểm dự án được phê duyệt, tổng diện tích giao cho các doanh nghiệp (DN) là hơn 31.600ha, trong đó có hơn 14.300ha rừng tự nhiên phải quản lý, bảo vệ. Nhưng chỉ sau vài năm, đã có gần 4.800ha rừng tự nhiên bị tàn phá, gần 8.300ha rừng và đất rừng đã bị người dân lấn chiếm, xâm canh.
Tuy Đức là huyện được UBND tỉnh Đắk Nông phê duyệt nhiều dự án sản xuất nông lâm nghiệp nhất (18 dự án), diện tích được giao nhiều nhất (hơn 9.100ha) và diện tích rừng tự nhiên phải quản lý bảo vệ rừng nhiều nhất (hơn 5.500ha). Tính đến thời điểm hiện tại, đây cũng là địa phương để mất rừng nhiều nhất (hơn 2.200ha) và diện tích bị xâm canh lớn nhất (gần 3.000ha). Trong số này, có thể kể đến 3 DN để mất gần như toàn bộ rừng tự nhiên được giao là: Công ty CP Kiến Trúc Mới (643,1/924,7ha), Công ty TNHH Long Sơn (501,7/507,7ha) và Doanh nghiệp tư nhân Phạm Quốc (233,6/234,3ha).
Trong số các DN để mất rừng, dẫn đầu là Công ty CP Kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt Đắk Song. Sau khi được UBND tỉnh giao cho quản lý bảo vệ 993,6ha rừng tự nhiên, công ty đã để 893,5ha rừng bị chặt phá, thiệt hại khoảng 145,8 tỷ đồng. Đáng nói là sau khi làm mất 86,3% diện tích rừng được giao, mới đây công ty đã gửi tờ trình đề nghị trả lại rừng cho tỉnh. Không riêng gì công ty này, nhiều DN nhận rừng, đất rừng tại huyện Tuy Đức và Đắk G’long cũng đang muốn trả lại rừng khi rừng chỉ còn… đất trống.
Theo ông Nguyễn Đức Luyện - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông, nhiều DN đang xin trả lại rừng cho tỉnh vì họ quản lý không nổi, nhất là những dự án chuyển đổi rừng trồng cao su. Vì cao su rớt giá, các DN cũng không còn mặn mà nhận rừng để quản lý bảo vệ nữa. Trong khi đó, nhiều diện tích rừng giao cho họ đã bị tàn phá hết, người dân đã xâm canh và sử dụng một thời gian dài.
Theo tổng hợp của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông, giá trị thuê rừng thu được từ 41 dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp là 5,8 tỷ đồng. Nhưng chỉ sau khi triển khai được vài năm, các dự án này đã làm mất 50% diện tích rừng được giao quản lý bảo vệ, gây thiệt hại khoảng 272 tỷ đồng. Chưa cần kể đến phần thiệt hại hiện vẫn “chưa xác định được” từ việc làm mất rừng của một số DN, có thể thấy bài toán cho thuê rừng để đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp tại Đắk Nông đã… lỗ nặng.
Trong khi đó, kết quả rà soát mới nhất của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông cũng cho thấy, chỉ có 10 dự án triển khai thực hiện tương đối hiệu quả, 22 dự án khác chưa quan tâm đến công tác bảo vệ rừng khiến 28,8% rừng bị chặt phá và 26,7% diện tích đất lâm nghiệp bị xâm canh. Riêng 9 dự án còn lại không triển khai thực hiện hoặc triển khai nhưng không hiệu quả, để mất rừng trên 90% và diện tích đất bị xâm canh trên 83%, Sở đã đề nghị UBND tỉnh thu hồi toàn bộ.
Trên thực tế, trong các nguyên nhân mất rừng tại Đắk Nông, đáng chú ý là tình trạng ồ ạt giao rừng cho tư nhân, trong khi các DN này không đủ năng lực tài chính để đầu tư, không đủ năng lực bảo vệ rừng, thậm chí còn cố ý phá rừng, mua bán đất đai trái pháp luật.
Mới đây, cùng với đề xuất thu hồi 9 dự án hoạt động không hiệu quả, Sở NNT&PTNT cũng kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Công an tỉnh điều tra, làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ dự án để xử lý và bồi thường thiệt hại lại cho Nhà nước.
Ông Nguyễn Văn Bằng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Đắk Nông, cho biết: “Theo quy định, nếu các chủ dự án làm mất rừng hoặc phá rừng, chủ dự án sẽ bị xử lý hình sự. Còn nếu rừng của dự án bị người dân lấn chiếm, chặt phá, chủ dự án chỉ bị xem xét trách nhiệm và bồi thường thiệt hại rừng”. Nhưng theo tiết lộ của ông Bằng, trong mấy năm qua, chưa có DN nào bị buộc bồi thường khi để mất rừng!
Còn ông Lê Văn Thiếu - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song, cho rằng: “Hiện pháp luật chưa có đủ các chế tài xử phạt nặng răn đe các DN để mất rừng. Nếu chỉ xử lý hành chính các DN để rừng bị phá, chúng ta cũng khó ngăn chặn được việc mất rừng tại các dự án giao rừng. Trong khi đó, rất khó xử lý hình sự các DN phá rừng vì cơ quan chức năng khó bắt quả tang khi chủ rừng chủ động… phá rừng”. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/6) đầu trang(
Theo các chủ rừng ở xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất (Đồng Nai) thì họ chỉ được nhận tiền khoán bảo vệ rừng đến hết năm 2007, còn những năm trở về sau này thì không có.
Mặc dù được vận động tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng phòng hộ Trị An từ năm 1990 nhưng nhiều hộ dân ở xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất (Đồng Nai) đến nay vẫn chưa nhận được đồng tiền khoán bảo vệ rừng nào, khiến cuộc sống của họ đang gặp nhiều khó khăn.
Ông Trần Kim Quyến (ấp Dốc Mơ, xã Gia Tân 1) dẫn chúng tôi tham quan khu rừng toàn cây sao do chính gia đình ông trồng cách đây khoảng 25 năm. Khu đất có diện tích gần 18.000 m2 này của cha mẹ ông để lại và được chính quyền địa phương cấp sổ đỏ từ năm 2003. Năm 1990, khi có chủ trương vận động người dân trồng rừng phòng hộ nhằm bảo vệ hồ Trị An, gia đình ông đã tích cực đăng ký tham gia. Các chủ đất được nhận cây giống của nhà nước về trồng và hàng ngày phát dọn cỏ, chăm sóc cây, phòng chống cháy rừng, canh trực không để cây rừng bị chặt phá…
Ông Trần Kim Quyến chia sẻ: “Hồi đầu, cuộc sống của bà con chúng tôi còn rất khó khăn nên khi nghe vận động tham gia trồng rừng sẽ được miễn đóng thuế nông nghiệp, ngoài ra còn được hỗ trợ 100.000 đồng/ha tiền khoán bảo vệ rừng hàng năm khiến các hộ đều hăng hái đăng ký ngay. Vậy nhưng không ai nghĩ rằng sẽ xảy ra sự cạnh tranh giữa cây rừng với cây căn quả, hoa màu, gây bất lợi cho người dân đến như vậy”.
Lúc cây rừng còn nhỏ, gia đình ông Quyến đã tận dụng đất trống để trồng xen canh chôm chôm, mít, cà phê… Nhờ đó gia đình có được nguồn thu nhập ổn định để trang trải cuộc sống.
Tuy nhiên, khi cây rừng lớn lên, tán vươn cao và che hết ánh sáng khiến cây ăn quả, hoa màu trồng bên dưới không phát triển được. Để tìm cách cứu vãn vườn cây ăn trái, ông Quyến đã phải kéo ống bơm nước từ dưới hồ Trị An lên tưới, đầu tư bón phân thường xuyên nhưng cũng chẳng ăn thua. Vì có bao nhiêu chất dinh dưỡng cây rừng khỏe mạnh đều ăn hết, khiến cây ăn trái, hoa màu bị cằn cỗi không ra trái hoặc có cũng rất ít nhưng rồi bị hư không thu hoạch được.
Chính vì làm ăn thua lỗ nên nhiều năm qua ông Quyến chán nản không muốn đầu tư chăm sóc cho vườn cây ăn trái nữa. Mới đây gia đình ông quyết định đốn sạch cây ăn trái để bán củi với giá hơn 3,2 triệu đồng. Sau đó ông chuyển sang mô hình nuôi gà vườn, nuôi heo nhưng hiện đang gặp khó khăn vì chưa nắm vững kĩ thuật trong chăn nuôi khiến cuộc sống gia đình bấp bênh.
Tương tự, trường hợp của chủ rừng Nguyễn Văn Mẹo (tại khu vực lòng hồ Thánh Tâm) cũng chỉ có tài sản lớn nhất gồm hơn 8 sào đất rừng. Năm 1991, khi được địa phương vận động, gia đình ông tham gia trồng rừng phòng hộ. Lúc đầu, ông còn tận dụng đất trống để trồng xoài, chuối… đem lại thu nhập ổn định. Nhưng khi cây rừng lớn lên khiến các loại cây ăn quả trồng xen không sống nổi, ông đành phải đốn cây ăn trái.
Theo các chủ rừng thì họ chỉ được nhận tiền khoán bảo vệ rừng đến hết năm 2007, còn những năm trở về sau này chưa ai nhận được đồng nào. Nhiều lần bà con kéo nhau ra xã thắc mắc thì chỉ nghe cán bộ xã bảo cứ về nhà đợi thông báo, nhưng hết năm này đến năm khác họ chẳng nhận được một câu trả lời nào từ phía chính quyền về việc này. Bất cập trong việc trả tiền giao khoán trồng và bảo vệ rừng khiến các hộ dân rất bức xúc.
Chủ rừng Nguyễn Văn Đoàn cho rằng, so với đời sống hiện nay mà áp dụng mức hỗ trợ 100 ngàn đồng/ha tiền khoán bảo vệ rừng hàng năm là quá thấp.
Ông Đoàn đưa ra ví dụ, nếu 1 ha đất của nhà ông không trồng rừng mà để trồng cây điều mỗi năm ông phải kiếm khoảng 40 triệu đồng tiền lời. Vì vậy, ông đề nghị, nếu để người dân tiếp tục tham gia bảo vệ cây rừng thì lãnh đạo các cấp cần phải xem xét hỗ trợ sao cho hợp lý.
“Nếu các cơ quan chức năng thuộc thẩm quyền không sớm đưa ra cơ chế giải quyết kịp thời cho bà con thì xung đột giữa cây rừng với cây ăn trái ngày càng nghiêm trọng hơn. Do vậy, để có thu nhập sẽ buộc người dân phải tỉa tán, thậm chí tìm mọi cách làm cho cây rừng chết. Bởi thực tế hiện nay, một số người đã chặt tỉa hết tán, khiến cây rừng không phát triển nổi”, ông Đoàn nói.
Theo báo cáo của UBND huyện Thống Nhất, trên địa bàn huyện có hơn 140 ha rừng trồng, với 152 hộ dân tham gia trồng rừng (cây sao đen) được quy hoạch rừng phòng hộ Trị An từ năm 1991 - 1993. Diện tích rừng này được trồng trên đất của dân, theo phương thức Nhà nước đầu tư cây giống, công trồng, công chăm sóc trong 3 năm đầu. Tuy nhiên, về kinh phí khoán bảo vệ rừng hàng năm, các hộ dân mới chỉ nhận tiền đến hết 2007, còn từ 2008 đến nay chưa ai nhận được đồng nào.
Trong thời gian đầu, các chủ rừng trồng xen cây ăn quả, điều, hoa màu dưới tán rừng. Đến nay, hầu hết diện tích rừng đã khép tán, dẫn đến việc cạnh tranh về không gian sinh trưởng và dinh dưỡng giữa cây sao đen và cây trồng của dân khiến năng suất giảm, đồng thời không thể tiếp tục trồng xen cây ăn trái hoa màu.
Từ thực tế đó, UBND huyện Thống Nhất đã đề nghị Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đồng Nai kiến nghị cấp có thẩm quyền tìm hướng giải quyết chi phí khoán bảo vệ rừng trong 8 năm (từ năm 2008 -2015) và các năm tiếp theo cho các hộ dân tham gia trồng rừng nhằm đảm bảo quyền lợi cho họ. Ngoài ra, để động viên bà con tham gia tích cực trong công tác bảo vệ rừng, huyện còn kiến nghị cấp có thẩm quyền tăng chi trả tiền khoán bảo vệ rừng đối với rừng phòng hộ từ 50 - 70% mức lương tối thiểu/ha/năm.
Theo ông Lê Việt Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai, mới đây trong đợt về kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2014 – 2015 tại huyện Thống Nhất, đoàn công tác liên ngành cũng đã nắm rõ thực trạng rừng phòng hộ Trị An. Đồng thời, ông cũng đã có báo cáo vấn đề trên tại cuộc họp của Ban chỉ đạo để bàn kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, sự việc cũng chỉ dừng lại ghi nhận chứ chưa tìm ra được hướng giải quyết. (Nông Nghiệp VN 8/6) đầu trang(
Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam vừa trao bằng công nhận cây Di sản Việt Nam cho quần thể 220 cây chè Shan tuyết cổ thụ có tuổi đời từ 100 đến 300 năm ở xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Việc công nhận cây Di sản Việt Nam cho quần thể 220 cây chè Shan tuyết cổ thụ tiêu biểu đại diện cho vùng chè Cao Bồ có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ nguồn gen của giống chè vùng cao nổi tiếng thơm ngon. Đồng thời, đây cũng là dịp để vinh danh và tiếp tục quảng bá, giới thiệu về sản phẩm chè vùng cao Hà Giang đối với khách hàng trong, ngoài nước.
Xã Cao Bồ có gần 1.000 ha chè Shan tuyết cổ thụ sinh sống trên các đỉnh núi cao, phân bổ đều ở 11 thôn. Từ năm 2011, chè Cao Bồ chính thức được Liên đoàn quốc tế về phong trào sản xuất nông nghiệp hữu cơ (IFOAM) cấp chứng chỉ chè hữu cơ - Organic Cao Bồ.
