Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 01 tháng 10 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Mục thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân cho biết: Nhiều vạt rừng thông trên địa bàn tỉnh Đác Nông bị xâm hại, làm chết dần chết mòn để lấn chiếm đất mở rộng diện tích đất nông nghiệp. (Nhân Dân 1/10) đầu trang(
Trước thực trạng tê giác bị giết ngày một nhiều để cung cấp sừng cho nhu cầu chữa bệnh, các chuyên gia y học cổ truyền đã phân tích: Sừng tê giác trong y học cổ truyền chỉ là một vị thuốc có tác dụng như sừng trâu và các sừng khác.
Viện Y Dược học Dân tộc TPHCM vừa phối hợp với các Tổ chức Cứu trợ hoang dã WildAid, Trung tâm CHANGE và Quỹ Động vật hoang dã Phi châu (African Wildlife Foundation) tổ chức hội thảo “Sừng tê giác trong y học cổ truyền và các giải pháp thay thế”.
Theo TS Trương Thị Ngọc Lan, Viện Y Dược học Dân tộc TPHCM, trong Đông y, sừng tê giác thuộc nhóm các vị thuốc có tác dụng thanh nhiệt giải độc và hoàn toàn có thể thay thế bằng các vị thuốc đơn giản khác với chi phí thấp hơn nhưng tác dụng còn tốt hơn.
Ngoài ra, các chuyên gia cũng cho rằng thực ra sừng tê giác chỉ là một vị và thường phải nằm trong các bài thuốc phối hợp nhiều vị, chứ không bao giờ dùng độc vị (dùng riêng) như một số người vẫn quan niệm uống sừng tê như “món độc” để “bồi bổ”.
Thầy thuốc ưu tú Lê Hùng, Chủ tịch Hội Đông y TPHCM có đề xuất nên đưa sừng tê giác ra khỏi danh mục thuốc để phần nào tránh những ngộ nhận về tác dụng của sừng tê giác: “Tôi đã chứng kiến rất nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong lúc tuyệt vọng với bệnh ung thư đã dồn hết tài sản để mua sừng tê giác về uống. Kết quả bệnh nhân vẫn không qua khỏi mà còn để lại gánh nặng tài chính rất lớn cho người thân. Thật sự chúng ta không chỉ cứu loài động vật vô tội như tê giác mà đang cứu lấy cuộc sống của chính các bệnh nhân Việt Nam”.
Bác sĩ Trần Hữu Vinh, Trưởng phòng Quản lý y dược học cổ truyền, Sở Y tế TPHCM cho biết, việc sử dụng sừng tê giác trong một số trường hợp bị ngộ nhận là có tác dụng khi các dấu hiệu thuyên giảm. Tuy nhiên, đó không phải là chữa bệnh mà chỉ mới làm suy giảm triệu chứng, nó vô cùng nguy hiểm vì cản trở các bác sĩ chuẩn đoán bệnh chính xác và đưa ra các phương pháp điều trị kịp thời.
Các bác sĩ và chuyên gia trong lĩnh vực y học cổ truyền nhấn mạnh, sừng tê giác trong y học cổ truyền chỉ là một vị thuốc có tác dụng như sừng trâu và các sừng khác nhưng bọn buôn lậu sừng tê đã đồn thổi công dụng khiến cho giá cả của sừng tê giác vượt lên rất nhiều so với giá trị y học thật sự của nó.
Đây là một trong những hoạt động tiêu điểm của chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê” trong năm 2015. Chiến dịch được khởi động từ năm 2014 và kéo dài trong 3 năm. Trong năm 2014, số tê giác bị giết ở châu Phi để tiêu thụ ở các nước châu Á, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, lên tới mức kỷ lục là 1.215 con. (Infonet 1/10) đầu trang(
Ngày 30-9, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân, Bình Thuận đã tống đạt quyết định khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam ông Đỗ Bổn, Tổ trưởng Tổ Kiểm lâm cơ động thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Tân, để điều tra về hành vi nhận hối lộ.
Theo hồ sơ, khoảng 7 giờ 30 ngày 12-1, khi nhận được tin báo có xe vận chuyển gỗ lậu, Tổ Kiểm lâm cơ động gồm ông Đỗ Bổn và hai kiểm lâm viên Đặng Quốc An và Lê Quốc Vân đã yêu cầu xe tải 49C-026.62 dừng để kiểm tra. Tài xế Ngô Xuân Việt (ngụ Di Linh, Lâm Đồng) xuất trình bộ hồ sơ có lý lịch gỗ do Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh, Lâm Đồng xác nhận.
Mặc dù đã lập biên bản số gỗ trên xe nhiều gấp đôi so với giấy tờ (46 hộp gỗ/20 hộp gỗ) nhưng tổ kiểm lâm cơ động lại không đưa xe về hạt kiểm lâm để xử lý mà cho xe đậu hơn 10 giờ trước một quán cà phê trên QL1A. Đến 21 giờ cùng ngày, chiếc xe này tiếp tục lưu thông nhưng đến khu vực giáp ranh giữa Bình Thuận và Đồng Nai thì bị Công an huyện Hàm Tân phối hợp với CSGT tỉnh Bình Thuận bắt giữ. Khi dừng xe, lực lượng kiểm tra khá bất ngờ khi phát hiện kiểm lâm viên Đặng Quốc An ngồi trên cabin cùng với tài xế, còn kiểm lâm viên Lê Quốc Vân đi mô tô kèm phía sau.
Quá trình điều tra, cơ quan công an xác định nhóm kiểm lâm này nhận hối lộ hàng chục triệu đồng. Ngày 28-3, Công an huyện Hàm Tân đã khởi tố, bắt giam kiểm lâm viên Đặng Quốc An. Tới ngày 2-6, cơ quan điều tra bắt giam tài xế Ngô Xuân Việt về hành vi đưa hối lộ. (Pháp Luật TP.HCM 1/10; Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(
Hàng ngàn khối gỗ lậu đã được các đối tượng hợp thức hóa, vận chuyển đi khắp các tỉnh, thành, thu về hàng tỷ đồng, thế nhưng các cơ quan chức năng không hề hay biết. Trong khi đó nhiều người đang làm ăn chân chính bỗng chốc phải tù tội chỉ vì đã mua phải hồ sơ lâm sản giả của chúng.
Việc các đối tượng trong đường dây làm giả hồ sơ tiêu thụ gỗ lậu bị bắt và khởi tố đã đem lại niềm vui cho người bị hại.
Ông Nguyễn Tấn Cần, một trong những bị hại là chủ xe do Lê Quang Vĩnh thuê đi chở gỗ lậu ở Phú Yên với hồ sơ giả bị Hạt Kiểm lâm huyện Sông Hinh Phú Yên bắt xử phạt 100 triệu đồng cho biết: “Sau khi nghe ông Vĩnh gọi điện bảo thuê xe tôi đi chở gỗ ở Phú Yên về mỗi khối tính tiền cước là 800.000 đồng, tôi hỏi gỗ có giấy tờ hợp pháp không. Ông Vĩnh bảo có. Tin tưởng khách hàng, tôi cho tài xế đánh xe đi chở hàng cho ông Vĩnh. Nào ngờ, bị Hạt Kiểm lâm huyện Sông Hinh (Phú Yên) bắt và phát hiện hồ sơ gỗ là giả, họ bắt đóng phạt 100 triệu đồng mới cho xe ra. Giờ gia đình tôi quá khó khăn. Một mình tôi phải nuôi 4 con nhỏ và mẹ già nên không có điều kiện. Ông Vĩnh là chủ hàng nhưng khi bị bắt lại đổ oan hết cho tài xế và tôi. Tôi mong cơ quan chức năng xem xét lại tình tiết, tạo điều kiện cho gia đình tôi được lấy chiếc xe ra làm ăn, kiếm cơm gạo nuôi các cháu và gia đình”.
