Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 01 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Một trong những bãi quặng vonfram lớn nhất tỉnh Lâm Đồng thuộc xã Lộc Lâm, huyện Bảo Lâm đang bị tàn phá mỗi ngày bởi nạn “quặng tặc”.
Sau hai tuần thâm nhập, PV phát hiện nhiều mối quan hệ khó hiểu giữa kiểm lâm và những người khai thác quặng trái phép.
Theo giới quặng tặc, đầu năm 2006 khu rừng thuộc xã Lộc Lâm, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (giáp xã Quảng Khê, huyện Đăk Glong, tỉnh Đắk Nông) có một nhóm đào trúng mỏ quặng vonfram lên đến cả chục tấn trên quả đồi rộng gần 10ha. Thấy có người trúng quặng, giới đào quặng chuyên nghiệp ùn ùn kéo về. Thậm chí người dân nghe tin cũng đổ xô vào đào đãi quặng.
Thời điểm đó, bãi quặng lên tới vài trăm người khai thác. UBND huyện Bảo Lâm phải thành lập nhiều đoàn liên ngành, tổ chức nhiều đợt truy quét lớn, trong đó có cả lực lượng quân đội đóng chốt ngay tại bãi quặng vào năm 2007 để kiểm soát tình hình, đẩy đuổi quặng tặc ra khỏi rừng.
Kể từ đó giới quặng tặc đặt biệt danh cho bãi quặng là “núi cấm”. Tưởng rằng đã trở thành núi cấm thì “ngoại bất nhập, nội bất xuất” nhưng thực tế cho thấy vẫn có những nhóm quặng tặc thường xuyên lên “núi cấm” để khai thác quặng, dù ở đây có kiểm lâm chốt chặn dưới chân núi suốt 24/24 giờ.
Bãi quặng vonfram nằm giáp ranh với thủy điện Đồng Nai 3 (xã Quảng Khê). Nhiều năm nay khu này bị cơ quan chức năng kiểm soát gắt gao. Tuy nhiên, thời điểm cuối tháng 12-2014, ở đây luôn có sáu nhóm quặng tặc hoạt động lên tới 60-70 người, đóng nhiều lán trại nằm rải rác dưới chân “núi cấm”.
Trước khi vào bãi quặng, được một người quen cảnh báo: “Giờ thằng nào có máu mặt mới trụ lại được ở núi cấm. Thằng nào lơ mơ vào làm ăn là bị đập chết liền”. Theo ông này, những nhóm có máu mặt là nhóm ông Sinh, ông Giáp, ông Tân, ông Hàm, ông Nam và Tài “điên”. Các nhóm đều khai thác quặng về đêm.
17g ngày 16-12, tại lán của ông Sinh, 11 quặng tặc bắt đầu chuẩn bị “đồ nghề”, đợi đêm xuống là kéo quân lên khu đồi cấm. Quy, người nhóm ông Sinh, giải thích: “Máy nổ, ống nhựa, dầu được giấu kỹ trên đỉnh núi rồi. Giờ chỉ cần mang đèn pin đội đầu, xà beng, xẻng, bao tải, đồ ăn lên”.
Ít phút sau, các quặng tặc phân công đi lấy 90 lít dầu, hai máy nổ và cả chục ống nhựa giấu trong rừng. Trên đường leo lên đỉnh “núi cấm” dài khoảng 900m, nhận ra hàng trăm giếng quặng sâu tới 30m chi chít khắp quả đồi. Tới 19g, cả khu đồi bắt đầu vang lên tiếng xình xịch của hơn chục chiếc máy nổ của bốn nhóm quặng tặc. Nước phun ra xối xả.
Các chủ cai la hét, chỉ đạo nhân công dùng vòi rồng xịt thẳng vào những ụ đất ngậm quặng. Vòi rồng xịt tới đâu, 6-7 quặng tặc dùng xà beng chọc liên tục tới đó. Đất cứng vỡ ra từng mảng lớn được vòi rồng thổi xuống một đường mương dài 500m đã đào sẵn, có kè bằng tre nứa cẩn thận. Tiếng ông Sinh quát át tiếng nước: “Bọn mày chọc nhanh lên, từ giờ tới sáng phải kiếm ít nhất 2 tạ mới có ăn”.
Cứ vậy, tiếng máy, tiếng người la hét suốt trên đỉnh đồi, ánh sáng đèn pin của gần 50 quặng tặc chẳng khác một đại công trường nhộn nhịp. Làm sát rạt bên nhóm ông Sinh là nhóm ông Hàm, ông Hà, ông Tân. Các nhóm này cũng huy động cả chục người làm cấp tập. Trời rạng sáng, từ vị trí khai thác có thể thấy trạm kiểm lâm đóng ngay dưới chân núi, chỉ cách khoảng 300m đường chim bay.
Liên tiếp ba ngày 15, 16 và 17-12 các nhóm thay nhau khai thác nhộn nhịp trên đỉnh “núi cấm” nhưng không hề có động thái ngăn chặn nào từ kiểm lâm. Các quặng tặc cho biết bất cứ khi nào “có động” như công an hoặc đoàn truy quét vào nơi khai thác quặng thì đều có người báo tin.
Khoảng 8g sáng 18-12, 10 quặng tặc của nhóm ông Tân đang nấu ăn trong lán để chuẩn bị đi khai thác quặng thì bất ngờ thấy hai con chó chạy xộc vào lán. Một quặng tặc nói lớn: “Anh em, có khách quý”. Vừa dứt lời thì thấy ông Quân (được cho là tiểu khu trưởng trạm kiểm lâm đóng dưới chân “núi cấm”) và ông Phong (hỗ trợ viên kiểm lâm từ rừng) đi vào.
Ông Tân cười tươi chào: “Bố tới chơi”. Ông Quân không nói gì, chỉ tay lên phía dòng quặng, nơi nửa quả đồi rộng tới 4ha của nhóm ông Tân bị cày phá tan nát, nói: “Làm ăn sao rồi?”. Ông Tân xởi lởi: “Kiếm ít quặng xái thôi bố ơi”.
Đứng nói chuyện được ít phút, ông Quân leo lên giường tre trong lán của ông Tân nằm, ông Phong ngồi kế bên, đứng quanh là gần chục quặng tặc. Một lúc sau, ông Quân nói tiếp: “Sắp có công an vào.
Công an vào ở trong đây luôn đấy. Xem máy móc thế nào, tìm chỗ mà giấu đi”. Một quặng tặc hỏi: “Công an nào hả bố? Chắc vào được hai ngày lại chạy ra chứ gì”. Ông Quân trả lời: “Có một thằng mới, đợt này không phải mấy thằng cũ. Chắc tuần tới sẽ vào”.
Sau khi nằm trong lán bàn bạc đủ thứ chuyện, ông Quân và ông Phong cho biết thứ bảy, tức ngày 20-12, ông sẽ ra huyện, thay ca cho ông là kiểm lâm viên khác. Do có công an, đoàn liên ngành có thể truy quét các lán trại nên ông phải rảo một vòng xem xét tình hình. Lúc ra về, ông Quân nói với theo: “Thôi, chúng mày làm đi, tao còn phải qua lán thằng Sinh và mấy thằng khác rồi về nghỉ trưa là vừa”.
Đêm 18-12, nhóm của ông Hà, ông Sinh, Tài “điên”, ông Tân đột ngột ngừng khai thác trên đỉnh “núi cấm”. Ông Mạnh, trong nhóm ông Sinh, giải thích: “Tao còn lạ gì, gần cuối năm bình bầu kiểm lâm viên xuất sắc rồi, lỡ có chuyện gì thì hỏng ăn”. Nghỉ một đêm, tối 19-12 nhóm ông Sinh lại nổ máy khai thác rền rĩ.
Trưa 20-12, ông Quân và ông Phong rút khỏi trạm, thay ca là ông Mạnh (kiểm lâm viên) và ông Linh (hỗ trợ kiểm lâm viên) túc trực. Dù có “sếp mới” xuất hiện nhưng cả ngày và tối hôm đó, nhóm ông Hà, ông Sinh và ông Tân vẫn cho nổ máy, chặt rừng và xả đất để khai thác quặng.
Sáng 21-12, ông Mạnh mặc đồ kiểm lâm, cầm dao phát rừng cùng ông Linh vào lán trại của quặng tặc. Tới lán ông Hà, cách trạm chỉ 500m thấy gần 10 quặng tặc đang xả đất từ trên đỉnh núi xuống.
Ông Mạnh nắn gân: “Cái này là phá rừng đào quặng, coi chừng mai tao cho bắt hết”. Thấy vậy, ông Hà, ông Chung trong nhóm lại gần nói nhẹ: “Mấy sếp nương tay, bọn em chỉ khai thác lấy chút quặng xái bề mặt thôi”. Sau một lúc nói chuyện, ông Mạnh xuống giọng, nói: “Chúng mày lo mà làm đi. Tao cho thế là tình cảm lắm rồi, không tao ngắt bây giờ”.
Theo điều tra của phóng viên, có tất cả năm kiểm lâm viên và năm hỗ trợ kiểm lâm thay ca nhau trực 24/24 giờ tại khu vực quanh “núi cấm”. Luật bất thành văn là cứ tầm 16g, các chủ cai thường lên trạm để dò xét tình hình.
Nếu kiểm lâm “bật đèn xanh”, chủ cai sẽ lập tức gọi điện cho lính sẵn sàng “đồ nghề” lên núi khai thác. Ông Tân tiết lộ: “Nhóm nào cũng vậy, cứ nổ máy là mất 3 triệu đồng chung chi và 500.000 cho các “ăngten” cảnh giới được cài trên những cung đường vào bãi”. Theo ông Tân, ngoài tiền chung chi còn tiền ăn, tiền dầu, tiền máy móc thiết bị, nếu trừ hết các khoản, mỗi tối một quặng tặc kiếm được hơn triệu đồng.
Có ba đầu nậu lớn chuyên thu mua quặng tại bãi là ông Mạnh, ông Giáp và ông Đức. Theo các đầu nậu, giá mua ngay tại bãi là 160.000 đồng/kg. Nếu đưa hàng ra TP Bảo Lộc hay ngã ba Tân Rai (huyện Bảo Lâm) sẽ có giá 165.000 đồng/kg.
Tuy nhiên, do sợ công an bắt hàng dọc đường nên hầu hết các nhóm đều bán quặng tại bãi cho các đầu nậu. Trước đó sáng 19-12, đầu nậu tên Mạnh đứng sẵn gần trạm kiểm lâm để đợi mua hàng của nhóm ông Sinh.
Khi thấy ông Sinh vác hàng đi xuống chân núi, ông Mạnh xem qua quặng cười: “Bữa nay hàng đẹp đấy”. Lát sau ông Mạnh đang buộc hai bao quặng chất lên xe thì gặp ông Hà và ông Tân lên trạm thăm dò tình hình. Ông Mạnh chở hai bao quặng nặng 120kg về hướng đập thủy điện. Bao thứ ba nặng 60kg ông Mạnh đem giấu ở bìa rừng, gần trạm kiểm lâm. (Tuổi Trẻ 5/1, tr5) đầu trang(
4-1, Bộ Công an vừa khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Cảnh Thành (kiểm lâm địa bàn phụ trách phường Ea Tam, thuộc Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột) để điều tra về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Ông Thành bị bắt vì liên quan đến việc buôn bán gỗ của Công ty TNHH Hiền Thái, TP Buôn Ma Thuột. Được biết, xưởng gỗ chính của Công ty TNHH Hiền Thái đóng tại số 85, đường Y Wang (TP Buôn Ma Thuột) thuộc phạm vi quản lý của ông Thành. Hiện ông Thành cũng đã bị Bộ Công an di lý về TPHCM để tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc.
Trước đó, ngày 9-9-2014, Bộ Công an đã phối hợp với lực lượng chức năng tỉnh Đắk Lắk tiến hành phong tỏa, kiểm tra nguồn gốc gỗ tại 3 xưởng chế biến gỗ của Công ty TNHH Hiền Thái đóng tại TP Buôn Ma Thuột và huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. (Sài Gòn Giải Phóng 5/1, tr2) đầu trang(
Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra làm rõ nghi án Công ty cổ phần Đại Nam ở phường  Hiệp An, TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mua bán lâm sản trái phép.
Trước đó, CSGT Công an thị xã Thuận An đang làm nhiệm vụ trên đường ĐT743 thì phát hiện tài xế Nguyễn Thanh Hoàng (34 tuổi, ngụ TPHCM) điều khiển xe container biển số: 51E-012.49 có dấu hiệu vi phạm Luật giao thông đường bộ nên ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, phát hiện trên xe có nhiều gỗ quý hiếm.
Cảnh sát giao thông đã phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Dương kiểm tra container, xác định bên trong chứa 77 hộp gỗ trắc (khoảng trên 9m3). Tài xế xuất trình hóa đơn, chứng từ do Công ty cổ phần Đại Nam xuất bán nhưng không có giấy tờ kiểm soát của cơ quan kiểm lâm. Quá trình điều tra, công an nhận thấy việc mua bán số gỗ trắc trên của Công ty Đại Nam có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên đã khởi tố vụ án để điều tra.
Để hiểu rõ thêm về vụ việc này, phóng viên liên lạc với người đứng đầu công ty thì được biết ông Huỳnh Uy Dũng – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Đại Nam đang ở nước ngoài. Một người có trách nhiệm của công ty này cho biết trước đó đã có văn bản gửi Công an thị xã Thuận An giải trình vụ việc liên quan.
Theo đó, số lượng gỗ nói trên được Công ty Đại Nam xuất bán cho Công ty thương mại Đại Phú (P. Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) theo hợp đồng kinh tế ngày 1-10-2014, hóa đơn GTGT số 0000222 ngày 1-10-2014. Ngày 2-10-2014, khi xe đang vận chuyển gỗ từ kho của Công ty Đại Nam về tỉnh Bắc Ninh thì bị công an và kiểm lâm kiểm tra, lập biên bản tạm giữ với lý do vận chuyển gỗ không có xác nhận của chi cục kiểm lâm.
Sau đó, Công an thị xã Thuận An phối hợp Chi cục Kiểm lâm Bình Dương đến Công ty Đại Nam xác minh nguồn gốc thì số gỗ trên xe khớp với hồ sơ Công ty Đại Nam cung cấp, mỗi lóng gỗ đều có dấu búa KL 824.
Cũng theo đơn giải trình của Công ty Đại Nam, ngày 18-3-2010, Công ty này mua gỗ của Công ty Hoàng Gia Cát Tường 391,513m3 gỗ trắc xẻ nhập khẩu tại hai hóa đơn GTGT số 002901 và 002902 theo Hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT/HG-ĐN mà đôi bên đã ký.
Về nguồn gốc số gỗ trắc, Công ty Hoàng Gia Cát Tường mua của một số đơn vị, có giấy tờ hợp pháp. Thoạt đầu Công ty Đại Nam mua về để xây dựng đền thờ Đại Nam. Qua nhiều năm có thay đổi nhân sự nên khi hạch toán xuất hóa đơn nhân viên của hai công ty không xác định được chính xác số gỗ nằm trong bộ hồ sơ nào, chính vì vậy mà Công ty Hoàng Gia Cát Tường chỉ cung cấp một số hồ sơ bản photocopy để Công ty Đại Nam lưu trữ theo quy định. Trong quá trình xây dựng, Công ty Đại Nam còn tồn 77 hộp gỗ xẻ trắc với khối lượng 9,172m3, do không có nhu cầu sử dụng nên bán cho Công ty thương mại Đại Phú.
Ông Phạm Đình Khương - Phó tổng giám đốc Công ty Đại Nam khẳng định toàn bộ số gỗ trắc nói trên có nguồn gốc hợp pháp, được mua từ nguồn gỗ tồn kho của Công ty Hoàng Gia Cát Tường. Ông Khương thừa nhận việc tự ý xuất bán gỗ tồn kho mà không báo Chi cục Kiểm lâm là sai quy định của nhà nước.  (Công An TP Hồ Chí Minh 4/1; Thanh Niên 1/1, tr7) đầu trang(
1/1 tại xóm Làng Mới, xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Thái Nguyên kiểm tra phát hiện xe ô tô tải mang biển kiểm soát 12H - 9387 vận chuyển gỗ trái phép.
Khi kiểm tra, lái xe bỏ xe và hàng chạy trốn, trên xe chỉ còn Ngọc Văn Khải – sinh năm 1986 – trú tại xóm Cây Thị, xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngồi bên ghế phụ.
Cơ quan Công an phối hợp Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên kiểm đếm trên thùng xe có 5,581 m3 gỗ nghiến xẻ và 0,106 m3 gỗ nghiến tròn không có thủ tục, giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ hợp pháp.
Lực lượng chức năng đã lập hồ sơ vụ việc và tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 3/1) đầu trang(
Rạng sáng 3-1, Đội kiểm lâm cơ động, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi đã mật phục và bắt cùng lúc hai xe ô tô khách 29K-6879 và 82K-2256 chở gỗ lậu trên tuyến quốc lộ 24, thuộc xã Ba Liên, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi).
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi thì thời điểm trên, lợi dụng đường đêm vắng người, ô tô khách 16 chỗ 29K-6879 vận chuyển gỗ lậu theo hướng Kon Tum xuống Quảng Ngãi. Khi bị phát hiện, tài xế liền bỏ xe chạy trốn.
Trong lúc đang lập biên bản vụ việc thì lực lượng kiểm lâm thấy xe khách 82K-2256 cũng vận chuyển gỗ lậu đi phía sau. Tài xế xe này sau đó cũng thực hiện hành động tương tự như tài xế trước. Qua kiểm tra cả hai xe, kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi đã ghi nhận tổng cộng 4m3 gỗ. (Pháp Luật TPHCM 4/1) đầu trang(
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh ngày 2-1 cho biết đã khởi tố, bắt tạm giam Hoàng Minh Trung (19 tuổi, ngụ TT Đạ Tẻh, H. Đạ Tẻh), tài xế chở gỗ trái phép tông chết cán bộ kiểm lâm, để điều tra về hành vi giết người.
Như đã thông tin, rạng sáng 28-12, Trung lái ô-tô không BKS chở gỗ khai thác trái phép thì bị lực lượng kiểm lâm tuần tra phát hiện, ra hiệu dừng xe kiểm tra. Trung đã bất chấp và lái ô-tô đâm thẳng vào xe máy của 2 cán bộ kiểm lâm khiến ông Vũ Xuân Hải (Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động số 2, thuộc Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng) tử vong và kiểm lâm viên Cao Viết Lư bị thương.
UBND tỉnh Lâm Đồng, đã chỉ đạo các cơ quan chức năng lập hồ sơ, thủ tục giải quyết chế độ chính sách cho ông Vũ Xuân Hải theo chế độ của Nhà nước, vì ông Hải hy sinh trong khi thi hành công vụ. (Công An TP Đà Nẵng 4/1) đầu trang(
Bất kể đêm hay ngày, dưới cái nắng nóng 39 - 40oC hay đêm giá rét chỉ vài độ C, với những nguy hiểm luôn cận kề giữa rừng thiêng nước độc, những cán bộ thực địa vẫn mang ba lô trên lưng, băng rừng lội suối để đi tìm những loài động vật hoang dã, những loài có tên trong sách đỏ để phục vụ cho công tác bảo tồn.
“Lúc ấy là khoảng nửa đêm, trời tối đen như mực. Mình lò dò đi trước, mải rọi đèn tìm rùa thì một đồng nghiệp ú ớ kêu lên. Nhìn xuống, thấy con rắn cạp nia, mình vằn vện, to bằng bắp tay đang ngóc đầu ngay dưới chân. Mình đứng im, rồi từ từ nhảy qua nên “thoát” nạn. Loại này cực độc, chỉ cần bị cắn một nhát thì cũng khó có khả năng sống sót...”, anh Nguyễn Tài Thắng, cán bộ nghiên cứu thực địa của tổ chức Bảo tồn Rùa châu Á (ATP) mở đầu câu chuyện “đi rừng” khi đưa chúng tôi đi thực địa tại rừng Cúc Phương (Ninh Bình).
Anh Thắng kể, nhiều người nghĩ chỉ là kiểm lâm hay lâm tặc mới vào rừng, chứ làm gì có mấy ai “dở hơi” lại đâm đầu vào rừng làm gì. Nhưng đối với những cán bộ làm công tác bảo tồn thì nhất định phải vào rừng, để tìm các loài, tìm hiểu và bảo tồn chúng một cách tốt nhất trong tự nhiên.
Dáng người hơi đậm, làn da nâu rắn rỏi, đôi bàn tay chai sần vì thường xuyên mang vác nặng, anh Thắng thoăn thoắt leo qua những đoạn đường rừng, trong khi vừa đi vừa thở. Những người đi rừng như anh đều đã đi qua hầu hết những cánh rừng ở Việt Nam, từ Bắc chí Nam, như Xuân Nha (Sơn La), Phù Hu (Thanh Hóa), Cúc Phương (Ninh Bình), Pù Mát (Nghệ An), Sao La (Huế), Đèo Cả (Phú Yên) rồi U Minh Hạ (Cà Mau)... để tìm các loài động vật hoang dã, các loài có tên trong sách đỏ như các loại rùa quý, voọc xám, sơn dương...
Thế nên, những đoạn ven rừng với anh cũng như đường bằng.Mỗi chuyến đi rừng thường có từ 7 - 8 người, gồm hai chuyên gia, một kiểm lâm và 5 người dân địa phương dẫn đường và kéo dài từ 8 - 20 ngày. Mỗi người phải đem theo rất nhiều đồ đạc từ quần áo, chăn màn, võng, lều bạt, thuốc, máy móc thiết bị cho đến gạo, rau củ, đồ ăn... nên thường phải “cõng” ba lô nặng 30 - 40 kg.
Anh Phạm Văn Thông, một cán bộ của ATP cho biết: “Bình thường đeo ba lô nặng 30 - 40 kg đã rất vất vả, nhưng đi đường núi từ 10 - 12 tiếng mỗi ngày thì sức nặng của 30 - 40 kg thành như 50 - 60 kg. Có những cuộc đi, để đảm bảo đủ chất, đoàn mang theo mấy con vịt buộc ở sau ba lô, đi mà cứ nghe tiếng vịt cạp cạp sau lưng. Nhưng rồi đi rừng vất quá, đến vịt cũng phải ngưng không kêu mà giữ sức, còn người thì vẫn cứ băng rừng mà đi. Người không có sức khỏe thì khó có thể tham gia những chuyến này”.
Tùy đặc tính của từng loài mà có cách tìm khác nhau nhưng đa phần các cuộc tìm kiếm thường diễn ra vào ban đêm. Chuyện bị trượt ngã trên núi hay bị đá rơi trúng người, bị thương là chuyện thường. Nhưng nỗi “ám ảnh” nhất là gặp rắn và vắt, mà hầu hết những người đi rừng đều phải trải qua.
Những người đi rừng kỳ cựu vẫn bảo, rợn nhất là đi rừng U Minh Hạ (Cà Mau), nơi đây rắn nhiều vô kể, đủ loại, có những con trăn dài hơn một mét. Có anh tối mắc võng ngủ, rắn cũng chui vào ngủ cùng. Nếu là rắn thường thì không sao, chứ gặp một số loài rắn cực độc như con cạp nia mình đã kể suýt dẫm phải thì chỉ có cách chặt bàn tay, bàn chân, nếu không độc tố đi vào tim, khó giữ được tính mạng”, anh Thắng rùng mình nhớ lại.