Mỗi năm, hơn 200 tấn chè hữu cơ được xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ với giá sáu USD/kg chè đen, tám USD/kg chè xanh đã đem lại cho doanh nghiệp và người làm chè Cao Bồ nguồn lợi nhuận không nhỏ. (Nhân Dân 6/6) đầu trang(
Những cánh rừng tại khu vực giáp ranh giữa xã Ia Rbol (thị xã Ayun Pa) và huyện Ea Hleo (tỉnh Đak Lak) bị lâm tặc “bòn rút” đến mức có nguy cơ bị xóa sổ.
Trên đường đến bãi vàng ở núi Chư Jú, thuộc địa phận xã Ia Rbol (thị xã Ayun Pa)-khu vực giáp ranh với huyện Ea Hleo của tỉnh Đak Lak, chúng tôi đã đi qua khá nhiều quả đồi với những khu rừng khộp. Ở những khu rừng này, nhìn mỏi mắt cũng không thấy một cây to. Khu rừng vẫn mang dáng vẻ đặc trưng của rừng khộp Tây Nguyên, nhưng thiếu đi những bóng cây to mát rười rượi khiến chúng tôi cứ có cảm giác trống vắng như mất đi một điều gì đó. Những cây gỗ dầu, cà chít, căm xe chỉ bằng bắp tay hoặc bắp chân, cây nào to thì đường kính chỉ chừng 30-40 cm.
Có gặp những người dân quanh đây mới thấu hiểu nỗi buồn của khu rừng. Một cụ già chừng 70 tuổi kể: Dân làng Krái dựng nhà, dựng cửa sống gần khu rừng này đã cả trăm năm. Ngày ấy, nhà nhà sống dựa vào rừng. Lên rừng chặt đủ cây về làm nhà, săn đủ con thú, hái đủ rau rừng để làm thức ăn. Thế rồi, “lâm tặc” bỗng ở đâu kéo đến lựa những cây to nhất, đẹp nhất để đốn hạ rồi mang đi. “Ngày xưa, rừng này còn có cả gỗ trắc, gỗ dầu thì mấy thanh niên trong làng ôm cũng không xuể. Con mang, con nai, con heo rừng vẫn hay chạy về quanh làng. Nhưng giờ thì hết cả rồi…”-cụ già nói giọng đượm buồn.
Cây to nhất đã chặt, lâm tặc bắt đầu “hành quyết” những cây nhỏ hơn. Tại nhiều khoảnh rừng, các gốc cây bị đốn hạ nằm la liệt. Một số nơi lâm tặc xẻ cây thành từng khối vuông vắn chưa kịp vận chuyển vẫn để lại giữa rừng. Cứ thế, những mảnh rừng liên tục bị chặt nham nhở. Rừng bị phá, “nồi cơm” không còn, việc vận chuyển nông sản cũng gặp nhiều khó khăn, con cái không được học hành đầy đủ, người dân buôn Krái dời về làng mới gần trung tâm xã hơn. Một vài ngôi nhà của làng cũ hiện vẫn còn giữ lại và được trưng dụng làm nhà rẫy của những hộ dân trồng mì, điều, cà phê ở lại suốt cả tháng không về làng.
Nhiều năm nay, lâm tặc bắt đầu phá rừng để làm trụ tiêu. Trong chuyến đi kéo dài một ngày, chúng tôi cũng đã gặp 3-4 chuyến xe công nông độ chế dùng tời, bánh xe lắp xích chở đầy ắp gỗ men theo con đường mòn để về Đak Lak. Theo những người dân ở khu vực này, đây là con đường mà lâm tặc ở Đak Lak mở cho xe công nông độ chế tiến sâu vào địa phận của xã Ia Rbol để tận thu gỗ về làm trụ tiêu. Trên mỗi xe công nông có khoảng 3-4 người với đầy đủ các dụng cụ sinh hoạt để sẵn sàng cho vài ngày ở lại trên rừng.
Bức xúc trước tình trạng này, một số người dân bản địa đã chặt cây chắn ngang đường để cản trở. Thậm chí, có người đã sử dụng biện pháp… rải đinh trên đường dành cho xe công nông. Nhưng tất cả vẫn chỉ là biện pháp mang tính tự phát, không mấy hiệu quả.Trao đổi với P.V về vấn đề này, bà Phạm Thị Vân-Chủ tịch UBND xã Ia Rbol cho biết: “Đây là khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh nên có nhiều vấn đề rất phức tạp. Tình trạng xâm canh chúng tôi đã giải quyết triệt để nhưng còn việc đào vàng và phá rừng làm trụ tiêu thì vẫn rất nan giải. Thực tế thì năm nào chúng tôi cũng tổ chức 5-6 đợt truy quét nhưng đây là địa bàn xa xôi với Gia Lai mà lại rất gần với xã Ea Hleo (huyện Ea Hleo, tỉnh Đak Lak) nên khi truy quét thì họ trở về địa phương, sau đó thì tiếp tục quay lại chặt phá rừng. Mỗi đợt như vậy UBND xã phải huy động ít nhất 10 người nên rất tốn kém tiền bạc, chưa kể sau mỗi chuyến đi thì phương tiện đều bị hư hỏng nặng. Chúng tôi dự định mua hai chiếc xe chuyên đi rừng để phục vụ công tác kiểm tra trong thời gian tới”.
Bà Vân cũng cho biết thêm: “Các đối tượng này rất manh động. Có lần chúng tôi thuê một người đi thăm dò tình hình trước bị chúng phát hiện, khống chế, đòi đốt xe và bắt người đó phải ở lại làm một ngày rồi mới thả về. Có đối tượng còn mang súng tự chế, thậm chí là đặt bẫy trên đường đi”. Ngoài ra, bà Vân cũng đã xác nhận việc một số người dân bị các đối tượng này đe dọa và ép phải báo tin cho chúng nếu như có cơ quan chức năng đi truy quét.
Trong khi UBND xã Ia Rbol đang tận lực để cứu lấy những cánh rừng thì chính đơn vị đầu ngành lâm nghiệp tỏ ra khá thờ ơ. Khi chúng tôi nêu vấn đề này, ông Nguyễn Văn Sơn-Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã Ayun Pa lại từ chối không trả lời báo chí và nói: “Muốn có thông tin gì thì qua UBND thị xã”.
Sau một hồi thuyết phục, ông Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm mới cho biết: “Hạt cũng thường xuyên phối hợp với xã, Công an thị xã, Phòng Tài nguyên-Môi trường thị xã thường xuyên lên trên đó (khu vực giáp ranh-P.V) nhưng không phát hiện việc dân chặt gỗ để làm trụ tiêu”. (Báo Gia Lai 5/6) đầu trang(
Cây Thuỷ tùng có tên khoa học là Glyptostrobus pensilis, là loài thực vật đặc hữu quý hiếm đã và đang có nguy cơ bị diệt vong. Tại nước ta, Thủy tùng hiện chỉ còn ở Đắk Lắk và phân bố rải rác tại các huyện Ea H’leo, Krông Búk và Krông Năng.
Tìm hiểu tại Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng được biết: Cách đây gần 10 năm, trên địa bàn huyện bắt đầu có hiện tượng người dân đi “săn” gỗ Thủy tùng. Từ đó, hình thành 1 đội ngũ chuyên đi trục vớt, khai thác, vận chuyển trái phép gỗ Thủy tùng.
Từ năm 2007 - 2009, Hạt Kiểm lâm Krông Năng đã phối hợp với các ngành chức năng của huyện tổ chức truy quét và thu giữ được gần 40m3 gỗ Thủy tùng bị trục vớt, khai thác, mua bán trái phép. Nhưng do không có nơi cất giữ, toàn bộ số tang vật buộc phải tập kết tại một góc phía sau Quảng trường Trung tâm văn hóa huyện, số gỗ bạc tỉ này đang bắt đầu hư hỏng, mục nát và mất dần giá trị...trước mũi nhiều cơ quan chức năng.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Tiếp - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Krông Năng, cho rằng: “Vì gỗ Thủy tùng có giá trị cao nên Hạt đã thuê 1 người (300.000 đồng/1 tháng) để trông nom, bảo vệ số gỗ này từ năm 2007 tới nay. Không những vậy, toàn bộ số gỗ Thủy tùng quý hiếm phải chất đống ngoài trời, “dầm mưa dãi nắng” nhiều năm khiến gỗ đang dần hư hỏng, mục nát. Mặc dù Hạt đã nhiều lần kiến nghị cấp trên tổ chức bán đấu giá thanh lý tang vật theo quy định của pháp luật nhưng sự việc vẫn chưa được giải quyết”. (Tầm Nhìn 8/6) đầu trang(
Khi vấn nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng chưa được các ngành chức năng tỉnh Đắk Nông giải quyết dứt điểm thì thởi gian gần đây, tiêu thương phẩm liên tục được giá đã đẩy phong trào trồng tiêu lớn mạnh, kèm theo dó là nạn phá rừng không ngừng lan rộng.
Men theo con đường 34, đất đá dựng đứng khoảng hơn 3km, chúng tôi có mặt tại tiểu khu 1664 (thuộc lâm phận quản lý của Cty CP kỹ nghệ MDF Long Việt) và chứng kiến những mảng rừng nguyên sinh bị người dân tàn phá không thương tiếc, lởm chởm những cây cối nằm ngổn ngang bị đốt cháy đen, xen lẫn là những vườn cà phê, hồ tiêu xanh ngắt.
Để tường tận, chúng tôi tiếp tục vượt hơn lkm xâm nhập vùng lõi rừng. Hàng trăm cây gỗ như giẻ, trâm... đường kính từ 30 - 40cm đã bị “lâm tặc” đốn hạ, xẻ thành trụ tiêu có đường kính từ 15 -20cm được tập kết thành từng bãi nằm ngay trong rừng.
Trong quá trình tiếp cận ghi hình, chúng tôi gặp một nam thanh niên với chiếc máy cưa trên tay đang rít máy vang cả khu rừng. Khi thấy có người lạ, nam thanh niên này tắt máy rồi lặng lẽ bỏ đi. Hơn 30 phút, chúng tôi ngược ra QL14, bỗng xuất hiện hai chiếc xe cần cẩu tự chế máy nổ inh ỏi đang ì ạch leo dốc, chở theo hai thanh niên tiến vào khu rừng rồi nhanh chóng mất hút.
Nhiều người dân cho biết, việc giá hồ tiêu liên tục tăng cao thời gian qua đã khiến người dân đua nhau mở rộng diện tích trồng tiêu. Đội ngũ “lâm tặc” cũng nhân cơ hội này đua nhau phá rừng xẻ trụ tiêu đem về bán cho người dân với mức giá dao động từ 100.000 -150.0000 đồng/trụ, mỗi chuyến trót lọt “lâm tặc” cũng kiếm được từ 5 -10 triệu đồng sau khi đã trừ các khoản chi phí.
Thực tế, nhiều năm qua, những cánh rừng tại huyện Đắk Song đã bị người dân xâm lấn, cạo trọc làm rẫy, khai thác bừa bãi...
Xuôi theo QL14 hướng về thị xã Gia Nghĩa đoạn qua địa phận thôn 10, xã Nâm N’Jang, nếu phóng tầm mắt quan sát những cánh rừng nguyên sinh nằm chênh vênh trên các sườn đồi này đều thấy việc phá rừng diễn ra công khai trong thời gian dài, song các cơ quan chức năng lại có phần chậm trễ, thiếu kiên quyết.
Báo cáo năm 2014 của Hạt kiểm lâm huyện Đăk Song cho biết, Công ty CP kỹ nghệ gỗ Long Việt được UBND tỉnh Đắk Nông giao quản lý hơn 1.202,6 ha (trong đó có hơn 993 ha rừng tự nhiên) trải dài trên 10 tiểu khu qua địa bàn của 3 xã. Tuy nhiên, sau gần 5 năm tiếp quản bảo vệ, Công ty này để “bốc hơi” gần 893 ha rừng, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng.
Theo tìm hiểu của PV, tại các tiểu khu 1665,1667,1689,1698 tại địa phận xã Trường Xuân và tiểu khu 1664 xã Nâm N’Jang, rừng bị tàn phá tràn lan, nhiều diện tích bị “xóa sổ” biến thành rẫy cà phê, hồ tiêu, khoai lang... Điều nguy hại, dù là đất rừng lấn chiếm nhưng lại được nhiều người dân mua bán, trao đổi một cách công khai thông qua những bản cam kết bằng giấy tờ viết tay.
Theo kết quả kiểm kê năm 2014 của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông, tổng diện tích rừng bi chặt phá, lấn chiếm từ 28 dự án lên đến 4.785 ha (chiếm 33% tổng diện tích rừng tự nhiên cho doanh nghiệp (DN) thuê). Trong đó, hàng loạt DN thuê đất được liệt kê vào danh sách để mất rừng như: Công ty TNHH Vĩnh An thuê 580 ha, để mất 578ha; Công ty Bảo Châu thuê 97 ha để mất 100% diện tích rừng....ước tổng thiệt hại khoảng 272 tỷ đồng.
Trước tình hình rừng bị tàn phá làm nương rẫy với tốc độ chóng mặt, các cấp chính quyền vẫn đang loay hoay tìm giải pháp, trong khi các chế tài xử lí chưa đủ sức răn đe thì các chủ DN thuê đất lại có dấu hiệu buông xuôi...
Trước việc rừng bị tàn phá, tưởng rằng Công ty Long Việt sẽ có biện pháp cương quyết để bảo vệ rừng. Tuy nhiên, ngày 18 - 5, khi chúng tôi túc trực tại đầu đường 34, theo quan sát, “lâm tặc” vẫn thản nhiên vận chuyển “trót lọt” trụ tiêu bằng xe máy độ chế từ tiểu khu 1664 (thuộc lâm phần quản lí của Công ty Long Việt) ra QL14 rồi đưa đi tiêu thụ một cách khó hiểu.