Là một trong những bị hại vì trò mua bán hồ sơ giả của Lê Quang Vĩnh, ông N.S.H người viết đơn tố cáo và tham gia tích cực trong kế hoạch bóc gỡ đường dây mua bán, gỗ lậu, giả mạo hồ sơ mong muốn cơ quan chức năng tỉnh Đắk Nông xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Bởi hiện tại ông N.S.H. đang xin tạm hoãn thi hành vì bản thân ông đang bị bệnh, gia đình đang khó khăn.
Theo các nạn nhân này, ngoài bản thân họ bị nhóm đối tượng của Vĩnh đẩy vào vòng lao lý, còn rất nhiều nạn nhân khác ở các tỉnh thành trong đó, nạn nhân mới nhất là một chủ hàng tên Hà ở huyện Chư Sê (Gia Lai). Bà Hà sau khi mua phải gỗ lậu và giấy tờ giả của Lê Quang Vĩnh với tổng trị giá gần 300 triệu đồng đã bị lực lượng chức năng bắt giữ số gỗ trên. Hiện bà Hà đã phải bán nhà, bỏ trốn đi nơi khác sinh sống và chạy nợ.
Không chỉ mất hàng, mà đối tượng Vĩnh còn lừa gia đình bà gần 100 triệu tiền chạy án. Với mong muốn “còn nước, còn tát”, bà Hà đã vay nóng tiền đưa thêm cho Vĩnh. Thế nhưng tiền mất, nạn vẫn không qua. Các bị hại cho biết, mỗi ngày đối tượng Vĩnh và đồng bọn thường bán từ 5 đến 7 bộ hồ sơ giả cho các khách hàng, với số lượng gỗ lậu trung bình hàng ngày trên 200m3.
Việc đối tượng Lê Quang Vĩnh và đồng bọn bị kết án nhưng vẫn tái diễn các tội về hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” trong thời gian dài đang khiến cho dư luận đặt ra câu hỏi liệu có sự tiếp tay, làm ngơ của các lực lượng chức năng hay không?
Theo đối tượng Hoàng Xuân Long, để một chuyến gỗ lậu trót lọt chạy vi vu trên quãng đường từ huyện Ea Súp ra tới Buôn Ma Thuột thì các đối tượng này phải “chung chi” cho lực lượng chức năng 80 triệu đối với xe container, còn với loại xe khác tùy thuộc vào trọng tải mà quy ra tiền. Như loại xe 2,5 tấn, nếu vào chở gỗ rừng thì mỗi chuyến phải chi phí cho lực lượng chức năng khoảng 35 triệu đồng. Không chỉ vậy, để lo lót từ Đắk Lắk qua Đắk Nông thì con số chung chi trên đường cũng không hề nhỏ.
Cụ thể như xe container đầu kéo mang BKS 17C-05595 do tài xế Nguyễn Văn Tùng điều khiển chở gần 40 m3 (thuộc nhóm III – nhóm VI) khi qua trạm cân lưu động của tỉnh Đắk Lắk hôm 2/9 đặt bên đường Hồ Chí Minh đoạn qua xã Hòa Phú đã không hề vào trạm cân. Được biết, họ phải chung chi mất 1 cây vàng. Sau khi vượt qua địa phận Đắk Lắk đến địa phận tỉnh Đắk Nông, chiếc xe container đầu kéo cũng không hề ghé trạm cân lưu động nơi đây mà vẫn vô tư chạy.
“Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt”, chuyên án thành công, nhóm đối tượng chuyên làm hồ sơ giả con dấu, chữ ký của cơ quan chức năng nhiều năm nay sẽ phải đền tội.
Ngày 18/9, Công an tỉnh Đắk Nông đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam 6 đối tượng để điều tra làm rõ về hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Vi phạm các quy về khai thác và bảo vệ rừng”.
Dư luận mong muốn phải làm rõ việc có hay không sự tiếp tay của các cá nhân, đơn vị liên quan? Hy vọng với sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan điều tra, những cánh rừng Tây Nguyên sẽ được bình yên hơn. (Đại Đoàn Kết 1/10) đầu trang(
Ngày 30.9, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết vừa phát hiện và bắt giữ vụ vận chuyển động vật hoang dã với số lượng lớn.
Theo đó, khoảng 4 giờ 30 phút ngày 29.9, tại khu vực Km22 đường 20 thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tổ tuần tra thuộc Trạm Kiểm lâm Thượng Trạch đã phát hiện hai đối tượng đang mang hai gùi đi từ hướng trong rừng ra. Khi thấy lực lượng kiểm lâm, các đối tượng đã vứt gùi bỏ chạy.
Khi kiểm tra trong hai gùi trên, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện có chứa 9 cá thể Cầy có tổng trọng lượng 20,9 kg, bao gồm: 5 cá thể Cầy vòi mốc (Paguma larvata) và 4 cá thể Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus). Trong đó có 2 cá thể Cầy vòi mốc đã bị chết.
Sau khi bắt giữ, Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã chuyển toàn bộ cá thể Cầy còn sống về Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật để chăm sóc và cứu hộ trước khi trả về môi trường tự nhiên. (Lao Động 30/9; Người Đưa Tin 30/9; Pháp Luật TP.HCM 1/10; Tiền Phong 1/10) đầu trang(
Dự án "Xây dựng chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học của Việt Nam và lồng ghép bảo tồn ĐDSH vào quy hoạch sử dụng đất tại địa phương" (NBSAP) sau 3 năm triển khai dự án đã gặt hái dược những thành tựu rất đáng ghi nhận.
Mục tiêu chính của dự án NBSAP được xây dựng nhằm hỗ trợ cho Chính phủ, xóa bỏ các rào cản trong quản lý ĐDSH, thực hiện các cam kết thành viên đối với Công ước Đa dạng sinh học (CBD). Đồng thời, dự án cũng thực hiện các ưu tiên quốc gia về nâng cao hiệu quả quản lý môi trường, bảo tồn ĐDSH phục vụ phát triển bền vững, sản phẩm cuối cùng của dự án nhằm hỗ trợ, tăng cường năng lực quốc gia trong quản lý ĐDSH.
Đến nay, dự án đã giúp cho Bộ TN&MT nói chung và Cục Bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng thông qua việc xây dựng Chiến lược bảo tồn ĐDSH trong 10 năm, có sự tiếp thu các kiến thức mới và kế thừa các bài học kinh nghiệm trong 16 năm qua. Dự án còn thiết lập thành công một mạng lưới làm việc với một số cơ quan, Bộ, ngành tập hợp được các chuyên gia và tư vấn trong nước góp phần hữu hiệu trong công tác bảo tồn ĐDSH.
Bên cạnh đó, việc lồng ghép bảo tồn ĐDSH vào quy hoạch sử dụng đất cho 36 sở TN&MT đã được nhân rộng. Đối với 2 tỉnh thí điểm là Sơn La và Lạng Sơn, năm 2013, NBSAP đã xây dựng phương pháp luận và tài liệu hướng dẫn lồng ghép bảo tồn ĐDSH vào quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cả 2 tỉnh đã đưa ra được các đề xuất điều chỉnh có cân nhắc đến các vấn đề bảo tồn ĐDSH trong khi điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2020.