Không chỉ rắn mà vắt cũng là “bạn đồng hành” trong hầu hết các chuyến đi. Anh Thông kể, vắt ở rừng độc hơn vắt thường, nếu bị vắt cắn mà gỡ ra ngay thì sẽ bị tứa máu, mỗi vết cắn của chúng sẽ tạo thành vết thâm và ngứa cả mấy năm trời không khỏi. Có người bị vắt chui vào cắn khắp người, không ai dám dứt từng con ra vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Cũng có những người suýt bị cưa chân vì vắt như anh Thắng. “Trong chuyến đi Đèo Cả (Phú Yên), mình bị vắt cắn, vết thương cứ tự nhiên lở loét, rồi bị nhiễm trùng nhưng vẫn phải đi tiếp theo đoàn. Đến khi về, bác sĩ chích ống đồng ra hơn một chén mủ và đoán phải cưa chân. Nghe xong mà thấy muốn khóc vì cưa chân thì đi rừng thế nào được. Nhưng may mà chỉ phải nằm liệt giường 20 ngày rồi tập tễnh đi lại được, giờ chân vẫn chắc và khỏe lắm”, vừa nói, anh Thắng vừa hóm hỉnh huơ huơ bàn chân.
Những chuyến đi rừng, ngoài những hiểm nguy cận kề từ thiên nhiên, cũng không ít những hiểm nguy từ chính con người. Có lần, đoàn khảo sát tại Khu bảo tồn Ngọc Sơn, Ngổ Luông (Hòa Bình), vì địa bàn rộng nên chia thành từng top nhỏ, mỗi top 2 người. Anh Thắng cùng một đồng nghiệp gặp một nhóm lâm tặc đang cưa trộm gỗ, thấy người, bọn chúng bỏ chạy.
“Vì trong rừng không có sóng điện thoại nên không thể gọi được cho lực lượng kiểm lâm, chúng mình phải tìm cách xử lý 18 khúc gỗ bị lâm tặc cưa trộm. Một lúc sau, bọn chúng quay trở lại, đứng trên đỉnh núi đẩy những tảng đá to xuống, tiếng đá rơi ầm ầm, động cả núi rừng. Hai anh em phải nấp vào gốc cây và tìm cách quay trở về trạm kiểm lâm. May mà không bị đá đè lên, chứ nếu đá từ đỉnh núi rơi vào đầu thì không có cơ sống sót”, anh Thắng kể.
Nhiệm vụ những chuyến đi rừng của cán bộ bảo tồn là tìm các cá thể trong tự nhiên, hiểu sự phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng, ghi chép làm thành tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu. Việc nghe tưởng đơn giản, nhưng không phải ai cũng làm được. Bởi đi rừng, dường như nó không chỉ đơn thuần là một công việc, mà nó còn là cả một niềm đam mê. Nếu không thật sự yêu thích thì chỉ cần đi 1 - 2 chuyến vất vả mà không tìm được loài nào thì sẽ rất dễ nản.
Nguyễn Thành Luân, một cán bộ của ATP cho biết: “Có lẽ trong các loài, đi tìm rùa là vất vả nhất mà cũng là vui nhất. Số lượng rùa quý cần được bảo vệ hiện còn rất ít, do nạn săn bắt quá nhiều, nên tìm được một con là cả một sự kỳ công. So với nhiều loài khác, rùa có khả năng ẩn nấp rất tốt, chúng không phát ra tiếng động nên để tìm được chúng phải có chó săn đi kèm. Nhiều loài lại sống ở độ cao trên 800 m, vì thế, những chuyến tìm rùa thường phải đi rừng sâu hoặc lên núi cao. Đặc biệt, rùa chỉ xuất hiện vào mùa mưa nên những chuyến vào rừng tìm rùa cũng phải vào mùa đó”.
Mùa mưa lũ ở rừng bao giờ cũng rất nguy hiểm, lũ lên nhanh, rút xuống cũng nhanh, thường ào ạt và đột ngột khiến con người chẳng kịp trở tay. Luân kể: “Có lần đoàn mình đi tìm rùa ở khu vực Quảng Ngãi, liệu trước là mùa bão nên đã dựng lán ở vị trí khá cao, nhưng lũ từ thượng nguồn về, chưa đầy 5 phút đã dâng ngay dưới lán, mọi người cuống cuồng xách đồ chạy lên phía trên. Nhiều đồ đạc bị cuốn trôi mất, người thì mất dép, người thì trôi quần áo, may mà không ai bị sao”.
Các cán bộ bảo tồn vẫn hay ví đi rừng như “đánh bạc”, chuyến nào may mắn thì tìm được một hoặc vài con, nhưng có những chuyến đi cả chục ngày vất vả, cực nhọc nhưng không tìm ra lấy một loài. Hoặc thảng có những chuyến “cả đời không quên”.
Đến nay nhắc lại chuyến đi tìm rùa tại Đèo cả (Phú Yên), ánh mắt anh Thắng vẫn lấp lánh niềm vui: “Đó không phải là câu chuyện vất vả hay hiểm nguy, mà đó là cảm giác, hạnh phúc đến tột độ. Vạch từng tán lá, soi từng gốc cây, suốt 8 ngày, đêm nào cũng lần mò dọc theo bờ suối mà không tìm được bất cứ loài nào, ai cũng mệt, không khí có chút trầm lắng. Nhưng rồi tiếng chó sủa vang, tiếng người í ới, hò hét vang rừng, mọi người xúm xít quanh con rùa hộp trán vàng miền Nam mới được tìm thấy, rồi ôm nhau nhảy múa. Với những người đi rừng như chúng tôi, đây thật sự là một “báu vật”, bởi rùa hộp trán vàng rất hiếm, đặc hữu chỉ Việt Nam mới có, mà lại chỉ có ở vùng giáp ranh giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa”.
Mỗi địa hình lại có những vất vả khác nhau, nhưng dân đi rừng sợ nhất đi rừng núi đá vôi. Núi chỉ toàn đá tai mèo sắc nhọn, không có suối, không có nước ngầm nên thiếu nước trầm trọng. Nhất là ở vùng Pù Luông (Thanh Hóa), núi đá không có lấy một giọt nước.
“Đoàn đi khảo sát trong rừng gần chục ngày thì bấy nhiêu ngày không được đánh răng, rửa mặt, tắm thì là điều không tưởng. Trời mùa hè, nắng gay gắt 39 - 40ºC, nước phải uống dè chừng, nhưng được vài ngày là đã hết. Mọi người phải kiếm nước bằng cách chặt ngang cây chuối rừng, rồi khoét lỗ ở giữa thân, để qua một đêm nước từ rễ cây chuyển lên và lắng lại được một “giếng nước” nhỏ trong thân cây. Ra khỏi rừng, thấy nước, ai cũng ào ra như vớ được vàng. Chuyến ấy đi ấy chẳng tìm được gì nhưng đáng nhớ”, anh Thắng hồi tưởng.
Thật thà, chất phác trong từng câu nói, anh Thắng nói về cái nghề của mình rất đỗi thân thương: “Đi rừng nó mê lắm, tìm được một con rùa hay một loài hoang dã thì sẽ muốn đi tiếp những chuyến sau, dù có vất vả và nguy hiểm như thế nào, cứ ở nhà, ở phố lâu lâu là lại “nhớ rừng”. (Tin Tức 1/1) đầu trang(
Trong lúc tuần tra bảo vệ rừng tại địa phận xã Phước Mỹ (H. Phước Sơn, Quảng Nam), tổ tuần tra của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh phát hiện 1 đối tượng dùng trâu kéo gỗ khai thác trái phép nên tổ chức vây bắt.
Phát hiện có kiểm lâm, đối tượng trên bỏ cả trâu lẫn gỗ chạy vào rừng thoát thân. Lực lượng chức năng thu giữ 1 con trâu và 1 phách gỗ. Chiều 1-1, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh cho biết, Phòng Tài chính H. Nam Giang sẽ lập hồ sơ bán đấu giá con trâu này.
Cùng ngày, đơn vị trên xác nhận đã bắt quả tang ông Tơ Ngool Chông (1992, trú xã Tà Bhing, H. Nam Giang, Quảng Nam) điều khiển ô-tô BKS 92K-9880 chở trái phép 21 hộp gỗ lau, lim (3,6m3) và ông Huỳnh Ngọc Hoàng (1981, trú xã Đại Đồng, H. Đại Lộc, Quảng Nam) chở trái phép 16 hộp gỗ lim (2,2m3) bằng phà số hiệu ĐL0438. (Công An TP Đà Nẵng 2/1) đầu trang(
Cam kết các cuộc đột kích sẽ hoàn toàn bí mật, ngành kiểm lâm Quảng Nam muốn xóa tan sự ngờ vực về tính “công khai” của chiến dịch truy quét lâm tặc trước tết âm lịch khởi động từ ngày 1.1.2015.
Lâm tặc ở Quảng Nam có nhiều “cơ hội” để phá rừng, ém sẵn gỗ lậu và chờ dịp nghỉ tết để chuyển về xuôi do thời tiết năm 2014 thuận lợi, ít mưa lũ hơn. Ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Quảng Nam dự báo tình hình rất phức tạp tại các “điểm nóng” như vậy trước khi lực lượng liên ngành chuẩn bị đối mặt với lâm tặc kể từ ngày 1.1.
Liên tiếp 2 vụ phát hiện 45m3 gỗ kiền kiền, gõ cất giấu ở vùng rừng giáp ranh Quảng Nam - Đà Nẵng hồi tháng 10.2014 hé lộ phần nào diễn biến phức tạp từ các bãi gỗ lậu. Theo ông Phan Tuấn, nếu không triệt phá quyết liệt ngay từ bây giờ thì thời điểm cận tết sẽ rất căng, kiểm lâm khó huy động lực lượng hỗ trợ vì năm nay có đợt nghỉ tết sớm và dài ngày…
Tổ đặc biệt 3714, với lực lượng nòng cốt là kiểm lâm, đã sẵn sàng cho các đợt kiểm tra đột xuất. Ít nhất 10 chiến sĩ cảnh sát cơ động đã biên chế 24/24 cho tổ, còn lực lượng công an kinh tế chỉ bổ sung khi cần thiết.
Trong khi đó, UBND tỉnh cũng chỉ đạo các huyện, thành phố xây dựng phương án riêng. Các trọng điểm phá rừng được khoanh vùng gồm địa bàn giáp ranh giữa các huyện và giáp ranh giữa Quảng Nam với Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Kon Tum. Như mọi năm, các tuyến đường đông Trường Sơn, QL14 E, QL14B, QL14G, ĐT616 và dọc sông Vu Gia - Thu Bồn tiếp tục đưa vào tầm ngắm.
Theo kinh nghiệm của lực lượng kiểm lâm Quảng Nam, từ mùng 1 đến mùng 6 tháng Giêng âm lịch lâm tặc thường giảm cường độ hoạt động. Tuy nhiên, lực lượng liên ngành Quảng Nam đang tạo bí mật cho các cuộc truy quét chứ không hề “đánh động” cho lâm tặc sau khi phương án tấn công đã công bố công khai.
“Cận tết mới là thời điểm nóng nhất. Chúng tôi rà soát lại các điểm nóng để bất ngờ kiểm tra. Bất ngờ, chứ không hẹn giờ G giờ giếc gì cả! Khu vực đồng bằng cũng không bỏ qua, phải siết các cơ sở chế biến gỗ”, ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Quảng Nam quả quyết.
Tỉnh Quảng Nam cũng xác định địa bàn trọng điểm khai thác khoáng sản trái phép để truy quét, bao gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (tại khe Vinh - xã Tà Pơơ, khe Ru, khe Thành Mỹ 1, Thành Mỹ 2 - xã Đắc Pring, cùng H.Nam Giang); bãi Hòa Sơn - xã Phước Đức, khe Cà Năng - xã Phước Hòa (H.Phước Sơn) và các vùng giáp ranh với Hòa Vang (Đà Nẵng), Sơn Tây, Tây Trà (Quảng Ngãi). (Thanh Niên 5/1) đầu trang(
Là tỉnh miền núi biên giới nằm ở cực Bắc địa đầu của Tổ quốc, Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên 791.488,92 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 548.173,90 ha, chiếm trên 78% diện tích đất tự nhiên.
Hiện toàn tỉnh có 6 khu rừng đặc dụng, một khu bảo tồn Voọc mũi hếch Khau Ca. Để những cánh rừng Hà Giang mãi thêm xanh, thời gian qua những cán bộ kiểm lâm Hà Giang đang ngày đêm âm thầm chịu đựng hy sinh, gian khổ thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng.
Mặc dù còn phải đối mặt với muôn vàn khó khăn như: Lực lượng kiểm lâm mỏng, trang thiết bị còn nhiều hạn chế, diện tích rừng lại rất lớn… Nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và cấp ủy, chính quyền các cấp, sự đoàn kết quyết tâm cao của mỗi cán bộ kiểm lâm, công tác quản lý, bảo vệ và phòng chống cháy rừng của Hà Giang đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Chỉ tính riêng trong năm 2014, diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 4.669 ha, bằng 161,4% kế hoạch. Thực hiện bảo vệ gần 300.000 ha; khoanh nuôi phục hồi và chăm sóc rừng trồng các năm hàng chục nghìn ha… nâng tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh Hà Giang đạt 55,3%.
Phát huy những thành tích đã đạt được, năm 2015, Chi cục Kiểm lâm Hà Giang nói chung và Hạt Kiểm lâm huyện Vị Xuyên nói riêng tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng chống, chữa cháy rừng trong mùa khô hanh. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp thực hiện tốt trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.
Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng với phương châm “4 tại chỗ” nhằm hạn chế thấp nhất hiện tượng cháy rừng cũng như hiện tượng chặt, phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép sang bên kia biên giới.
Tuyên truyền đến đồng bào các dân tộc thiểu số các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý và bảo vệ rừng để nhân dân các dân tộc trên địa bàn cùng tham gia bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi, sự sống của chính mình… góp phần cho những cánh rừng Hà Giang thêm xanh. (Tin Tức 1/1) đầu trang(
Liên quan đến vụ cháy rừng xảy ra tại xã Quang Tiến, Sóc Sơn, UBND TP Hà Nội vừa có công văn yêu cầu các đơn vị liên quan khẩn trương kiểm tra, làm rõ nguyên nhân và biện pháp khắc phục.
UBND TP yêu cầu Sở NN&PTNT Hà Nội tổng hợp tình hình, kết quả công tác quản lý, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng trên địa bàn, báo cáo TP trong thời gian sớm nhất.
Trước đó, vào ngày 17/12/2014, trên địa bàn xã Quang Tiến đã xảy ra một vụ cháy rừng khiến gần 4ha diện tích rừng thông, cây keo bị thiêu rụi. Mặc dù cơ quan chức năng đã kiểm tra thực tế, xác định rõ nguyên nhân của vụ cháy rừng. Tuy nhiên đến nay, nguyên nhân của vụ cháy vẫn chưa được xác định. (Kinh Tế & Đô Thị 5/1) đầu trang(
Theo tin từ Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT), tính đến ngày hôm 4/1 tại nhiều địa phương trên cả nước đã có nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Cụ thể, có 6 tỉnh có nguy cơ cháy rừng ở cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) gồm Bắc Giang, Bắc Kạn, Bình Thuận, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình. Nếu cháy rừng xảy ra thì rừng dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh.
Ngoài ra có 13 tỉnh có các diện tích rừng có nguy cơ cháy ở cấp IV (cấp nguy hiểm), trong đó. Riêng hai tỉnh Bắc Giang và Sơn La có diện tích rừng có nguy cơ cháy rừng ở cả cấp V và cấp IV.
Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương có nguy cơ chát rừng thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Kinh Tế & Đô Thị 4/1) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ NN-PTNT, trong tháng 12.2014, do thời tiết diễn biến bất thường, nắng hạn kéo dài nên một số tỉnh tại khu vực miền núi phía bắc và duyên hải miền Trung xảy ra cháy rừng khá nghiêm trọng.
Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều như: Yên Bái 692 ha; Bình Định 414 ha; Phú Yên 317 ha; Quảng Trị 236 ha; Lai Châu 211 ha; Nghệ An 176 ha; Đà Nẵng 146 ha; Sơn La 119 ha; Bình Thuận 106 ha.
Tính chung cả năm 2014 tổng diện tích rừng bị cháy là 3.157 ha, tăng 173,1% so với năm trước. Riêng nạn chặt phá rừng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều tỉnh. Điển hình là Đắk Nông 133 ha; Sơn La 109 ha; Lâm Đồng 91 ha; Bắc Giang 89 ha; Đắk Lắk 83 ha… Tính chung cả năm 2014, diện tích rừng bị chặt phá là 870 ha, tăng 7,7% so với năm 2013. (Thanh Niên 2/1) đầu trang(
Chiều 4/1, PV đi thăm một người bạn ở phố Tuệ Tĩnh, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội, phát hiện hai cây gỗ xà cừ lớn (một cây đường kính khoảng 45cm, một cây đường kính khoảng 70cm) có dấu hiệu bị “bức tử”.
Để có được 2 cây gỗ xà cừ này, thời gian chăm sóc khoảng từ 40 đến 60 năm. Cả hai cây ở vị trí đối diện nhau trên phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần ngã tư Tuệ Tĩnh – Nguyễn Bỉnh Khiêm, bị đẽo vỏ với diện tích từ 50cm²đến 60cm²trên thân cây, gần gốc.
Mục đích làm cho cây chết để có diện tích kinh doanh trên hè phố. Công ty cây xanh và chính quyền sở tại có biết không? (Công An Nhân Dân 5/1, tr7) đầu trang(
Lợi dụng đặc điểm địa bàn rừng biên giới nên nhiều đối tượng ở Gia Lai đã sử dụng loại xe ôtô con, xe ôtô khách loại nhỏ độ chế (12 và 16 chỗ ngồi) để vận chuyển gỗ trái phép.
Đáng chú ý là nhiều đối tượng sử dụng đội quân vận chuyển gỗ trái phép đều có “máu mặt” và nghiện ma túy... nên cuộc đấu tranh với hoạt động phạm pháp này rất gian nan...
Những ngày cuối tuần, hoạt động vận chuyển gỗ trái phép bằng xe ôtô con trên các tuyến biên giới Đức Cơ, Ia Grai, Chư Prông (Gia Lai), có phần diễn ra phức tạp. Một “đầu nậu” cho biết, thường những ngày nghỉ, lực lượng chức năng hoạt động thưa hơn nên dễ tránh. Các lái xe chở gỗ nhận “lệnh” xuất quân khi canh đường báo hiệu các chốt Kiểm lâm, Công an đã nghỉ ăn trưa, ăn tối hoặc giao ca...
Ở những điểm “nóng” chốt trực 24/24 giờ thì các “quái xế” chở gỗ lậu né vào đường rừng bên lô cao su, cà phê để canh chừng các cơ quan chức năng đang làm nhiệm vụ rồi “vọt” qua trạm... Ban đêm, trên các tuyến đường liên huyện biên giới khá nhiều xe chở gỗ phóng bạt mạng.
Thượng tá Nguyễn Đắc Thức, Phó trưởng Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Gia Lai cho biết, để đấu tranh với các đối tượng vận chuyển gỗ trái phép bằng xe ôtô con, xe ôtô khách loại 12 và 16 chỗ, được tháo ghế toàn bộ để chở hàng, lực lượng Cảnh sát kinh tế phải bố trí lực lượng mai phục mới tổ chức bắt được.
Trong 2 đêm 19 và 20/12/2014, lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an Gia Lai đã ra quân mai phục và truy bắt được 4 xe ôtô con và khách loại 16 chỗ, độ chế để chở gỗ trái phép. Cụ thể, vào khoảng 4h sáng 20/12, qua mai phục, Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Gia Lai đã bắt quả tang xe ôtô khách (loại 16 chỗ) BKS 81D-00021 do Vũ Quyết Thắng (26 tuổi) ở Đức Cơ, Gia Lai điều khiển vận chuyển trái phép hơn 3,9m3 gỗ. Khi xe chở gỗ từ hướng Đức Cơ về đến địa phận xã Thanh An, huyện Chư Prông, Gia Lai (QL19B) thì bị lực lượng Công an mai phục bắt giữ.
Cùng khoảng thời gian trên, xe ôtô BKS 53L-1008 cũng chở gỗ từ hướng cửa khẩu Đức Cơ về TP Pleiku, khi qua đoạn xã Thanh An, huyện Chư Prông, tài xế phát hiện lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Gia Lai kiểm tra nên đã bỏ xe gỗ tháo chạy thoát thân. Cơ quan Công an thu giữ số gỗ vận chuyển trên xe ôtô loại 16 chỗ khoảng hơn 3,8m³.
Đáng chú ý, lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an Gia Lai cũng đã mai phục bắt quả tang xe ôtô bán tải BKS 81C-03230 do Dương Tiến Toàn (24 tuổi) ở TP Pleiku, Gia Lai điều khiển chở 33 hộp gỗ hương (N1), khoảng 1,3m3 đi từ hướng biên giới huyện Ia Grai về TP Pleiku. Khi đến đoạn dốc Ia Blang, xã Ia Tô, huyện Ia Grai, lực lượng Công an đã phát hiện bắt giữ.
Thượng tá Dương Anh Tuấn, Phó trưởng Phòng CSGT Công an Gia Lai cho biết, theo quản lý đăng ký, hiện tỉnh Gia Lai có hơn 380 xe ôtô loại chở khách 12- 16 chỗ đã qua sử dụng từ 10-15 năm. Theo quy định, những loại xe này sau khi gần hết hạn vận chuyển khách (20 năm) thì chủ phương tiện xin chuyển đổi để chở hàng hóa. Ngoài ra, nhiều xe ôtô đã hết hạn chở khách nhưng được các đối tượng mua từ TP Hồ Chí Minh và các nơi khác về để chở gỗ lậu, không cần đăng ký sang tên.
Công an huyện Đức Cơ và Ia Grai (Gia Lai) cho biết, trong năm 2014 đã phát hiện xử lý hơn 20 xe ôtô loại 12-16 chỗ tháo hết ghế để vận chuyển gỗ trái phép. Đây cũng là 2 địa bàn có khá nhiều xe ôtô nói trên phục vụ cho việc vận chuyển gỗ.
Theo quan sát của PV, một số đối tượng “đầu nậu” ở Gia Lai đã sử dụng hàng loạt xe con bán tải hoặc xe U-oát để giấu gỗ vận chuyển nhằm dễ tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.
Để đấu tranh các đối tượng này, cơ quan chức năng cần tăng cường xây dựng nguồn tin tố giác của quần chúng nhân dân, kiểm soát chặt chẽ phương tiện lưu thông trên đường và làm trong sạch đội ngũ đang công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm, vận chuyển lâm sản trái phép... (Công An Nhân Dân 5/1, tr5) đầu trang(
Rạng sáng ngày 31/12/2014, đội cảnh sát môi trường công an thành phố Vinh (Nghệ An) đã tiến hành bắt giữ 1 vụ vận chuyển nội tạng động vật và chim trời có số lượng lớn....
Theo đó, trong quá trình tuần tra ở khu vực đường Mai Hắc Đế (Tp.Vinh), lực lượng chức năng nhận thấy chiếc xe khách mang BKS 76B-00336 di chuyển theo hướng Bắc-Nam có nhiều dấu hiệu nghị vấn.