Sau đó, chúng tôi điện thoại cho ông Nguyễn Đức Hạnh, Phó Giám đốc phát triển nguyên liệu Cty Cp kỹ nghệ MDF Long Việt thì được trả lời: Để chúng tôi xác minh và bồi thêm: “Đó là thực trạng chung tại tỉnh Đắk Nông”, rồi tắt luôn điện thoại.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Thịnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song lý giải: Hiện pháp luật chưa có đủ các chế tài xử phạt nặng răn đe các DN để mất rừng. Nếu chỉ xử lý hành chính các DN đế mất rừng thì xem ra cũng khó mà ngăn chặn được việc mất rừng tại các dự án. Trong khi đó, rất khó xử lý hình sự các DN phá rừng vì cơ quan chức năng khó bắt quả tang khi chủ rừng... phá rừng. Riêng việc bắt các DN bồi thường trách nhiệm thiệt hại thì UBND tỉnh chưa có phương án thống nhất.
Theo số liệu của Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song, chỉ hơn 5 tháng đầu năm, trên địa bàn huyện đã phát hiện, xử lý hơn 111 vụ vi phạm về tài nguyên rừng, tổng số tiền xử phạt 330 triệu đồng, nhưng xem ra vẫn chưa thấm vào đâu so với diện tích rừng bị xâm lấn, tàn phá...(Bảo Vệ Pháp Luật 2/6) đầu trang(
Trước diễn biến nắng nóng phức tạp, ngày 5-6, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng tiếp tục phát bản tin dự báo cháy rừng số 10 cảnh báo nguy cơ cháy rừng tại Đà Nẵng đang ở mức rất nguy hiểm (Cấp báo động V), có khả năng xảy ra cháy lớn và lan tràn nhanh.
Đây là bản tin thứ tư liên tiếp cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở mức cao nhất. Cơ quan này yêu cầu các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân hoạt động trong rừng và ven rừng thực hiện nghiêm các biện pháp PCCC rừng, nghiêm cấm đốt thực bì, chuẩn bị nhân lực và phương tiện ứng phó khi có cháy rừng xảy ra.
Các Hạt Kiểm lâm triển khai thực hiện nghiêm túc Công điện khẩn số 4203/CĐ-BNN-TCLN ngày 29-5 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về PCCC rừng. Lực lượng Kiểm lâm tổ chức trực 24/24 giờ, tăng cường tuần tra phát hiện sớm cháy rừng, kịp thời tham mưu chính quyền địa phương huy động lực lượng tại chỗ xử lý khi có cháy rừng, không để xảy ra cháy lớn. (Công An Đà Nẵng + Thanh Niên 6/6) đầu trang(
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Diệp Thanh Phong cho biết: 5 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ lâm tặc gây rối, cản trở, chống người thi hành công vụ.
Trong đó, có 3 vụ tấn công trực tiếp lực lượng kiểm lâm; 4 vụ cản trở người thi hành công vụ và 2 vụ đe dọa người thân của cán bộ kiểm lâm. (Báo Quảng Nam 2/6) đầu trang(
Lâm tặc hoành hành, chở gỗ lậu ngang nhiên mà không vấp phải sự kiểm soát nào của lực lượng chức năng Kon Tum. Thực trạng này đã biến khu rừng quý nay trở nên tan hoang. Nhiều năm trước đây, rừng Quốc gia Chư Mom Ray (Kon Tum) được cho là có hệ sinh thái điển hình của Đông Nam Á.
Ở đây vẫn còn tồn tại một lượng khá lớn các loài thú cực kỳ quý hiếm thế nhưng thực trạng đáng buồn đang diễn tra ở khu rừng này đó là việc phá rừng. (Giao Thông 6/6) đầu trang(
7/6, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Sơn La chủ trì phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh làm nhiệm vụ tại KM286 - Quốc lộ 6, thuộc địa phận xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện 1 xe ô tô chở lâm sản trái phép.
Xe ô tô BKS 29C - 18.060 do Hoàng Anh Tùng (sinh năm 1993) trú tại Tòng Đậu, Mai Châu, Hòa Bình điều khiển đi theo hướng Sơn La - Hà Nội.
Tiến hành kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe vận chuyển lâm sản (dạng thớt và xẻ hộp) - đây là gỗ thuộc nhóm tự nhiên quý hiếm 2A; qua quá trình kiểm tra, lái xe đã không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc của số gỗ trên. Hiện, vụ việc đang được tiếp tục điều tra làm rõ.
Vào khoảng 20h5 tối ngày 06/6, trên tỉnh lộ 603, đoạn qua phường Điện Dương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông giữa 2 xe khách.
Thời điểm trên, xe khách mang BKS 75B-002.89 chở theo hàng chục hành khách chạy trên đường hướng Hội An - Đà Nẵng. Đến địa điểm trên thì bất ngờ thắng gấp để tránh một ô tô 7 chỗ chạy phía trước. Cùng lúc đó, xe khách khác mang BKS 73B-003.02 chở theo hơn 10 hành khách chạy cùng chiều phía sau, không kịp xử lý đã húc vào đuôi xe khách.
Cú húc mạnh khiến xe khách BKS 73B-003.02 chết máy, không thể di chuyển. Ngay sau đó, cảnh sát giao thông Điện Bàn đã có mặt tại hiện trường, điều tra nguyên nhân và xử lý vụ tai nạn. (ANTV 7/6) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm TX Sông Cầu vừa phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng của 5 đơn vị, gồm ba xã Xuân Lộc, Xuân Bình, Xuân Lâm và hai chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Cầu, Công ty TNHH Trồng rừng Trường Thành Oji.
Qua đó, hạt yêu cầu UBND các xã cần trang bị đầy đủ các phương tiện, dụng cụ thủ công để phục vụ cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Cầu triển khai công tác chăm sóc lại toàn bộ diện tích 37,9ha rừng trồng tại khu vực Bàn Me theo đúng hồ sơ thiết kế phòng, chống cháy rừng, lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hộ dân tự ý phát dọn thực bì để lấn chiếm đất lâm nghiệp, đình chỉ việc đốt xử lý thực bì dễ cháy lan vào khu vực rừng trồng năm 2012 tại khoảnh 3, tiểu khu 16, xã Xuân Lâm.
Đồng thời yêu cầu Công ty TNHH Trồng rừng Trường Thành Oji tổ chức xây dựng hệ thống băng cản lửa theo đúng quy định, xử lý thực bì cục bộ sau khai thác đảm bảo công tác phòng, chống cháy rừng. (Báo Phú Yên 8/6) đầu trang(
5-6, phòng Cảnh sát môi trường (PC49) Công an tỉnh Nghệ An đang vào cuộc điều tra vụ chặt phá rừng thuộc tiểu khu 974, xã Thanh Đức (huyện Thanh Chương).
Trước đó, cuối tháng 5-2015, nhận được tin báo từ người dân, lực lượng PC49 Công an tỉnh Nghệ An phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm huyện Thanh Chương kiểm tra phát hiện rất nhiều cây rừng đã bị đốn hạ, gỗ nằm ngổn ngang ở tiểu khu 974. Qua kiểm tra, PC49 Công an tỉnh Nghệ An đã thu giữ tang vật khoảng 40 khúc gỗ (nhóm 6, nhóm 7) với tổng số 21 m3 vừa mới chặt hạ.
Hiện lực lượng Phòng PC49 Công an tỉnh Nghệ An đã vượt 15 km đường rừng vào hiện trường đưa số gỗ trên về Trạm Kiểm lâm Thanh Đức (huyện Thanh Chương). (Pháp Luật TPHCM 6/6) đầu trang(
Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm (TP.Hội An) giờ đây được tôn vinh bởi sự có mặt của các loại cây di sản. Thời điểm hạn hán cục bộ, công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên đảo được thực thi nghiêm túc.
Cuối tháng 5, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức một cuộc diễn tập các tình huống giả định dập tắt lửa trên cánh rừng nguyên sinh ở Cù Lao Chàm. Hai năm liền, ngành kiểm lâm chọn đây làm nơi diễn tập cháy rừng. Theo lý giải của ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Cù Lao Chàm là điểm đến du lịch hấp dẫn. Diện tích rừng nguyên sinh tuy nhỏ nhưng là “tấm lá chắn” giữ được đảo trước phong ba bão táp. Nếu xảy ra cháy rừng thì công tác dập lửa ở đảo khó khăn gấp bội lần so với ở đất liền.
“Và đặc biệt ý nghĩa hơn, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam mới đây đã trao bằng công nhận Cây di sản Việt Nam cho 4 loại cây cổ thụ Cù Lao Chàm, trong quần thể khu rừng nguyên sinh bậc nhất về đa dạng sinh học” – ông Tuấn cho biết. Quần thể 3 cây ngô đồng đỏ cổ thụ tại dốc suối Tình (thuộc Bãi Làng, xã đảo Tân Hiệp); cây đa ở sườn đông (Hòn Lao); cây kén, cây nánh tại miếu Tổ nghề yến thuộc Bãi Hương đã được công nhận.
Cây ngô đồng được gắn biển di sản có tuổi đời 155 - 250 năm. Hàng cây ngô đồng đỏ có dáng đẹp, sừng sững chứng minh cho sự tồn tại lâu đời của một ngôi làng cổ. Đặc biệt, cây đa ở Hòn Lao có tuổi đời hơn 600 năm, với thế đứng tự nhiên rất đẹp. Giá trị của các loại cây cổ thụ này còn ở chỗ gắn bó lâu dài với đời sống văn hóa tâm linh của ngư dân xã đảo. Dưới chân núi dẫn vào những ngôi làng gặp ngay các cây cổ thụ. Còn trên đồi 517 - đồi cao nhất của Cù Lao Chàm, bạt ngàn những loại gỗ chò, dẻ, lim. Địa phương đưa ra quy định rất nghiêm ngặt để giữ rừng: cấm mọi người dân vào rừng chặt củi tươi, không được mang theo búa rìu, cưa và các dụng cụ phát lửa. Cấm chở củi khô từ đảo về đất liền. Nếu phát hiện chặt bất kỳ một cây cổ thụ nào trong rừng, người đó sẽ bị kỷ luật nghiêm khắc trước dân.
Chính vì những quy định ràng buộc trên mà hàng chục năm qua, rừng Cù Lao Chàm còn nguyên vẹn. Chính quyền xã Tân Hiệp xác nhận, dù thỉnh thoảng còn xảy ra tình trạng người dân vào rừng chặt củi về nấu nướng, nhưng không bao giờ triệt hạ rừng gỗ lớn và để lửa phát tán trong rừng.
Như mọi điểm tham quan du lịch hấp dẫn trong mùa khô hạn, rừng Cù Lao Chàm đối mặt với nguy cơ cháy cao. Khách du lịch khi đến đây thường có thói quen vào rừng đốt lửa trại. Chính vì thế, lực lượng kiểm lâm, người dân và chính quyền đã kiểm soát chặt chẽ bất cứ một ai ra vào rừng. Toàn bộ diện tích rừng nơi đây đều có chủ. Các nhóm hộ gia đình, chính quyền sở tại, đơn vị bộ đội biên phòng… đều được Nhà nước giao khoán, bảo vệ quản lý theo lâm phận cụ thể. Hơn 1.000ha rừng nguyên sinh nhưng chỉ có 2 kiểm lâm viên làm nhiệm vụ.
Ông Phạm Hòa – Trưởng trạm Kiểm lâm Cù Lao Chàm khẳng định, nguy cơ cháy rừng trên đảo lớn hơn nhiều so với đất liền do nằm ở nơi đầu sóng ngọn gió, dễ phát tán lửa, nhà hàng quán xá mọc lên đông, khách du lịch khắp nơi đổ về. Dân bản địa còn thói quen vào rừng hái lá cây làm thuốc. “Khi khách đặt chân đến cửa rừng, lập tức hệ thống loa truyền thanh sẽ nhắc nhở du khách cẩn thận dùng lửa và chịu trách nhiệm về các hành vi dân sự. Dù có hai anh em kiểm lâm nhưng chúng tôi thường xuyên tuần tra rừng, hướng dẫn bà con khai thác củi, lá khô trong rừng phù hợp” – ông Hòa nói. (Báo Quảng Nam 5/6) đầu trang(
Hưởng ứng ngày Môi trường thế giới, ngày 5/6, tại thị xã Gia Nghĩa, Ban Quản lý Dự án bảo tồn loài (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Chương trình truyền thông “Bảo vệ rừng, động, thực vật hoang dã và môi trường”, thu hút nhiều người dân tham gia.
Theo đó, với mục đích tác động, nâng cao nhận thức về bảo vệ nghiêm ngặt các loài động, thực vật hoang dã, góp phần bảo vệ môi trường, chương trình đã diễn ra các hoạt động như: treo pa nô, áp phích, tranh ảnh, phát tờ rơi, nói chuyện chuyên đề về các vấn đề liên quan.
Qua đó, giúp người dân thấy rõ sự cần thiết của việc không săn bắt, buôn bán, giết mổ, sử dụng động, thực vật hoang dã; đồng thời phát triển sản xuất, chăn nuôi, tiêu dùng các sản phẩm thay thế, thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. (Báo Đắc Nông 5/6) đầu trang(
Công an tỉnh Lạng Sơn cho biết, Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh vừa lập biên bản vi phạm hành chính và bàn giao vụ việc phát hiện 250 con chim họa mi nhập lậu cho Hạt Kiểm lâm huyện Cao Lộc xử lý.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 17h ngày 31/5, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn Thành phố Lạng Sơn, tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường đã phát hiện các đối tượng đang kiểm đếm động vật có biểu hiện nghi vấn.
Tại đây, lực lượng chức năng phát hiện 250 con họa mi không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ và giấy kiểm dịch động vật.
Chủ hàng là Mai Kim Ánh, trú tại Phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn cho biết đã mua gom số chim này của một số người vận chuyển từ Trung Quốc sang.
Cùng ngày, khi đang làm nhiệm vụ tại địa bàn xã Tân Mỹ, Huyện Văn Lãng, Lạng Sơn, Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường cũng đã phát hiện đối tượng điều khiển xe máy chở 7 bao tải dứa màu xanh, nghi hàng lậu.