Kết quả này đã đáp ứng được hài hòa nhu cầu giữa 2 loại quy hoạch đó là quy hoạch ĐDSH và quy hoạch sử dụng đất của 2 địa phương. Bên cạnh đó, tại 2 địa phương, một Bộ chỉ thị ĐDSH đã cũng đã thiết lập với đầy đủ thông tin để cả 2 tỉnh có thể đưa ra được một bản báo cáo hiện trạng về thực tiễn ĐDSH.
Theo ông Nguyễn Quang Thiên, Chi Cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường Sơn La, Dự án NBSAP đã góp phần năng cao sự hiểu biết của các cơ quan có liên quan về bảo tồn ĐDSH, từ đó thấy được sự tham gia tích cực trong lĩnh vực này. Các hoạt động thí điểm của dự án tại Sơn La đã góp phần cung cấp phương pháp luận cho việc lồng ghép bảo tồn ĐDSH vào quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là việc phân bổ đất đai cho các khu bảo tồn tại địa phương.
Trong 3 năm qua, dự án đã góp phần xây dựng được 7 văn bản pháp luật có liên quan tới công tác bảo tồn ĐDSH và lồng ghép vào trong các quy hoạch sử dụng đất. Điều này được thể hiện thông qua việc phê chuẩn các văn bản hướng dẫn Luật Đất đai 2013 có lồng ghép các nội dung bảo tồn ĐDSH như Quyết định số 1250 và số 45 của Thủ tướng Chính phủ liên quan tới công tác bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Ngoài ra, còn một loạt các văn bản pháp luật như: Nghị định số 43/2014/NĐ - CP, Thông tư số 28/2014/TT - BTNTM, Thông tư số 29/2014/TT -BTNMT....
Đối với các địa phương, đơn cử như tỉnh Sơn La, Hội đồng nhân dân đã ban hành Nghị quyết số 79/NQ - HDND về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn ĐDSH của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, bên cạnh 4 Khu bảo tồn đã có là Sốp Cộp, Coppia, Xuân Liên và Tà Xùa, tỉnh Sơn La đã đề xuất thành lập thêm một Khu bảo tồn Mường La nhằm bảo tồn loài vượn đen tuyền quý hiếm. Còn tại Lạng Sơn, đã ban hành Quyết định số 77/QĐ - UBND phê duyệt Quy hoạch bảo tồn ĐDSH đến năm 2020 và phê duyệt kế hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Rừng đặc dụng Hữu Liên đến năm 2020. Bên cạnh đó, tới nay, đã có hơn 11 tỉnh hoàn thành việc xây dựng quy hoạch bảo tồn ĐDSH cấp tỉnh.
Có thể thấy, dự án đã góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng ra những khung chính sách tổng thể cho công tác bảo tồn. Từ dự án này, mối liên kết giữa các chính sách của Trung ương và địa phương được thắt chặt, tránh chồng chéo và xung đột. Các đơn vị quản lý đất đai và bảo tồn ĐDSH cũng có cơ hội hợp tác, từ đó đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả.
Theo phản ánh của 2 địa phương thí điểm là Sơn La và Lạng Sơn chiến lược của NBSAP đã đưa ra các mục tiêu chính sách phù hợp cho công tác bảo tồn. Nhờ kết quả của dự án mà các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực bảo tồn sẽ hiểu được hơn tầm quan trọng của việc lồng ghép các nội dung của ĐDSH vào trong quy hoạch sử dụng đất và phát triển kinh tế địa phương. Từ đó các địa phương sẽ có những cân nhắc và nghiên cứu phù hợp với điều kiện thực tế. (Tài Nguyên Môi Trường 29/9) đầu trang(
Các khu rừng ở Đắk Nông nói riêng và cả Tây Nguyên nói chung vẫn đang ngày đêm bị tàn phá một cách nghiêm trọng. Một khối lượng lớn gỗ quý hiếm các loại vẫn được lâm tặc âm thầm tìm đủ cách vận chuyển về xuôi…
Tại nhà Trần Hồng K., một “ông trùm” về gỗ ở xã Đắk Săk, huyện Đắk Mil (Đắk Nông), tôi vào vai một người sắp làm nhà ở TP. Đà Nẵng, đang cần khoảng mấy khối gỗ kiền kiền, không rào trước đón sau, K. nói ngay, rằng muốn bao nhiêu cũng có.
Rồi K. chỉ tay vào ngôi nhà ốp lát toàn gỗ quý hiếm rồi giới thiệu, chưa tính tiền gỗ chỉ tiền công thợ thôi, sơ sơ cũng ngót ngét 400 triệu đồng! Khi được hỏi về giá cả, phương thức vận chuyển, K. khẳng định, mọi việc cứ yên tâm, sẽ giao hàng và lấy tiền ở Đà Nẵng. 14 triệu đồng/m3, bao nhiêu hàng cũng có.
Thấy tôi có vẻ thắc mắc chuyện vận chuyển, anh ta lý giải, ở trong rừng là gỗ lậu, nhưng ra ngoài đường chỉ với một bộ hồ sơ đã trở thành gỗ hợp pháp, vô tư vận chuyển trên đường…
Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết bằng cách sử dụng các bộ hồ sơ vận chuyển lâm sản giả, hoặc bằng cách nào đó, các đối tượng lâm tặc có được các giấy tờ vận chuyển lâm sản “xịn”, thì việc ung dung vận chuyển gỗ lậu trên các cung đường dễ như trở bàn tay. Trong số đó, có vụ bị các cơ quan chức năng phát hiện, nhưng cũng không ít vụ trót lọt.
Liên quan đến việc vận chuyển gỗ lậu bằng hồ sơ giả, ngay trong những ngày chúng tôi còn ở Đắk Nông, cơ quan chức năng ở đây đã bắt giữ các đối tượng gồm: Nguyễn Khắc Tâm, Phạm Văn Thông, Hoàng Xuân Long, Lê Quang Vĩnh, Nguyễn Thị Hòa và Hoàng Anh Thủy, đều trú tại Đắk Lắk.
Theo đó, lực lượng công an tỉnh Đắk Nông phát hiện xe container đầu kéo mang BKS 17C-05595 có hành vi vận chuyển gỗ lậu trái phép. Trên xe có hàng chục lóng gỗ đã xẻ sẵn, với khối lượng gần 40 m3 không có nguồn gốc hợp pháp. Điều đáng nói, tại thời điểm kiểm tra, các đối tượng đã xuất trình hai bộ hồ sơ chứng minh nguồn gốc, chủ nhân số gỗ trên của một DN có trụ sở tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk).
Những bộ hồ sơ này đều có dấu đỏ, chữ ký xác nhận của Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Buôn Ma Thuột và Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk Mil. Tuy nhiên, sau khi giám định cơ quan chức năng xác định con dấu, chữ ký xác nhận của cơ quan kiểm lâm trong hồ sơ lâm sản của số gỗ trên đều là giả.
Ngay sau đó, công an tỉnh Đắk Nông đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam các đối tượng trên để điều tra làm rõ về hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”...
Ngoài thủ đoạn tinh vi dùng hồ sơ giả để vận chuyển lâm sản như đã nói ở trên, các đối tượng còn dùng nhiều chiêu khác để vận chuyển gỗ lậu. Thông thường, trong những phi vụ vận chuyển, các “ông trùm”, chủ gỗ thường rất ít khi xuất đầu lộ diện, hầu hết giao lại cho các “chân rết” thực hiện.
Đơn cử, như vụ công an Đắk Nông phối hợp với lực lượng kiểm lâm bắt quả tang 6 đối tượng đang vận chuyển gỗ trái phép ở xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức. Tại hiện trường, lực lượng chức năng phát hiện có đến 10,9m3 gỗ thuộc nhóm 2 đến nhóm 5. Toàn bộ số gỗ đã được xẻ hộp, tập kết sẵn để đưa đi tiêu thụ.