Sau khi kiểm tra đã phát hiện trên xe chở 31 thùng cat tông chứa hơn 2000 con chim chào mào; 7 bao chứa 1400 kg ngao và 10 thùng xốp chứa 500 kg đuôi bò, nội tạng. Điều đáng nói là chủ xe Phạm Ngọc Huy (SN 1985, trú tại phường Chánh Lộ, TP Quảng Ngãi) và lái xe Bùi Xuân Linh (SN 1969, trú tại thị trấn Châu Ổ, Bình Sơn, Quảng Ngãi) đều không xuất trình được giấy tờ chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của lô hàng.
Ngay sau đó, Công an TP Vinh đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tất cả lô hàng nói trên để bàn giao cho Hạt kiểm lâm và Trạm thú ý TP xử lý theo quy định của pháp luật.... (Nông Nghiệp VN 31/12) đầu trang(
Ngày 31.12, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai cho biết đang cử lực lượng tập trung triển khai dự án bảo tồn khẩn cấp đàn voi rừng tại Đồng Nai. Hiện nay, Chi cục đang tiến hành các bước đầu tư tiền dự án như khảo sát các vị trí đặt chòi canh, khoan địa chất…
Trong thời gian tới, dự án sẽ đầu tư các hạng mục thiết lập chương trình giám sát diễn biến hoạt động của đàn voi trên địa bàn, cải thiện sinh cảnh sống tự nhiên, xây dựng hàng rào điện tử cố định, di động và tuyến đường theo hàng rào nhằm tránh xung đột giữa voi và người...
Dự án bảo tồn voi sẽ được triển khai từ tháng 12 năm nay tại các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú và Định Quán. Đây là những địa phương còn diện tích rừng tự nhiên lớn và có đàn voi thường xuất hiện. Theo Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, thì từ năm 2009 đến nay đã có 9 cá thể voi bị chết và một người thiệt mạng do voi tấn công.
Khảo sát bước đầu cho thấy trên địa bàn toàn tỉnh còn khoảng 11 cá thể voi. Giữa các cá thể voi này và con người vẫn đang xảy ra xung đột do voi tấn công mùa màng người dân. Toàn bộ dự án có kinh phí 74 tỷ đồng. Trong đó, 45 tỷ đồng là nguồn kinh phí Trung ương, còn lại là ngân sách tỉnh. (Lao Động 31/12) đầu trang(
Xã miền núi Hòa Bắc, H. Hòa Vang, TP Đà Nẵng  trong những năm qua là địa bàn phức tạp về tình hình khai thác trái phép lâm, khoáng sản.
Hàng năm có hàng trăm lượt người từ nhiều địa phương khác đến địa bàn xã để làm ăn phi pháp, các đối tượng đầu nậu bất chấp pháp luật, đưa người vào rừng để khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép, gây mất ổn định về tình hình ANCT-TTATXH, tàn phá môi trường. Cùng với các lực lượng chức năng khác của thành phố, huyện, lực lượng dân quân xã Hòa Bắc đã góp phần rất lớn để ổn định tình hình.
Chỉ huy trưởng quân sự xã Hòa Bắc Đỗ Ngọc Châu cho biết, nhận thức rõ tình hình, thực hiện kế hoạch của UBND xã, trong những năm qua, lực lượng dân quân xã đã tổ chức tuần tra truy quét phối hợp và độc lập thực hiện hơn 700 lượt, đẩy đuổi hàng trăm đối tượng xâm nhập rừng trái phép.
Rừng ở Hòa Bắc đa phần diện tích rừng nằm trong khu bảo tồn rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa, địa hình hiểm trở, suối sâu, núi cao, diện tích rất rộng lớn... song trong nhiều đợt truy quét, lực lượng dân quân xã không quản ngại gian nan, cơ động hàng chục ki-lô-mét đến địa điểm tập kết đảm bảo bí mật, nhanh chóng.
Trong đợt truy quét các đối tượng khai thác vàng trái phép tại tiểu khu 25 vào tháng 10-2011,  trời mưa to, trời tối, dốc đứng trơn trượt, nhưng CBCS dân quân xã vẫn quyết tâm hành quân xuyên đêm, đúng 3 giờ sáng đã tới mục tiêu, tổ chức đột kích vào các lán trại, phá hủy  hoàn toàn trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện đào đãi vàng trái phép, bắt giữ 11 đối tượng bàn giao cho lực lượng CA xử lý. Trong năm 2013, dân quân xã Hòa Bắc  cũng liên tục phối hợp với lực lượng dân quân xã Hòa Ninh tổ chức nhiều đợt truy quét khai thác vàng trái phép, bắt giữ hàng chục đối tượng...
Trong công tác tuần tra độc lập, lực lượng dân quân thường trực xã hoạt động rất hiệu quả. Là thành viên thường xuyên tham gia tích cực  trong các đợt  ra quân giữ gìn ANTT của dân quân xã, chiến sĩ Nguyễn Văn Minh  kể lại: Vào tháng 7-2012, nhận được thông tin từ quần chúng nhân dân, lực lượng dân quân xã đã hành quân bộ hơn 3 tiếng đồng hồ trong điều kiện thời tiết nắng nóng, vượt qua suối sâu, dốc cao để đến tiểu khu 29, thôn Tà Lang.
Tại đây, lực lượng dân quân tổ chức bao vây, bắt được 4 đối tượng  trú tại tỉnh Tuyên Quang đang dùng súng tự chế săn bắt động vật hoang dã trái phép, thu giữ 2 khẩu súng và 2 con voọc.  Chiến công này đã được UBND H. Hòa Vang khen thưởng.
Thực hiện nhiệm vụ truy quét các đối tượng khai thác lâm, khoáng sản trái phép nhiều khi nguy hiểm đến tính mạng, vì các đối tượng rất hung hãn, côn đồ, nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, vì sự bình yên của quê hương, lực lượng dân quân luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.  Thực hiện theo Quyết định 7661 của UBND TP Đà Nẵng, dân quân xã đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng CA, dân phòng tổ chức tuần tra quản lý tốt địa bàn.
Từ năm 2012 đến nay, đã tổ chức 570 lượt tuần tra độc lập, phát hiện, ngăn chặn hàng chục vụ gây rối, trộm cắp gỗ sắt, ở công trình xây dựng thủy điện Sông Nam-Sông Bắc, nhiều vụ đánh bài bạc ăn tiền... Qua phối hợp với CA xã, lực lượng dân quân  phát hiện, trục xuất đối tượng Trần Văn Trà, có hành vi truyền đạo trái phép tại tổ 2, thôn Phò Nam ra khỏi địa phương; phối hợp với các lực lượng chức năng vận động hàng chục học viên cai nghiện ma túy Trung tâm 05-06 trốn trại về lại trung tâm.
Lực lượng dân quân xã luôn làm tốt công tác phòng chống cháy rừng, phòng chống bão lụt, giúp nhân dân chằng chống nhà cửa, sơ tán tài sản, người đến nơi an toàn khi mùa mưa bão đến; khai thông, dọn dẹp đường giao thông trước, trong và sau mùa mưa bão...
Trong năm 2013-2014, đã phối hợp với Tiểu đoàn trinh sát 32, Bộ Tham mưu Quân khu 5 tổ chức nạo vét hơn 1.000 mét kênh mương nội đồng, đắp đập, làm mới hơn 600 mét đường bê-tông nông thôn. Phối hợp với các ban ngành đoàn thể của xã  tổ chức 12 đợt khảo sát, cất bốc được 3 mộ liệt sĩ quê ở Thái Nguyên, Thanh Hóa, Hưng Yên về nghĩa trang gia tộc mai táng. Thường xuyên duy trì nhiệm vụ, bảo vệ an toàn sở chỉ huy thời chiến St01-ĐN 2000 nằm trên địa bàn.  Duy trì trực chiến, trực cơ quan, trực bảo vệ các ngày lễ, tết đảm bảo quân số, với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao.
Với những thành tích đã đạt được, lực lượng dân quân xã Hòa Bắc đã góp phần giữ vững ANCT-TTATXH trên địa bàn,  được các cấp các ngành biểu dương, khen thưởng, là một trong những đơn vị tiên tiến, điển hình đi đầu trong phong trào thi đua quyết thắng của lực lượng vũ trang TP Đà Nẵng và Quân khu 5 giai đoạn 2009-2014. (Công An TP Đà Nẵng 3/1) đầu trang(
Chiều 1/1, Đồn BP Ra Mai, BĐBP Quảng Bình cho biết, đơn vị vừa phối hợp với Đại đội Biên phòng 311, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Khăm Muộn thực hiện đợt tấn công truy quét các loại tội phạm trên tuyến biên giới Việt - Lào trong dịp giáp Tết Nguyên Đán và thu giữ được một số lượng lớn gỗ lậu vô chủ tại khu vực biên giới.
Trước đó, chiều 30-12-2014, trên đường tuần tra, tại vị trí cách Mốc 516 khoảng 500 mét về phía nước bạn, Đồn BP Ra Mai phát hiện có một lượng lớn lâm sản (gỗ De). Qua kiểm tra số lượng lâm sản khoảng 60 m3, nghi là đối tượng khai thác từ Lào kéo qua đường biên giới về phía Việt Nam.
Sau đó, lực lượng chức năng kiểm tra sâu về phía đất Lào khoảng 300m thì phát hiện có 1 lán và 2 chiếc máy dùng để tời gỗ. Hiện, vụ việc trên đã được Đồn BP Ra Mai và Đại đội 311, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khăm Muộn tiến hành lập biên bản và điện báo cáo cho Bộ Chỉ huy hai đơn vị xử lý theo quy định. (Biên Phòng 2/1) đầu trang(
Một lễ giáng sinh mừng năm mới được tổ chức đặc biệt bằng chuyến đi dã ngoại và bữa tiệc liên quan đến những chú Voọc chà vá chân nâu trên núi Sơn Trà (quận Sơn Trà, Đà Nẵng). Ở đó, các em học sinh được chứng kiến cuộc sống thú vị của những gia đình linh trưởng qua ống nhòm, tê lê máy ảnh...
Chiều cuối tháng 12/2014, hơn 100 em học sinh tiểu học các trường Trần Quốc Toản, Nguyễn Tri Phương và THCS Nguyễn Chí Thanh, Lý Tự Trọng (quận Sơn Trà) cùng 31 phụ huynh háo hức được lên núi khỉ.
Anh Trần Hữu Vỹ, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học nước Việt Xanh (Green Viet), chia sẻ: “Kế hoạch ban đầu chúng tôi chỉ đưa các em học sinh đi, nhưng phụ huynh cảm thấy thú vị quá nên đăng ký thêm. Bất ngờ còn có cả cán bộ Phòng Giáo dục, Sở Nội vụ, Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh cùng tham gia.
Chuyến đi giúp mọi người quan sát được loài Voọc chà vá chân nâu, qua đó nâng cao hiểu biết và tham gia bảo tồn loài Voọc nói riêng và đa dạng sinh học Sơn Trà nói chung. Đây cũng là dịp quảng bá hình ảnh loài linh trưởng đẹp, quý hiếm, có tiềm năng mang lại những giá trị to lớn đối với hệ sinh thái, khoa học, nghệ thuật, du lịch”.
Chừng nửa tiếng lòng vòng trên cung đường quanh núi, chiếc xe dừng lại giữa một con dốc thoai thoải. Các thành viên của Trung tâm Green Viet ra hiệu cả đoàn im lặng, họ đưa ống nhòm tìm Voọc rồi chuyền sang các em học sinh. Lần đầu tiên thấy linh trưởng trên những cây to, chốc chốc chuyền cành theo bầy, các em vô cùng thích thú.
Phụ huynh cũng trầm trồ rằng Voọc có bộ lông nhiều màu sắc rất đẹp. Em Nguyễn Thị Trang (trường tiểu học Nguyễn Tri Phương) hào hứng: “Đây là lần đầu em được tận mắt thấy những chú Voọc, chúng hiền hòa và sống như những gia đình. Sau khi về, em sẽ vẽ nhiều tranh tuyên truyền bảo vệ Voọc và kể cho các bạn khác nghe về chuyến đi thú vị này”.
Rất nhiều điểm dừng chân trên núi có sự xuất hiện của Voọc. Chỉ cần im lặng và không làm chúng sợ, mọi người tha hồ quan sát chúng. Hơn 4 giờ chiều, sương đã phủ mờ con đường song các em vẫn chưa muốn về. Anh Vỹ phải tiết lộ phần hai của bữa tiệc giáng sinh thú vị đang đợi thì tất cả mới chịu lên xe.
Ở nhà, các thành viên còn lại đã trang trí một buổi tiệc giáng sinh hoành tráng với hai ông già Noel, tranh vẽ của các em về động thực vật trên núi Sơn Trà được treo khắp phòng, đặc biệt những bức tranh về Voọc chà vá chân nâu. Xe về tới, các em vừa bước vào phòng không khỏi bất ngờ vì tranh của mình được “triển lãm” cho mọi người cùng xem. Tiếp sau đó là những trò chơi thú vị, liên quan tới loài linh trưởng. Trò chơi “rung đuôi Voọc” theo kiểu Rung chuông vàng, bắt các em trả lời những câu hỏi kiến thức về Voọc.
Người trụ lại cuối cùng sẽ vinh hạnh được “rung đuôi” nhận phần thưởng. Trò lựa chọn thức ăn, tìm môi trường sống cho Voọc cũng lồng vào những hiểu biết quý giá về loài linh trưởng này.
Tháng 3/2014, được sự đồng ý của Phòng GD& ĐT quận Sơn Trà, Trung tâm Green Viet đã đem chương trình “Nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Sơn Trà” đến với các trường trên địa bàn quận. Mỗi tháng 4 buổi học, với nội dung phong phú và bổ ích như: Tìm hiểu đa dạng sinh học của khu BTTN Sơn Trà; tìm hiểu về loài Voọc chà vá chân nâu; tìm hiểu về các loài khỉ; thực hành quan sát và tìm hiểu các loài ĐVHD ở khu BTTN Sơn Trà… Ngoài ra, Trung tâm còn chiếu phim, triển lãm ảnh về thiên nhiên Sơn Trà.
Sau 9 tháng triển khai chương trình, các thành viên của Trung tâm Green Viet thật sự mãn nguyện khi tất cả các em đều hào hứng. Cô giáo Nguyễn Thị Trường (THCS Lý Tự Trọng) nói: “Không chỉ các em được nâng cao nhận thức, mà chúng tôi cũng có cơ hội được hiểu biết hơn về hệ sinh thái đa dạng trên ngọn núi của thành phố mình”.
Năm tới, Trung tâm Green Viet sẽ tiếp tục triển khai những chương trình tương tự ở quy mô lớn hơn. (Tiền Phong 2/1) đầu trang(
Đi dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh từ xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đến xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (2 xã kể trên nằm trong khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Cúc Phương), bắt gặp hàng loạt nhà hàng chuyên mua, bán thịt động vật hoang dã.
Điều đặc biệt, khi chúng tôi tiếp cận, những quán bên đường đều có liên quan đến hoạt động trao đổi thịt thú rừng. Việc làm trên diễn ra công khai, lộ liễu, không hề ngần ngại hay đề phòng gì khi có người lạ hỏi mua.
Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là một nhà hàng mang tên Điểm hẹn Cúc Phương - Quán gió hương rừng trên địa bàn xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn. Bước chân vào quán, khi hỏi một nhân viên việc mua một ít đặc sản thịt rừng thì nhận ngay câu trả lời: “Quán em có các loại thịt thú rừng như hoẵng, lợn rừng, trâu rừng, riêng thịt sóc hôm nay vừa mới hết”.
Một nhân viên nam cho biết thêm: “Thịt hoẵng giá 420.000 đồng/kg, vẫn còn một ít trong tủ lạnh”. Trên đoạn đường dài chưa đầy 5km, vào bất cứ quán nhỏ nào ven đường thấy có tủ lạnh thì chắc chắn quán đó sẽ có bán thịt rừng.
Tại nhà hàng Quang Đức thuộc địa phận xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, trong vai khách hàng tìm mua thịt rừng, được một nam nhân viên giới thiệu: “Nhà hàng có nhiều loại đặc sản rừng như gà đồi, dê núi, đặc biệt có các loại thịt thú rừng như sóc, cầy vòi, cầy hương”.
Khi hỏi giá cả, nam nhân viên không ngại ngần che giấu giới thiệu: “Sóc nếu mua mang về nấu giá 100.000 đồng/con, còn nấu ăn ngay tại nhà hàng giá 110.000 đồng/con, cầy vòi 450.000 - 500.000 đồng/kg, cầy hương 1,1 triệu đồng/kg”.
Để chứng minh nhà hàng luôn bán thịt rừng tươi ngon chất lượng, nhân viên dẫn vào xem trực tiếp kho tủ lạnh chứa đầy thịt rừng. Tại đây, một khối lượng lớn thú rừng nguyên con đã được mổ ruột, thui vàng, đang được bảo quản. Nhiều nhất là thịt sóc, số còn lại là cầy hương, cầy vòi. Những con thú kể trên thịt đã đông cứng như đá, hai mắt mở trừng trừng, để lộ hàm răng sắc nhọn.
Nhân viên cho biết thêm: “Nếu muốn mua được thịt thú rừng còn tươi chưa qua sơ chế phải đợi đến buổi trưa, khi đó thợ săn vừa mới đi rừng về thì sẽ có”.
Điều đáng nói, nhà hàng kể trên nằm cách Trạm kiểm lâm số 4 chưa đầy 50m đi bộ, vậy mà không hiểu sao việc mua bán thịt thú rừng vẫn diễn ra công khai mà không bị phát hiện.
Tìm đến Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cúc Phương thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình cách Trạm kiểm lâm số 4 gần hai tiếng leo dốc vượt rừng. Đem câu chuyện trên trao đổi với ông Tạ Đức Biên – Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Cúc Phương, nhận được từ ông Biên một câu trả lời hết sức ngỡ ngàng: “Video hơi mờ, chưa có gì khẳng định đây là thú rừng. Có lẽ các nhà hàng nói dối có thịt thú rừng để bán với giá cao”.
Tới khi PV cung cấp một đoạn video tiếp theo đã thực hiện để làm tư liệu chứng minh việc mua bán trên là hoàn toàn có thật thì ông Biên mới thốt lên: “Nếu đúng như vậy sẽ phải tiến hành kiểm tra trong thời gian sớm nhất”. Nhưng ông cũng nhấn mạnh: “Giờ các nhà hàng quen mặt kiểm lâm hết rồi, nếu đi kiểm tra sẽ bị lộ, nên việc phát hiện để xử phạt là rất khó”.
Việc săn bắn thú rừng để phục vụ nhu cầu thưởng thức món ngon, độc, lạ ngày càng tăng cao. Vì vậy, các nhà hàng, quán ăn đã bất chấp những quy định về việc cấm săn bắt, trao đổi, mua bán, giết thịt động vật hoang dã của Nhà nước. Khi tìm hiểu tư liệu để thực hiện bài viết, gặp bất cứ một người dân nào xung quanh khu vực trên, họ đều có thể chỉ hàng loạt những cửa hàng có bán thịt thú rừng.
Thịt động vật được săn bắn ở đây có nhiều mức giá khác nhau, “hạ sàn”  200.000 – 300.000 đồng/kg, “áp trần” cũng chỉ hơn 1 triệu đồng/kg. Thịt sóc có giá thành rẻ nhất, một con sóc khoảng 0,2kg mua tại các điểm đầu mối săn bắn trong các bản làng có giá 55.000 đồng/con. Nếu mang ra phía đường quốc lộ bán, giá thành sẽ cao hơn.
Tại một quán nhỏ ven đường, chủ cửa hàng bán với giá 65.000 - 70.000 đồng/con, nếu vào đến những nhà hàng lớn khách sẽ mua lại với giá 100.000 - 110.000 đồng/con. Một chủ cửa hàng giới thiệu: “Thịt sóc có thể chế biến thành nhiều món hấp dẫn như giả cầy, xào xả ớt, nấu với thân cây chuối rừng...”.
Loại có giá cả đắt hơn là những con thú hiếm và khó tìm như: Dúi 300.000 đồng/con, hoẵng 420.000 đồng/kg, cầy vòi 450.000 đồng/kg, cầy hương 1.1 triệu đồng/kg. Chủ cửa hàng sau khi thu mua thịt rừng từ thợ săn sẽ tiến hành sơ chế, vứt bỏ toàn bộ phần lông, nội tạng, phần thịt còn lại được cho trong ngăn đá tủ lạnh để bảo quản lâu dài, gặp khách sẽ đem bán.
Sáng sớm, bắt gặp một người thợ săn với đôi mắt thâm quầng mất ngủ sau một đêm luồn rừng, trên tay xách một con sóc đã chết do dính bẫy. PV hỏi ông: “Bác đi săn mà không sợ kiểm lâm à?”. Ông uể oải trả lời: “Ôi dào, sợ thì sợ chứ nhưng biết phải làm sao! Đói thì phải vào rừng, tao cũng chỉ đổi thịt thú rừng lấy vài con cá khô thôi”.
PV hỏi: “Bác bán bao nhiêu tiền một con sóc này”, ông cho biết: “Tao bán cho cửa hàng 40.000 đồng, rẻ lắm chỉ đủ mua mắm muối thôi”. Ông thở dài: “Nay không còn nhiều thú nữa. Ngày xưa toàn đi săn thú lớn có mấy ai chú ý đến mấy con sóc nhỏ này đâu, nhưng giờ thì hết cả rồi, thú to đã hết, đến thú nhỏ tìm được một con cũng mỏi cả mắt”. (Lao Động 4/1) đầu trang(
Hơn 3 tấn sản phẩm động vật hoang dã nhập lậu qua đường biển và đường hàng không do Cục Hải quan TP.HCM phát hiện trong gần 3 năm qua, cho thấy tình trạng buôn lậu mặt hàng quý hiếm này khá phức tạp.
Theo Phó cục trưởng Cục Hải quan TP.HCM Đinh Ngọc Thắng, động vật hoang dã thuộc Danh mục Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites), là mặt hàng quý hiếm, có giá trị cao về kinh tế, đặc biệt là siêu lợi nhuận.
Chính vì thế, các đối tượng buôn lậu và gian lận thương mại tìm đủ mọi cách để vận chuyển vào Việt Nam và ngược lại. Từ năm 2012 đến nay, Cục Hải quan TP.HCM đã phát hiện 22 vụ nhập lậu sản phẩm động vật hoang dã, tang vật thu giữ hơn 3 tấn, gồm: Ngà voi, các sản phẩm chế tác từ ngà voi, sừng tê giác, vảy tê tê, móng chồn núi…
Kết quả trên cho thấy, tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép sản phẩm động thực vật hoang dã qua biên giới trong thời gian qua trên địa bàn TP.HCM có nhiều diễn biến phức tạp, số vụ và số lượng bắt giữ ngày càng tăng.
Qua công tác nắm tình hình và cảnh báo từ Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan và một số đơn vị trên địa bàn TP.HCM cho thấy, có dấu hiệu của một số tổ chức, đường dây có hoạt động buôn bán, vận chuyển trái phép động vật và các sản phẩm động vật, thực vật hoang dã thuộc Danh mục Cites từ nước ngoài về Việt Nam, như: Ngà voi, tê tê, sừng tê giác, móng vuốt các loại động vật… Từ Việt Nam xuất đi nước ngoài các mặt hàng: Sản phẩm san hô, sản phẩm da cá sấu, sản phẩm từ cây gió bầu.
Là hàng hóa thuộc diện cấm, nên thủ đoạn cất giấu, phương thức vận chuyển của các đối tượng cũng khá tinh vi. Các đối tượng thường sử dụng dịch vụ chuyển phát nhanh dưới dạng quà biếu, quà tặng, thể hiện tên người gửi và người nhận không rõ ràng; ghi thông tin chung chung… nhằm chối bỏ trách nhiệm nếu bị các cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ.