Khi thấy lực lượng chức năng, các đối tượng đã cắt dây bỏ lại hàng để bỏ chạy. Qua kiểm tra, cơ quan Công an đã phát hiện và thu giữ 300kg tràng lợn nhập lậu từ Trung Quốc, được tẩm ướp hóa chất để đông lạnh.
Cũng tại địa bàn Lạng Sơn, khoảng 14h ngày 30/5, Phòng CSĐT tội phạm về Trật tự xã hội, Công an tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Chi cục Hải Quan Cốc Nam (Cục Hải Quan Lạng Sơn) bắt quả tang đối tượng Lộc Văn Thế (SN 1980) trú tại số Huyện Cao Lộc về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ tại hiện trường gần 2,5 kg ma túy đá, 1 xe máy cùng nhiều vật chứng liên quan.
Tại cơ quan điều tra, đối tượng Thế khai nhận được một đối tượng Trung Quốc thuê vận chuyển số ma túy trên với tiền công là 10 triệu đồng. Khi đang vận chuyển xuống TP Lạng Sơn để giao hàng, đến cổng trường dạy nghề Việt Đức, xã Hoàng Đồng, TP Lạng Sơn, đối tượng bị lực lượng chức năng bắt giữ.
Cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, làm rõ. (Dân Trí 5/6) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Do nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đất đai tại các nông, lâm trường, trạm trại (NLTTT) sử dụng kém hiệu quả. Dù TP Hà Nội đã chỉ đạo khá quyết liệt nhưng tình trạng vi phạm Luật Đất đai như mua bán, chuyển nhượng, lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng, xây dựng công trình trái phép, tranh chấp tại các NLTTT chưa được xử lý, khắc phục dứt điểm.
Kết quả rà soát tình hình sử dụng đất trong 10 năm qua tại Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội cho thấy, hơn 2.095ha đất có rừng, vườn cây ăn quả đơn vị quản lý trên địa bàn huyện Sóc Sơn ngày càng hiệu quả, không những phát huy hiệu quả kinh tế dưới tán rừng, còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp vẫn khá phức tạp. Ngoài tranh chấp, lấn chiếm đất đai được cơ quan liên quan giải quyết dứt điểm, tình trạng cháy rừng xảy ra khá nhiều.
Trong 10 năm qua, trên địa bàn huyện Sóc Sơn xảy ra 148 vụ cháy rừng, diện tích cháy 131,5ha, gây thiệt hại hơn 24ha. Còn tại Mỹ Đức, từ năm 2012 đến nay, một số hộ dân lấn chiếm đất rừng, vận chuyển vật liệu xây dựng chuồng trại chăn nuôi trên diện tích bảo tồn, phát triển rừng do Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn quản lý. Trong hai năm (2013-2014), trên địa bàn huyện này xảy ra 8 vụ vi phạm đất rừng Hương Sơn.
Thực hiện chính sách pháp luật về đất đai tại các NLTTT giai đoạn 2004-2014, cơ quan chức năng đã thanh tra, kiểm tra 18 đơn vị sử dụng đất tại 30 địa điểm trên địa bàn các quận, huyện, trong đó có 5/6 đơn vị trực thuộc bộ và thành phố sử dụng đất chưa đo đạc, cắm mốc giới, bàn giao mốc giới ngoài thực địa; 11 đơn vị đã tự ý phân nhà, đất hoặc bán cho cán bộ công nhân viên, cá nhân khác thuê với diện tích hơn 40.200m2; hai đơn vị ký hợp đồng liên doanh, liên kết với các đơn vị thuê đất, sử dụng đất sai mục đích với diện tích 180.135m2; hai đơn vị đã bị các hộ dân lấn chiếm một phần diện tích đất thuộc Công ty TNHH một thành viên Đầu tư phát triển thủy lợi Mê Linh và Viện Công nghệ sinh học, diện tích 315m2...
Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra, UBND thành phố đã chỉ đạo khá quyết liệt việc khắc phục, xử lý, yêu cầu các tổ chức quản lý, sử dụng đất NLTTT thanh lý, hủy bỏ các hợp đồng liên doanh, liên kết sử dụng đất sai mục đích; tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép... Đồng thời, yêu cầu tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng đất liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện đo đạc, cắm mốc giới, lập hồ sơ trình UBND thành phố giao đất, cho thuê đất.
Cục Thuế tổ chức thanh tra, kiểm tra, làm rõ việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với các công ty, tổ chức quản lý sử dụng đất và truy thu các khoản đơn vị, tổ chức sử dụng đất còn nợ…
Các quận, huyện tổ chức quản lý, sử dụng đất đã nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai. Một số tổ chức đã thực hiện thanh lý, chấm dứt các hợp đồng liên doanh, liên kết cho thuê nhà xưởng, giao đất, giao khoán cho cán bộ, công nhân viên trái pháp luật…
Tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc, đơn cử như năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đối với Công ty cổ phần Việt Mông (Ba Vì), dù có kết luận rõ ràng nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được kết luận…
Để tăng cường công tác quản lý, xử lý, khắc phục vi phạm, đưa đất đai vào quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật, đề nghị các đơn vị sử dụng đất nghiêm túc thực hiện Chỉ thị 09/CT-UBND ngày 25-4-2013 của UBND thành phố, thiết lập, hoàn chỉnh hồ sơ quản lý, sử dụng đất, phân loại đất, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng theo quy định, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận và xử lý dứt điểm tồn tại trong quá trình quản lý, sử dụng đất NLTTT…
Mặt khác, các bộ, ngành liên quan sớm xem xét, đề xuất chính sách hỗ trợ về giống cây trồng, vật nuôi cho người dân để có thể mưu sinh từ bảo vệ và phát triển rừng, qua đó, hạn chế việc chặt phá rừng, chuyển mục đích sử dụng đất rừng; tạo điều kiện thuận lợi cho việc thuê môi trường rừng sử dụng vào mục đích kinh doanh dịch vụ du lịch, sinh thái, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, nâng cao đời sống cho người dân làm lâm nghiệp…(HN Mới 8/6) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 157/2013/NÐ-CP ngày11-11-2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong đó, bổ sung quy định xử phạt vi phạm quy định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng với mức phạt lên đến 50 triệu đồng.
Nghị định 157/2013/NÐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã quy định cơ bản đầy đủ các hành vi vi phạm và chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, nhưng sau hơn hai năm triển khai đã gặp phải nhiều khó khăn do chưa có quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ðến nay, Nghị định mới của Chính phủ đã bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm, hy vọng góp phần quan trọng thúc đẩy trách nhiệm của các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ này làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Việc áp dụng biện pháp phạt tiền đã buộc các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, khuyến khích các tổ chức, cá nhân bảo vệ rừng hiệu quả, song với mức xử phạt cao nhất là 50 triệu đồng như quy định tại Nghị định này hiện vẫn là quá nhẹ, nhất là đối với các hành vi vi phạm thường xuyên, liên tục, cố tình chây ỳ của một số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
Mặt khác, việc quy định khung phạt quá rộng (từ 200 nghìn đồng đến 50 triệu đồng) đối với trường hợp người sử dụng dịch vụ môi trường rừng không kê khai tiền phải chi trả dịch vụ, dễ dẫn đến việc hiểu khác nhau và áp dụng hình thức xử phạt khác nhau, ảnh hưởng không tốt đến việc thực thi của các cơ quan có trách nhiệm.
Thiết nghĩ, để công tác bảo vệ và phát triển rừng ngày càng phát huy hiệu quả, đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường xuyên bổ sung, hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, nhằm nâng cao trách nhiệm của các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân cung ứng loại dịch vụ này. (Nhân Dân 6/6) đầu trang(
Thời gian gần đây, ở các tỉnh Tây Nguyên đang rộ lên phong trào trồng cây mắc ca tự phát. Do nhu cầu quá tải của người dân cần trồng thử nghiệm và mở rộng diện tích loại cây mới du nhập này nên hiện tại, thị trường cây giống mắc ca ở Tây Nguyên đang hết sức lộn xộn và rất khó kiểm soát.
Tây Nguyên đang chớm mùa mưa, thị trường cây giống khắp nơi cũng đang trong thời kỳ cung ứng cao điểm. Tại thành phố Buôn Ma Thuột, dọc theo con đường hai chiều từ ngã 3 Hòa Bình, điểm giao nhau của 2 tuyến Quốc lộ 26 và 27 đi Nha Trang và Đà Lạt đến sân bay, có ít nhất vài chục đại lý bán cây giống treo biển khá lộn xộn. Tên đại lý thì khác nhau, nhưng có một điều rất giống nhau là đại lý nào cũng đề chữ to tướng: “Cây giống Ea Kmat”.
Với vô thiên lủng nguồn cung, các đại lý ở đây bán hàng chục loại giống cây công nghiệp và giống cây lấy gỗ khắp nơi trong cả nước. Từ tiêu giống Vĩnh Linh, Phú Quốc, cà phê Robusta, đến sầu riêng cơm vàng hạt lép Thái Lan… hay cây dó bầu, cây sưa đỏ đều có. Riêng giống cây mắc ca, các chủ đại lý giới thiệu tới gần chục loại, nhưng muốn mua bắt buộc phải đặt cọc và có hợp đồng.
Theo một cán bộ ngành nông nghiệp tỉnh Đắc Lắc, sở dĩ ai cũng trưng biển cây giống Ea Kmat là vì họ muốn lợi dụng uy tín của Viện khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên (thường gọi là Viện Ea Kmat) để bán giống cây trồng. Viện Ea Kmat là nơi mà từ nhiều năm nay đã gắn bó với người nông dân Tây Nguyên, với việc tạo ra hàng chục loại giống cao su, cà phê, tiêu, điều... và nhiều loại cây ăn trái có năng suất và chất lượng tốt.
Theo tiến sĩ Trần Vinh, Phó Viện trưởng Viện khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên, sau gần 13 năm nghiên cứu trồng thử nghiệm trồng mắc ca tại Buôn Ma Thuột, với tập đoàn giống nhập nội từ Trung Quốc, Thái Lan và Australia, Viện đã thu thập được hơn 20 loại giống cho quả và bước đầu đã chọn được một số giống có triển vọng phát triển trên địa bàn Tây Nguyên, đó là giống OC, H2 và A38. Trong đó, 2 loại giống H2 và OC, sau 9 năm trồng thử, năng suất trung bình mỗi cây đạt xấp xỉ 8 kg/năm, tương đương so với năng suất trung bình của cây mắc ca trồng tại Ôxtrâylia và cao hơn so với Trung Quốc.
Trọng lượng hạt và tỷ lệ nhân của các giống đạt được khá tốt so với vùng nguyên sản cũng như các khu vực trồng mắc ca trên thế giới. Điều này, bước đầu cho thấy cây mắc ca có tiềm năng phát triển ở một số vùng sinh thái trên địa bàn Tây Nguyên, ông Vinh cho hay.
Thế nhưng, theo vị tiến sĩ này, hiện cây mắc ca được bán trong vùng có rất nhiều loại giống. Người dân thì cứ nghe lời lãi là chạy theo phong trào, trong khi chưa có một cơ quan, đơn vị chính thức nào được giao là đầu mối cung cấp hoặc quản lý giống hiệu quả.
Tháng 7 năm ngoái, anh Nguyễn Văn Khiếu, chủ vườn ươm Khiếu Tốt ở thị trấn Đắc Hà, tỉnh Kon Tum đến Đắc Lắc mua 10 kg hạt mắc ca, về gieo ươm. Từ 1.320 hạt, anh Khiếu ươm được gần 1.000 cây giống để bán, nhưng anh cũng không biết được giống mắc ca này là loại giống nào.
Tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, cách đây hơn một năm, Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Đức Anh Gia Lai (đơn vị sản xuất giống mắc ca ở cả Đắc Lắc và Lâm Đồng) đã đến xã Gào lập vườn ươm cây mắc ca giống. Quy mô vườn ươm này lên đến 300.000 cây.
Ông Lê Đức Tiến, Giám đốc Công ty Đức Anh cho biết, nhu cầu hạt để ươm cây giống hiện nay rất lớn, và công ty sẵn sàng thu mua toàn bộ số hạt mắc ca của nông dân trên địa bàn.
Khi được hỏi, dựa trên cơ sở nào để phát triển vùng nguyên liệu cây mắc ca ở Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung, ông Tiến cho biết, có một Hiệp hội mắc ca của Australia cam kết bao tiêu sản phẩm và sẽ đầu tư cho công ty một nhà máy chế biến mắc ca để làm bánh kẹo, ép dầu, mỹ phẩm và dược liệu.
Chưa rõ thực hư câu chuyện của Công ty Đức Anh có đúng như lời nói của ông giám đốc hay không? Nhưng giữa tháng 5 vừa rồi, Công ty này đã bị cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai xử phạt 15 triệu đồng và đình chỉ kinh doanh giống mắc ca chiết ghép vì không có giấy chứng nhận nguồn gốc lô giống. 3 vườn ươm giống mắc ca tư nhân khác là: Vườn giống ông Trần Quốc Tính, ở thành phố Pleiku; vườn ươm Ngô Gia Trang, ở huyện Chư păh và vườn ươm cây giống Thiều Xuân Ánh ỏ huyện Đắc Đoa cũng bị Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Gia Lai chấn chỉnh, nhắc nhở và đề nghị cam kết bằng văn bản không được kinh doanh cây mắc ca thực sinh, giống mắc ca ngoài danh mục và không có nguồn gốc.
Theo ông Trịnh Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Gia Lai thì chưa thấy giống mắc ca từ Australia về Việt Nam như một vài đơn vị trên địa bàn quảng bá mà hiện chỉ có hai nơi cung cấp giống đáng tin cậy.