Tuy nhiên, những đối tượng tham gia vụ vận chuyển này chỉ biết vận chuyển gỗ thuê cho một người đàn ông ở huyện Tuy Đức, mà không rõ địa chỉ, lai lịch của chủ lô gỗ nói trên…
Ngoài ra, khi vận chuyển gỗ lậu, các đối tượng thường sử dụng những xe ô tô đã cũ, nát hết niên hạn sử dụng, thường xuyên thay đổi biển số, thay đổi hình dạng, sử dụng nhiều biển kiểm soát giả, để sẵn sàng bỏ của chạy lấy người… Thậm chí, trên địa bàn Đắk Nông đã từng xuất hiện trường hợp các đối tượng dùng cả xe… cứu thương để vận chuyển gỗ lậu, tìm cách qua mặt lực lượng chức năng.
Liều lĩnh, manh động hơn, trong khi vận chuyển gỗ lậu các đối tượng lâm tặc ở Đắk Nông sẵn sàng chống đối người thi hành công vụ, đe dọa trực tiếp tới tính mạng của những kiểm lâm viên. Người ta còn chưa thể quên vụ Trần Hoàng Lâm, trú huyện Đắk Song, tông chết ông Đinh Trọng Học, cán bộ bảo vệ rừng, từng khiến dư luận cả nước bức xúc…
Theo đó, khi đối tượng này đang vận chuyển gỗ lậu bằng xe máy, thì bị Đội Quản lý Bảo vệ rừng số 1, thuộc Công ty TNHH Lâm Nghiệp Đắk N’Tao phát hiện. Mặc dù, lực lượng chức năng đã ra tín hiệu dừng xe, nhưng không những không dừng lại, mà Trần Hoàng Lâm còn rú ga đâm thẳng vào ông Đinh Trọng Học rồi bỏ trốn…
Có thể nói, các đối tượng lâm tặc đang dùng đủ chiêu để vận chuyển gỗ lậu. Trong khi, công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý của các lực lượng chức năng vẫn luôn gặp không ít khó khăn. Điều này càng khó khăn hơn, khi nhu cầu sử dụng gỗ tốt, gỗ “xịn” ngày càng tăng cao trên thị trường, kéo theo việc vận chuyển gỗ lậu ngày càng tinh vi, phức tạp…
Do vậy, để bảo vệ rừng, nếu chỉ trông chờ vào các lực lượng chức năng, thì câu chuyện lâm tặc còn kéo dài, càng nghiêm trọng hơn. Đã đến lúc các cấp chính quyền, cả toàn xã hội cần vào cuộc quyết liệt hơn, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng. (Thời Báo Ngân Hàng 30/9) đầu trang(
Cứ dịp tháng 8 đến tháng 10 âm lịch hằng năm, từng đàn chim di trú từ phương đông theo bầy đàn bay về đều không thoát được "thiên la địa võng" của những tay thợ bẫy chim.
Chúng tôi đến huyện Diễn Châu (Nghệ An), thấy cò đậu trắng đồng, cứ nghĩ đây là vùng “đất lành chim đậu", phong cảnh hữu tình, nhưng anh bạn đồng nghiệp đi cùng bảo: “Đó là cò máy, cò mồi của các tay bẫy cò đó. Bây giờ là mùa thảm sát chim trời. Mỗi cánh đồng ít nhất cũng có 5-6 tay bẫy như thế”.
Chúng tôi tiếp cận Phi, một tay có thâm niên bẫy cò được anh tâm sự: “Cứ đến tiết tháng 8 đến tháng 10 âm lịch, cò về rất nhiều, các loài chim khác cũng kéo nhau về từng bầy nhưng tui chỉ bẫy độc cò thôi. Đồ nghề bẫy cò không phức tạp lắm. Một chú cò mồi, vài trăm con cò đẽo, 500 que nhựa... là kiếm ăn được".
Nhưng quan trọng nhất là cò mồi. Muốn bẫy được nhiều cò phải ra đồng từ sáng sớm, ra đồng chọn địa điểm thích hợp rồi cắm que nhựa. Tiếp đến đặt khoảng 7 - 8 con cò "máy", cò máy là cò sống may mắt lại, rồi buộc dây cho đứng gần nơi đặt nhựa.
Người ngồi nấp trong một chiếc bu làm bằng lá cây che kín, tay cầm cây sào dài khoảng 2m, có một con cò mồi đứng phía trên, cứ nhìn phía hừng đông thấy bầy cò xuất hiện là dùng cò mồi nâng lên hạ xuống để cò trên trời chú ý- kết hợp giật dây để cò máy xõa cánh liên tục, dụ bầy cò trên trời lao xuống.
Rứa là cò lao xuống xõa cánh đậu thì kiểu chi cũng dính nhựa, không có con nào thoát. Trước đây mỗi mùa Phi kiếm được mươi triệu đồng, gấp mấy lần làm ruộng, nhưng nay kiếm được ít hơn, vì thấy bở ăn nên nhiều người sắm đồ nghề đi bẫy, riêng xóm anh tới 17 người. "Khiếp thật, mùa ni hầu như làng mô, xã mô, huyện mô cũng có người bẫy cò", Phi nói.
Chúng tôi chứng kiến những tay bẫy ở cánh đồng Vĩnh Thành một buổi sáng mà chóng mặt. Hơn chục đàn cò, mỗi đàn từ 50 đến 200 con đều không thoát được "thiên la địa võng" đầy chết chóc này.
Chúng tôi  đi "tham quan" ở các huyện Diễn Châu, Yên thành, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Đô Lương... đều thấy cò đậu trắng đồng, nhưng đó chỉ  là cò mồi, cò máy của những tay bẫy cò giăng ra để dụ cò thật sập bẫy.
Kiên, một tay bẫy ở cửa biển Diễn Thành, huyện Diễn Châu cho biết: "Trước đây bọn tui giăng lưới rồi thổi bằng mồm (giả tiếng kêu của chim), ngày may mắn cũng được vài ba chục con, nhưng bây giờ có các đĩa cassette thu tiếng kêu các loài chim nên mần ăn được, có ngày tui tóm vài trăm con".
Tôi hỏi: "Cách bẫy như thế nào?". Kiên hào hứng: "Bọn tui giăng lưới ở mép đường trên các đoạn đường dọc theo bờ biển. Lưới cao 2m, dài ngắn tùy ý nhưng ít nhất là 100m. Khâu thứ hai là bật loa phát tiếng kêu của chim. Loài chim di trú bẫy được chủ yếu là gà lôi, trích, cà cà.
Những loài chim này rất thính, cách 1km chúng đã nghe tiếng kêu, tưởng là tiếng của đồng loại nên đồng loạt bay đến, chúng bay rất thấp cứ lao vùn vụt không có "số lùi" nên dính lưới, không có con mô thoát được vì chân của chúng ngón dài luôn quắp lại.
Mùa này tui huy động cả nhà trực gỡ chim mang đi bán. Giá chim năm nay tăng, gà lôi 60. 000đ/con, cà cà 20.000đ/con, trích 30.000đ/con, cò 40.000 đ/con. Nhờ có nghề bẫy chim mà tui tậu được con xe máy và trang trải cho 5 đứa con ăn học".
Kiên cho biết thêm, ở vùng cửa biển này có 20 tay bẫy cò, mỗi ngày tóm cổ khoảng vài ngàn con chim các loại.