Bên cạnh đó, trong phần thông tin hàng hóa, các đối tượng thường khai báo là hàng mẫu, thực phẩm, đồ dùng cá nhân có trị giá thấp… đồng thời, thực hiện quá cảnh các nước khác trước khi vào Việt Nam nhằm đánh lạc hướng các cơ quan chức năng tại cửa khẩu.
Đối với tuyến đường hàng không, các đối tượng thường tổ chức vận chuyển các mặt hàng nhỏ gọn, như: Ngà voi, sản phẩm ngà voi, sừng tê giác, móng, vuốt, cao động vật… với phương thức chia nhỏ, cất giấu trong hành lý của nhiều hành khách vận chuyển về Việt Nam.
Đối với những lô hàng NK có khối lượng và trọng lượng lớn, các đối tượng gửi dưới dạng hàng hóa, nhưng thông tin trên vận đơn được thể hiện không rõ ràng. Đối với những lô hàng XK các đối tượng thuờng lợi dụng XK nhiều hơn số lượng quy định trong giấy phép của Cites, không khai báo hoặc khai báo sai tên hàng khi đăng kí tờ khai hải quan.
Theo phản ánh của Cục Hải quan TP.HCM, trong thời gian qua, Chi cục Hải quan sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã khám xét và phát hiện 4 lô hàng ngà voi và sản phẩm từ ngà voi châu Phi cấm NK theo Quyết định số 11/2013/QĐ-TTg ngày 24-1-2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm XK, NK, mua bán mẫu vật một số loài động vật hoang dã.
Đối với lô hàng bắt giữ thuộc Danh mục Cites như ngà voi hoặc các chế phẩm từ ngà voi, sừng tê giác… là hàng hóa cấm mua bán nên gặp vướng mắc vì không xác định được trị giá, không xác định được cấp nào có thẩm quyền xử lý vụ việc nên việc xử lý các lô hàng ngà voi bị bắt giữ gặp khó khăn. Hiện còn 7 lô hàng ngà voi nhập lậu có nguồn gốc từ châu Phi, với tang vật trên 2,6 tấn được phát hiện từ năm 2013 đến nay, vẫn chưa xử lý được.
Với vướng mắc trên, Cục Hải quan TP.HCM đã báo cáo, xin ý kiến của cơ quan cấp trên. Trong thời gian chờ ý kiến của cấp có thẩm quyền, Cục Hải quan TP.HCM cũng đã đề xuất và xin ý kiến Tổng cục Hải quan về phương án xử lý.
Đó là, đối với trường hợp không xác định được chủ sở hữu hàng hóa sau khi chi cục đã tiến hành các bước nghiệp vụ theo trình tự luật định thì chi cục Hải quan cửa khẩu nơi phát hiện vụ việc ra quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
Đối với trường hợp chi cục xác định được chủ sở hữu hàng hóa (chủ thể vi phạm) thì chi cục Hải quan cửa khẩu nơi phát hiện vụ việc căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, nếu mức phạt tiền thuộc thẩm quyền xử phạt thì ra quyết định xử phạt. (Hải Quan 1/1) đầu trang(
Một ngày cuối năm 2014, thẳng tiến về hướng những cánh rừng Đa Nhim thuộc địa phận các xã Đạ Sar, Đạ Chair, Đạ Nhim của huyện Lạc Dương. Mục đích chuyến đi là không chỉ tìm hiểu những cánh rừng phía đầu nguồn này được bảo vệ ra sao mà còn tìm hiểu đời sống của bà con sống bên trong những cánh rừng ấy, sống gắn bó mật thiết với những cánh rừng ấy hiện như thế nào.
Hơn thế, đây là những hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc căn cứ kháng chiến và nay thuộc đối tượng ưu tiên giải quyết đời sống kinh tế - xã hội bằng nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Cùng đi là anh Trịnh Xuân Tự - Phó Trưởng ban Ban quản lý Rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim.
Buổi trưa cuối đông, xứ sở Đồng Mang, Đưng Tvó, Klong Klăn... của đất Đạ Chair lạnh buốt. Dọc hai bên đường từ Đà Lạt vào dài mấy chục cây số, những cánh rừng thông lặng lẽ đứng trong rét buốt nhưng xem ra khá... ung dung, tự tại.
Nhờ liên lạc qua điện thoại nên đúng trưa, khi tôi vào đến Trạm Quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) Đạ Chair cũng là lúc anh Konsa Ha Nhơng tổ trưởng tổ nhận khoán rừng của Ban QLBVR Đa Nhim cũng vừa từ rừng về đến nơi. Konsa Ha Nhơng bảo sáng nay anh lên rừng rất sớm bởi chiều còn phải tranh thủ đi hái mấy tạ cà phê theo hợp đồng miệng với người thu mua.
Mùa này, cà phê đang được thu hoạch nên bà con ở Đạ Chair ai ai cũng bận rộn. Ha Nhơng cũng vậy, nhưng không thể vắng những bước chân lên rừng. “Có cái chân trần in dấu, rừng được khẳng định có chủ, là rừng còn. Không thế, lâm tặc vào khai thác, mình phải chịu trách nhiệm. Vì Nhà nước đã giao cho mình, rừng bị phá, cái đồng tiền mình nhận không còn được... “sạch sẽ”, thậm chí còn bị phạt” - anh Ha Nhơng nói.
Cũng theo anh, ngoài mỗi tuần cắt cử người đi tuần tra hai ngày cùng với cán bộ lâm nghiệp, tổ của anh cũng như tất cả các tổ nhận khoán rừng ở Đạ Chair đều có người tuần tra rừng hằng ngày. Tổ nhận khoán của Ha Nhơng gồm 18 hộ, nhận khoán 486ha rừng. “Rừng ở đây là rừng đâu nguồn. Mình giữ cho cái ăn cái mặc của mình đã đành, mà còn giữ cho cái nước ở phía hạ nguồn nữa!” - Ha Nhơng tỏ ra thông thạo.
Tại một buổi làm việc với cán bộ huyện Lạc Dương gần đây, ông Nguyễn Xuân Tiến - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng - đã nói: “Làm thế nào đó để con đường 723 nằm trên địa phận Lạc Dương từ Đà Lạt đến Khánh Hòa qua đèo Hòn Giao, thuộc rừng đầu nguồn Đa Nhim này trở thành “con đường xanh” đẹp nhất nước!”.
Đó không chỉ là một mệnh lệnh mà còn là một lời căn dặn chân tình đối với lãnh đạo địa phương và cơ quan chức năng rằng hãy quan tâm nhiều hơn nữa đến bà con dân tộc thiểu số Lạc Dương sống trong rừng, sống dọc theo tuyến lộ 723 nơi xuyên qua rừng đầu nguồn Đa Nhim từ Đạ Sar, Đạ Nhim, Đạ Chair, để bà con tự giữ rừng, giữ lấy màu xanh trên “con đường xanh” hiện đang đẹp nhất cả nước này. Sống kẹp bên tuyến lộ 723 từ Đạ Sar, Đạ Nhim và Đạ Chair của huyện Lạc Dương có đến 10.000 dân, hầu hết là bà con dân tộc thiểu số Cill, CơHo, Mnông...
Trong tương lai, theo quy hoạch, dọc theo tuyến lộ xuyên qua những cánh rừng đầu nguồn Đa Nhim này có khoảng 17.000 dân vào năm 2020 và 31.000 người vào năm 2030 sinh sống ở 10 điểm dân cư tập trung. Con số 31.000 người vào năm 2030 so với chưa đến 10.000 người hiện nay theo dự báo (và cả theo quy hoạch) là một con số không hề nhỏ.
Bởi sự gia tăng về dân số như thế nên áp lực của những cánh rừng đầu nguồn Đa Nhim trong tương lai không hề nhỏ. Nhìn rộng ra một chút để thấy Lạc Dương là đơn vị hành chính cấp huyện nằm gọn trong rừng phòng hộ (hơn 52.834ha) và rừng đặc dụng (hơn 61.077ha). Đến hiện tại, Lạc Dương đã giao khoán QLBVR đến gần 73.000ha theo nhiều hình thức; trong đó có hơn 65.000ha được giao cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nêu lên những con số này để thấy rằng vai trò của rừng quan trọng như thế nào đối với người Cill, người CơHo, người Mnông ở Lạc Dương.
Anh Nguyễn Văn Dân, Trưởng trạm QLBVR Đạ Chair (Ban QLBVR đầu nguồn Đa Nhim), nói: “Trạm quản lý 3.873ha rừng; gồm các tiểu khu 93, 94B, 122 và 123. Trong diện tích này, tính đến nay, Trạm đã giao khoán QLBVR 2.955ha cho 6 tổ với 116 hộ đồng bào dân tộc thiểu số các thôn Đồng Mang, Tu Pó, Long Lanh (xã Đạ Chair) và Đa Hoa (xã Đạ Nhim). Mức giao khoán là 450.000ha/năm, giao theo nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng, giao cho 6 tổ, trung bình mỗi tổ gần 20 hộ dân”.
PV hỏi: “Trạm chỉ có 4 anh em thì làm sao đi hết gần 4.000ha rừng trong 2 ngày mỗi tuần?”. Anh Dân chân thật: “Hết làm sao nổi, anh! Chia ra mà đi, kiểm tra chủ yếu những khu vực nóng. Còn lại, bà con nhận khoán kiểm tra, có thể hộ có rẫy ở gần đó vừa làm vườn vừa kiểm tra kiểm soát rừng. Mỗi tổ ngày nào cũng cắt cử người để đi tuần. Nhờ vậy mới quán xuyến khắp lượt. Bà con tích cực lắm! Hiệu quả thực sự, anh ạ!”.
Còn nhớ hồi vào K’long K’lăn (nay đọc chệch thành Long Lanh, một trong các thôn của xã Đạ Chair) cách nay hơn hai chục năm, già làng K’Siêng đã huy động hơn hai chục trai làng kéo gỗ rừng làm thành chiếc cầu tạm bắc qua suối Đưng Tvó để lai dắt chiếc honda cà tàng qua. Hôm ấy, sau trận lũ nguồn, nếu không có những cây gỗ rừng cổ thụ trôi dạt theo dòng nước xiết, không hiểu sẽ phải làm thế nào để băng qua được con suối mới ngày hôm trước chỉ cạn đến trên mắt chân cá và giờ đã ngập lút đầu.
Nói cách khác, người dân nơi thượng nguồn Đa Nhim này, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tình huống đều gắn với rừng. Hôm ấy, Liên và Chung - hai cô giáo trẻ tình nguyện vào vùng sâu K’long K’lăn (vũng nước có con trăn nằm) - với ánh mắt ái ngại nhìn theo hai nhà báo đã làm tôi cầm lòng không đặng. Xem ra, với bà con dân tộc thiểu số tại chỗ, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi điều kiện, kể cả với những cơn thịnh nộ của đất trời, cũng đều biết cách ứng phó phù hợp.
Bởi vậy, nay nghe Ha Nhơng bảo “Không chỉ là giữ cho cái rừng có con đường xuyên qua này là “con đường xanh” đẹp nhất nước mà còn giữ cho cái nước ở phía hạ nguồn không cạn kiệt”, thực sự bất ngờ về bước phát triển vượt bậc trong nhận thức của cộng đồng dân tộc thiểu số nơi đây.
Và điều quan trọng nữa là khi nhận giao khoán QLBVR những khu rừng phía thượng nguồn Đa Nhim này, đời sống của bà con được cải thiện như thế nào? Phó ban BQLBVR đầu nguồn Đa Nhim Trịnh Xuân Tự cho biết: “Với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, việc giao khoán rừng không theo kiểu “chiếc bánh” như trước.
Với cách làm này, người dân phải tích cực đóng góp vào việc giữ một cách thực sự mới được hưởng một khoản lợi. Ví dụ như đối với hộ bà Dơnggu Ka Jơm 55 tuổi ở thôn Tu Pó, bản thân bà đau yếu, chồng bỏ đi nơi khác sinh sống, cuộc sống của bà hết sức khó khăn, không có lao động chính để đứng ra nhận rừng; nhưng bà vẫn được Trạm QLBVR Đạ Chair xem xét cho nhận 23ha rừng bởi bà có con gái và con rể có khả năng QLBVR.
Trước, gia đình bà Ka Jơm khó khăn đến nỗi thường xuyên thiếu gạo ăn. Nay, sau vài năm nhận QLBVR theo chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng, không những cái ăn đã được giải quyết mà bà còn mua được cả xe máy để chạy và cất lại nhà để ở cho khang trang hơn.
Hoặc như trường hợp ông Dơnggu Ha Tang ở thôn Đồng Mang cũng vậy. Trước đây, gia đình ông thuộc diện chính sách nhưng hai ông bà già yếu, không làm lụng gì được nên quanh năm thiếu đói. Nếu theo quy định thì ông bà Ha Tang không thuộc diện được giao khoán rừng kiểu mới vì không có lao động.
Tuy nhiên, ông ký kết với bên lâm nghiệp là cứ giao rừng cho ông, ông chịu trách nhiệm hằng ngày nhờ con hoặc cháu cùng đi tuần tra với anh em trong tổ, với anh em của Trạm QLBVR Đạ Chair. Đúng như vậy, những năm đầu nhận rừng, ngày nào ông cũng nhờ những đứa cháu của mình đi tuần với bà con trong tổ nhận khoán. Một hai năm sau này, khi con gái của ông có chồng, anh chàng ở rể là lao động chính chịu trách nhiệm bảo vệ rừng cho BQLBVR Đa Nhim.
Konsơ Ha Nhơng kể: “Mấy tổ nhận khoán QLBVR ở đây ai ai cũng vậy hết. Hằng ngày tổ trưởng đứng ra cắt cử người đi tuần tra rừng. Cứ mỗi tuần hai ngày đi tuần với cán bộ lâm nghiệp. Nếu hộ nào không đi thì đến kỳ nhận tiền, chúng tôi trừ 100.000 đồng, tự bà con chúng tôi đặt ra quy định này. Bởi vậy, từ trước đến giờ, không mấy hộ gia đình nhận khoán nào dám bê trễ”.
Gặp Bonđưng Mạnh Đạt, một chàng trai còn khá trẻ quê gốc ở xã Lát, huyện Lạc Dương. Hỏi: “Sao “lưu lạc” đến tận trong này? Ở rể chắc?”. Bonđưng Mạnh Đạt “Dạ! Hồi đó cháu học ở trường nội trú của huyện. Vợ cháu lúc đó cũng học nội trú...”. Vậy là chàng trai Bonđưng Mạnh Đạt của xã Lát phải theo vợ là Kađơn Ka Jum “lội” vào Tu Pó của xã Đạ Chair xa những gần trăm cây số để ở rể.
Ở rể được thời gian ngắn thì gia đình nhỏ gồm một vợ và hai con của Bonđưng Mạnh Đạt tách hộ. Khi tách hộ, Bonđưng Mạnh Đạt được bố mẹ vợ cho được 5 sào cà phê, cộng với hơn 20ha rừng nhận khoán, đời sống kinh tế của đôi vợ chồng trẻ này khá ổn.
Tính riêng ở xã Đạ Chair thì số hộ nhận khoán chỉ ở con số 116 hộ với 2.955ha rừng, còn tính rộng ra cả huyện Lạc Dương thì có hơn 1.000 hộ được nhận quản lý trên dưới 31.000ha trong tổng số gần 45.000ha do Ban QLRPH đầu nguồn Đa Nhim quản lý. Có lẽ, con số chỉ mới nói lên một phần của vấn đề, mà quan trọng là việc làm thay đổi cả một nhận thức về QLBVR để từ đó những cánh rừng, nhất là những cánh rừng như rừng đầu nguồn Đa Nhim, được giữ gìn.
Rời Đạ Chair, rời khỏi cánh rừng đầu nguồn Đa Nhim, và chợt nhận ra nắng xuân vừa chạm cửa những ngôi nhà với chủ nhân là những đôi chân trần từ đời này sang đời khác gắn với rừng. (Báo Lâm Đồng 3/1) đầu trang(
Hạt của cây gỗ dổi mà người ta vẫn thường gọi “vàng đen”, là gia vị đặc sản đã bị khai thác cạn kiệt trên vùng cao Tây Bắc.
Giờ thì đến lượt dổi rừng Tây Nguyên lọt vào tầm ngắm của các cánh “dổi tặc”. Dổi mọc nơi nào, bất kể đó là rừng đặc dụng hay rừng phòng hộ đầu nguồn, cũng đối mặt với nguy cơ bị triệt hạ.
Nghe tin đồn người dân ồ ạt vào rừng chặt phá dổi lấy hạt về bán cho thương lái, mất gần một tuần thâm nhập các xã vùng sâu huyện Krông Bông để tìm hiểu thực hư. Sau nhiều ngày thuyết phục, cuối cùng cũng được ông H. người dân tộc Mông ở xã Cư Pui dẫn vào rừng chứng kiến tận mắt những cây gỗ dổi bị “thảm sát”.
Trong màn sương mờ ảo, rời thôn 12 xã Hòa Lễ, băng rừng vượt suối khoảng 14 cây số thì nhìn thấy tấm biển sắt đã bị ai đó đập bẹp dí nhưng dòng chữ in trên bảng vẫn đọc được rất rõ: “Địa giới vườn quốc gia Chư Yang Sin”. Băng rừng mươi phút, đã thấy ba cây gỗ dổi lớn, thân cao hơn 30 mét bị đốn ngã nằm chỏng chơ, lá cành khô héo. Xung quanh là cảnh tan hoang của khu rừng bị phát quang để mở đường vào. Ông H. thở hổn hển nói: “Từ đây đi khoảng 2 ngày đường rừng về thị trấn Krông K’mar còn có rất nhiều cây dổi khác bị chặt nằm ngổn ngang, chắn hết lối đi”.
Đúng như lời ông H., băng thêm vài cây số đường rừng nữa chứng kiến tới 6 bãi gỗ dổi, tới hơn 20 cây có đường kính thân gần 1 mét, dài 30 mét bị đốn ngã. Lẽ ra những cây dổi đại thụ này chưa phải chịu chung số phận “phải chết”, nếu người hái dổi có kinh nghiệm chỉ cần nhìn tán cây, số hạt rụng dưới gốc là biết nên hái dổi thế nào để bảo vệ cây cho mùa sau.
Chỉ những kẻ “nghiệp dư” mới thấy loáng thoáng vài hạt trên cây là ra sức đốn ngã. Cây đổ ầm ầm rồi mới biết trái đã già, hạt đã vỡ hoặc rụng gần hết, cố sức bòn mót cũng chỉ nhặt nhạnh được vài lạng. “Bà con mình cũng xót cây lắm, nhưng vì tranh giành nhau nên ra sức mà cưa thôi. Người Thái, người Mông, người Kinh đều thế cả”, ông H. thiểu não.
Không những thế, để cho cây dổi đổ xuống an toàn, người ta còn phải đốn những cây chắn ngang để tạo thế đón thân dổi ngã. Khi thắc mắc thân cây gỗ dổi có giá bán cũng cao sao không đưa về? ông H xua tay: “Mục đích của bà con chỉ lấy hạt thôi, nên luồn rừng chứ không mở đường, cây chặt nằm ở những hẻm núi sâu không vác ra được. Với lại mang vài kilogam hạt trên người trốn được kiểm lâm chứ chở gỗ ra dễ bị kiểm lâm bắt”.
Không riêng gì huyện Krông Bông, cơn sốt “vàng đen” còn diễn ra trên nhiều vùng rừng khác, nóng không kém là huyện Krông Năng. Tại rừng phòng hộ đầu nguồn giáp ranh 2 xã Cư Klông và Ea Tam, cũng phát hiện nhiều cây gỗ dổi bị chặt hạ, hái hết quả.
Ông Nông Văn Mạch, người dân tộc Tày (trưởng thôn Tam Hợp, xã Cư Klông) cho biết: “Mỗi cây dổi to chỉ có vài ký quả tươi. Trước đây, khi quả chín chúng tôi đợi chim yểng ăn xong phần vỏ, nhả hạt xuống đất rồi mới ra nhặt về vì cây dổi rất cao, ít cành nên rất khó trèo để hái”.
Ông Mạch xòe tay có mấy hạt dổi vừa lượm được dưới gốc cây, băn khoăn: “Thực ra công dụng của hạt quả dổi tôi cũng không biết nhiều, chỉ biết hạt chứa chất dầu có mùi thơm, được bà con đồng bào phía Bắc dùng làm gia vị tẩm ướp các món thịt cho thơm ngon. Nhưng 2 tháng trở lại đây, không hiểu sao thương lái kéo đến tận cửa rừng mua hạt dổi với giá rất cao, tới 500 nghìn đồng mỗi ký. Người dân thấy lợi mới ùn ùn kéo nhau vào rừng săn lùng quả dổi”.
Quanh huyện Krông Bông, chúng tôi lân la hỏi chuyện chặt phá cây dổi lấy hạt về bán rầm rộ những tháng vừa qua thì hầu như ai cũng biết. Anh Phong- một trong những trung niên thường xuyên vào Vườn quốc gia Chư Yang Sin bắt chim thú tìm lâm sản quý, thản nhiên kể: “Tôi có vào rừng chặt dổi lấy hạt về bán 2 lần trong tháng 9 vừa rồi. Trong đó người ta chặt dổi tùm lum, có chỗ dăm mười cây, có chỗ người ta chặt như phát quang làm rẫy!”.
Còn gặp bà Vàng Thị Đỏ ở xã Cư Đrăm, vừa nghe nhắc đến cây dổi, bà vui miệng kể ngay: “Mấy tháng vừa rồi hàng trăm người đổ xô vào Vườn quốc gia Chư Yang Sin kiếm hạt dổi. Đàn ông đi từng đoàn, chặt mỗi ngày tới vài chục cây, thu được cả tạ dổi bán được mấy chục triệu. Còn đàn bà như tôi chỉ mót được những hạt rụng còn sót lại dưới gốc cây thôi”.
Nghe hỏi về trách nhiệm bảo vệ rừng trong câu chuyện này, ông Tống Ngọc Chung - Giám đốc Vườn Quốc gia Chư Yang Sin cho rằng: Khu vực gỗ dổi bị chặt phá có thể đã giao khoán cho dân xã Hòa Lễ theo Quyết định 187 của Chính phủ.
Ngược lại, ông Nguyễn Minh Sơn - Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Lễ thì khẳng định: “Rừng của xã chỉ có một ít dổi ở tiểu khu 1158. Còn chỗ các anh chị phóng viên vào là tiểu khu 1159 và 1174 thuộc Vườn Quốc gia. Trước đây, Vườn có văn bản đề nghị xã phối hợp kiểm tra việc chặt gỗ dổi lấy hạt, nhưng chính trạm 1 và trạm 2 của Vườn lại báo là không có dổi, nên thôi”.
Còn ông Đinh Công Hương- Bí thư đảng ủy xã Ea Tam, huyện Krông Năng xác nhận: “Khi dư luận rộ lên tình trạng bà con ồ ạt vào rừng đốn cây lấy hạt dổi, Ban Lâm nghiệp của xã đã vào kiểm tra tiểu khu 315. Tại đó, phát hiện 6 cây gỗ dổi bị đốn hạ, UBND xã đã báo cáo cho chủ rừng và các cơ quan chức năng, đồng thời ra văn bản khuyến cáo bà con không được mua bán vận chuyển trái phép hạt dổi”.