Tại Tuy Đức tỉnh Đắc Nông, mấy năm nay phong trào trồng cây mắc ca được cỗ vũ, phát triển rầm rộ nên diện tích loại cây này đang tăng lên nhanh chóng. Nắm bắt được nhu cầu trồng mắc ca của người dân ở đây, Công ty Cổ phần mắc ca Nữ Hoàng, ở quận 10, TP HCM đã lên huyện biên giới này xây dựng vườn ươm ở xã Quảng Tân, với số lượng tới 20.000 cây giống. Chưa biết chất lượng giống mắc ca ở đây tốt xấu ra sao, nhưng rất nhiều người dân ở Đắc Nông cứ theo nhau mà vay vốn để mua mắc ca giống về trồng chứ không hề tìm hiểu xuất xứ giống cây.
Ông Lê Văn Nam, ở thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông thừa nhận: “Nghe nói nhiều người trồng mắc ca thu được nhiều lợi nhuận và hiệu quả kinh tế rất cao so với cà phê, tiêu nên gia đình tôi đã mua giống về trồng. Giống cây thì đại lý bán thấy rất nhiều người mua nên cũng mua theo chứ cũng không biết giống này xuất xứ ở đâu và năng suất hiệu quả ra sao nữa. Giá hiện là nay 70.000 – 80.000/cây.”
Tiến sĩ Trần Vinh, Phó Viện trưởng Viện khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng, nếu người dân không được tư vấn đầy đủ, chắc chắn việc ào ạt trồng cây mắc ca sẽ để lại hậu quả khôn lường. Dù rằng, hạt giống có xuất xứ tốt đi chăng nữa, nhưng nếu ươm thực sinh như nhiều trường hợp ở vườn ươm tư nhân, đơn vị chỉ chạy theo lợi nhuận mà không thực hiện việc ghép chồi đầu dòng thì kết quả cũng là giống kém chất lượng và không được phép bán ra thị trường. (VOV 7/6) đầu trang(
Thời gian gần đây, ở các tỉnh Tây Nguyên đang rộ lên phong trào trồng cây mắc ca thay thế cho một số loại cây trồng khác. Chưa ai biết loại cây mới du nhập vào Việt Nam này có giá trị kinh tế như thế nào? Sản phẩm làm ra sẽ bán cho ai? Và, khí hậu thổ nhưỡng ra sao để khi mở rộng diện tích, mắc ca sẽ cho nhiều hoa, trái?
Chỉ biết rằng, từ khi được một số doanh nghiệp nhân giống mắc ca trên địa bàn tổ chức chiến dịch quáng bá; cộng thêm được một vài tờ báo đồn thổi, thông tin phiến diện hoặc thiếu kiểm chứng, cây mắc ca bỗng dưng biến thành “cây nữ hoàng tỷ đô”. Chính vì thế, phong trào trồng mắc ca ở Tây Nguyên nóng dần lên và đang bùng phát như cơn sốt.
Ông Trần Xuân Vịnh ở xã Đắc H’ring, huyện Đắc Hà là nông dân tiêu biểu của tỉnh Kon Tum. Cách đây 6 năm, cây mắc ca với ông là một cái tên lạ hoắc, nhưng ông vẫn mạnh dạn tìm mua 20 cây giống từ Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, ở Ba Vì, Hà Nội về trồng thử. Chưa biết cách thức trồng như thế nào nên ông Vịnh chỉ trồng thành hàng theo lối vào trang trại như hàng rào cây cảnh. Những cây mắc ca đó giờ đã cao lớn, cành lá sum suê, hoa quả chi chít.
Ông Vịnh cho biết, mắc ca không kén đất, ít sâu bệnh và không đòi hỏi nhiều công chăm sóc. Sau 4 năm cây đã ra quả bói. Năm ngoái, bình quân mỗi cây thu được 15 kg hạt. Theo ông, lúc đầu chỉ trồng chơi nhưng giờ lại được ăn thật khi giá mắc ca tăng vèo vèo từ 50.000 đồng/kg lên 200.000 đồng/kg.
Vốn là người nhạy bén trong sản xuất kinh doanh, ông Vịnh không bỏ lỡ cơ hội này nên đang mở rộng diện tích mắc ca, bằng cách tự lấy hạt của vườn nhà để ươm cây giống. Hiện, ông đã ươm được 2.000 cây mắc ca để trồng xen với cà phê trong trang trại gia đình.
Tại tỉnh Đắc Lắc cách đây 10 năm, ông Nguyễn Văn Cúc ở thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng cũng đã “liều mình” trồng 300 cây mắc ca xen giữa 3 ha cà phê. 5 năm sau đó, những cây to khỏe đã cho lứa quả đầu và đến nay toàn bộ đã cho thu hoạch ổn định.
Năm ngoái, ông Cúc thu được hơn 4 tấn hạt, giá bán mỗi tấn từ 160 đến 180 triệu đồng. Ông cho rằng, mắc ca ăn bám đất của vườn cà phê, nhưng lợi nhuận so với cà phê thì nhiều gấp bội.
Thấy ông Cúc ăn nên làm ra từ loại cây trồng mới này, nhiều người dân trong vùng đã đua nhau mua giống về trồng thử. Vài năm gần đây, năm nào ông Cúc cũng ươm 3 đến 4 ngàn cây giống nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu. Năm nay, ông đã ươm tới 2 vạn cây và đang rình rang bán cho dân tứ xứ.
Không chỉ ở Krông Năng, mà tại huyện Ma đrắc, nơi có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu hơi giống miền xuôi vì giáp tỉnh Phú Yên, cây mắc ca cũng bước đầu thể hiện được sự sinh trưởng khá dễ tính. Gần 9 ha mắc ca do Công ty cổ phần Vinamacca trồng thử nghiệm tại Nông trường 715B trên địa bàn huyện Ma đrắc, sau 4 năm hoa trái cũng trĩu cành.
Tại 2 huyện Bảo Lâm và Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, năm 2009 và 2010, Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Đức Anh cũng đưa mắc ca về cho nông dân trồng theo hình thức hỗ trợ một nửa giá cây giống với giá đổ đồng là 65.000 đồng/cây. Hơn 300 ha mắc ca tại huyện Di Linh và 120 ha mắc ca tại huyện Bảo Lâm được trồng hồi đó, giờ đã thu hoạch được vài vụ. Hiện, giá một kg hạt mắc ca tươi được nông dân ở đây bán cho thương lái từ 180.000 – 220.000 đồng, nhưng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu làm hạt giống.
Riêng vườn mắc-ca hơn 10 năm của ông Nguyễn Đức Ba ở xã Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, Lâm Đồng hai năm gần đây, mỗi vụ ông thu hoạch khoảng 4 tấn quả tươi trên diện tích 7 sào. Với giá bán hạt giống bình quân 250.000 đồng/kg, giá bán loại hạt trên dưới 200.000 đồng/kg; nên theo ông, người ta gọi mắc ca là cây trồng một vốn, bốn lời là vậy.
Còn ở tỉnh Đắc Nông, vài năm nay mắc ca đã và đang được phát triển khá mạnh. Trong đó, riêng huyện biên giới Tuy Đức hiện có gần 400 ha, một số vườn cây trồng cách đây hơn 4 năm cũng đã cho quả bói.
Ông Trần Đình Mạnh, Bí thư Huyện ủy Tuy Đức, một trong những người đi tiên phong đưa mắc ca về trồng ở Tuy Đức cho rằng, mắc ca là cây chịu hạn, có những ưu thế phù hợp với bà con đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
“Đến nay, hầu hết số diện tích trồng đã có ra hoa kết quả rồi. Nhưng việc thống kê chưa có vì theo quy trình có thể năm thứ 7 mới có thể thống kê được, còn bây giờ mới được năm đầu nên chưa thể thống kê hiệu quả,” ông Mạnh chia sẻ.
Theo nhận định của một số nhà quản lý, sở dĩ mắc ca đang tạo ra cơn sốt là người dân chỉ mới nghe về loại cây này dễ trồng nhưng hiệu quả. Trong khi đó, hiện trên địa bàn ai có bao nhiêu hạt mắc ca cũng được thu mua hết bấy nhiêu. Thế nhưng, họ chưa biết nguồn cơn của thực tế đó là đầu ra của hạt mắc ca hiện nay chủ yếu là các công ty giống cây trồng, hoặc là chủ các vườn ươm trong khu vực chứ chưa có một ai mua mắc ca để xuất khẩu hay chế biến thành sản phẩm tiêu dùng.
Nắm bắt được nhu cầu cơn sốt cấy giống mắc ca, họ tung tiền mua hạt về ươm cây giống để bán. Người này tăng giá lên cao, người kia tăng cao hơn nữa, chưa kể các công ty cổ phần có thực lực mạnh sẵn sàng tung chiêu để mua hạt giống về ươm cây để bán. Vì một kg giống mắc ca có khoảng 120-130 hạt, nếu giá bán từ 250.000 đồng thì mỗi hạt khoảng 2.000 đồng. Nhưng một cây giống hiện có giá bán tới 50.000 -90.000 đồng.
Đúng là một nghề kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây chính là nguyên nhân đẩy giá hạt mắc ca ở những vườn cây đã thu hoạch lên cao nhiều lần so với giá thực. Bởi thế, câu chuyện trồng mắc ca là trồng chơi, ăn thật được dư luận cho là đúng mà sai; vì sản lượng hạt mắc ca hiện nay ở Tây Nguyên chỉ mới đáp ứng một phần cho nhu cầu làm giống.
Chưa biết giá trị của mắc ca sau này sẽ ra sao, nhưng cơn sốt mắc ca ở Tây Nguyên hiện đang đưa đẩy nông dân chạy theo phong trào, với một kỳ vọng sẽ đổi đời khi mà hai loại cây chủ lực là cà phê đang cần vốn để tái canh, còn cao su thì ba bốn năm liền rớt giá thảm hại. Cơn sốt ấy, thực chất đang làm lợi cho các đơn vị, cá nhân sản xuất, cung ứng giống mắc ca và kể cả một số ngân hàng cho vay thương mại. (VOV 6/6) đầu trang(
Nhiều người dân ở Tây Nguyên đang chạy theo phong trào phát triển cây mắc ca một cách ồ ạt, bất chấp khí hậu, thổ nhưỡng từng tiểu vùng có phù hợp cho loại cây này hay không? Và, sản phẩm sau này sẽ tiêu thụ như thế nào vẫn là điều mờ mịt.
Trong khi thực tế một số người dân trồng mắc ca hiện đang rơi vào cảnh ngộ “Bỏ thì thương, vương thì tội” bởi cây đã ra hoa nhưng đậu quả rất ít, thậm chí không có quả.
Cuối năm 2014, tỉnh Đắc Nông đã phê duyệt đề án quy hoạch phát triển cây mắc ca tại huyện Tuy Đức. Theo đó, đến năm 2020, diện tích mắc ca ở đây sẽ lên đến 14.600 ha, tập trung tại 5 xã Quảng Tân, Quảng Trực, Quảng Tâm, Đắk Búk So và Đắk R’tíh với các hình thức trồng xen, trồng tập trung và phân tán.
Theo đề án này, Tuy Đức sẽ xây dựng hai vườn ươm để cung ứng giống cho người dân; xây dựng một nhà máy chế biến các sản phẩm từ cây mắc ca tại cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện. Với người dân thì sẽ được hỗ trợ vay vốn đầu tư, được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc. Lỗ hổng của đề án này là chưa đề cập loại giống nào là phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở Tuy Đức và cũng không hề nói đến việc sẽ tiêu thụ sản phẩm thế nào.
Thực tế, một số người dân ở các huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, Đắc Min, tỉnh Đắc Nông và huyện Lắc, tỉnh Đắc Lắc trồng mắc ca giờ đang bắt đầu bồn chồn lo lắng; cũng không ít người đã ngậm đắng nuốt cay. Bởi, đã đổ tiền và công sức vào mắc ca hơn 7 năm ròng mà cây không đậu quả.
Vườn mắc ca của gia đình ông Vũ Tá Trọng, ở xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa đã bước sang tuổi thứ 6. Trên diện tích cà phê hơn 1 ha, ông Trọng trồng xen 500 cây mắc ca, tỷ lệ sống đạt 96%. Hiện cây đã cao tới 4-5 mét, hoa chi chít cành nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp. Chưa dám nghĩ đến lãi năm, lãi mười với cây tỷ đô, ông Tá băn khoăn không biết đến khi nào mới thu hồi được vốn.
Ông Hồ Gấm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắc Nông cho biết: Qua khảo sát tại xã Đức Minh, huyện Đắc Min, những vườn mắc ca đã trồng cách đây 9 năm cho trái rất ít.
Ông Gấm cho hay, hiện giờ giống Bộ nông nghiệp đã có 3 giống công nhận và 7 giống là loại giống tiến bộ kĩ thuật. Trong số những giống đó thì giống nào là nó phù hợp ở từng vùng của Đắc Nông thì vẫn chưa có đánh giá.
Trước “sức nóng” của cây mắc ca trên địa bàn, ngành nông nghiệp tỉnh Kon Tum đã vào cuộc và nhận định: cây mắc ca chỉ có thể phù hợp với điều kiện sinh thái vùng Măng Đen- Kon Plông và một số xã thuộc huyện Tu Mơ Rông và Đắc Glei. Tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có kết quả đánh giá chính thức nào về tình hình sinh trưởng, năng suất và sâu bệnh của loại cây này.
Do vậy, ông Trần Văn Chương, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kon Tum cũng chỉ khuyến cáo cáo bà con nên trồng xen đối với diện tích cà phê vối hoặc là cà phê chè. “Nếu mà trồng thuần phải xem xét cụ thể bởi vì thời gian kiến thiết cơ bản của cây mắc ca tương đối dài mà bây giờ không biết khả năng ra quả như thế nào và sau này thị trường tiêu thụ ra sao? Nếu phát triển nóng quá rất nguy hiểm,” ông Chương nói.
Tiến sĩ Y Ghi Niê, đoàn Chủ tịch Liên hiệp các hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, phụ trách các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên là một trong những người đưa cây mắc ca vào trồng thử nghiệm ở Đắc Nông và Đắc Lắc khẳng định: Chỉ nên dừng lại ở một diện tích hẹp để khảo nghiệm chứ không thể phát triển đại trà như hiện nay. Bởi theo Niê, mắc ca là cây dễ trồng nhưng rất mẫn cảm với thời tiết, khi cây ra hoa, chỉ cần một cơn mưa nhỏ hay do một đợt nắng nóng là mất trắng.