Dịp này khắp trên các ngả đường, các chợ, các quán ăn ở Nghệ An đều bày bán đặc sản chim trời. Chúng tôi đi đến một số chợ ở các huyện Diễn Châu, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Yên Thành- mỗi chợ một ngày tiêu thụ ít nhất 4 - 5 ngàn con chim, chủ yếu là cò trắng, gà lôi trích, cà cà. Riêng chợ Vinh một ngày tiêu thụ ít nhất 1 tấn chim các loại.
Anh Tòng, một lái chim ở TP Vinh cho biết, một ngày anh thu gom được trên 2 tấn chim để nhập cho các quán ăn. Ở huyện Diễn Châu chỉ tính riêng thị trấn huyện đã có trên 30 quán đặc sản chim trời. Mỗi quán trung bình tiêu thụ một ngày ít nhất 200 con chim.
Một chủ quán ăn đông khách nhất thị trấn này cho biết, quán của bà một ngày tiêu thụ từ 600 - 800 con chim. Cứ tính trung bình mỗi quán 200 con thôi, thì 30 quán đã có 6.000 con chim bị giết. Vậy nếu cộng số chim ở các quán ăn, chim bán ở các chợ trên địa bàn Nghệ An thì số chim một ngày bị giết quả là một con số đáng báo động. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/9) đầu trang(
Nhà nước ta quyết định cấm đốt pháo, pháo bị loại bỏ khỏi đời sống. Nhà nước ta quyết định toàn dân phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, không ai dám làm trái. Nhưng tình hình lại không diễn ra như vậy đối với những việc cấm săn bắt và tiêu thụ động vật hoang dã.
Ngày xưa vua Minh Mệnh chỉ cho phép dùng gỗ tứ thiết để xây dựng đền chùa miếu mạo, cấm dân chúng sử dụng các loại gỗ quý này trong xây dựng nhà cửa, nhờ chủ trương đó mà giữ được rừng.
Ngày nay chủ trương cấm phá rừng rầm rộ tiền hô hậu ủng nhưng không giữ được rừng, bởi vì gỗ quý vẫn được dùng một cách hợp pháp trong các công trình dân dụng. Các hậu bối chúng ta còn lâu mới theo kịp sự sáng suốt của cha ông.
Trung Quốc là một anh rất “đểu” trong chuyện này, họ cấm khai thác gỗ và không cấm sử dụng gỗ quý nhưng lại hạ thuế nhập khẩu gỗ xuống khoảng 10 lần sau khi gia nhập WTO để “xuất khẩu” phá rừng ra các nước khác. Sự “đểu” đó chúng ta tuyệt đối không nên học.
Việc bảo vệ động vật hoang dã cũng như bảo vệ rừng không đơn giản như cấm đốt pháo hay yêu cầu đội mũ bảo hiểm. Có quá nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu thấu đáo. Nhưng bảo vệ thiên nhiên cũng cấp thiết như chữa một ngôi nhà đang cháy, thấy cái gì làm được là phải lập tức làm ngay, không thể đợi có sự “đồng bộ”. Một trong những chuyện chúng ta có thể “thấy” và có thể làm ngay là triệt tiêu các nhân tố “kích cầu”. Trước hết là “xử lý” những cuốn sách mà tôi đã nói ở kỳ trước. Các cuốn sách đó cùng những tài liệu biến tấu từ chúng hiện đang là nhân tố “kích cầu” lớn nhất.
Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông được nhân dân coi là những “thần y”, là các danh nhân lịch sử. Hai ông có y thuật cao siêu và nhân cách lớn, những người như vậy bao giờ cũng sống thuận với thiên nhiên, không lý gì lại đưa ra các bài thuốc tiếp tay cho sự hủy diệt sự sống nơi hoang dã. Có nhiều căn cứ để khẳng định hai cuốn Hải Thượng y tông tâm lĩnh và Nam Dược thần hiệukhông phải là của Lê Hữu Trác và Tuệ Tĩnh, hoặc nội dung của chúng chỉ có một phần là của hai ông, phần khác do người đời sau đưa những kinh nghiệm dân gian hoặc tự ý thêm thắt vào. Thời đại ngày nay cũng không thể “đốt” sách, cũng khó mà thu hồi hoặc cấm. Tôi xin đề xuất các giải pháp khôn ngoan :
Thứ nhất, bên cạnh việc tăng nặng hình phạt đối với việc săn bắt, vận chuyển và tiêu thụ, phải bổ sung các điều luật nhằm cấm việc tuyên truyền phổ biến hoặc lưu hành các tài liệu nhằm kích thích việc săn bắt và giết hại động vật hoang dã, kể cả các tài liệu về y dược và ẩm thực.
Thứ hai, tổ chức một cuộc khảo sát và thẩm định nghiêm túc hai cuốn sách Hải Thượng y tông tâm lĩnh và Nam Dược thần hiệu(cũng như các cuốn sách tương tự). Tham gia cuộc khảo sát và thẩm định này có các chuyên gia có y tín về y dược học hiện đại và cổ truyền, các nhà sử học, ngôn ngữ học trong nước và quốc tế. Sau khi khảo sát và thẩm định, nếu không đủ căn cứ để khẳng định hai cuốn sách này là của Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác thì tách tên tuổi hai vị ra khỏi hai cuốn sách và loại bỏ các bài thuốc sử dụng động vật hoang dã cũng như các bài thuốc biết chắc là có hại cho tính mạng người dùng, chẳng hạn các bài thuốc chứa chì hoặc thủy ngân, trước khi cho lưu hành.
Nếu vẫn giữ tên tuổi của hai vị đối với cuốn sách, thì ngoài việc loại bỏ những bài thuốc sử dụng động vật hoang dã và các bài thuốc biết chắc là độc hại nói trên, cần thiết phải loại luôn những bài thuốc không có tác dụng chữa bệnh bị nghi ngờ là không phải của các vị.
Đừng nghĩ là có những bệnh nhất thiết phải dùng đến dược liệu từ động vật, vì ngay cả đối với các bài thuốc sử dụng 36 loài động vật hoang dã ghi trong Hải Thượng y tông tâm lĩnhđược cho là của Lê Hữu Trác, trong chính cuốn sách đó cũng ghi những bài thuốc trị những bệnh tương tự bằng thảo dược. Đây là cách gạn đục khơi trong những di sản của tiền nhân. Lịch sử văn bản học thế giới có nhiều thực tế thêm thắt như thế này, chẳng hạn như cuốn Nam Hoa Kinh của Trang Tử, nhiều chương được các nhà nghiên cứu khẳng định không phải của ông.
Tuy nhiên, đối với sách triết học hay văn học thì không gây tác hại lập tức đến cuộc sống con người, nên người ta vẫn cứ để kèm theo bình luận, còn sách y dược lại rất nguy hiểm, nhất thiết cần phải loại bỏ. Tôi tin các nhà chuyên môn về y dược cũng như về lịch sử nếu phối hợp với nhau chắc sẽ làm được việc này.
Thứ ba, rà soát lại tất cả các tài liệu về y dược được lưu hành một cách chính thống, trước hết là các tài liệu được giảng dạy trong các trường y dược và kiên quyết loại bỏ các tài liệu khuyến khích săn bắt và giết hại động vật hoang dã. Sau khi có các điều luật nói trên, các tài liệu này trở nên bất hợp pháp. Phải xử phạt thật nặng các cơ quan truyền thông cũng như xuất bản lưu hành các tài liệu khuyến khích săn bắt và giết hại động vật hoang dã một cách bất hợp pháp này.