Riêng ông Nguyễn Đình Tùng - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Krông Năng thừa nhận lực bất tòng tâm: “Rừng dổi tại tiểu khu 315A và 316 do đơn vị quản lý đã bị nhiều kẻ lẻn vào chặt phá tới 46 cây để lấy hạt, nằm rải rác trên diện tích khoảng 2.000 ha. Chúng tôi đang xin cấp trên cho vào thu gom gỗ nhưng cũng khó, vì không có đường ”.
Cũng theo ông Tùng, hạt dổi chỉ là lâm sản phụ, BQLRPH Krông Năng vẫn cho phép người dân vào thu hái nếu không xâm hại rừng. Nhưng do cây dổi có đặc điểm thân cao, thẳng đứng, trèo lên rất nguy hiểm nên người dân thường hạ cả cây để lấy hạt, trong đó có những cây to chặt xuống chỉ hái được vài lạng hạt, bán chỉ vài trăm nghìn đồng. Trả lời câu hỏi vì sao phát hiện vấn đề sớm, nhưng số cây bị chặt vẫn nhiều, không bắt quả tang được vụ nào?
Ông Tùng giải thích: Các cánh “dổi tặc” hành động rất nhanh, hạ cây xong vặt quả giấu hạt vào người rồi lập tức chuồn ra khỏi rừng. Họ không vận chuyển gỗ về nên rất khó phát hiện hoặc bám theo dấu vết để bắt. Chúng tôi chỉ bắt được một trường hợp là ông Nông Văn Đời (trú xã Cư Klông, huyện Krông Năng) khi đang vận chuyển hạt dổi ra khỏi rừng, thu giữ tang vật là một xe honda và 5,5 kilogam quả dổi tươi, sau đó chuyển cho Hạt Kiểm lâm huyện xử lý.
Không biết mức giá bán cuối cùng của hạt cây gỗ dổi này là bao nhiêu, nhưng để có được vài tạ hạt đổi lấy trăm triệu đồng, thì đã có hàng trăm cây gỗ dổi cổ thụ bị bức tử, và gấp mấy lần số đó những thân cây non bị chặt dọn lối cho thân dổi đổ xuống. Men theo lối mòn nhỏ chúng tôi lầm lũi ra khỏi khu rừng, vẫn còn như văng vẳng bên tai tiếng kêu cứu thảm thiết của rừng dổi đại ngàn. (Tiền Phong 31/12/2014) đầu trang(
Sở NN-PTNT đã tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (QLBVR-PTR) năm 2014 và triển khai nhiệm vụ năm 2015. Đại diện các sở, ban, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh đã tới dự.
Theo đánh giá thì trong năm 2014, công tác QLBVR-PTR đã có chuyển biến tích cực. Các chỉ tiêu về giao khoán, trồng rừng, chăm sóc rừng trồng, trồng cây phân tán, nông lâm kết hợp… cơ bản hoàn thành kế hoạch.
Toàn tỉnh giao khoán quản lý bảo vệ rừng trên 34.726 ha, trồng rừng  1.254 ha. Lực lượng kiểm lâm triển khai nhiều giải pháp ngăn chặn phá rừng, hành vi xâm hại tới tài nguyên rừng. Các vụ vi phạm pháp luật về rừng, đất lâm nghiệp được cơ quan chức năng, các đơn vị chủ rừng phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Các cơ quan chức năng đã lập biên bản xử lý trên 145 ha rừng và gần 11 ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm sử dụng trái pháp luật. Tình hình phá rừng được hạn chế, giảm thiệt hại, so với năm 2013 giảm trên 42% về số vụ và giảm 34% về diện tích.
Công tác kiểm kê rừng đã hoàn thành góp phần giúp cơ quan Nhà nước hoạch định chính sách để QLBVR-PTR có hiệu quả hơn. Việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng đã từng bước tạo được mối liên kết giữa người sử dụng và người cung ứng dịch vụ và giúp cho công tác quản lý bảo vệ rừng tiến triển tốt hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì tình trạng phá rừng, tranh chấp đất rừng giữa người dân với các chủ rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật còn diễn biến phức tạp, thủ đoạn tinh vi.
Việc giải tỏa, thu hồi diện tích rừng, đất rừng bị phá, lấn chiếm trái pháp luật để phục hồi lại rừng gặp nhiều khó khăn. Diện tích rừng giao cho các địa phương quản lý và các doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng thực hiện dự án sản xuất nông lâm nghiệp chưa đạt hiệu quả cao.
Trong năm 2015, toàn ngành sẽ tăng cường tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện phương án quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; tăng cường quản lý bảo vệ rừng đối với các vùng giáp biên; quản lý chặt chẽ hoạt động tại các cơ sở chế biến gỗ, khắc phục tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, bảo vệ động vật hoang dã; tiếp tục triển khai thực hiện đề án giao rừng, cho thuê rừng…
Tại hội nghị, Ban Chỉ đạo thực hiện REDD+ tỉnh Đắk Nông đã trình bày các hoạt động của Dự án “Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam” (REDD+ - Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation - Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng) và chương trình triển khai trên địa bàn tỉnh.  Dự án REDD+ sẽ tham gia và có đóng góp tích cực trong việc QLBVR – PTR trên địa bàn tỉnh. (Báo Đắc Nông 31/12/2014) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành công văn số 7452/UBND-NLN2 về việc tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo đó, UBND tỉnh chỉ đạo Sở NN&PTNT tiếp tục chủ trì, phối hợp cùng các lực lượng chức năng, gồm: Kiểm lâm, Công an, Quân đội, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các sở, ngành liên quan và các chủ rừng thực hiện nghiêm, đúng các nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 6479/UBND-NLN2 ngày 14-11-2014 về việc tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đồng thời tăng cường kiểm tra, hướng dẫn và kiên quyết xử lý nghiêm, đúng quy định của pháp luật đối với các chủ rừng và các đối tượng liên quan không thực hiện lập phương án phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) và cố tình vi phạm về công tác bảo vệ rừng và PCCCR; theo dõi, tổng hợp báo cáo về Cục Kiểm lâm và UBND tỉnh theo quy định nhất là các tháng mùa khô hanh.
Về đề nghị phê duyệt Dự án xử lý thực bì đối với diện tích rừng trồng cây thông tập trung thuộc rừng phòng hộ và đặc dụng để giảm nguồn vật kiệu cháy, giảm nguy cơ cháy rừng, UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT thực hiện đúng chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 2074/UBND-NLN2 ngày 24-3-2014; chủ động kiểm tra và đôn đốc, hướng dẫn các chủ rừng tăng cường công tác bảo vệ rừng và PCCCR, chủ động bố trí kinh phí để phát dọn thực bì giảm vật liệu cháy.
Các địa phương và các chủ rừng chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh khi để cháy rừng xảy ra nhất là đối với diện tích rừng thông. (Báo Quảng Ninh 31/12/2014) đầu trang(
Trong khi chờ các cơ quan chức năng làm thủ tục thu hồi, hơn 1.300ha rừng sinh thái ở xã Krông Na (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) do UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho Công ty Cao su Đắk Lắk quản lý, bảo vệ và kinh doanh du lịch tiếp tục bị tàn phá nghiêm trọng.
Nhận được tin báo của người dân, chiều 30/12, PV có mặt tại khu rừng sinh thái Bản Đôn. Trước cổng chính của khu du lịch sinh thái chừng 100m, rẽ phải vào con đường đất rồi gửi xe tại nhà một người dân và bộ hành vào rừng.
Qua khu vực chăn thả bò tập trung của người dân địa phương chừng 500m, dễ thấy một bãi gỗ lớn gồm cả chục cây căm xe (nhóm II), cà chít (nhóm IV) bị chặt hạ. Tiếp tục đi theo hướng lên đồi Tâm Linh trong rừng sinh thái, khung cảnh tan hoang ngày càng biểu hiện rõ hơn. Hàng chục cây gỗ quý có đường kính từ 0,4m - 1m lần lượt bị cưa hạ. Phần lớn các cây này đều được lâm tặc “cẩn thận” đo đạc, cưa xẻ ngay tại gốc thành các lóng gỗ tròn.
Theo người dẫn đường, tùy vào kích thước gỗ, khoảng cách, địa hình… lâm tặc sẽ sử dụng xe máy, xe cày độ chế và thuê voi kéo để đưa gỗ ra khỏi rừng. Khi gỗ đã tập kết ở bìa rừng, lâm tặc thường lợi dụng lúc chiều tối hoặc ban đêm để vận chuyển ra ngoài tiêu thụ hòng né tránh sự kiểm soát của các lực lượng chức năng.
Sau gần 3 tiếng lội rừng, đếm được hàng chục cây gỗ căm xe, cà chít, chiu liu (nhóm III) bị chặt hạ. Các vết cưa còn rất mới, hầu hết các gốc cây bị hạ chưa hề có bút lục của lực lượng tuần tra, bảo vệ rừng. Điều đáng nói là lâm tặc chủ yếu sử dụng các phương tiện cơ giới để cưa xẻ, vận chuyển gỗ.
Trong khi có rất nhiều cây các cây gỗ bị hạ nằm sát con đường lát đá xanh (đường đi lớn để phục vụ du lịch, quản lý và bảo vệ rừng), thậm chí nằm sát nhiều khu nhà trong khu du lịch sinh thái, chẳng hiểu vì sao mà chủ rừng và các cơ quan chức năng lại không biết?.
Theo ông Y Thông Niê Kdăm - Chủ tịch UBND xã Krông Na, Công ty CP Thương mại và Du lịch sinh thái Bản Đôn (do Công ty Cao su Đắk Lắk cổ phần hóa) hiện chỉ còn một số nhân viên trong khu du lịch để bảo vệ tài sản trên đất của mình.
Trong thời gian chờ các cơ quan chức năng thu hồi diện tích rừng của Công ty Cao su Đắk Lắk để giao cho đơn vị khác, các ngành chức năng của huyện Buôn Đôn đang phối hợp với lực lượng công an và dân quân tự vệ xã Krông Na tạm thời phục trách công tác quản lý, bảo vệ khu rừng này. (Tài Nguyên Môi Trường 31/12/2104) đầu trang(
Là một trong những tỉnh khô hạn nhất cả nước, do vậy cháy trong mùa khô luôn là mối đe dọa thường trực đối các cánh rừng tại Bình Thuận. Bước vào mùa khô năm 2014 - 2015, lực lượng chức năng đang tích cực thực hiện các giải pháp phòng, chống để hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.
Mùa khô năm 2013 - 2014, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy rừng, trong đó có 8 trường hợp cháy rừng trồng, 19 trường hợp cháy rừng tự nhiên. Tuy nhiên, đã phát hiện sớm và xử lý kịp thời lên đám cháy không lan rộng, không gây thiệt hại lớn, chủ yếu là cháy cỏ, lau lách, cây bụi không gây thiệt hại đến cây gỗ.
Trong đó, Hạt Kiểm lâm thành phố Phan Thiết đã khởi tố 1 trường hợp cháy rừng trồng với diện tích 15ha do Ban Quản lý rừng phòng hộ Phan Thiết quản lý. Bước vào mùa khô 2014 - 2015, xác định tình hình khô hạn có thể kéo dài, cháy rừng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, do đó ngay từ đầu năm UBND tỉnh ban hành phương án bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô.
Đồng thời, Chi cục Kiểm lâm có văn bản gửi các Hạt kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô theo chỉ đạo của Bộ NN&PTNT và UBND tỉnh. Bên cạnh đó, chi cục còn phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn (Công an tỉnh) tổ chức kiểm tra việc thực hiện các công trình PCCC rừng của các đơn vị ban quản lý rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên như việc cày băng cản lửa đối với rừng trồng; phát, đốt làm giảm vật liệu cháy, chăm sóc băng xanh của các đơn vị còn lại, thu gom vật liệu cháy...
Ngoài ra, các đơn vị còn phối hợp với các địa phương tổ chức tuyên truyền các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng cho 16 xã trọng điểm trên toàn tỉnh với trên 1.000 người tham gia. Phối hợp với các đơn vị khác tổ chức cho người dân sống trong rừng, ven rừng làm bản cam kết về bảo vệ rừng, PCCC rừng.
Tuy nhiên, trong công tác phòng, chống “giặc lửa” tại tỉnh cũng còn không ít khó khăn. Ngoài việc bất lợi về điều kiện tự nhiên và thời tiết, diện tích rừng có nguy cơ cháy cao tại tỉnh khá lớn. Bên cạnh đó, kinh phí đầu tư cho PCCCR hiện còn quá thấp. Do đó, việc chi trả công cho những người tham gia chữa cháy thấp.
Trong khi đó, ý thức của người dân về PCCCR chưa thật cao, vì vậy nhiều vụ cháy rừng có nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc người dân đi rừng vô tình để lại nguồn lửa dẫn đến nguy cơ cháy rừng hoặc đốt rẫy dẫn đến cháy lan sang rừng. Do đó ngoài việc thực hiện tốt các phương án phòng, chống thì việc tuyên truyền nâng cao ý thức tự bảo vệ rừng của người dân cũng cần phải được ưu tiên hàng đầu. (Báo Bình Thuận 31/12/2014) đầu trang(
Đối với một tỉnh vùng cao, còn nhiều khó khăn như Bắc Kạn thì tài nguyên rừng được coi là một tiềm năng, lợi thế rất lớn trong việc phát triển kinh tế. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay việc quản lý, bảo vệ rừng vẫn thường được coi là trách nhiệm riêng của lực lượng kiểm lâm mà chưa có sự hỗ trợ thực sự từ cộng đồng xã hội.
Khắc phục những bất hợp lý này, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh đã có những cố gắng trong việc tuyên truyền, huy động người dân cùng tham gia quản lý và bảo vệ rừng.
Từ bao đời nay, đồng bào dân tộc Dao ở thôn Nà Dạ, xã Xuân Lạc vẫn chủ yếu sinh sống dựa vào rừng. Đó có thể là phát nương, làm rẫy, thậm chí là chặt hạ những cây gỗ quý để bán cho những đầu nậu. Thế nhưng, 4 năm trở lại đây, khi khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập thì tình trạng phá rừng làm nương rẫy đã giảm đáng kể.
Trong đó, có một lý do quan trọng đó là người dân đã được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng. Ngoài ra, các gia đình ở đây cũng đã được hỗ trợ xây dựng chuồng trại, hướng dẫn kỹ thuật  để phát triển chăn nuôi, góp phần đưa đàn gia súc gia cầm của thôn ngày một phát triển.
Từ một hộ dân thuộc diện nghèo ở Bản Cuôn, xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn, nhưng  đến nay gia đình anh Nguyễn Thiệu Xuân đã và đang trở thành một trong những hộ khá giả trong thôn. Ít ruộng đất, không có nghề phụ nên dù cố gắng xoay sở làm lụng nhưng gia đình anh cũng chẳng đủ ăn.
Năm 2007, từ các chương trình hỗ trợ trồng rừng của nhà nước, anh và nhiều hộ dân khác trong thôn đã mạnh dạn nhận khoán, khoanh nuôi và trồng rừng. Với hơn 30 ha rừng được giao, gia đình anh Xuân đã trồng mới 22 ha rừng các loại. Trong đó, cây mỡ chiếm diện tích nhiều nhất với 13 ha. Sau hơn 7 năm, một số diện tích rừng trồng của gia đình anh đã bắt đầu cho khai thác. Nhờ sự chủ động về đầu ra của gỗ rừng trồng nên thu nhập của gia đình anh Xuân hiện nay rất ổn định.
Xã hội hoá công tác quản lý và bảo vệ rừng là giải pháp quan trọng hiện nay. Điều này đã thể hiện rất rõ ở huyện Chợ Đồn. Một kinh nghiệm quý của địa phương này chính là công tác tuyên truyền, vận động giúp người dân hiểu rõ lợi ích của việc bảo vệ rừng bằng cách gắn lợi ích trực tiếp của người dân với diện tích rừng được giao.
Đến nay, tổng diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện đã đạt hơn 12 nghìn ha và là địa phương có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh. Anh Khổng Văn Minh- Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Đồng Lạc huyện Chợ Đồn: Nhờ các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế rừng và các ngành kinh tế khác tại nông thôn nên tình trạng phá rừng đã giảm mạnh.
Mất rừng gắn với thiên tai, nghèo đói là 1 tất yếu. Khi đó, thiệt thòi trước tiên cũng sẽ thuộc về người dân, cộng đồng xã hội. Do vậy, việc quản lý rừng từ gốc, từng bước xã hội hoá công tác bảo vệ rừng như huyện Chợ Đồn đang làm là điều đáng ghi nhận. (Đài PTTH Bắc Kạn 1/1) đầu trang(
Công tác bảo vệ rừng hiện nay đang là một trong những nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp.
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, với diện tích rừng gần 570 ngàn ha, trải dài từ các huyện đồng bằng ven biển đến trung du miền núi và phần lớn thuộc 11 huyện miền núi của tỉnh. Các khu vực rừng tự nhiên còn giầu tài nguyên chủ yếu thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng giáp ranh liên tỉnh, vùng biên giới với nước bạn Lào.
Việc quản lý, bảo vệ nguyên vẹn diện tích rừng tự nhiên hiện có, cũng như phát triển vốn rừng trên địa bàn tỉnh, không chỉ là trách nhiệm của lực lượng Kiểm lâm mà trước hết thuộc về trách nhiệm của chủ rừng, của chính quyền các cấp, trong đó Kiểm lâm là lực lượng nòng cốt.
Nhận thức rõ điều đó, trong những năm qua, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu tích cực và có hiệu quả cho cấp ủy, chính quyền thực hiện tương đối toàn diện các biện pháp để bảo vệ rừng, mà một trong những biện pháp có tính quyết định đầu tiên là phải thay đổi căn bản nhận thức, trách nhiệm của chủ rừng, của chính quyền, của các ngành, các cấp về công tác bảo vệ rừng (BVR).
Đó chính là biện pháp đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội cùng vào cuộc để BVR. Muốn làm được điều đó, trước hết mọi cấp, mọi ngành, mọi người phải cùng thực hiện công tác dân vận trong bảo vệ tài nguyên cho quê hương đất nước và cũng chỉ qua công tác dân vận mới làm chuyển biến và thay đổi căn bản nhận thức, thay đổi hành vi của nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên các khu vực gần rừng.
Được sự quan tâm của Tỉnh ủy Thanh Hóa, mà trước hết là của Ban dân vận tỉnh ủy, các ban đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ), các ngành; năm 2014 Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với Ban Dân vận, ban Tuyên giáo, văn phòng Tỉnh ủy, MTTQ tỉnh, Đoàn Thanh niên tỉnh ký kết kế hoạch liên tịch số 01 về phối hợp chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR); trong đó nêu rõ các nội dung cần thực hiện; trách nhiệm của từng ban, ngành; qua 1 năm thực hiện, kết quả đạt được, thể hiện rõ trên một số mặt  như sau:
Ban Dân vận Tỉnh ủy và Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp chỉ đạo Ban Dân vận các huyện, thị, thành phố, các Hạt Kiểm lâm tham mưu cho huyện ủy có văn bản chỉ đạo đến các cấp, các ngành trên địa bàn; đồng thời Hạt Kiểm lâm tham mưu cho UBND huyện xây dựng kế hoạch tuyên truyền BVR, PTR, chuyển tải đến các ngành, chính quyền cấp xã. 27/27 huyện, thị, thành phố đã triển khai nghiêm túc Kế hoạch liên tịch số 01 đến các xã có rừng trên địa bàn tỉnh; thành lập 1.797 Tổ tuyên truyền, xây dựng 1.447 quy chế hoạt động của các Tổ tuyên truyền.
Trong đó, nội dung chủ yếu thực hiện trong năm 2014 là: Tổ chức tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ rừng, PCCCR; vận động nhân dân tham gia các hoạt động BVR, PCCCR, sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp, xây dựng mô hình trình diễn mô hình thâm canh rừng, tự nguyện liên gia liên kết trong BVR, PCCCR; vận động nhân dân không khai thác, phá rừng trái phép, không tiếp tay cho đối tượng khai thác rừng, buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép; không sử dụng súng săn, bẫy nỏ, cung tên săn bắt động vật rừng, không sử dụng lửa bừa bãi trong sản xuất nông lâm nghiệp, trong sinh hoạt để phòng ngừa cháy rừng; đặc biệt ở các huyện còn giầu tài nguyên, đẩy mạnh việc quản lý cưa xăng chống lợi dụng khai thác gỗ rừng tự nhiên trái phép.
Trong đó hình thức vận động chủ yếu là: Đối với các thôn bản, các xã, huyện còn giầu gỗ rừng tự nhiên, vận động chủ cưa xăng tự nguyện đưa cưa xăng về quản lý tập trung tại nhà trưởng thôn, bản; KLĐB phối hợp với các Tổ Dân vận tham mưu cho Chủ tịch UBND xã cấp Giấy chứng nhận sử dụng cưa cho chủ cưa; đối với các khu vực khác còn ít rừng tự nhiên hoặc gần rừng vận động chủ cưa xăng ký cam kết với chính quyền không sử dụng cưa, cho mượn, cho thuê cưa xăng để khai thác gỗ trái phép.
Kết quả đến nay, toàn tỉnh đã thống kê có 2.208 cưa xăng, trong đó ở 6 huyện trọng điểm gồm: huyện Như Xuân, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Sơn, Quan Hóa có 1.878 cưa; ở 47 xã trọng điểm của các huyện này có 1.415 cưa thì đã quản lý tập trung tại thôn bản được 1.369 cưa.
Ngoài ra, các Tổ dân vận đã tổ chức được 2.339 hội nghị thôn bản để tuyên truyền về BVR, PTR với 125.855 người tham gia; vận động xây dựng được 08 mô hình kinh tế lâm nghiệp ở các huyện Quan Sơn, Ngọc Lặc, Như Thanh, thành phố Thanh Hoá. Tổ chức tập huấn nâng cao kỹ năng cho đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên nòng cốt thành viên ban chỉ đạo ở cơ sở được 31 lớp/1.473 người tham gia.
Có thể nói việc thành lập các Tổ tuyên truyền ở thôn bản, đã khắc phục được cơ chế chỉ đạo trong tuyên truyền trước đây là việc phối hợp của cơ quan nào, ngành nào thì do cơ quan đó chịu trách nhiệm; hiện nay, hoạt động của các Tổ tuyên truyền gắn chặt với hoạt động của Tổ dân vận cơ sở, mọi hoạt động của cơ sở về công tác dân vận đều đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khối dân vận xã, Tổ dân vận thôn và thực tế các Tổ tuyên truyền đã thực sự vào cuộc, làm rõ được cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành;... (Kiểm Lâm Thanh Hóa 1/1) đầu trang(
Phải kết thân lắm với người A Rem ở vùng lõi của di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc xã Tân Trạch (Bố Trạch) thì họ mới dẫn đến một cánh rừng quý độc toàn gỗ huê (sưa) được trồng trên dưới chục năm. Mới hay rừng huê là tài sản quý giá nhất bản, không có sự cho phép của những già làng thì không ai được vào.
Năm 1956, lần đầu tiên phát hiện ra tộc người A Rem trong các hang đá Bồng Cù, Va, So Đũa… cheo leo lưng chừng núi đá vôi, lúc đó tộc người này chỉ vỏn vẹn có 18 nhân khẩu. Năm 1992, khi Bộ đội Biên phòng cùng cán bộ huyện Bố Trạch đi tìm, vận động người A Rem ra lập bản mới ven đường 20, dân số có tăng dần lên, tổng cộng 98 người.