Tình trạng sản xuất nông nghiệp theo “phong trào” ở Tây Nguyên từ trước tới nay đã dẫn đến những hậu quả nặng nề, mọi chuyện rủi ro người nông dân đều phải gánh chịu. Khi cà phê có giá thì ào ạt lập vườn trồng cà phê. Lúc cao su được giá thì chặt bỏ các loại cây khác, chặt cả rừng nguyên sinh trồng cao su.
Hiện tại, cao su hạ giá lại phá vườn cao su... Cây ca cao, cây tiêu, dó bầu…và cả cây mía cũng thất thường khi trồng khi chặt. Mới đây, phong trào trồng chanh leo rầm rộ cũng đang để lại những gánh nặng nợ nần cho nhiều hộ gia đình ở tỉnh Đắc Nông. Rồi việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cách đây chục năm cũng đang là bài học để đời của tỉnh Đắc Lắc. Hơn 10 ngàn ha rừng vùng biên giới Ea Súp chuyển sang đất nông nghiệp để phát triển 9.000 ha điều, nay gần như thất bại. Dẫn đến trình trạng phá bỏ vườn điều, tranh chấp đất đai khiến mấy xã vùng sâu, vùng xa này trở thành điểm nóng xã hội.
Bởi vậy, trong chuyến công tác tại Tây Nguyên gần đây, sau khi kiểm tra thực tế tại vườn ươm cây giống mắc ca ở xã Quảng Tân, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu: cần phổ biến cho người dân biết để khi chọn giống bởi vì đầu tư rất nhiều tiền như thế, mất 8 năm, thậm chí 10 năm mới thu hoạch, mà không chọn đúng chủng loại thì sẽ rất nguy hiểm.
Theo khảo sát của Viện Khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên, diện tích cây mắc ca ở khu vực này hiện nay đã hơn 2.000 ha, trong đó chủ yếu tập trung ở các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng. Tuy nhiên trên thực tế, diện tích đó chưa hẳn đã là con số thực. Bởi hàng vạn cấy giống được bà con trồng theo hình thức phân tán chưa được thống kê.
Để có một ha mắc ca, cần số tiền trên 20 triệu đồng để mua cây giống. Rồi phải bón phân, chăm sóc suốt quãng thời gian 6 đến 10 năm mới biết được cây có ra quả được không là một quãng thời gian khá dài. Trong khi, sản phẩm làm ra còn mịt mờ về khâu tiêu thụ. Làm gì để người dân không phải mắc nợ vì cây mắc ca? Câu hỏi này cần được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các nhà chuyên môn và các cấp chính quyền ở các tỉnh Tây Nguyên tìm lời giải đáp.(VOV 8/6) đầu trang(
Xung quanh Nghĩa trang Hòn Rọ (xã Ninh An, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa), người dân đang âm thầm chuyển nhượng đất trồng rừng để làm nơi chôn cất người chết. Điều này sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy trong việc quản lý đất đai.
Trong vai người đi mua đất cho tộc họ làm mồ mả, chúng tôi tìm về thôn Ninh Ích (xã Ninh An). Anh K., người dân địa phương dẫn đường giúp tôi đến khu vực này. Theo anh K., thời gian qua, nơi đây có nhiều người tự ý sang nhượng đất trồng rừng bán cho những ai có nhu cầu chôn cất người quá cố. Anh K. điểm tên: “đại gia” T., M. có trong tay hàng chục hecta, sau đó là ông Tr., ông Đ... Thực tế, người dân có đất xung quanh Nghĩa trang Hòn Rọ đang sẵn sàng sang nhượng để làm mồ mả.
Băng qua con đường đất, chúng tôi đến nơi đang diễn ra tình trạng này. Tiếp giáp với Nghĩa trang Hòn Rọ là khu vực rừng thưa, rải rác có những đám bạch đàn đã khai thác. Anh K. chỉ vào nơi có dấu máy cạp còn dở dang nói: “Đó là nơi chủ đất cải tạo mặt bằng chuẩn bị bán”. Bên đường đi vào khu rừng này, chúng tôi thấy hai thanh niên đang loay hoay chuyển vật liệu xây mộ. Qua trao đổi, một thanh niên cho biết, họ đang xây mộ cho người thân. Gia đình vừa mua đất tại đây với giá 200.000 đồng/m2, giá đất cao là do gần đường và vị trí đẹp...
Chúng tôi đi sâu vào trong khu rừng thì phát hiện có rất nhiều mộ xây; nhiều khu vực được người mua khoanh lại. Khu vực tiếp giáp với Nghĩa trang Hòn Rọ có số lượng mộ dày đặc. Điều này cho thấy, tình hình sang nhượng đất làm mồ mả ở đây xảy ra đã lâu và diễn biến phức tạp.
Ngại va chạm với người dân trong thôn, anh K. đề nghị ra về. Chúng tôi đánh bạo tìm đến nhà ông Tr. để hỏi mua đất. Sau khi giới thiệu, vợ ông Tr. nói: “Tôi có đến vài hecta đất nhưng ngại bán. Vừa qua, có người hỏi mua, tôi đã nhượng lại 255m2 với giá 200.000 đồng/m2, nếu anh có nhu cầu thì chúng tôi chỉ cho xem...”.
Thấy chúng tôi e dè về giấy tờ mua bán, vợ ông Tr. trấn an: “Đất của tôi là đất trồng rừng PAM trước đây, Nhà nước đã cấp sổ vàng. Nếu anh thấy bất tiện, tôi sẽ viết giấy tay làm tin, vì mua đất rừng thế này rất ngại ra xã ký xác nhận; hơn nữa, diện tích cũng không bao nhiêu...”.
Vợ ông Tr. bảo con trai dẫn tôi đến khu vực đất của gia đình. Băng qua cổng Nghĩa trang Hòn Rọ, đi một đoạn là đến khu đất của ông Tr. Chúng tôi thấy một khu vực rộng chừng 250m2, người mua đã xây tường đá bao quanh. Con trai ông Tr. cho biết, nếu muốn mua gần chỗ này thì giá tương đương, xa một chút thì giá thấp hơn...
Trong lúc đang tìm nhà ông T. để hỏi mua đất thì một phụ nữ bán nước ven đường giới thiệu cho chúng tôi có người em tên H. cũng đang bán đất. Người phụ nữ nhanh nhảu gọi cậu em ra. H. dẫn tôi đến khu vực rừng trồng nói trên. Nghe nói có nhu cầu mua đất để làm mộ chí cho tộc họ, H. sốt sắng “tiếp thị” đất của các “đại gia”, bởi đất của H. đã bán hết.
H. bảo: “Các anh thích chỗ nào thì nói, tuy đất em không còn nhưng người khác có đất, em quen rất nhiều, bao nhiêu cũng có, tiền nào của nấy. Nên mua sớm kẻo một thời gian nữa sẽ không còn đất, có trả giá cao cũng không có mà mua...”. Thấy chúng tôi có vẻ quyết tâm, H. gợi ý: “Em chỉ cho anh thì anh phải cho em chút đỉnh đó nghen, đầu tiên là chi phí xăng xe...”.
Sau đó, H. đưa chúng tôi đến nhà “đại gia” M. Thật tình cờ, “đại gia” T. cũng có mặt ở đây. Sau phút xã giao, biết chúng tôi có nhu cầu mua diện tích đất lớn, hai người tỏ ra niềm nở. Chúng tôi tranh thủ hỏi thăm về đất đai, giấy tờ, giá cả..., họ ra giá: đất chỗ cao, gò phải cải tạo, làm đường giá rẻ hơn, 80.000 đồng/m2; đất bằng phẳng, không cần cải tạo giá 100.000 đồng/m2... Sau vài phút trò chuyện, lấy lý do còn xin ý kiến tộc họ, chúng tôi xin phép ra về, hẹn sẽ liên lạc sau...
Tuy tình hình mua bán, sang nhượng đất trồng rừng xây mồ mả xảy ra đã lâu nhưng đơn vị quản lý cũng như chính quyền địa phương không quan tâm. Ông Nguyễn Văn Thanh - Đội phó Đội Vệ sinh môi trường Công ty Cổ phần Đô thị Ninh Hòa cho biết, do khu vực nằm ngoài nghĩa trang nên Đội không để ý tới.
Còn theo ông Nguyễn Quốc Chí - Chủ tịch UBND xã Ninh An, trước đây, một số hộ trong khu vực có chuyển nhượng đất trồng rừng để làm mồ mả. Xã đã thông báo đến người dân làm như vậy là sai, đồng thời báo cáo UBND thị xã. Tuy nhiên, sau thời gian tạm lắng, xã không theo sát nên tình trạng này tiếp diễn. Ông Chí thừa nhận thiếu sót của xã trong việc quản lý đất đai trên địa bàn đã làm ảnh hưởng đến môi trường, quy hoạch. Sắp tới, xã sẽ phối hợp kiểm tra, xử lý triệt để.
Được biết, Nghĩa trang Hòn Rọ được thị xã giao giải quyết nhu cầu chôn cất người chết trên địa bàn 7 phường và 2 xã (Ninh An, Ninh Thọ) của thị xã. Diện tích chôn cất tại nghĩa trang đã gần kín; hiện chỉ còn khoảng 1ha, tương đương 1.500 mộ. Lượng chôn cất bình quân tại nghĩa trang này là 150 mộ/năm.
Ông Dương Văn Lúc - Giám đốc Công ty Cổ phần Đô thị Ninh Hòa (đơn vị quản lý Nghĩa trang Hòn Rọ) cho biết: “Trước đây, Nghĩa trang Hòn Rọ được tỉnh giao 1,7ha, sau đó bổ sung thêm quy hoạch 15ha trong khu vực nhưng không bàn giao cụ thể. Thời gian qua, đơn vị đã làm hàng rào tạm xung quanh khu vực 15ha để quản lý...”.
Còn theo ông Phan Thanh Hóa - Trưởng phòng Quản lý đô thị thị xã Ninh Hòa, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt quy hoạch Nghĩa trang Hòn Rọ với tổng diện tích gần 85ha (cả khu cũ và mới). Tuy nhiên, đến nay, không biết lý do gì mà vẫn chưa triển khai lập dự án chi tiết, trong khi thị xã đã nhiều lần kiến nghị tỉnh về vấn đề này.
Về những vấn đề nêu trên, ông Trần Văn Minh - Chủ tịch UBND thị xã thừa nhận, việc sang nhượng đất trồng rừng trái phép làm mồ mả là có thật. Thị xã đã giao Phòng Quản lý đô thị và xã Ninh An xử lý. Thị xã cũng đang trình tỉnh cho phép lập quy hoạch chi tiết 1/500 Nghĩa trang Hòn Rọ để có cơ sở đầu tư. Tuy nhiên, hiện nay, tỉnh vẫn chưa có ý kiến về vấn đề này. Sắp tới, UBND thị xã sẽ quyết liệt chấn chỉnh tình trạng sang nhượng đất trồng rừng trái phép, gây hệ lụy về quản lý đất đai, môi trường... Về lâu dài, Công ty Cổ phần Đô thị Ninh Hòa sẽ chuyển đổi khu vực này theo hướng nghĩa trang công viên. (Báo Khánh Hòa 6/6) đầu trang(
Thời gian gần đây, cơ quan chức năng huyện Quỳ Châu, Nghệ An phát hiện gần 465 ha đất rừng của các hộ gia đình được Nhà nước giao, theo Nghị định 163/1999/ND-CP của Chính phủ đã bị bán, chuyển nhượng, cho thuê trái quy định.
Bước đầu, sai phạm trên được phát hiện tại các bản Kẻ Nính, Pà Cọ, xã Châu Hạnh. Nhiều hộ gia đình tại các bản này được giao đất rừng theo Nghị định 163 của Chính phủ đã tự ý bán, chuyển nhượng, cho Công ty CP Nghệ An Xanh, trụ sở tại bản Bình 3, xã Châu Bình thuê.
Vào những năm 2011, 2012, Công ty trên đã trực tiếp đến các hộ gia đình có đất rừng để hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) và hợp đồng thuê QSDĐ có thời hạn 50 năm, với giá thỏa thuận từ 350.000 đồng/ha đến 1.600.000 đồng/ha. Bước đầu, có 37 hộ bán, chuyển nhượng, cho thuê QSDĐ, với tổng diện tích lên đến 464,7 ha, trong đó ở bản Kẻ Nính là 281,3 ha, bản Pà Cọ 183,4 ha. Đến năm 2014 và 2015, doanh nghiệp đã đưa lao động, máy móc đến để sản xuất khai thác.
Từ xã Châu Hanh, qua kiểm tra của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Quỳ Châu cho thấy, một số hộ gia đình, cá nhân được giao đất rừng theo Nghị định 163, sau đó bán, chuyển nhượng, cho thuê đất rừng cho một số tổ chức, cá nhân đầu tư trồng rừng còn diễn ra ở một số xã khác như: Châu Bình, Châu Thắng, Châu Hội, Châu Nga, Châu Bính. Việc mua, bán, chuyển nhượng, cho thuê một số ít có hợp đồng, còn lại chủ yếu thỏa thuận miệng, người bán nhận tiền, bên mua nhận bìa đỏ. Trong số diện tích các hộ gia đình đã bán, chủ yếu là rừng tự nhiên tái sinh phục hồi, trạng thái từ 1c đến 2a, 2b.
Sau khi phát hiện việc mua, bán, chuyển nhượng đất của các hộ dân trái quy định pháp luật, tháng 2-2015, Hạt Kiểm lâm Quỳ Châu đã có văn bản gửi Huyện ủy và UBND huyện, văn bản nêu rõ: tình trạng có một số hộ gia đình, cá nhân và chủ đầu tư trồng rừng đã tự ý chặt phá dần cây gỗ non một cách có chủ ý để làm nghèo rừng, sau đó sẻ phát, đốt để trồng rừng làm cho nguy cơ chặt phá rừng có diễn biến phức tạp khó lường.