Thứ tư, khuyến khích việc nghiên cứu áp dụng thảo dược trong phòng và chữa bệnh. Trên thế giới cũng như trong nước, đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh lợi ích nổi trội của thảo dược so với dược liệu lấy từ động vật. Thực tế trong dân gian cũng như truyền thống của nền y dược dân tộc chân chính chủ yếu đều sử dụng thảo dược. Các bài thuốc đông y cổ đại cũng hầu như không sử dụng các bộ phận của động vật hoang dã, trừ những bộ phận có thể tái tạo được, chẳng hạn như xác ve, xác rắn khi con vật lột vỏ. Và không chỉ ngày xưa, nhiều thầy thuốc đông y chân chính hiện nay cũng chữa bệnh theo truyền thống đó, tuyệt đối không sử dụng các bộ phận của động vật hoang dã.
Chúng ta đều biết bộ máy tuyên truyền của chúng ta rất mạnh và rất có hiệu quả khi quyết tâm thực hiện một chủ trương chính sách. Chúng ta hoàn toàn có thể yên tâm, việc loại bỏ các thứ “tri thức” gây hại cho con người và cho môi trường không những không hề bị mang tiếng là hạn chế tự do thông tin mà chắc chắn sẽ được đông đảo người dân đồng thuận và thế giới hưởng ứng. (Thanh Niên 30/9) đầu trang(
Thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với lực lượng chức năng hải quan, biên phòng, kiểm dịch thực vật kiểm tra đối với gỗ nhập khẩu theo hình thức nhập kinh doanh qua các cửa khẩu Hoa Lư, Hoàng Diệu, Lộc Thịnh, Tà Vát và các lối mở, cửa khẩu phụ được UBND tỉnh cho phép nhập khẩu.
Chỉ trong tháng 8-2015, Chi cục Kiểm lâm đã phát hiện, bắt giữ 13 vụ vi phạm hành chính, gồm: 2 vụ vận chuyển lâm sản trái phép; 1 vụ mua bán, cất trữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái phép; 7 vụ vi phạm quy định về bảo vệ rừng; 3 vụ khai thác rừng trái phép; đã xử lý 19 vụ, trong đó có 6 vụ tồn của tháng trước chuyển sang. Tổng các khoản thu từ xử phạt vi phạm hành chính và bán tang vật, phương tiện là 215,802 triệu đồng. (Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bình Phước 29/9) đầu trang(
Bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ quan trọng không chỉ góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững đem lại thu nhập ổn định cho người dân mà còn bảo vệ môi trường sinh thái.
Thời gian qua, ngoài việc tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, Quảng Ninh đã làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển vốn rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh lên trên 53%, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân.
Hiện nay, toàn tỉnh có trên 316.500ha đất có rừng, trong đó: Rừng tự nhiên hơn 146.500ha; rừng trồng các loại hơn 170.000ha. Từ đầu năm đến nay, việc thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2015 đã vượt kế hoạch. Công tác bảo vệ rừng được tăng cường, góp phần bảo vệ phát triển rừng bền vững, nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh lên 55%.
Tính đến cuối tháng 8 năm nay, toàn tỉnh trồng được 13.150ha rừng tập trung đạt 100% kế hoạch, bằng 98,4% so cùng kỳ, trong đó trồng mới 380ha rừng phòng hộ, đặc dụng; 12.770ha rừng sản xuất và hơn 317.600 cây phân tán các loại.
Các đơn vị trong ngành sản xuất được 34,8 triệu cây giống các loại như: Keo, thông, sa mộc hồi, quế và một số loài cây khác phục vụ cho công tác trồng rừng. Cùng với đó, hơn 44.270ha rừng trồng, trong đó có 1.760ha rừng phòng hộ, 42.510ha rừng sản xuất đang được chăm sóc, bảo vệ tốt.
Để thực hiện đúng kế hoạch và đảm bảo tiến độ trồng rừng năm nay, các đơn vị trong ngành cũng như các doanh nghiệp thực hiện các dự án trồng rừng trên địa bàn tỉnh đã thực hiện tốt mọi công tác chuẩn bị. Đối với việc chuẩn bị giống, trên 35,6 triệu cây giống đảm bảo chất lượng đã được ươm, chăm sóc từ cuối năm 2014.
Các đơn vị trồng rừng chuẩn bị mặt bằng, hiện trường phục vụ cho việc thiết kế, lập dự án, phát băng, cuốc hố ngay từ đầu vụ xuân và xuân hè, khi cây giống đạt tiêu chuẩn đã đồng loạt trồng trên diện rộng, vì thế đối với các loại cây trồng sinh trưởng nhanh đã thực hiện trồng xong trước tháng 6 năm nay.
Nhiều địa phương, đơn vị đã thực hiện xong trước về thời gian cũng như vượt so với kế hoạch như: Cẩm Phả, Ba Chẽ, Móng Cái... Theo đó, các doanh nghiệp, chủ dự án, địa phương đã cụ thể hoá thành phương án trồng rừng, loại cây trồng, kế hoạch thực bì, ươm giống, nhằm đảm bảo tới mức cao nhất tiến độ và chất lượng.
Đặc biệt, năm 2015, công tác quản lý bảo vệ rừng; quản lý việc khai thác, mua, bán, vận chuyển, kinh doanh hàng hoá lâm sản trên địa bàn tỉnh được tăng cường, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật. Các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cơ bản được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép từ các tỉnh khác đến các vùng biên giới để tiêu thụ vẫn xảy ra với nhiều diễn biến phức tạp; vi phạm chủ yếu là mua, bán, vận chuyển gỗ, lâm sản sau chế biến và phá rừng trái pháp luật; phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vi phạm ngày càng tinh vi gây khó khăn cho công tác kiểm tra, bắt giữ, xử lý vi phạm. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh không để xảy ra cháy rừng, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh cơ bản được thực hiện tốt, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật.
9 tháng đầu năm, ngành chức năng đã lập, bắt giữ và xử lý 192 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (trong đó xử phạt hành chính 186 vụ, hình sự 6 vụ), tổng giá trị thu hồi là 2.615,868 triệu đồng. Riêng trong tháng 9 là 16 vụ. Phần lớn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, không có các điểm nóng về tàn phá rừng.
Đáng chú ý trong 9 tháng, Sở NN&PTNT đã phối hợp với Tổ chức động vật châu Á, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện chuyển giao 24 cá thể gấu của 11 chủ hộ nuôi trên địa bàn tỉnh về Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo đảm bảo an toàn, đúng quy định pháp luật; hiện nay trên địa bàn tỉnh còn 9 cá thể gấu, Sở  tiếp tục đang tiếp tục phối hợp các ngành và địa phương chỉ đạo các đơn vị và huy động các đoàn thể tiếp tục tổ chức triển khai quyết liệt hơn để vận động các hộ nuôi gấu còn lại tự nguyện viết đơn giao nộp gấu về Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo.
Có thể thấy, công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đã được tăng cường góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng. Tuy nhiên, theo đánh giá của lãnh đạo Sở NN&PTNN công tác bảo vệ và phát triển rừng những năm qua luôn gặp nhiều khó khăn, nhất là công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng. Việc trồng rừng theo đúng thiết kế, trong đó có việc xây dựng đường băng cản lửa đã góp phần quan trọng trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Trong khi nguồn vốn cho xây dựng đường băng cản lửa chưa được bố trí thì đây là khó khăn lớn đối với các đơn vị lâm nghiệp, nhất là các Ban quản lý rừng.