Giống như tộc người Rục anh em ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, người A Rem những ngày đầu trong hành trình tái hòa nhập với cộng đồng, nguy cơ quay trở lại hang đá, nguy cơ tuyệt chủng luôn rình rập do đau ốm, bệnh tật đe dọa triền miên. Hơn lúc nào hết, hai dự án bảo tồn và phát triển dân tộc A Rem, bảo tồn và phát triển dân tộc Rục được UBND tỉnh Quảng Bình triển khai cấp thiết, trở thành "cứu cánh" để tộc người A Rem, tộc người Rục hồi sinh.
Chủ tịch UBND xã Tân Trạch Đinh Lầu cho biết: "Bà con mình chưa bao giờ rời xa núi rừng!". Chúng tôi hỏi: "Gần 60 năm, hết gần đời người rồi, thế hệ Đinh Lầu đưa con cháu ra bản định cư. Học được gì nhất?". Rổn rảng cười: "Học nhiều thứ chớ, ăn chín uống sôi này, đau ốm thì lên bệnh xá, không được cúng bái mê tín dị đoan, ít uống rượu say, hạn chế hút thuốc lá".
Rừng Phong Nha - Kẻ Bàng mênh mông, khi Vườn Phong Nha- Kẻ Bàng được công nhận Di sản thiên nhiên thế giới, bản của người A Rem nằm ngay trong vùng lõi di sản. Nếu đồng bào không yêu "thần rừng", dĩ nhiên vùng lõi theo thời gian sẽ bị rỗng ruột dần. Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng quyết định "nhờ" người A Rem giữ hộ 2.000 ha rừng. Một năm hỗ trợ đồng bào 200 triệu đồng quy ra gạo trắng, chia đều cho 75 hộ, 405 khẩu… Nhà nước vừa giữ được rừng, đồng bào vừa ấm cái bụng, trọn vẹn đôi đường.
Nhưng có một khu rừng người A Rem quyết giữ như giữ lấy cuộc sống chính mình. Họ bảo đó là rừng cây ân tình của cán bộ dưới xuôi trao cho. Cánh rừng quý độc toàn gỗ huê trồng trên dưới chục năm. Người lạ khó lòng vào rừng huê nếu không được phép từ những già làng A Rem trọng vọng.
Năm 2003, ông Nguyễn Hồng Thanh đang làm Bí thư Huyện ủy huyện Bố Trạch đã vận động bà con A Rem "xanh hóa" vùng đất vừa rời đi bằng cách trồng rừng. Ông Bí thư đem cho bản A Rem giống cây huê quý, từng gốc huê nhân rộng ra, rộng ra… thành cả rừng huê với diện tích 7 ha.
Ông Đinh Lầu, Chủ tịch UBND xã Tân Trạch nói: "49 hộ dân trong bản được giao giữ rừng huê. Ban quản lý và bảo vệ rừng của xã trực tiếp phân lô, đếm cây, chủ hộ đứng ra nhận, có biên bản, có điểm chỉ hẳn hoi. Rừng huê từ đây không chỉ tài sản chung của bản, mà còn là tài sản riêng từng hộ gia đình. Nhà nào làm mất, dù chỉ một gốc huê cũng bị phạt thật nặng".
Ông già Đinh Rầu dừng lại ở một gốc huê nhìn chăm chú rồi chỉ cho tôi thấy dòng chữ bằng mực đỏ ghi trên thân cây "Đinh Bin", ông bảo: "Đây là rừng thuộc gia đình thằng Đinh Bin!". Thì ra là vậy…! Sau khi trực tiếp nhận chăm sóc, bảo vệ rừng huê, mỗi một hộ dân A Rem đánh dấu khối tài sản quý của mình trên những thân cây dễ nhận biết nhất, tôi đã thấy những dòng tên bằng màu đỏ khắp rừng huê: Đinh Dinh, Đinh Lầu, Đinh Pin, Đinh Cất, Đinh Vinh…
Đợt bão số 10 trong năm 2013, nhiều gốc huê lớn của bản bị bão xô đổ, xót cái bụng lắm! Sau bão, xã huy động bà con vào cứu huê, gốc nào bị đổ thì dựng lại. Cũng may, cây như người, khó khăn mấy mà được chăm sóc chu đáo vẫn qua khỏi được - Đinh Lầu vừa nói vừa chỉ nhiều gốc huê bị bão phạt ngang. Mới hơn mười năm tuổi nhưng ròng (lõi) của cây đã tận sát ra ngoài vỏ.
Người A Rem giữ rừng huê, rừng cây ân tình của Bí thư Thanh (trước đây) là giữ lấy tương lai cả bản. Thế hệ con cháu A Rem nguyện trước linh hồn của Bí thư Thanh, của rừng huê hơn 10 năm tuổi lớn lên tiếp nhận trọng trách từ người già, sống thân thiện với thiên nhiên giữa vùng lõi Di sản Phong Nha- Kẻ Bàng mênh mông rừng đại ngàn.
Khi rừng huê còn nhỏ, dưới bàn tay chăm sóc bảo vệ của bàcon, cây mỗi ngày một lớn, chẳng ai nhòm ngó. Sau 11 năm rừng huê nay đã lớn. Cái lo của dân bản theo đó lớn dần, đã có không ít người lạ mặt lén lút vào rừng huê với cái bụng chẳng tốt đẹp gì. Đã đến lúc các ngành chức năng vào cuộc, sát cánh cùng đồng bào A Rem giữ lấy rừng huê. (Văn Hóa 2/1) đầu trang(
Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định, Việt Nam có khoảng hơn 13.862 nghìn ha rừng, trong đó có hơn 10.424 nghìn ha rừng tự nhiên. Chỉ tính từ năm 2007 đến 2013, đã có hơn 12.600 ha rừng bị chặt phá trái phép, trung bình mỗi năm gần 1.900 ha rừng bị chặt phá.
Nhận thức rõ sự tác động tiêu cực của tình trạng chặt phá rừng, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách, trong đó có cả chính sách hình sự góp phần quan trọng vào việc bảo vệ, duy trì và phát triển diện tích rừng nói riêng, bảo vệ môi trường nói chung để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Việt Nam là một trong những nước đã và đang xảy ra tình trạng chặt phá rừng, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép phức tạp cả về tính chất và mức độ thiệt hại. Trong nhiều năm gần đây, để đấu tranh với tội phạm xâm phạm tài nguyên rừng ngày càng có xu hướng gia tăng, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã tiến hành điều tra, truy tố xét xử hàng nghìn vụ án hình sự với hàng nghìn bị can, bị cáo.
Số liệu thống kê mới nhất của TAND Tối cao cho thấy, từ năm 2007 đến 2014, TAND các cấp đã đưa ra xét xử 2.299 vụ án hình sự với 4.568 bị cáo phạm tội xâm phạm tài nguyên rừng, trong đó có 2.501 bị cáo phạm tội vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng; 2.028 bị cáo phạm tội hủy hoại rừng và 39 bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về quản lý rừng. Số liệu trên cho thấy, tội phạm xâm phạm tài nguyên rừng chủ yếu là tội phạm vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng và tội phạm hủy hoại rừng.
Qua phân tích các vụ án thấy rằng, bên cạnh các hành vi phạm tội mang tính chất đơn lẻ, đã xuất hiện nhiều trường hợp phạm tội có tổ chức, đặc biệt là các tội phá rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép. Nhưng trên thực tế, số lượng vụ án hình sự có tổ chức nêu trên chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong số 2.299 vụ án hình sự đã đưa ra xét xử. Cụ thể, năm 2013, có hơn 27.200 đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng nhưng chỉ 117 đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, số đối tượng còn lại chỉ bị xử phạt hành chính.
Một trong những nguyên nhân chính là việc bắt giữ để điều tra, truy tố những đối tượng chủ mưu, cầm đầu hết sức khó khăn vì những đối tượng này không bị tố giác hoặc có nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nên đã che giấu được hành vi phạm tội của mình.
Điều đáng nói nữa là số lượng các vụ án hình sự đã được điều tra, truy tố và đưa ra xét xử chưa phản ánh hết được thực trạng phá rừng, khai thác rừng, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép. Bởi theo quy định của Bộ luật Hình sự thì người vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng chỉ bị xử lý hình sự nếu hành vi của họ gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà vẫn còn vi phạm. Do đó mặc dù hàng năm, số đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng rất lớn nhưng chủ yếu chỉ bị xử lý hành chính.
Đây là một thực tế đáng lo ngại trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm về tài nguyên rừng, vì nguy cơ “hành chính hóa” các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng sẽ khiến các đối tượng phạm tội có biểu hiện coi thường pháp luật.
Thẩm phán Lê Văn Minh, Viện trưởng Viện Khoa học xét xử (TAND Tối cao) cho biết, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định tội phạm xâm tài nguyên rừng thành ba loại tội phạm khác nhau: tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Điều 175); tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176) và tội hủy hoại rừng (Điều 189).
Theo ba điều luật trên thì bất kể người giữ chức vụ, quyền hạn hay người dân có hành vi gây hậu quả nghiêm trọng đã bị xử lý kỷ luật, hoặc xử phạt hành chính về các hành vi: khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng; vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép; giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật; cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật; cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khai thác hủy hoại rừng; chặt phá các loại cây thực vật quý hiếm thuộc danh mục quy định của Chính phủ mà còn vi phạm thì bị coi là tội phạm xâm phạm tài nguyên rừng.
Các điều luật của Bộ luật Hình sự cũng phân biệt thành hai loại đối tượng: đối tượng phạm tội mang tính chất đơn lẻ và đối tượng phạm tội có tổ chức. Về hình phạt, Bộ luật Hình sự quy định ba loại hình phạt được áp dụng theo từng hành vi vi phạm là: phạt tiền; cải tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn. Mức phạt tiền cao nhất tới 100 triệu đồng. Đối với hình phạt tù có thời hạn cao nhất là 15 năm tù.
Theo Thẩm phán Lê Văn Minh, dù các quy định của pháp luật đối với các loại tội phạm xâm hại rừng đã rất rõ ràng, nhưng thời gian qua, việc áp dụng để xử lý loại tội phạm này dường như vẫn chưa quyết liệt dẫn tới hiệu quả chưa cao.
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh với loại tội phạm hủy hoại rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, thiết nghĩ các cơ quan bảo vệ pháp luật cần có nhiều giải pháp đồng bộ, từ hoàn thiện pháp luật, thể chế quản lý đến tăng cường năng lực thực thi pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng, cũng như tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này để ngăn chặn và xử lý có hiệu quả mọi hành vi phạm tội liên quan đến bảo vệ tài nguyên rừng. (Công An Nhân Dân 3/1) đầu trang(
Tại tiểu khu 21, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, thuộc địa bàn huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vừa xảy ra vụ dùng dao rựa chém lực lượng kiểm lâm Vườn gây thương tích.
Thậm chí, trên đường đưa về công an xã làm việc, đối tượng còn bất ngờ bẻ vô lăng khiến xe ô tô lao vào cột mốc bên đường, rất may không xảy ra tai nạn. Vụ việc này tiếp tục gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là đối với lực lượng kiểm lâm.
Tại hiện trường vụ “chống người thi hành công vụ” xảy ra tại thôn Đăk Côn, xã Bù Gia Mập. Trong lúc tổ công tác của Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Bù Gia Mập phối hợp cùng các hộ nhận khoán bảo vệ rừng tổ chức tuần tra bảo vệ rừng tại tiểu khu 21, giáp ranh với tiểu khu 34, thuộc Nông lâm trường Đăk Mai thì phát hiện 2 đối tượng đi xe mô tô, mang theo 2 cá thể gà. Khi tổ công tác yêu cầu cho kiểm tra giấy tờ thì hai đối tượng này không chấp hành và dùng rựa chém lại lực lượng kiểm lâm gây thương tích.
Anh Lê Xuân Long – Trạm kiểm lâm số 1, Vườn quốc gia Bù Gia Mập thuật lại: Phạm vi quá gần nên đỡ trúng cán rựa, khống chế không để đối tượng xảy ra tình huống nặng hơn, nghiêm trọng hơn.
Anh Điểu Hân – Trạm kiểm lâm số 3, Vườn quốc gia Bù Gia Mập cũng cho biết: Lúc đó tôi cách đồng chí Long khoảng một mét, đối tượng dùng dao rựa rất hung hãn, chém từ trên xuống.
Sau khi khống chế, bắt giữ được đối tượng, thu giữ tang vật gồm 1 con rựa và 2 cá thể gà, tổ công tác sử dụng xe ô tô bán tải dẫn giải đối tượng về Công an xã để xử lý. Tuy nhiên, trên đường dẫn giải, đối tượng bất ngờ giật vô lăng bẻ lái làm xe ô tô lao vào cột mốc bên đường hư hỏng nặng phần đầu.
Đối tượng liều lĩnh chống lại những người làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng là Trần Văn Vàng, trú xã Đăk Ơ, huyện Bù Gia Mập. Tổ công tác đã bàn giao đối tượng cho công an huyện Bù Gia Mập xử lý theo thẩm quyền.
Thiếu tá Nguyễn Văn Tuyển – Đội trưởng Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Bù Gia Mập cho hay: Ban đầu các đối tượng này không có khai nhận hành vi phạm tội của mình, ngoan cố không khai báo để tập trung đấu tranh làm rõ.
Vườn Quốc gia Bù Gia Mập có diện tích khoảng 26.000ha nằm trên địa bàn hai xã Đăk Ơ và Bù Gia Mập, là khu vực rừng có trữ lượng động – thực vật lớn duy nhất còn lại của tỉnh Bình Phước. Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm Vườn quốc gia luôn phải đối mặt với nhiều gian khổ, hiểm nguy.
Anh Lê Công Sự - Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia BGM chia sẻ: Về tư tưởng anh em xác định từ đầu vào làm vì yêu ngành, yêu nghề động viên để anh em an tâm tư tưởng.
Từ thực tế trên, việc nghiêm trị những kẻ chống lại lực lượng kiểm lâm nói riêng và chống lại người thi hành công vụ nói chung để giữ nghiêm kỷ cương phép nước và răn đe, phòng ngừa là hết sức cần thiết nhằm tránh tái diễn những vụ việc tương tự. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 3/1) đầu trang(
Năm 2014, toàn tỉnh xảy ra 334 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tăng 31 vụ so với năm 2013.
Trong đó: Vận chuyển lâm sản trái phép 141 vụ; khai thác lâm sản trái phép 25 vụ; mua bán, chế biến, cất giấu lâm sản 72 vụ; vi phạm thủ tục hành chính trong mua bán, vận chuyển lâm sản 55 vụ; 10 vụ vi phạm quy định về bảo vệ động vật rừng; 14 vụ cháy rừng;  phá, lấn chiếm rừng 11 vụ và 6 vụ vi phạm quy định chung về bảo vệ rừng.
Diện tích rừng bị thiệt hại trong năm là  42,575 ha, trong đó: 2,29 ha rừng (rừng tự nhiên) bị chặt phá và  40,6 ha rừng bị cháy. Hiện, trên địa bàn tỉnh diện tích có rừng là 344.304 ha. Trong đó, rừng tự nhiên là 259.540ha và rừng trồng là 84.764 ha, tỷ lệ che phủ đạt 52,1%. (Báo Lào Cai 4/1) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Nhiều người dân vào những khu vực rừng sâu trên địa bàn huyện Ea Súp để khai thác hoa lan đem bán. (Nhân Dân 5/1, tr7) đầu trang(
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an tỉnh Tây Ninh bắt giữ xe ôtô khách chở hơn 300 khúc gỗ trắc có nguồn gốc nhập lậu từ Campuchia vào Việt Nam.
Chiếc xe ôtô mang biển số 70B1 – 005.31 do tài xế Phùng Tất Phúc (sinh năm 1977 ngụ ấp Hiệp Định, xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành) điều khiển đi cùng chủ xe tên Võ Văn Leo (sinh năm 1976 ngụ ấp Thành Tây, xã Thành Long, huyện Châu Thành) chở 331 khúc gỗ trắc được cất giấu bên dưới các băng ghế ngồi trong xe khách và nguỵ trang bằng một lớp thảm trên bề mặt gỗ. Khi đi qua địa bàn xã Tân Đông, huyện Tân Châu thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ.
Qua kiểm tra, tài xế và chủ xe đã không xuất trình được giấy tờ hợp lệ. Tại cơ quan điều tra, tài xế Phúc cho biết, có người thuê vận chuyển số gỗ trên để đưa về thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ
Cơ quan điều tra đang tạm giữ toàn bộ số gỗ và phương tiện vận chuyển để xử lý theo quy định. (Báo Tây Ninh 31/12/2014; Công An Nhân Dân 1/1) đầu trang(
Nhặt được vật thể, nghi hàm răng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cho biết, cơ quan này đang tiến hành xác minh và đề nghị nghiên cứu vật thể lạ được nghi là hàm răng voi ma mút đã hóa thạch. Tuy nhiên, chưa có cơ quan chuyên môn nào khẳng định hay bác bỏ giả thiết này.
Vật thể lạ nêu trên được ông Võ Sáu, trú ở thôn Tân Thành, xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa tình cờ nhặt được hơn một tháng qua. Đó là một khối đá có trọng lượng hơn 1kg, dài gần 15cm, kết cấu nhiều phiến nhỏ gắn kết vào nhau như hình tháp. Ông Sáu cho biết, đã có người đến hỏi mua gần 200 triệu đồng nhưng ông không bán. (Công An Nhân Dân 2/1, tr1) đầu trang(
Là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn nhất TP Hà Nội, những năm qua, công tác bảo vệ và phát triển kinh tế rừng luôn được thị xã Sơn Tây quan tâm và coi là nhiệm vụ chính trị - xã hội quan trọng.
Sơn Tây có tổng cộng 663,2ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 4,8ha, còn lại là rừng trồng. Rừng có tại 9/15 xã, phường, trong đó Sơn Đông là xã có tỷ lệ rừng che phủ lớn nhất với khoảng 200ha. Công tác phát triển rừng luôn được UBND thị xã quan tâm, nên diện tích rừng tự nhiên không giảm đi, trong khi diện tích rừng trồng liên tục tăng qua các năm.
Dù vậy, ở khía cạnh kinh tế đang là bài toán khó không chỉ với riêng thị xã Sơn Tây, mà còn ở nhiều địa phương có rừng khác trên địa bàn TP như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức...
Ông Nguyễn Long Giang - Chủ tịch UBND xã Sơn Đông cho biết, là địa phương có diện tích rừng tương đối lớn nhưng phần quản lý của các hộ nông dân lại ít, phân tán, xen kẽ giữa các khu dân cư. Hơn nữa, việc đầu tư của các hộ vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước nên việc phát triển rừng sản xuất chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong đợi. Thực tế cho thấy, hiện trên địa bàn thị xã Sơn Tây, giá trị kinh tế từ rừng sản xuất chỉ khoảng 2 - 3 triệu đồng/ha/năm.
Trưởng phòng Kinh tế thị xã Sơn Tây Phùng Huy Vinh cho rằng, việc chưa có những chế độ, chính sách, mức hỗ trợ cụ thể, rõ ràng cho các hộ gia đình và chủ nhận giao khoán rừng (như phí bảo vệ rừng, tiền hỗ trợ tham gia công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) rừng…) chính là nguyên nhân khiến người dân chưa thực sự mặn mà với rừng. Do đó, để rừng sản xuất có thể trở thành một hướng thoát nghèo, nhất là cho người dân vùng đồi, gò, rất cần sự quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn từ các cấp, ban, ngành của TP.
Theo thống kê của Sở NN&PTNT Hà Nội, năm 2013 và 11 tháng năm 2014, trên địa bàn thị xã Sơn Tây đã xảy ra 3 vụ cháy rừng gây thiệt hại gần 3ha rừng trồng, làm ảnh hưởng trực tiếp tới kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái, cảnh quan du lịch và thu nhập của người trồng rừng. Chính vì vậy, công tác bảo vệ, trọng tâm là PCCC rừng luôn được các cấp, ban, ngành chức năng của thị xã đặc biệt quan tâm.
Theo ông Vinh, Sơn Tây đã xây dựng kế hoạch phát triển rừng đến năm 2015, giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, sẽ trồng mới 30.000 cây phân tán, chuyển đổi 100ha rừng keo, bạch đàn hiệu quả thấp sang rừng sinh thái, xây dựng vườn ươm với 200.000 - 300.000 cây/năm, mục tiêu là nâng độ che phủ rừng lên 7% vào năm 2020.
Để chủ động trong công tác PCCC rừng, thị xã đã và đang tiến hành xây dựng 10km đường băng trắng cản lửa, 10km đường lâm nghiệp, 15 biển nội quy bảo vệ rừng và 10 bảng cấp dự báo cháy rừng, đồng thời bảo dưỡng, sửa chữa 2 chòi canh lửa và một đập chứa nước… Cùng với phát triển kinh tế từ rừng, công tác PCCC rừng luôn được Sơn Tây xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng năm.
Ông Đặng Vũ Nhật Thăng - Chủ tịch UBND thị xã Sơn Tây cho rằng, ngoài việc nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về PCCC rừng tới mọi tầng lớp Nhân dân; chuẩn bị sẵn sàng mọi nguồn lực để thực hiện tốt công tác PCCC rừng theo phương châm “4 tại chỗ”…
Bên cạnh đó, lãnh đạo thị xã mong muốn TP tiếp tục quan tâm, hỗ trợ kinh phí để Sơn Tây thực hiện chuyển đổi, giao khoán rừng, xây dựng - cải tạo các công trình lâm sinh, phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn thị xã. (Kinh Tế & Đô Thị 5/1, tr14) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau khi sắp xếp lại các Cty lâm nghiệp tại Cà Mau thành Cty TNHH MTV U Minh Hạ, những cánh rừng U Minh Hạ thêm xanh. Các loại phí, khoản đóng góp phi lý không còn, thay vào đó là những phương cách làm ăn mới. Một chiến lược phát triển bền vững đất rừng U Minh Hạ được xây dựng, hứa hẹn đem đến cuộc sống mới trên mảnh đất U Minh.
Thực hiện Nghị quyết 28 – NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh và Nghị định 200/2004/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh, Cà Mau đã mạnh dạn thay đổi hình thức quản lý, phát triển rừng.
Năm 2010, UBND tỉnh Cà Mau chính thức thành lập CTy TNHH MTV U Minh Hạ (Cty Lâm nghiệp) trên cơ sở sáp nhập 5 Cty lâm nghiệp là: Cty lâm nghiệp U Minh I, Cty Lâm nghiệp U Minh II, Cty Lâm nghiệp 30/3, Cty Lâm nghiệp Sông Trẹm và Cty Lâm nghiệp Trần Văn Thời.
Ngày đầu đi vào hoạt động, Cty Lâm nghiệp gặp không ít khó khăn, nhất là các phương án liên doanh liên kết, giao khoán đất rừng của các Cty cũ khác nhau, thậm chí chồng chéo, gây không ít phiền hà cho người dân. Tái cơ cấu bộ máy làm việc là nhiệm vụ hàng đầu của Cty Lâm nghiệp, từ chỗ bộ máy cồng kềnh với 145 người, lãnh đạo Cty Lâm nghiệp quyết định tinh gọn lại còn 80 người.
Cty cũng đưa ra nhiều phương án sản xuất, theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất, đảm bảo ổn đình đời sống cán bộ, công nhân viên; rà soát lại các khoán phí bất hợp lý để đi đến giảm từ 7 loại phí xuống còn 3 loại, tạo sự đồng thuận đối với người dân nhận khoán.