Được biết, năm 2012, UBND huyện Quỳ Châu đã có văn bản yêu cầu chủ tịch UBND các xã, thị trấn không được xác nhận cho việc chuyển nhượng QSDĐ lâm nghiệp; giao cho Văn phòng đăng ký QSDĐ không thụ lý hồ sơ chuyển nhượng QSDĐ lâm nghiệp của các hộ gia đình đã được cấp theo Nghị định 163.
Năm 2015, Huyện ủy Quỳ Châu cũng ban hành Chỉ thị số 15 - CT/HU của Ban Thường vụ Huyện ủy và UBND huyện Quỳ Châu có Công điện số 190/CĐ-UBND ngày 22/4/2015, cùng chỉ đạo về việc tăng cường các biện pháp phòng chống chặt phá rừng, chuyển đổi rừng trái quy định và phòng cháy, chữa cháy rừng. Tuy nhiên, công tác quản lý bảo vệ rừng vẫn hết sức yếu kém, tình trạng phá, đốt rừng thuộc các khu vực được giao theo Nghị định 163 diễn ra hết sức phức tạp.
Tuy nhiên, việc kiểm tra, xử lý sai phạm trên đến nay vẫn chưa quyết liệt và dứt điểm. Công luận yêu cầu chính quyền và cơ quan chức năng huyện Quỳ Châu cần tiếp tục kiểm tra, rà soát lại đất rừng đã được giao cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng, ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định 163. Nếu sai phạm, phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. (Nhân Dân 6/6) đầu trang(
Về huyện Kon Plong (Kon Tum) những ngày hè này, không khí thật dễ chịu. Đi trên các ngả đường rợp bóng cây xanh, tiếng suối róc rách chảy, tiếng nhạc rừng réo rắc, hương rừng thoang thoảng vô cùng quyến rũ; những cơn mưa rừng chợt đến rồi chợt đi để lại phía sau bầu không khí trong lành và mát mẻ. Dọc Quốc lộ 24 hay đường Đông Trường Sơn là những cánh rừng nguyên sinh xanh tít tắp.
Người đầu tiên chúng tôi gặp là anh Vũ Văn Bắc, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plong. Theo anh Bắc, tổng diện tích rừng công ty được giao là 64.080,71ha, trong đó có 53.544,84ha rừng sản xuất, 6.729,32ha rừng phòng hộ, còn lại là các loại rừng khác.
Ông Nguyễn Văn Lân, Chủ tịch UBND huyện Kon Plong, cho biết, tỷ lệ che phủ rừng ở huyện hiện đạt 82%, con số đáng quý so với tình hình chung của cả nước. Dưới tán rừng có nhiều dự án lớn đầu tư về các lĩnh vực như du lịch sinh thái, trồng và chế biến cây dược liệu, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông trại hữu cơ, nuôi dê sữa chất lượng cao. Tất cả tạo nên luồng sinh khí mới dưới tán rừng, giúp bà con làm giàu từ rừng, thực hiện khát vọng từ ngàn đời của tổ tiên.
Năm 2013, công tác trồng rừng và chăm sóc rừng trồng là 93ha nhưng huyện trồng mới 100ha, trong đó 50ha là rừng trồng phòng hộ tại Chi nhánh Lâm trường Măng Bút, 50ha là rừng trồng thay thế tại Lâm trường Măng La. Trồng rừng thay thế, phủ xanh đất trống dọc Quốc lộ 24 thuộc xã Pờ Ê là 163ha.
Năm 2014 và các năm tiếp theo, rừng trên địa bàn sẽ được trồng thay thế và trả lại màu xanh cho những cánh rừng, tạo cho huyện kiểu sinh thái ưu việt, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ di sản vô giá của vùng đất Tây Nguyên là khí hậu mát mẻ quanh năm.
Ngoài công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plong còn có nhiệm vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng. Trong năm 2014 tổng diện tích được chi trả là 27.196ha, với tổng số tiền chi trả 7.282.069.200 đồng, trong đó diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng giao khoán cho hộ dân là 16.780ha, đã giao đến 665 hộ dân, tạm ứng 80% cho các hộ dân 4.698.635.200 đồng; diện tích công ty tự quản lý 10.416ha, tạm ứng 80% là 2.583.434.000 đồng.
Với sự vào cuộc của các cơ quan, ban, ngành huyện Kon Plong, đặt biệt là Công ty Lâm nghiệp Kon Plong, khát vọng làm giàu từ rừng đã sớm trở thành hiện thực, mang lại cuộc sống ấm no cho người dân địa phương, đồng thời bảo vệ và phát triển rừng, để rừng mãi xanh tươi. (Kinh Tế Nông Thôn 5/6) đầu trang(
Ở đội 4, xã Tiên Lãng (huyện Tiên Yên) có vụ việc 4 hộ gia đình trong gần 15 năm qua luôn “mặc định” hơn 100ha diện tích rừng tại tiểu khu 256 (hồ Đá Lạn, xã Tiên Lãng) vốn thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên, là diện tích đất rừng của mình.
Nguyên nhân của sự hiểu lầm tai hại này là do lối làm việc thiếu khoa học, chặt chẽ của một vài cán bộ của Lâm trường Tiên Yên thời bấy giờ (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên). Đến thời điểm này, mặc dù sự việc đã được làm sáng rõ, nhưng vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Năm 1995, Lâm trường Tiên Yên được UBND tỉnh giao làm chủ dự án 327 huyện Tiên Yên (gọi tắt theo Quyết định số 327-CT ngày 15-9-1992 về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước). Căn cứ năng lực tổ chức sản xuất và kế hoạch UBND tỉnh giao, tháng 1-1995 Lâm trường ký hợp đồng giao đất khoán bảo vệ rừng với các hộ dân địa phương.
Do dự án khi đó không có hướng dẫn cụ thể về các mẫu hợp đồng, sổ sách, nên Lâm trường đã vận dụng mẫu hợp đồng theo Nghị định số 01/CP (ngày 4-1-1995) của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, để ký kết hợp đồng giao đất khoán rừng với người dân. T
rên cơ sở hợp đồng này, Lâm trường ký tiếp hợp đồng sản xuất lâm nghiệp hàng năm về hạng mục khoanh nuôi bảo vệ rừng với các hộ gia đình tại tiểu khu 256, trong đó có 4 hộ ở đội 4 là Bế Văn Lưu, Mã Tiến Đạt, Hoàng Văn Pẩu và Ngô Xuân Long, với tổng diện tích trên 100ha trong 2 năm 1995-1996. Đến năm 1997, dự án kết thúc, Lâm trường không ký hợp đồng thực hiện hạng mục khoanh nuôi bảo vệ rừng với 4 hộ dân kể trên nữa. Kể từ đó đến nay việc quản lý bảo vệ khu vực tiểu khu 256 do Lâm trường tự bố trí kinh phí và lao động thực hiện.
Mặc dù các hợp đồng khoanh nuôi bảo vệ rừng các năm 1995-1996 với 4 hộ dân nói trên đã được Lâm trường làm thủ tục thanh lý hợp đồng, quyết toán kinh phí; nhưng với hợp đồng giao khoán đất rừng thì Lâm trường không thực hiện đầy đủ thủ tục về thanh lý, cũng không thu hồi hợp đồng này và thông báo, giải thích với 4 hộ dân. Bởi vậy 4 hộ dân được giao khoán vẫn cho rằng diện tích trên 100ha rừng được giao là của gia đình.
Ông Bế Văn Lưu cho biết: “Chúng tôi là nông dân miền núi, không am hiểu nhiều về thủ tục giấy tờ hợp đồng lâm nghiệp. Bởi vậy khi hộ dân chúng tôi vẫn giữ hợp đồng giao đất khoán rừng Lâm trường Tiên Yên giao cho, thì đương nhiên đó vẫn là đất rừng của chúng tôi...”.
Như vậy, theo quan điểm của các hộ dân, khi các hộ vẫn giữ hợp đồng giao đất khoán rừng Lâm trường Tiên Yên giao; Lâm trường lại chưa thực hiện thanh lý, thu hồi hợp đồng và thông báo, giải thích, thì đương nhiên diện tích hơn 100ha đất rừng ở tiểu khu 256 được ghi trong sổ giao khoán vẫn là của họ.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, do dự án khi đó không có hướng dẫn cụ thể về các mẫu hợp đồng, sổ sách, nên Lâm trường đã vận dụng mẫu hợp đồng của Nghị định số 01/CP để ký kết hợp đồng giao đất khoán rừng với bà con. Vì đây là mẫu hợp đồng vận dụng của nội dung khác, nên một số hướng dẫn ghi trong hợp đồng thể hiện chưa chặt chẽ, chưa sát với dự án 327.
Đơn cử như tại hợp đồng số 74 của ông Hoàng Văn Pẩu, tại dòng thời hạn giao khoán đất rừng có ghi 50 năm, tuy nhiên thời điểm thực hiện ký hợp đồng này với ông Pẩu vào năm 1995, Lâm trường Tiên Yên chưa được UBND tỉnh giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) nên không có cơ sở gì để giao khoán đất rừng có thời hạn cho cá nhân.
Theo hồ sơ lưu trữ tại cơ quan chức năng, Lâm trường được UBND tỉnh giao đất theo Quyết định 3019/QĐ-UB (ngày 19-11-1998), đồng thời Lâm trường được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 200/QSDĐ (ngày 10-12-1998) do Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký. Hợp đồng số 74 của ông Pẩu cũng không có sơ đồ, bản đồ, biên bản bàn giao đất lâm nghiệp, thể hiện vị trí diện tích rừng giao khoán. Tóm lại hợp đồng này là loại hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng theo tinh thần của dự án 327, không phải văn bản giao đất, giao rừng theo quy định của Nhà nước.
Ông Mạc Văn Xuyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, phân tích: Mặc dù thời điểm kết thúc dự án 327 vào năm 1997, Lâm trường Tiên Yên không thực hiện đầy đủ thủ tục về thanh lý, thu hồi hợp đồng giao khoán đất rừng, song về bản chất bản hợp đồng này thiếu tính hợp lý, hợp pháp, đến thời điểm này cũng không còn giá trị pháp lý. Thông tin này cũng đã được các đơn vị chức năng huyện Tiên Yên, Sở NN&PTNT trả lời rõ đối với 4 hộ dân.
Như vậy, 4 hộ dân cũng cần xem xét một cách thấu đáo, trên tinh thần trách nhiệm, hiểu rõ bản chất sự việc. Không vì một bản hợp đồng năm nào chưa được thanh lý mà cố tình dây dưa, không thiện chí cùng các bên liên quan giải quyết một cách dứt điểm vụ việc.
Điều cần quan tâm nữa là diện tích rừng tại tiểu khu 256, trong đó có hơn 100ha rừng kể trên nằm ở vị trí đầu nguồn hồ Đá Lạn. Hồ Đá Lạn là công trình thuỷ lợi được xây dựng cách đây gần 50 năm, quy mô 10ha, dung tích trên 900.000m3. Công trình hiện chất lượng vẫn tốt. Trong những năm qua công trình đã cung cấp nước tước tiêu cho khoảng 300 hộ dân canh tác 60ha lúa, màu ở các thôn Nương, 12, Đồng Châu và Đồng Báo, xã Tiên Lãng.
Ông Vũ Văn Nhâm, Phó Chủ tịch UBND xã Tiên Lãng, cho biết: Trong đợt nắng nóng vừa qua, hồ Đá Lạn đã phát huy tác dụng rất tốt khi kịp thời cung cấp nước tưới tiêu, khắc phục khô hạn cho toàn bộ diện tích lúa chiêm xuân ở đây. Hồ Đá Lạn là công trình thuỷ lợi nằm ở vị trí núi cao, dưới có các hộ dân sinh sống, nên cần phải giữ gìn, tránh khai thác diện tích rừng đầu nguồn như hiện nay. Hiện một phần diện tích tiểu khu 256 thuộc rừng đầu nguồn Đá Lạn chưa được quy hoạch thành rừng phòng hộ, vẫn là rừng sản xuất, nên có tình trạng trắng rừng sau khai thác, phải ít nhất 1 năm sau trồng, khu vực này mới có rừng. Điều này dẫn đến tình trạng xói mòn đất, ảnh hưởng đến tác dụng trữ nước và sinh thuỷ của hồ Đá Lạn.
Vụ việc hiểu lầm nói trên, trách nhiệm đầu tiên thuộc về Lâm trường Tiên Yên, do làm việc thiếu khoa học, thiếu trách nhiệm, dẫn đến người dân hiểu lầm trong thời gian dài. Khi biết được sự việc thì Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên cũng chưa thẳng thắn nhận lỗi với người dân và xử lý một cách hợp tình, hợp lý. Đến thời điểm này, khi bản chất sự việc đã được làm rõ, 4 hộ dân cũng nên thể hiện tinh thần thiện chí, hợp tác để giải quyết dứt điểm.
Để tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên trên cơ sở căn cứ vào khả năng quỹ đất lâm nghiệp, quan tâm xem xét giao khoán đất rừng cho các hộ dân này. Huyện Tiên Yên cũng cần sớm bổ sung rừng khu vực hồ Đá Lạn vào quy hoạch rừng phòng hộ. (Báo Quảng Ninh 8/6) đầu trang(
Nhằm giới thiệu đến khách hàng tiềm năng về hoạt động và nhu cầu thu mua nguyên liệu của Nhà máy chế biến gỗ Công nghiệp Vị Xuyên, chiều 4.6, Sở NN&PTNT phối hợp với Ban quản lý Khu Công nghiệp (KCN) Bình Vàng (Vị Xuyên), Công ty Cổ phần (CP) Công nghiệp và Xuất khẩu Lâm nghiệp Hà Giang tổ chức Hội nghị Khách hàng cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy chế biến gỗ Công nghiệp.
Tham dự hội nghị có lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; lãnh đạo các huyện: Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, thành phố Hà Giang; các Doanh nghiệp và chủ rừng, chủ các cơ sở sơ chế ván bóc.