Hiện nay, để hoàn thành các hạng mục kế hoạch trồng rừng năm 2015, Sở NN&PTNT tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đơn vị đẩy mạnh công tác trồng rừng; chăm sóc cây giống đạt tiêu chuẩn để tiến hành trồng dặm; thực hiện tốt chăm sóc rừng và thi công công trình phòng cháy chữa cháy rừng; tăng cường công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy trong mùa hanh khô và thực hiện trồng rừng vượt kế hoạch năm 2015 với diện tích trồng mới hơn 13.000ha. (Báo Quảng Ninh 30/9) đầu trang(
“Chuyện dân bản vào rừng bắt hổ, bò tót, hươu nai xảy ra cách đây lâu lắm rồi, giờ người Pù Luông đã biết bảo vệ thiên nhiên, không săn bắt thú rừng nữa. Ta giải nghệ rồi, treo mấy cái mũi tên tẩm độc trên vách nhà sàn làm kỷ niệm một thời săn bắt mông muội thôi…”, lão thợ săn Lò Văn Huyện (ở thôn Báng, xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, Thanh Hóa) cười khà bắt đầu câu chuyện…
Nhà ông Lò Văn Huyện nằm trong vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông của huyện Bá Thước (Thanh Hóa). Xưa kia khu vực này hoang vu, cây cối rậm rạp nên hổ, báo, bò tót, lợn lòi vào bản phá hoại hoa màu, bắt trâu bò là chuyện thường xuyên xảy ra. Nhiều lần ông Huyện nằm ở trên nhà, khi nhìn qua kẽ sàn từng chứng kiến việc hổ vào tận gầm nhà sàn bắt trâu, bò nhưng không dám kêu vì sợ hãi; trong bản từng có trường hợp thú dữ tấn công người. Trước thực tế đó, dân bản nghĩ cách bào chế tên độc để bắn, bẫy, tấn công thú từ xa.
Cha ông Huyện là cụ Lò Văn Kim (năm nay 93 tuổi) từng là một cao nhân bắn nỏ có tiếng trong bản. Xưa kia, cụ Kim đã bắn hạ hổ ở vùng Doãn Ngài bằng chính mũi tên độc của mình. Dù tuổi đã cao nhưng mỗi khi có ai nhắc đến chuyện săn bắn hổ, gấu là cụ Kim lại nổi “máu nghề”, hào hứng kể lại chiến tích thời trai trẻ.
Cụ Kim kể: “Đêm ấy ta hạ độc con hổ bằng mũi tên tẩm độc, sáng mai dân bản đi tìm thì thấy hổ chết ở Doãn Ngài. Lúc nhìn thấy “ông Ba Mươi”, ai cũng sợ bủn rủn cả người, không dám lại gần, người thì súng, người thì nỏ cứ dứ dứ theo con hổ. Khi thấy hổ không còn cựa quậy thì dân làng mới dám khiêng về nhà. Theo ước lượng, con hổ nặng chừng 80kg, chiều dài của nó tính từ đầu đến đuôi là tám thước tay”.
Khi được hỏi về bí quyết săn hổ và các loài thú dữ, ông Huyện hồ hởi trả lời: “Để săn được hổ, mình phải biết bào chế ra thuốc độc. Độc tố càng mạnh thì con vật chết càng nhanh. Trước đây ở vùng Doãn Ngài, Kho Mường, Pù Săn Tén hổ nhiều vô kể. Thậm chí nhiều lần tôi còn nhìn thấy vài ba con kéo xuống bản. Nhiều người liều thân thì mới dám bắn mũi tên độc, chứ không phải ai cũng bắn được hổ đâu. Đấy phải là người biết chế thuốc độc và giỏi bắn nỏ thì mới hạ được”.
Để bào chế ra thuốc độc, phải tìm bằng được nhựa cây “cờ noóng” (cách gọi của người Thái) sống trong rừng già, hứng nhựa cũng tương tự như cạo mủ cao su.
Ông Huyện nói: “Mình phải đóng máng trên thân cây, chặt 3 nhát rồi vạch đường cho nước chảy vào ống nứa. Khi nào nhựa cây “noóng” đầy ống thì mới mang về phơi gác bếp”. Theo ông Huyện, ngoài nhựa “cờ noóng” còn phải kết hợp nước cây ráy và 30 quả ớt để pha trộn. Cách bào chế là nghiền ớt tươi ra, sau đó trộn lẫn nước của cây ráy và nhựa cây “cờ noóng” vào.
Ông Huyện bật mí: “Khi bào chế thuốc độc, mình không nấu nhưng nó vẫn sôi. Thuốc tự tăng nhiệt, sôi sùng sục không khác gì mình nấu canh. Nếu nước sôi không mạnh thì phải cho thêm nhựa cây “cờ noóng” vào, khi nào thấy nước sôi mạnh thì mới được. Loại thuốc này bất kể người hay thú, một khi đã trúng phải đều chết hết”. Sau khi trộn lẫn, độc tố sẽ được ông Huyện tẩm vào từng mũi tên. Cách tẩm là xoáy đầu mũi tên theo vòng tròn, khi nào thấy độc bén dày vào mới được. Nếu mũi tên bắn các loài thú lớn thì phải tẩm rồi lại phơi nắng khoảng năm đến sáu lần như vậy mới đủ liều.
Cũng theo ông Huyện, các mũi tên tẩm độc tuyệt đối không được để gần da hoặc vết trầy xước vì nếu không may ngấm độc rất nguy hiểm. “Bị ngấm độc mà mình không biết cách giải độc kịp thời thì chỉ cần nửa tiếng là tử vong rồi. Riêng loại thuốc độc này phải là các thợ săn có kinh nghiệm thì họ mới giải được”, ông Huyện nói.
Cụ Kim kể xen vào, chẳng may thuốc độc nhiễm vào ngón tay thì phải nhanh chóng tìm cách giải độc ngay, nếu để quá lâu khiến độc tố ngấm vào máu thì khó mà giữ được mạng sống. Khi trúng độc, thợ săn nơi đại ngàn thường mài vỏ dao giắt ở thắt lưng của mình ra uống.
“Nếu lỡ bị trúng độc, phải nhanh chóng tháo vỏ dao ra, cạo phần đen bên trong sau đó hòa với nước lã, uống là khỏi”. Theo cụ Kim, con dao rừng chặt nhiều loại cây lâu năm, trong đó có cả cây độc và cây thuốc quý, nhựa các cây này tích tụ vào vỏ dao tạo nên chất giải độc hiệu nghiệm. Thực tế, cụ Kim, ông Huyện và nhiều dân bản cũng đã từng giải độc cho mình bằng cách này.
Ông Huyện góp chuyện: “Còn có bài thuốc giải độc dân gian rất hiệu nghiệm là cạo cả gót chân hòa nước để uống. Vì đồng bào vùng cao không có giày, dép nên họ chủ yếu đi bằng “chân chim” vào rừng. Trong rừng gai góc chọc vào chân nhiều, vô tình tạo thành thuốc kháng độc”.
Cụ Kim tiếp chuyện: “Những chuyện săn bắt đó chỉ còn trong ký ức thời trai trẻ. Bản mình giờ văn minh rồi, biết bảo vệ thiên nhiên chứ không săn bắn nữa”. Theo cụ Kim, từ năm 1976 Đảng và Nhà nước bắt đầu cấm săn bắn bò tót, dần dần cấm tất cả các loài thú quý. Hiện trong rừng Pù Luông hổ, bò tót không còn, nguyên nhân là do người dân phát nương làm rẫy nhiều. Một phần cũng là do người dân chặt trộm gỗ,  máy cưa, máy xẻ kêu ầm ĩ nên thú phải bỏ đi nơi khác để sinh sống.
Cũng theo ông Huyện, ngày nay tìm được nhựa cây “cờ noóng” rất khó, cán bộ kiểm lâm cấm không cho bào chế nhựa cây độc. Hiện vũ khí săn bắn đã được kiểm lâm vào tận nhà thu giữ hoặc mình phải nộp cho chính quyền địa phương. Giờ người dân đã có ý thức trong việc bảo vệ động vật quý hiếm nên không ai dám săn bắn nữa.