Sau 4 năm chính thức bắt tay vào hoạt động, Cty Lâm nghiệp đã trồng trên 6.500ha rừng với tổng vốn đầu tư trên 56 tỉ đồng. Từ chỗ nợ lương, bảo hiểm, doanh thu của Cty không ngừng tăng lên hàng năm. Năm 2012 doanh thu 51 tỉ đồng, nộp ngân sách 2,2 tỉ đồng; năm 2013 doanh thu 66 tỉ đồng, nộp ngân sách 3.5 tỉ đồng; năm 2014 doanh thu lên đến 140 tỉ đồng, nộp ngân sách gần 9 tỉ đồng.
Để có kết quả khá ấn tượng này, lãnh đạo Cty Lâm nghiệp bàn nhiều phương cách xoay xở trong điều kiện khó. Ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Cty Lâm nghiệp nhớ lại: “Tôi và mấy anh em đi mua máy cuốc, máy ủi về để kê liếp trồng rừng, nhiều người cho rằng tôi tham. Nhưng Cty quản lý đất nhiều, nếu đi thuê máy ủi, xe cuốc người ta chiếm mất phần lời này rồi. Mình mua về tự làm cho mình, sau khi làm xong thì làm thuê cho người khác nữa”. Cách làm này đã tiết kiệm một số tiền lớn cho Cty và còn tạo thêm thu nhập cho người lao động. Bởi vậy thu nhập trung bình của anh em công nhân từ 2,5 triệu đồng/người/tháng năm 2010 nay đã tăng lên 7 triệu đồng.
Theo ông Hiếu, đất rừng hiện nay không còn trống. Trồng mãi rồi cũng hết đất, Cty đang tính đến chuyện trồng rừng thâm canh nâng suất cao. Muốn vậy phải thay đổi từ bộ giống sao cho rút ngắn thời gian thu hoạch mà chất lượng, năng suất cao. Ông Hiếu ví von: “Trồng rừng cũng như trồng cây ăn quả vậy. Cùng một diện tích mà trồng thâm canh, chất lượng cao, rút ngắn chu kỳ thì chắc chắn lợi nhuận sẽ tăng cao”.
Đột phá trong khâu chọn giống, chủ yếu keo lai, được Cty ưu tiên hàng đầu đã đem lại hiệu quả với doanh thu trên 150 triệu đồng/ha. Hiện tại Cty đang quản lý trên 25.000ha đất trồng rừng, mỗi hécta cho doanh như trên thì giấc mơ nghìn tỉ 5 năm tới chắc chắn sẽ không còn là chuyện xa vời. (Lao Động 5/1) đầu trang(
Đó là một trong những nội dung chỉ đạo chính của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát tại Hội nghị Tổng kết năm 2014 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2015 của Tổng cục Lâm nghiệp chiều 31/12....
Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp, năm 2014 các chỉ tiêu của ngành lâm nghiệp đều đạt cao hơn so với năm ngoái, với giá trị sản xuất toàn ngành đạt 24.000 tỷ đồng. Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 7,09%; kim ngạch xuất khẩu lâm sản, kể cả lâm sản ngoài gỗ đạt trên 6,3 tỷ USD, tăng 14% so với năm ngoái; độ che phủ của rừng năm 2014 ước đạt 41,5%. Cụ thể, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, toàn ngành đã trồng được gần 220.000 ha rừng tập trung, đạt 105% kế hoạch năm; hoàn thành kế hoạch trồng cây phân tán với gần 60 triệu cây và khoanh nuôi tái sinh rừng đạt 379.000 ha….
Kết quả nổi bật trong năm là triển khai tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp đã trình Bộ ban hành kế hoạch hành động, qua đó, tạo sự chuyển biến lớn trên thực tiễn triển khai thông qua việc sử dụng giống cây lâm nghiệp có chất lượng cao, đề xuất được phương án giảm tỷ trọng dăm gỗ xuất khẩu; chuyển đổi sang trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn, đóng góp quan trọng vào giá trị xuất khẩu lâm sản và mang lại giá trị cao cho người trồng rừng...
Phát biểu tại Hội nghị tổng kết, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn cho biết, trong năm 2015 toàn ngành lâm nghiệp trọng tâm tập trung thực hiện đồng bộ 4 chương trình phục vụ tái cơ cấu. Cụ thể là nâng cao năng suất giá trị của rừng trồng và rừng sản xuất. Kiên quyết và sẽ kiểm soát chặt chẽ những hành vi vi phạm đối với rừng tự nhiên. Thứ hai là gắn với việc xây dựng những mô hình có giá trị cao để chuyển rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn cùng với liên kết theo chuỗi để tạo ra những cánh rừng lớn, có chất lượng cao hơn nâng cao năng suất và thu nhập của những người trồng rừng....
Bên cạnh những kết quả rất đáng được ghi nhận, trong năm 2014 ngành lâm nghiệp vẫn còn đó những tồn tại, bất cập. Đặc biệt là tình trạng phá rừng tại Tây Nguyên vẫn còn rất nhức nhối và chưa có giải pháo xử lí triệt để. Kim ngạch xuất khẩu ngành lâm nghiệp vẫn chủ yếu là gỗ, ván dăm từ đó chỉ ra ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản của Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát đánh giá cao những kết quả đạt được của ngành lâm nghiệp trong năm vừa qua và hoan nghênh sự tiên phong của Tổng cụ Lâm nghiệp trong việc thực hiện Đề án tái cơ cấu. Tuy nhiên, Bộ trưởng Cao Đức Phát lưu ý tái cơ cấu ở đây không phải là mốt là phong trào mà nó phải có mục tiêu, giải pháp, lộ trình cụ thể.
“Tái cơ cấu không chỉ là việc tỉ lệ che phủ rừng, những con số tỷ đô về xuất khẩu gỗ dăm… Tôi có cảm tưởng chúng ta từ xưa đến nay coi rừng như một ngành hạ tầng. Tại sao lại không coi rừng là một ngành kinh tế xã hội mũi nhọn không chỉ làm giàu cho cán bộ trong ngành lâm nghiệp của chúng ta mà còn làm giàu cho những người dân sống cạnh rừng và dựa vào rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc tại vùng sâu, vùng xa. Một đồng sinh ra từ rừng tại khu vực miền núi nó quý giá bằng 10 đồng sinh ra ở đô thị.” Bộ trưởng Cao Đức Phát nhấn mạnh.
Để trong năm 2015 Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đạt kết quả cao nhất, Bộ trưởng Cao Đức Phát đề nghị là ngành lâm nghiệp cần phải thay đổi lại tư duy, cách làm, cách tiếp cận, đặc biệt là công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao để xóa bỏ sự độc canh của cây keo lai và bạch đàn thống trị ngành lâm nghiệp của Việt Nam trong thời gian quá lâu rồi.
Trong đó, cần hạn chế tư duy lệ thuộc vào chương trình, dự án, đề án bởi cách làm đó không thể giúp người dân giàu lên từ rừng. Bộ trưởng cũng lưu ý, hiện nước ta có tới 14 triệu ha rừng, song diện tích do người dân sở hữu và quản lí còn rất ít, phần lớn là vẫn thuộc các DN và nông lâm trường quốc doanh. Vì vậy, trong Đề án tái cơ cấu của ngành lâm nghiệp cần phải quản lí và xử lí tốt việc chuyển giao, quản lí diện tích đất đai rộng lớn này, kiên quyết không để xảy ra tình trạng lãng phí đất rừng.... (Nông Nghiệp VN 31/12/2014) đầu trang(
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam cho biết, năm 2014, ngành gỗ đạt tổng kim ngạch xuất khẩu 4,2 tỷ USD, nếu kể cả lâm sản ngoài gỗ (mây, tre trúc) thì toàn ngành thu về 6,5 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2013.
Các thị trường xuất khẩu chính đều có mức tăng trưởng tốt như Hoa Kỳ 14,17%, Nhật Bản tăng 19,47%, ngoại trừ thị trường Trung Quốc giảm 9,37%.
Tuy nhiên, việc giảm của thị trường Trung Quốc không đáng ngại mà ngược lại còn là thông tin tốt bởi xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc chủ yếu là xuất thô. Hiện nay Nhà nước có chủ trương hạn chế xuất khẩu thô nên các doanh nghiệp trong ngành đang phải tìm sản phẩm mới để xuất khẩu.
Với quy mô thị trường đồ gỗ thế giới đang ở mức 300 tỷ USD/năm, ông Quyền cho rằng, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở mức khiêm tốn. Khi Việt Nam chuẩn bị ký kết hàng loạt những hiệp định thương mại tự do trong năm 2015 với các đối tác như EU, các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương thì xuất khẩu gỗ của Việt Nam kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh về kim ngạch. “Năm 2015, xuất khẩu gỗ sẽ càng tăng mạnh và sẽ cán đích 7 tỷ USD”, ông Quyền cho hay.
Riêng về thị trường, Nga được đánh giá là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu gỗ khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Hải quan (Nga, Belarus, Kazakhstan) chính thức được ký kết. Thêm vào đó, từ năm 2013, Bộ Công Thương và Chính phủ khuyến khích đưa 3 ngành hàng là gỗ, thủy sản và may mặc vào thị trường Nga.
Tuy nhiên, chính sách của Nga đối với ngành hàng gỗ còn nhiều vướng mắc. Ví dụ, gỗ nguyên liệu tại Nga chủ yếu là nguồn gỗ từ Trung Đông, Siberia nhưng vùng này rất khó khăn về giao thông, thời tiết và lao động.
“Vùng này của Nga rộng mênh mông nhưng lao động chưa đến 1 triệu người. Do vậy, muốn xuất khẩu đồ gỗ vào Nga, Nhà nước phải “thỏa thuận” với thị trường Nga để giảm bớt khó khăn về nguyên liệu, lao động, thủ tục hải quan và thuế…”, ông Quyền nói. (Hải Quan 5/1) đầu trang(
Xã Đạ Sar của huyện Lạc Dương là một trong những trọng điểm phá rừng ở tỉnh Lâm Đồng. Trên địa bàn xã Đạ Sar, có đến vài chục doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng đến thuê đất rừng để kinh doanh nông - lâm nghiệp.
Hàng ngàn hécta rừng trên địa bàn xã Đạ Sar đã được huyện Lạc Dương và tỉnh Lâm Đồng cho các doanh nghiệp này thuê. Hằng năm, ở cấp huyện, Lạc Dương cũng như các địa phương khác, cả năm chỉ có một lần tổ chức một hội nghị tổng kết công tác quản lý rừng và phòng, chống cháy rừng.
Mới đây, UBND huyện Lạc Dương đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng năm 2014 tại thị trấn Lạc Dương với sự tham gia đầy đủ của lãnh đạo huyện, lãnh đạo các phòng ban liên quan, lãnh đạo chính quyền và đại diện một số doanh nghiệp thuê đất thuê rừng để kinh doanh.
Điều “lạ” rất đáng quan tâm ở đây là: Đại diện UBND xã Đạ Sar cùng 23 doanh nghiệp thuê đất thuê rừng trên địa bàn xã Đạ Sar đã vắng mặt, khiến cho nhiều đại biểu tham dự hội nghị... ngỡ ngàng.
Trước việc vắng mặt khá “khó hiểu” nói trên, UBND huyện Lạc Dương đã nghiêm khắc phê bình UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp và nhấn mạnh: “Trong thời gian tới, khi để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên diện tích quản lý, UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước UBND huyện Lạc Dương”.
Việc “phải chịu trách nhiệm” này là không sai; nhưng đâu phải đợi đến khi xảy ra “sự vắng mặt khó hiểu” này và đâu chỉ là “trong thời gian tới” thì UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp mới chịu trách nhiệm trước UBND huyện Lạc Dương? Vậy nên, yêu cầu mà UBND huyện Lạc Dương đưa ra sau đó là “UBND xã Đạ Sar và 23 doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng nêu trên nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm” xem ra chỉ là mệnh lệnh... suông. (Lao Động 2/1) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã đạt được nhiều kết quả, góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Qua đó khẳng định, đây là một chính sách đúng, phù hợp với thực tiễn, nhận được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng xã hội...
Hiệu quả lớn từ chính sách đúng Sau hơn ba năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã tạo ra một nguồn lực tài chính mới, ổn định, bền vững phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng và góp phần nâng cao đời sống người dân làm nghề rừng. Mức thu nhập bình quân hằng năm của các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng của cả nước đạt 1,8 triệu đồng/hộ/năm.
Tại một số địa phương, đơn giá chi trả tiền dịch vụ hằng năm đạt cao, như tỉnh Lâm Đồng mức thu nhập bình quân của hộ gia đình nhận khoán trên địa bàn là hơn tám triệu đồng/hộ/năm, Bình Phước là 7,2 triệu đồng/hộ/năm, Kon Tum là hơn 5,7 triệu đồng/hộ/năm...
Cùng với đó, nguồn tiền thu được từ dịch vụ này còn góp phần giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp, giúp các doanh nghiệp lâm nghiệp khôi phục sản xuất, thoát khỏi nguy cơ bị giải thể, phá sản trong bối cảnh nhà nước có chủ trương hạn chế, tiến tới chấm dứt khai thác gỗ từ rừng tự nhiên. Điều quan trọng, nhờ có chính sách này, công tác bảo vệ rừng tại một số địa phương đã ngày càng nâng cao hiệu quả.
Trao đổi ý kiến về vấn đề này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu Lê Trọng Quảng cho biết, tại tỉnh Lai Châu, công tác bảo vệ và phát triển rừng đã tiến bộ đáng kể, số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy giảm rõ rệt, các vụ vi phạm cũng giảm nhiều. Hiện nay, tại một số thôn, bản của tỉnh đã xây dựng được hương ước, quy ước để nhân dân thực hiện, chấp hành.
Nhờ được hỗ trợ kinh phí, các hoạt động tuần tra bảo vệ rừng được thực hiện thường xuyên, hiệu quả hơn, nhất là ở cấp xã, bản, nơi sử dụng số tiền từ DVMTR để chi trả cho tổ, đội xung kích tuần tra rừng. Nhờ có chính sách này, diện tích che phủ rừng của tỉnh Lai Châu đã tăng từ 41,6% năm 2011 lên 43,82% năm 2013, chất lượng rừng cũng ngày một nâng lên.
Với chính sách "lấy rừng nuôi rừng" không bằng giá trị trực tiếp của cây gỗ mà bằng giá trị gián tiếp của môi trường rừng thông qua sự hỗ trợ từ DVMTR, tỉnh Lâm Đồng đã tạo ra một nguồn tài chính bền vững cho các chủ rừng, giúp người dân yên tâm chăm sóc rừng, từ đó góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Tại Gia Lai, hiện đã có hàng nghìn chủ rừng được hưởng lợi từ chính sách này, góp phần làm giảm số vụ việc vi phạm về rừng. Thông qua chính sách, công tác quản lý rừng ngày càng có hiệu quả, diện tích khoán quản lý, bảo vệ rừng của các chủ rừng là tổ chức nhà nước được tăng cường.
Là một tỉnh miền núi phía bắc, Sơn La trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về công tác chi trả DVMTR, với mức thu trong ba năm đạt hơn 267 tỷ đồng, góp phần cải thiện đời sống người dân, nâng cao nhận thức bảo vệ rừng cho cộng đồng, nhất là tại các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Nâng cao trách nhiệm của các đối tượng sử dụng dịch vụ Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, hiện trong số 36 tỉnh, thành phố lập quỹ để thực hiện chi trả DVMTR mới có 28 tỉnh đã thu tiền DVMTR đối với ba đối tượng sử dụng dịch vụ là thủy điện, nước sạch và du lịch, các đối tượng khác vẫn chưa thu được.
Bên cạnh đó, quỹ của các tỉnh chủ yếu tập trung vào các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Duyên hải miền trung, do những nơi này tập trung các nhà máy thủy điện ở các lưu vực sông lớn. Hiện còn nhiều đơn vị sử dụng dịch vụ nhận thức chưa đầy đủ, chưa làm tốt trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ như Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, Thủy điện Thác Mơ...
Các nhà máy thủy điện công suất vừa và nhỏ, công suất dưới 30MW thuộc lưu vực nội tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Đác Lắc, Gia Lai... đã đưa ra nhiều lý do để thoái thác việc ký kết hợp đồng, trì hoãn chi trả tiền dịch vụ. Bên cạnh đó, dù đã thu được tiền nhưng một số địa phương vẫn chậm chễ trong việc chuyển tiền DVMTR đến các đối tượng được nhận tiền cung ứng dịch vụ. Đã hơn ba năm Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đi vào hoạt động, song đến nay vẫn còn một số tỉnh giải ngân thấp, thậm chí có tỉnh chưa chuyển tiền đến các chủ rừng, như Phú Thọ, Bắc Cạn, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên...
Bên cạnh đó, tại một số địa phương như Thanh Hóa, Nghệ An, Đác Nông... mức chi trả bình quân còn đạt thấp và có sự chênh lệch lớn giữa các lưu vực của từng nhà máy thủy điện. Mặt khác, chưa có cơ chế phân bổ tiền cho cộng đồng, do vậy một số nơi người dân chưa nhận thức được lợi ích rõ ràng của chính sách, dẫn đến việc hưởng ứng, tham gia bảo vệ rừng còn hạn chế.
Hiện nay, trong năm loại sử dụng DVMTR, mới chỉ thu được ba loại dịch vụ là thủy điện, nước sạch và du lịch, còn hai dịch vụ là hấp thụ, lưu giữ các-bon và cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn con giống sử dụng nguồn nước từ rừng tự nhiên trong nuôi trồng thủy sản vẫn chưa triển khai thu theo quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Một số nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, công suất dưới 30MW thuộc sở hữu tư nhân đã cố tình chây ỳ, tìm nhiều lý do để trì hoãn việc chi trả DVMTR trong khi thực tế mức chi trả tiền dịch vụ áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện là quá nhỏ, do vậy các địa phương cần chỉ đạo quyết liệt, nghiêm túc, phải tuyên truyền để doanh nghiệp thấy được trách nhiệm trong việc sử dụng cả nguồn nước và lưu vực.
Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công thương tiếp tục yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các công ty thủy điện rà soát, ký kết lại các hợp đồng mua bán điện có tiền dịch vụ môi trường trong cơ cấu giá điện; kiểm tra chặt các nhà máy thủy điện nhỏ chây ỳ, không chịu nộp tiền DVMTR cho các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, hướng dẫn thực hiện nghiêm theo quy định.
Chính sách chi trả DVMTR là một sáng kiến được quốc tế đánh giá cao và được xã hội rất ủng hộ. Chính sách này có tác dụng nâng cao nhận thức của người sử dụng, giúp cho người làm nghề rừng cải thiện đời sống, công tác bảo vệ rừng được tăng thêm nguồn vốn đầu tư, đưa dịch vụ môi trường trở thành dịch vụ hàng hóa, góp phần phát triển bền vững việc sử dụng đất đai và bảo vệ môi trường. Do vậy, cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ sở sử dụng DVMTR và nhận thức của cộng đồng xã hội.
Tính đến nay, tổng diện tích rừng trong các lưu vực có cung ứng DVMTR toàn quốc khoảng 4,1 triệu ha; tổng số tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng DVMTR là 355.047 đối tượng, trong đó riêng số hộ nhận khoán bảo vệ rừng là 236.425 hộ, với hơn 90% số hộ là đồng bào dân tộc... (Nhân Dân 3/1) đầu trang(
Tại trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Sở Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với Sở Tài Chính và Quỹ Bảo vệ và PTR tỉnh, tổ chức Hội nghị tập huấn hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, cho các tổ chức có rừng cung ứng DVMT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Hội nghị tập huấn được tổ chức để giúp các chủ rừng là tổ chức nhà nước, các tổ chức không phải là chủ rừng được nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng, Ban chi trả tiền DVMTR cấp huyện, cấp xã xây dựng phương án và dự toán chi tiền DVMTR năm 2013; nghiệm thu rừng cung ứng DVMTR năm 2014; và xây dựng kế hoạch thu, chi tiền DVMTR năm 2015.
Tham dự hội nghị tập huấn có ông Phạm Mạnh Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, chủ trì Hội nghị. Đại diện Sở Tài chính; Đại diện Lãnh đạo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh: Ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Quỹ; ông Ma Văn Quyết, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Na Hang; Giám đốc Trung tâm Điều tra, quy hoạch và thiết kế NLN Tuyên Quang và đại diện các tổ chức có rừng cung ứng dịch vụ môi trường cùng tham dự.
Tại Hội Nghị, ông Phạm Mạnh Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT đã phát biểu khai mạc hội nghị và nêu vai trò to lớn của rừng đối với cuộc sống (bảo vệ đất, điều tiết nước, lưu giữ Các bon và giá trị cảnh quan của rừng, ngoài ra còn có các giá trị về an ninh quốc phòng, giá trị về đa dạng sinh học, giá trị lưu giữ, bảo tồn nguồn gen…).
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một chính sách mới, nhằm huy động nguồn lực của xã hội, đặc biệt là của các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR, giúp đảm bảo cho người lao động lâm nghiệp có thêm thu nhập tại những khu vực có rừng cung ứng DVMTR cải thiện đời sống; và tiếp tục duy trì lao động bảo vệ và phát triển rừng bền vững, góp phần nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là đảm bảo nguồn nước cho sản xuất điện, nước sạch, các hoạt động kinh doanh dịch vụ, du lịch…
Tại Hội nghị tập huấn các đại biểu tham dự được đại diện Quỹ Bảo vệ và PTR tỉnh, Sở tài chính phổ biến trao đổi các nội dung, về: Hướng dẫn xây dựng phương án và dự toán chi tiền DVMTR năm 2013 (Hướng dẫn số 2778/HDLS-TC-NNPTNT ngày 12/12/2014 của liên Sở Nông nghiệp và PTNT và Sở Tài chính); Hướng dẫn nghiệm thu bảo vệ rừng cung ứng DVMTR năm 2014 (Hướng dẫn số 2010/SNN-LN ngày 15/10/2014 của Sở Nông nghiệp); Hướng dẫn xây dựng kế hoạch thu, chi tiền DVMTR năm 2015 (văn bản số 47/QBVR-KHTC ngày 08/10/2014 của Quỹ bảo vệ và PTR tỉnh).
Phát biểu Kết luận Hội nghị, ông Phạm Mạnh Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT nhấn mạnh mục đích của hội nghị tập huấn lần này nhằm giúp cho các tổ chức thực hiện tốt hơn chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh và giúp các cơ quan, đơn vị liên quan có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ, góp phần đẩy nhanh chi trả tiền DVMTR đến đúng đối tượng, đúng qui định.
Đồng thời, đồng chí cũng kết luận và giao nhiệm vụ cho các tổ chức chủ rừng có thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng khẩn trương lập phương án và dự toán chi tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2013; Nghiệm thu kết quả bảo vệ rừng cung ứng DVMTR năm 2014 và Kế hoạch thu, chi tiền DVMTR năm 2015 gửi về Quỹ Bảo vệ và PTR tỉnh Tuyên Quang theo tiến độ quy định.
Hội nghị đã cấp phát tài liệu tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng các loại cho các đại biểu đến tham dự (Poster, tờ rơi, tạp chí, tài liệu…). (Sở NNPTNT Tuyên Quang 31/12/2014) đầu trang(
Sở NN&PTNT tổ chức họp hội đồng thẩm định phương án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng để xây dựng công trình dự án nhà máy thủy điện đăk mi 4 tại 02 xã Phước Lộc và Phước Kim, huyện Phước Sơn.