Nhà máy chế biến gỗ Công nghiệp Vị Xuyên được Ban quản lý KCN cấp Giấy chứng nhận đầu tư với công suất thiết kế 150.000m3 sản phẩm/năm, bao gồm 3 Nhà máy sản xuất: Ván MDF với công suất 80.000m3/năm; ván thanh, ván ghép thanh với công suất 20.000m3/năm; ván ép với công suất 50.000m3/năm.
Theo đó, tổng nhu cầu nguyên liệu gỗ tròn của Nhà máy vào khoảng 260.000 – 270.000m3/năm tương đương với khoảng 4.300ha rừng khai thác/năm. Đáp ứng thu mua nguồn nguyên liệu cho người dân tại các huyện Vị Xuyên, Bắc quang, Quang Bình, Bắc Mê và thành phố Hà Giang.
Tại hội nghị, đại diện Công ty CP Công nghiệp và Xuất khẩu Lâm nghiệp Hà Giang cùng với các chủ rừng, chủ các cơ sở sơ chế ván bóc đã thảo luận nhiều vấn đề trong việc đầu tư sản xuất, thu mua sản phẩm như: Giá cả thu mua nguyên liệu; thị trường và nhu cầu thu mua của Nhà máy; chất lượng nguyên liệu; thủ tục hành chính, Hợp đồng bao tiêu nguyên liệu; hình thức thu mua...
Để đi đến sự thống nhất, tìm ra tiếng nói chung giữa người dân và doanh nghiệp nhằm thực hiện đảm bảo cho quá trình hợp tác, liên kết mang lại hiệu quả có lợi cho cả 2 bên, đại diện Công ty và các đối tác đã tiến hành ký kết Hợp đồng Nguyên tắc trước sự chứng kiến của lãnh đạo các Sở, ngành và lãnh đạo các huyện, thành phố...
Trước đó, các đại biểu tham dự hội nghị đã đến tham quan Nhà máy ván ép có công suất 50.000m3/năm của Công ty CP Công nghiệp và Xuất khẩu Lâm nghiệp Hà Giang ở Lô 5, KCN Bình Vàng (Vị Xuyên). (Báo Hà Giang 5/6) đầu trang(
Từ ngày 02 – 05/07/2015 tại Đài Bắc, Đài Loan sẽ diễn ra “Triển lãm Quốc tế Đài Loan về Máy móc ngành gỗ năm 2015” .
Đây là sự kiện do Hội đồng phát triển ngoại thương Đài Loan (TAITRA) tổ chức. Dự kiến có khoảng 200 doanh nghiệp tham gia, sử dụng 1000 gian hàng. Để khuyến khích các DN cùng ngành nghề tham gia triển lãm, BTC sẽ dành những suất hỗ trợ vé máy bay hoặc chi phí ở. (Hải Quan 4/6) đầu trang(
Gỗ tấm MDF (Plain Medium density Fibre Borad) nhập khẩu từ Indonesia và Việt Nam đang bị Ấn Độ điều tra chống bán phá giá, theo Cục Quản lý cạnh tranh (QLCT) hôm 5-6.
Tổng vụ Chống bán phá giá và chống trợ cấp (DGAD) thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá này từ ngày 7-5, xuất phát từ đơn kiện của hai công ty tại Ấn Độ là Greenply Industries Ltd và Công ty Mangalam Timber Products Ltd. Giai đoạn Ấn Độ tiến hành điều tra là từ ngày 1-10-2013 đến ngày 30-9-2014.
CQLCT dẫn số liệu sơ bộ từ Trung tâm thương mại quốc tế (ITC) cho biết, trong năm 2014, Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ gỗ tấm MDF với số lượng khoảng 28.800 tấn, trị giá khoảng 13 triệu đô la Mỹ. Việt Nam là nước xuất khẩu sản phẩm này nhiều thứ hai vào Ấn Độ.
Theo thông tin trên trang web của Cục Xúc tiến thương mại (Vietrade) – thuộc Bộ Công Thương vào giữa năm 2014, trong khoảng chục năm qua, Ấn Độ bắt đầu nhập khẩu ngày càng nhiều gỗ, từ mức 630 triệu đô la Mỹ trong năm 2003 lên 2,7 tỉ đô la Mỹ trong năm 2013, do sự phát triển của ngành bất động sản cùng với nhu cầu đồ nội thất gia tăng. Trong năm 2013, Ấn Độ nhập khẩu gỗ công nghiệp MDF với tổng giá trị 96 triệu đô la Mỹ.
Trước đó, theo CQLCT hôm 28-5, một loại gỗ khác là gỗ dán xuất khẩu từ Việt Nam và Bulgaria cũng vừa bị Thổ Nhĩ Kỳ khởi xướng điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá. Điều tra được tiến hành nhằm xem xét liệu có khả năng gỗ dán từ Trung Quốc được chuyển tải sang Việt Nam và Bulgaria để vào thị trường Thổ Nhĩ Kỳ nhằm né tránh thuế chống bán phá giá mà Thổ Nhĩ Kỳ đang áp dụng cho gỗ dán Trung Quốc hay không.
Theo Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ, kể từ năm 2010, lượng gỗ dán nhập từ Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Cụ thể, từ năm 2010 trở về trước, mức nhập khẩu chỉ là 3.250 m3, nhưng năm 2013 đã tăng lên 10.052m3 và đến năm 2014 là 24.065 m3. (TBKTSG Online 5/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong suốt năm đầu đời, một chú khỉ con tên là Budi đã bị nhốt trong một chiếc chuồng gà, không được ăn uống bất cứ thứ gì ngoài sữa đặc.
Cho đến khi được các bác sỹ trong Tổ chức cứu hộ động vật Quốc tế đến giải cứu vào cuối năm 2014, cơ thể của Budi vẫn còn rất đau đớn và tỏ ra vô cùng hoảng sợ. Được biết, hơn một năm trước, chú khỉ này đã được mua trái phép trên hòn đảo Borneo của Indonesia bởi một người đàn ông.
Khi được chuyển đến trung tâm cứu hộ động vật IAR, Budi vẫn còn rất yếu, vì thế việc di chuyển hoặc ngồi thẳng lên là vô cùng khó khăn. Chú khỉ con có thể nằm yên một chỗ. Khi một bác sĩ thú y nâng Budi dậy, chú đã kêu khóc trong đau đớn.
“Chúng tôi thậm chí không thể tưởng tượng chú khỉ nhỏ bé này đã phải chịu bao nhiêu đau đớn. Cơ thể chú bị suy dinh dưỡng nặng, tay chân bị cong và sưng”, bác sỹ thú y nói.
Budi là một nạn nhân của việc buôn bán bất hợp pháp quốc tế của các loài linh trưởng.Trong đó, theo Tổ chức từ thiện động vật Grasp, ước tính có khoảng 3.000 loài linh trưởng bị đánh cắp từ môi trường hoang dã mỗi năm.
Hiện, Budi sẽ phải đối mặt với thời gian dài rất khó khăn để phục hồi lại sức khỏe, và chú sẽ không thể sống sót nếu không có sự giúp đỡ của chúng ta. (Đời Sống & Pháp Luật 5/6) đầu trang(
Các nhà bảo tồn và các chuyên gia về động vật hoang dã Tanzania cho biết, có khoảng 12.000 cá thể voi đột ngột biến mất mà không hề có dấu hiệu của tử vong tự nhiên hoặc bị săn bắn.
Lazaro Nyalandu, Bộ trưởng Tài nguyên và Du lịch Tanzania phát biểu: “Chúng tôi dự kiến mở rộng hoạt động tìm kiếm đàn voi mất tích càng sớm càng tốt, đặc biệt khi mùa mưa đang tới gần… Trong bất cứ hoàn cảnh nào, đây là thông tin không mấy tốt đẹp và chúng tôi sẽ làm hết sức mình”. Vị quan chức này cho biết sự kiện 12.000 cá thể voi biến mất không để lại dấu vết đã ghi một dấu ấn bí hiểm tại Tanzania.
12.000 cá thể voi được cho là mất tích trong những tháng cuối năm 2014 tại hệ sinh thái Ruaha-Rungwa. Đây là nơi ghi nhận sự sụt giảm số lượng voi rất nhanh, từ 20.000 cá thể (năm 2013) xuống còn 8.000 cá thể vào thời điểm hiện tại qua các dữ liệu thống kê mới nhất.
Các chuyên gia về động vật hoang dã đã tiến hành điều tra hiện trường và không phát hiện bất kỳ bộ xương nào cho thấy voi bị chết một cách tự nhiên hoặc bị giết.
Theo TS Simon Mduma, Giám đốc Viện nghiên cứu Động vật hoang dã Tanzania (TAWIRI), các loài động vật thường biến mất không thể không để lại dấu vết.
Ông Nyalandu đặt câu hỏi: “Phải chăng các chú voi bị giết, bị đưa ra khỏi đất nước để đáp ứng nhu cầu của nước ngoài? Thông thường khi một số lượng lớn các động vật khổng lồ mất tích, chúng phải để lại các dấu vết như các bộ xương nhưng trong trường hợp này, tất cả là con số không”.
Tất cả công bố trên đã được công khai tại Arusha và các số liệu thống kê cho thấy Tanzania đã mất hơn 60% quần thể voi trong vòng 5 năm qua. Dữ liệu thống kê cho thấy hiện Tanzania còn khoảng 43.521 cá thể voi và đồng nghĩa với việc quốc gia này đã mất khoảng 70.000 cá thể trong vòng 5 năm qua. Tại thời điểm hiện tại, 10.000 cá thể voi được cho là biến mất không để lại dấu vết trong vòng 1 năm qua.
Theo dữ liệu năm 2009, Tanzania có quần thể voi vào khoảng 110.000 cá thể và trở thành nước đứng thứ hai sau Botswana (150.000 cá thể).
Tuy nhiên, thống kê mới nhất cho thấy, quần thể voi ở Tanzania đã suy giảm khoảng 100.000 cá thể trong vòng 5 năm qua xuống còn khoảng 45.000 cá thể, tức là suy giảm hơn 60%.
Các số liệu cho biết hệ sinh thái Malagarasi-Muyovozi đứng đầu tiên với 81% số voi biến mất, tiếp theo là Ruaha-Rungwa với 76%và Selous Mikumi với 66%. Vào những năm 1960, hệ sinh thái Selous Mikumi có khoảng 100.000 cá thể nhưng hiện nay chỉ là nơi trú ngụ của 15.217 cá thể voi.
Ngược lại, hệ sinh thái Serengeti-Mara cho thấy dấu hiệu phục hồi của quần thể voi với 6.087 cá thể. Tương tự là các hệ sinh thái Tarangire-Manyara (4.400 cá thể), Vườn quốc gia Arusha (200 cá thể), Khu bảo tồn Kilimanjaro (100 cá thể), Ruaha-Rungwa (8.000 cá thể), Malagarasi-Muyovosi (2.950 cá thể), đảo Rubondo (102 cá thể) và Katavi-Rukwa (6.396 cá thể). (Nhân Dân 5/6) đầu trang(
Các nhà nghiên cứu tại vườn thực vật Singapore vừa phát hiện hai loài cây mới thuộc họ Hanguana chỉ có tại đất nước này.
Hanguana rubinea là cây có trái màu đỏ rubi hoặc hồng đậm, tiết nước màu vàng. Loài thứ hai, Hanguana triangulata, có đầu nhụy hình tam giác. Đây là hai loài đặc hữu ở Singapore, được xếp vào nhóm các loài cây bị đe dọa toàn cầu.
"Tìm thấy bất kỳ loài mới nào ở khu vực đô thị Singapore đều là chuyện thần kỳ, phần vì diện tích đất nhỏ hẹp của chúng tôi, phần vì nhiều thực vật ở Singapore có mặt khắp Đông Nam Á'", Tiến sĩ Jana Leong-Skornickova, người phát hiện ra giống cây mới nói.
Phát hiện này cho thấy hệ thực vật nhiệt đới "phong phú và phức tạp hơn chúng ta tưởng," Leong-Skornickova đánh giá.
Today Online hôm 4/6 dẫn tuyên bố của Công viên Quốc gia Singapore cho biết, cùng với hai loài mới phát hiện, quốc đảo này có 6 loài thuộc họ Hanguanaceae.
Bộ trưởng Phát triển Quốc gia Khaw Boon Wan tuyên bố, cùng với sự phát hiện giống gừng Zingiber năm ngoái, Singapore hiện có 3 loài đặc hữu. Điều này chứng tỏ rằng, dù đất đai có hạn, nhưng Singapore vẫn là một quốc gia đa dạng sinh học. Hai loài cây mới là món quà thiên nhiên trao tặng Singapore, nhân kỷ niệm 50 năm lập quốc. (VnExpress 6/6) đầu trang(
Đặc trưng của bảy loài ếch mới này là cơ thể nhỏ bé, màu da sáng và môi trường sống của chúng là vài đỉnh núi thuộc rừng mưa nhiệt đới Atlantic ở Brazil.
Các loài ếch mới này được xác định thuộc phân chi Brachycephalus. Tuy nhiên, qua phân tích, các nhà khoa học đã báo động chúng đều có nguy cơ tuyệt chủng vì môi trường sống.
Các cá thể ếch mới chỉ dài chừng 1cm với màu sắc rực rỡ như lời cảnh báo thân thể chúng chứa tetrodotoxin - chất độc đối với hệ thần kinh.
Hãng tin UPI cho biết phân chi ếch Brachycepphalus được các nhà khoa học nhận biết kể từ năm 1842, nhưng hầu hết các loài được biết đến của loài ếch này được phát hiện trong thập kỷ qua. Điều này một phần là do mỗi loài sống ở rừng mây núi xa xôi và rất khó khăn để tiếp cận chúng.
Các nhà khoa học đang rất lo cho khả năng tuyệt chủng của ếch vì rừng mây rất nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu và rất khó khăn để dịch chuyển những loài ếch mới này đến những đỉnh núi khác. (Thanh Niên 5/6)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||