Tham gia cuộc họp có Ông Lê Minh Hưng - PGĐ Sở, Chủ tịch Hội đồng - Chủ trì, cùng các thành viên của Hội đồng thẩm định, tổ giúp việc, Ban QLDA thủy điện Đăk Mi 4 (Chủ đầu tư) và đơn vị thi công, tư vấn thiết kế.
Tại cuộc họp đã nghe đại diện đơn vị tư vấn, chủ đầu tư báo cáo, tổng diện tích trồng rừng thay thế là 86,99 ha (xã Phước Lộc 44,70 ha, xã Phước Kim 42,29 ha); ý kiến tham gia góp ý của các đại biểu.
Ông Lê Minh Hưng – Phó giám đốc Sở, Chủ tịch Hội đồng thẩm định kết luận một số nội dung cần phải tập trung: Chỉnh sửa các nội dung về đất đai, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, độ dốc, lượng mưa, độ pH cho phù hợp thực tế; về kế hoạch sử dụng đất đề nghị Chủ đầu tư phối hợp với UBND huyện Phước Sơn khẩn trương bổ sung công trình này vào kế hoạch năm 2015 để trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt theo quy định; nghiên cứu tiến hành trồng rừng trong vụ xuân 2015 khoảng 50% diện tích và diện tích còn lại chuyển sang tháng 8-10/2015.
Dự toán kinh phí phải lấy đơn giá cho đúng với quy định đối tượng là rừng phòng hộ; đề nghị Ban QLDA thủy điện Đăk Mi 4 làm chủ đầu tư trong suốt quá trình thực hiện dự án; giao Chi cục Lâm nghiệp nghiên cứu cho trồng thử nghiệm các loại cây bản địa để đưa vào tập đoàn cây trồng; đề nghị Chủ đầu tư, đơn vị tư vấn sớm hoàn thiện phương án trình Sở Nông nghiệp và PTNT thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt để sớm triển khai thực hiện. (Sở NNPTNT Quảng Nam 31/12/2014) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa có ý kiến chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các huyện: Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây, Tây Trà, Trà Bồng tiếp tục kiểm tra, rà soát việc quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn nhưng sử dụng không hiệu quả hoặc để người dân lấn chiếm; trên cơ sở đó đề xuất thu hồi để giao lại cho địa phương lập phương án giao rừng và đất lâm nghiệp theo quy định.
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với sở ngành, địa phương liên quan khẩn trương thực hiện hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo kế hoạch; hoàn thành việc cắm mốc giới, giao đất trên thực địa để giao cho địa phương quản lý đối với diện tích đất UBND tỉnh đã thu hồi từ các doanh nghiệp; đồng thời yêu cầu UBND các huyện khẩn trương lập phương án giao phần diện tích đất này cho hộ nghèo trên địa bàn thiếu đất sản xuất.
Chủ trì, phối hợp với UBND huyện Ba Tơ kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất của Công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Mai. Trên cơ sở đó, có ý kiến tham mưu, đề xuất UBND tỉnh thu hồi diện tích đất đã giao nhưng Công ty không sử dụng (2.514,88 ha).
Tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy về quản lý đất đai cấp huyện, xã; bố trí cán bộ địa chính xã phải đủ tiêu chuẩn theo quy định về chức danh chuyên môn cấp xã.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND các huyện, thành phố thực hiện hoàn thành Đề án giao rừng, cho thuê rừng tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2009-2013; khẩn trương thực hiện rà soát, đánh giá hoạt động của các Công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn theo ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 3988/UBND-ĐNMN ngày 08/9/2014.
Tham mưu UBND tỉnh có ý kiến với các đơn vị chủ quản của các Công ty, Lâm trường trên địa bàn tỉnh do các Bộ, ngành Trung ương quản lý để thống nhất giải quyết các tồn tại của các doanh nghiệp liên quan đến việc quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp được giao.
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính có trách nhiệm hàng năm, tổng hợp tham mưu UBND tỉnh cân đối bố trí kinh phí hợp lý cho công tác quản lý đất đai, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Cục Thuế tỉnh chỉ đạo việc thu, nộp thuế và tiền thuê đất, thuê rừng trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định pháp luật. (Báo Quảng Ngãi 31/12/2014) đầu trang(
Nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của dự án (DA), trên cơ sở hướng dẫn của Bộ NN-PTNT, Ban Quản lý (BQL) DA KfW6 tỉnh (Sở NN-PTNT) đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp tại các địa phương tham gia DA, điều tra lập địa, xác định cây trồng cho từng loại đất.
Đồng thời đo đạc thiết kế và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài cho các hộ tham gia DA. Hỗ trợ xây dựng HTX lâm nghiệp; xây dựng kế hoạch trồng, khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc và bảo vệ rừng cho từng năm.
BQL DA còn lựa chọn và chuyển giao cho nông dân các giống cây lâm nghiệp như sao đen, lim xanh, keo lai, keo lá tràm, mây nếp, dầu rái, dó trầm, xoan ta, bời lời… và hướng dẫn cho nông dân các biện pháp trồng, quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh. Nhờ vậy, các khu vực rừng thuộc DA KfW6 tại các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tây Sơn đã được hình thành và ngày càng xanh tốt, tình trạng chặt phá rừng không còn xảy ra.
Ông Sử Văn Hà, ở thôn An Hòa, xã Ân Phong (Hoài Ân), cho biết: Tham gia DA KfW6, tôi được Nhà nước giao khoanh nuôi tái sinh 1,5 ha rừng tự nhiên và khoanh nuôi tái sinh 15,5 ha rừng trồng bổ sung các loại cây như sao đen, lim… Diện tích rừng của tôi được Nhà nước giao quyền sử dụng lâu dài và tôi xem đây là tài sản lớn nên đã chăm sóc, bảo vệ chu đáo, và đã có thu nhập đáng kể từ các sản phẩm phụ dưới tán rừng. Diện tích rừng trồng có bổ sung sẽ được thu hoạch bán sau khi DA kết thúc”.
Ông Hà là một trong số trên 5.600 hộ dân ở 3 huyện được hưởng lợi từ DA KfW6. Ngoài việc giao rừng cho cá nhân, BQL DA KfW6 tỉnh cũng đã triển khai thực hiện 4 mô hình quản lý rừng cộng đồng với tổng diện tích trên 2.572 ha. Trong đó, huyện Hoài Nhơn thực hiện 1 mô hình tại thôn Định Bình Nam, xã Hoài Đức với diện tích 1.708 ha; huyện Tây Sơn thực hiện 3 mô hình tại thôn Phú Mỹ - xã Tây Thuận và thôn Hòa Thuận, Tiên Thuận - xã Tây Phú với tổng diện tích trên 862 ha.
Những địa phương thực hiện quản lý rừng cộng đồng được DA hỗ trợ xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng, trang bị máy vi tính, máy in, bàn ghế, tủ đựng tài liệu; xây dựng các biển báo và đóng cột mốc bằng bê tông, trồng cây bản địa trên đường ranh giới diện tích rừng cộng đồng quản lý… Ngoài ra, DA còn hỗ trợ kinh phí cho HTX lâm nghiệp thôn Phú Mỹ xây dựng hạ tầng, trang bị máy móc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo BQL DA, đến nay, tỉnh ta đã thiết lập được trên 9.125 ha rừng (Hoài Ân trên 3.478 ha, Hoài Nhơn trên 1.999 ha và Tây Sơn trên 3.647 ha), đạt 114% so với kế hoạch. Trong đó, có 2.812 ha rừng trồng cây bản địa: sao đen, dầu rái, lim xanh, dó trầm, keo lá tràm, keo lai và khoanh nuôi tái sinh trên 6.313 ha rừng tự nhiên.
Trong khuôn khổ DA, tỉnh ta đã cấp 5.657 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông hộ tham gia DA, đạt 100% kế hoạch; mở 5.661 sổ tài khoản cho các nông hộ và cộng đồng tham gia DA với số tiền trên 31,906 tỉ đồng, để phục vụ công tác chăm sóc, bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh, kiêm Giám đốc BQL DA KfW6 tỉnh, cho biết: DA KfW6 tại tỉnh ta đã đảm bảo các mục tiêu đề ra, được Bộ NN-PTNT đánh giá cao. Thực tế cho thấy, sau khi được Nhà nước giao rừng, người dân địa phương đã phát huy quyền làm chủ của mình trong công tác trồng, chăm sóc, quản lý, giám sát, bảo vệ rừng một cách có hiệu quả hơn.
Nhờ đó, các huyện tham gia DA đã có được những cánh rừng đa dạng sinh học, vừa góp phần phòng hộ đầu nguồn, vừa giúp cho người dân có thu nhập ổn định từ việc khai thác tận dụng các loại gỗ tạp và các sản phẩm dưới tán rừng. Hiện nay, bên cạnh việc đánh giá quá trình thực hiện DA, chúng tôi đang xúc tiến các thủ tục cần thiết để bàn giao diện tích rừng cho các tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ DA quản lý, khai thác theo đúng quy định.
Mặt khác, công việc cần thực hiện sau khi DA kết thúc là đôn đốc các hộ tham gia DA tiếp tục chăm sóc những diện tích rừng đã được thiết lập từ năm 2010-2012 (trên 3.835 ha) và bảo vệ toàn bộ diện tích rừng đã được thiết lập từ đầu DA đến nay để phục vụ công tác bàn giao rừng.
Thống kê, đánh giá chất lượng rừng theo 3 cấp: Tốt, trung bình, xấu làm cơ sở bàn giao thành quả của DA. BQL DA cũng sẽ phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội đối chiếu tài khoản tiền gửi cá nhân của các hộ tham gia DA để có cơ sở quản lý theo đúng quy định; bàn giao tài sản và thành quả của DA cho đơn vị tiếp nhận.
DA KfW6 được thực hiện tại 4 tỉnh: Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên và Quảng Nam, Bộ NN-PTNT là cơ quan chủ quản. Thời gian thực hiện DA là 10 năm (2005-2014) với tổng kinh phí toàn DA 13,815 triệu EURO, trong đó vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Đức 9,715 triệu EURO; vốn đối ứng của Việt Nam 4,1 triệu EURO.
Riêng tại tỉnh ta, DA KfW6 được thực hiện ở 49 thôn tại 13 xã của 3 huyện: Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tây Sơn, với mục tiêu thiết lập 8.000 ha rừng ở những nơi bị đe dọa về sinh thái; quản lý rừng dựa vào cộng đồng (2.072 ha) nhằm góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo thu nhập ổn định cho người dân thông qua việc giải quyết việc làm vùng DA. Tổng vốn đầu tư thực hiện DA trên 83,808 tỉ đồng, trong đó vốn hỗ trợ của Chính phủ Đức trên 63,702 tỉ đồng, còn lại là vốn đối ứng của tỉnh. (Báo Bình Định 31/12/2014) đầu trang(
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh vừa triển khai trồng 51 ha rừng bần ở vùng ven biển thuộc địa bàn 3 huyện Châu Thành, Cầu Ngang và Duyên Hải với tổng kinh phí thực hiện hơn 2,7 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó biến đổi khí hậu và vốn đối ứng của tỉnh.
Đây là đợt trồng rừng thứ 2 thuộc Dự án đầu tư xây dựng và phát triển bền vững rừng phòng hộ tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2014 – 2015, theo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó biến đổi khí hậu. Dự án nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững, nâng cao độ che phủ, tạo vành đai xanh chắn sóng, nước biển dâng, chống xói mòn… trong điều kiện biến đổi khí hậu.
Trước đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh đã hoàn thành trồng 90 ha rừng gồm các loại cây bần, phi lao, đước, mắm ở vùng ven biển, với tổng kinh phí gần 2,2 tỷ đồng; trong đó vốn Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó biến đổi khí hậu gần 2 tỷ đồng, phần còn lại do ngân sách đối ứng của tỉnh.
Trà Vinh hiện có hơn 8.200 ha rừng phòng hộ ven biển, tập trung ở các xã Mỹ Long Nam (Cầu Ngang), Long Hòa (Châu Thành), Long Khánh, Long Vĩnh và Đông Hải (Duyên Hải).
Những năm qua, nhờ tích cực thực hiện công tác trồng và bảo vệ rừng, khuyến khích người dân tham gia tự trồng rừng trên diện tích đất ngập mặn nuôi trồng thủy sản nên diện tích rừng của tỉnh Trà Vinh phát triển thêm từ 40 – 50 ha mỗi năm. (Tin Môi Trường 2/1; Nhân Dân 3/1, tr7) đầu trang(
Nếu huy động lực lượng này thì hằng năm với khoảng 129 ngàn sinh viên, học sinh trung học phổ thông tham gia Tết trồng cây, chỉ cần bình quân mỗi người trồng một cây, chúng ta sẽ có 129 ngàn cây/ năm, tương đương khoảng 64,5 ha rừng tập trung (2.000 cây/ha).
Phong trào Tết Trồng cây thật sự có hiệu quả toàn diện, được duy trì thường xuyên, đến nay đã trở thành tập quán tốt đẹp và mang ý thức tự giác cao của Nhân dân trên địa bàn. Tết Trồng cây không chỉ có ý nghĩa văn hóa, môi trường của cả cộng đồng và còn gắn bó thiết thân với đời sống kinh tế của từng người dân.
Mùa xuân nào, các cấp ủy đảng và chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đều có kế hoạch tổ chức Tết Trồng cây khởi đầu cho một mùa trồng rừng mới trên địa bàn. Trong bối cảnh việc trồng cây gây rừng đã trở thành ý thức tự giác của người dân, thì việc tổ chức Tết Trồng cây cần phải chú ý nâng cao hơn nữa ý nghĩa toàn diện và phù hợp với việc phát huy thế mạnh của từng địa phương.
Ví dụ: Ngành giáo dục có thể chọn một địa điểm tổ chức trồng cây gắn với mục tiêu giáo dục cả chuyên môn và đạo đức, văn hóa; hoặc một xã, thì chọn một quả đồi tổ chức trồng cây “nhớ ơn các liệt sĩ”, đây cũng là một trong những địa điểm để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, và giá trị kinh tế của nó sẽ phục vụ chăm sóc các gia đình liệt sĩ,…
Tùy điều kiện của từng địa phương, đơn vị để lựa chọn quy mô Tết Trồng cây cho phù hợp, có thể quy mô cho 1 năm hoặc nhiều năm liên tục. Làm được vậy, ý nghĩa nhân văn của Tết Trồng cây sẽ thiết thực.
Thế mạnh và mũi nhọn trong định hướng phát triển của Thừa Thiên- Huế là văn hóa du lịch; trung tâm y tế chuyên sâu; giáo dục đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Theo đó, tất cả các ngành, các cấp đều phải hướng quy hoạch phát triển phục vụ cho việc phát huy tốt các thế mạnh mũi nhọn nói trên. Tổ chức Tết Trồng cây cũng phải thực hiện theo hướng đó.
Đáng tiếc là, quy hoạch lâm nghiệp chưa thể hiện rõ bảo vệ và phát triển rừng phục vụ phát triển văn hóa, du lịch, nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học. Điều này có lẽ là quá thiếu sót khi là một trong những trung tâm đào tạo đại học của cả nước, có cả Trường đại học Nông lâm mà lại không có khu rừng có quy mô thích hợp để nghiên cứu khoa học chuyên biệt; cũng như xây dựng khu rừng nghỉ dưỡng.
Khu vực tây nam Huế có quy mô diện tích trên 550 ha quy hoạch đặc dụng, hiện do Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên Lâm nghiệp Tiền Phong quản lý, là nơi rất thích hợp để có thể quy hoạch chi tiết xây dựng các khu rừng du lịch nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học. Có thể chia thành từng phân khu theo mục đích sử dụng; xác định cụ thể loài cây, con, kỹ thuật trồng và nuôi mới, nuôi dưỡng tự nhiên, chăm sóc, bảo vệ phù hợp với mục đích từng loại rừng.
Quy hoạch chi tiết phải được một hội đồng gồm các ngành chuyên môn cấp tỉnh và các cơ quan, đơn vị liên quan như các trường đại học Nông Lâm, Y Dược, Bệnh viện Trung ương Huế, các công ty du lịch,… tham gia thẩm định, trước khi UBND tỉnh quyết định phê duyệt. Trên cơ sở đó, tiến hành thiết kế kỹ thuật xác định từng lô rừng khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên; trồng, chăm sóc rừng; thả vật nuôi,… Đây sẽ là nơi tổ chức Tết Trồng cây hằng năm của cấp tỉnh.
Lâu nay, lực lượng tham gia Tết Trồng cây thường là đội ngũ cán bộ chủ chốt và trong nội bộ ngành lâm nghiệp, chưa huy động được lực lượng đông đảo từ thanh thiếu niên. Trong lúc đó, đây là lực lượng được tổ chức tương đối chặt chẽ, nhất là trong các trường học.
Vì vậy, lực lượng nòng cốt tham gia Tết Trồng cây hằng năm ở cấp tỉnh là sinh viên các trường đại học, trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học sinh trung học phổ thông trên địa bàn TP Huế. Thực hiện phân chia từng lô đất cụ thể cho từng trường, từng lớp gắn với xác định trách nhiệm đi đôi với quyền lợi được quy định rõ trong kế hoạch không chỉ một năm mà có thể 5 năm Tết Trồng cây.
Nếu huy động lực lượng này thì hằng năm với khoảng 129 ngàn sinh viên, học sinh trung học phổ thông tham gia Tết Trồng cây, chỉ cần bình quân mỗi người trồng một cây, chúng ta sẽ có 129 ngàn cây/ năm, tương đương khoảng 64,5 ha rừng tập trung (2.000 cây/ha). Trách nhiệm của Công ty Lâm nghiệp Tiền Phong sẽ là đơn vị tổ chức cung cấp dịch vụ cho Tết Trồng cây hằng năm như cây giống, dụng cụ sản xuất, máy múc hố, tổ chức lực lượng bảo vệ chung, hoặc giao cho ai là chủ rừng người đó có trách nhiệm bảo vệ,…
Mặt khác, cần nhận thức Tết Trồng cây bao hàm cả ý nghĩa chăm sóc và bảo vệ cây trồng để có ý thức trồng cây nào phải bảo đảm sống tốt cây ấy và có hiệu quả thiết thực như Bác Hồ từng căn dặn.
Cố nhiên, phải đầu tư kinh phí lớn và thực hiện dần hằng năm với kế hoạch tổ chức thực hiện chặt chẽ, khả thi. Kinh nghiệm tổ chức Tết Trồng cây liên tục nhiều năm qua cho phép chúng ta có thể tổ chức Tết Trồng cây với quy mô lớn bảo đảm tính hiệu quả và thiết thực.
Làm được như vậy, khoảng 30 năm sau, nếu đầu tư tốt, chúng ta sẽ có các khu rừng như mong muốn, và ý nghĩa về Tết Trồng cây sẽ rất thiết thực, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả và góp phần phát huy toàn diện các thế mạnh mũi nhọn của địa phương, thúc đẩy kinh tế -xã hội phát triển. (Nét Cố Đô 4/1) đầu trang(
Trong 4 năm (2011 – 2014), các địa phương trong tỉnh đã khai thác 250.500m3 gỗ tròn các loại, chủ yếu là gỗ rừng trồng (năm 2013, tỉnh thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên).
Ngoài ra, các địa phương còn khai thác 655.900 ster củi; 12,9 triệu cây vầu, nứa; chế biến 160.000m3 gỗ xẻ, 9.950 tấn giấy đế, 250.900 m3 ván bóc, ván sàn, ván ghép thanh; sơ chế 1.650.000 tấn thảo quả, măng khô, hạt trẩu.
Sản phẩm giấy đế, ván bóc, ván sàn, gỗ xẻ và các loại lâm sản ngoài gỗ của tỉnh được tiêu thụ một phần trong nước và phần lớn xuất khẩu sang các thị trường: Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia.
Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng bình quân từ 13 – 15%/năm. Năm 2014, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt 315,5 tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2010.
Lào Cai phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm các mặt hàng ván nhân tạo, ván ghép thanh, đồ gỗ… đạt 30% sản phẩm chế biến. (Báo Lào Cai 2/1) đầu trang(
Phát huy những kết quả đạt được trong năm 2013, 2014, năm 2015 tỉnh Bắc Kạn tiếp tục đầu tư mạnh cho phát triển chế biến gỗ và coi đây vẫn là ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế nông lâm nghiệp của tỉnh.
Trong định hướng thu hút đầu tư, tỉnh Bắc Kạn vẫn ưu tiên cho các doanh nghiệp trồng rừng. Trong đó, điểm nhấn tiếp tục là Công ty cổ phần Sahabak với 2 nhà máy chế biến gỗ hoạt động ổn định.
Tỉnh cũng định hướng ngay từ quá trình khảo sát, lựa chọn lĩnh vực, địa điểm đầu tư để các doanh nghiệp trồng rừng và chế biến lâm sản xây dựng và phát triển ngành kinh tế lâm nghiệp mang tính hàng hoá cao. Dự báo nhu cầu sử dụng gỗ trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, đặc biệt sản phẩm được chế biến từ gỗ rừng trồng đang dần thay thế các sản phẩm được chế biến từ gỗ rừng tự nhiên.
Các doanh nghiệp huy động nguồn nguyên liệu theo định hướng chiến lược gồm nguyên liệu khai thác từ rừng trồng trong nhân dân. Doanh nghiệp liên kết với nhân dân, hỗ trợ ban đầu đối với những khu vực trọng điểm, tập trung và cam kết sẽ bao tiêu sản phẩm cho người dân.
Về dự án xây dựng nhà máy sản xuất gỗ MDF giai đoạn 2, công ty cổ Sahabak cho biết toàn bộ thiết bị sản xuất chính của nhà máy được công ty nhập từ châu Âu với công nghệ sản xuất liên tục, đến thời điểm hiện nay là công nghệ hiện đại nhất Việt Nam mà chưa có nhà máy sản xuất gỗ nào sử dụng.
Hiện nay, một số loại sản phẩm gỗ MDF tại thị trường Việt Nam chưa có phải nhập khẩu nên giai đoạn 2 sẽ cung cấp sản phẩm gỗ đáp ứng nhu cầu trong nước và tiến tới phục vụ xuất khẩu. (Đài PTTH Bắc Kạn 4/1) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 4/1, đã có hơn 30 ngôi nhà bị thiêu rụi do cháy rừng tại bang Nam Australia. Hỏa hoạn cũng đã thiêu rụi hơn 11.000 ha rừng tại đồi Adelaide, thuộc dãy núi Lofty, nơi sinh sống của khoảng 40.000 người.
Hàng trăm lính cứu hỏa đã được huy động để dập tắt các đám cháy, được xem là tồi tệ nhất tại bang Nam Australia kể từ năm 1983.
Bùng phát từ ngày 2/1 tại Sampson Flat, phía Đông thành phố Adelaide, đám cháy rừng đã vượt tầm kiểm soát và vẫn đang tiếp tục lan rộng. Tuy nhiên, theo chính quyền bang Nam Australia, điều kiện thời tiết hôm qua đã được cải thiện, nhiệt độ ngoài trời đã giảm, tạo điều kiện cho công việc của khoảng 800 lính cứu hỏa được thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, dự báo giữa tuần này, nhiệt độ sẽ tăng cao trở lại. Theo các số liệu báo cáo mới nhất, dù chưa gây thiệt hại về người song cháy rừng đã làm ít nhất 30 người bị thương, trong đó chủ yếu là lính cứu hỏa. (VOV 5/1) đầu trang(
Biên tập: Lê Vòng