Trao đổi với Phó Chủ tịch xã Thành Sơn, ông Ngân Văn Giống cho biết: “Chuyện bào chế thuốc độc là có thật vì trước đây đồng bào thường sống bằng săn bắn là chính. Tập quán săn bắn bắt nguồn từ việc người dân làm nương rẫy, sống dựa vào rừng, tự cấp tự túc; một phần do  thú rừng vào phá phách hoa màu của bà con nên họ mới chống lại. Hiện địa phương không còn ai bào chế thuốc độc như trước kia.
Cây “cờ noóng” thì kiểm lâm cấm không cho lấy nhựa vì độc tố của nó rất nguy hiểm, trước đây cây thuốc độc vẫn còn ở Kho Mường nhưng đã bị chặt hạ rồi. Những năm gần đây, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền nên người dân địa phương nghiêm chỉnh chấp hành chính sách pháp luật về việc cấm săn bắn động vật hoang dã, đồng thời phải bảo vệ thiên nhiên nên dân bản có ý thức bảo vệ rừng, động vật hoang dã”. (Pháp Luật Việt Nam 1/10) đầu trang(
Tình cờ gặp một người bắt được một cá thể khỉ và có ý định giết thịt, ông Quốc Dũng (trú đường Yết Kiêu, quận Sơn Trà, Đà Nẵng) mua lại với giá 5 triệu đồng để thả về rừng.
Chiều 30/9, Hạt kiểm lâm Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn (TP.Đà Nẵng) cho biết vừa tiếp nhận một cá thể khỉ đuôi lợn từ ông Quốc Dũng (trú đường Yết Kiêu, quận Sơn Trà, Đà Nẵng) để thả về rừng.
Được biết, trước đó, ông Dũng tình cờ gặp một người bắt được cá thể khỉ đuôi lợn nặng gần 10kg, cao khoảng 1m và người này có ý định giết thịt.
Thấy thế, ông Dũng mua lại với giá 5 triệu đồng và đem về nhốt lại rồi báo cho lực lượng kiểm lâm để thả cá thể khỉ này về rừng.
Điều đáng nói, ông Dũng là chủ quán nhậu Vườn Mít trên đường Yết Kiêu nhưng rất có ý thức bảo vệ động vật hoang dã. Trước đó ông Dũng cũng đã mua lại cá thể đại bàng và cá thể trăn để bàn giao cho kiểm lâm thả về rừng. (Gia Đình Và Xã Hội 30/9) đầu trang(
Các đối tượng đang mang các gùi chứa nhiều cá thể cầy vòi đi từ trong rừng ra, phát hiện lực lượng kiểm lâm thì lập tức vứt gùi bỏ chạy.
Sáng 30/9, tin từ Hạt Kiểm lâm Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc Ban quản lý Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình cho biết, lực lượng đơn vị này vừa phát hiện vụ vận chuyển trái phép cầy vòi có số lượng lớn nhất từ trước tới nay trong lâm phận.
Khoảng 4h30 rạng sáng 29/9, trong khi đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra bảo vệ rừng ở khu vực Km22 trên đường 20, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tổ tuần tra của Trạm Kiểm lâm Thượng Trạch phát hiện 2 người mang 2 gùi đi từ hướng trong rừng đi ra. Bất ngờ thấy lực lượng kiểm lâm, 2 đối tượng lập tức vứt gùi và bỏ chạy, tổ công tác đã truy đuổi nhưng do địa hình rừng núi hiểm trở, rộng lớn nên không bắt giữ được.
Lực lượng tuần tra quay lại hiện trường thì phát hiện trong 2 gùi đi rừng này có chứa 9 cá thể cầy vòi. Trong số đó có 5 cá thể cầy vòi mốc (có tên khoa học là Paguma larvata) và 4 cá thể cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus) với tổng trọng lượng 20,9 kg. Trong đó, có 2 cá thể cầy vòi mốc đã chết do bị thương nặng khi dính bẫy của lâm tặc.
Hiện Hạt Kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng đã ra quyết định tạm giữ tang vật và tiếp tục điều tra về các đối tượng bẫy bắt và gùi số cầy này. Được biết, 2 loài cầy này đều có tên trong Sách đỏ thế giới (UICN). Các cá thể cầy còn sống sẽ được cho Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật của VQG này chăm sóc, cứu hộ để nhanh chóng thả về môi trường tự nhiên. (Pháp Luật Việt Nam 30/9; Người Lao Động 30/9) đầu trang(
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 360ha rừng tự nhiên và rừng trồng, một số địa phương như Hoành Bồ, Ba Chẽ, Đầm Hà, Tiên Yên... rừng được xác định là một trong những thế mạnh trong phát triển kinh tế. Chính vì vậy, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) luôn được ngành Kiểm lâm và các địa phương đặc biệt quan tâm, nhất là trong mùa hanh khô, thường kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau.
Phần lớn diện tích rừng trên địa bàn tỉnh giáp ranh với nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, có khu vực bị chia cắt, đường giao thông khó khăn, không có ao, hồ, sông, suối, phân bố dân cư vùng giáp ranh có chỗ chưa rõ ràng, hiện tượng xâm canh, xâm cư còn xảy ra. Mặt khác, điều kiện KT-XH của các xã miền núi còn gặp nhiều khó khăn, tập quán canh tác lạc hậu, đất sản xuất nông nghiệp thiếu nên tình trạng đốt rừng làm nương rẫy vẫn còn xảy ra.
Trong khi đó, vào mùa hanh khô là thời kỳ cây rụng rất nhiều lá, cũng là mùa đốt nương làm rẫy của người dân nên nguy cơ cháy rừng rất cao. Do vậy, ngay từ đầu mùa nắng nóng năm nay, Sở NN&PTNT đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các đơn vị trực thuộc rà soát, tham mưu củng cố và kiện toàn Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng và triển khai các kế hoạch, phương án PCCCR một cách đồng bộ; xây dựng bản đồ tác chiến, diễn tập PCCCR.
Mặt khác, để nâng cao công tác cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh, Sở NN&PTNT đã chỉ đạo phân vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao tại địa bàn một số khu vực thuộc các địa phương như: Đông Triều, Tiên Yên, Hạ Long, Uông Bí, Quảng Yên, Bình Liêu, Móng Cái… để từ đó cảnh báo các cấp, các ngành tại địa phương nâng cao ý thức trong bảo vệ rừng, PCCCR. Căn cứ vào bản đồ phân vùng trọng điểm cháy của từng khu vực, hàng năm chính quyền cơ sở có phương án bố trí trang thiết bị phòng cháy, con người cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
Đồng thời, các chủ rừng lớn như Ban Quản lý khu di tích và rừng quốc gia Yên Tử, Vườn Quốc gia Bái Tử Long, các công ty TNHH MTV lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng cũng đã chủ động bố trí nguồn phục vụ PCCCR như: Chòi canh lửa, hồ chứa nước, biển cấp dự báo, pano, áp phích, đường băng cản lửa, biển dự báo, máy bơm chuyên dụng, cưa xăng, máy thổi gió, lao phát thanh, quần áo, giầy bảo hộ, dao phát.
Ngoài ra chính quyền các địa phương và các hộ gia đình, cá nhân cũng đã trang bị một số dụng cụ thô sơ như dao phát, giầy bảo hộ, can đựng nước phục vụ công tác PCCCR của địa phương.
Ông Nguyễn Thanh Khương, Trưởng phòng Quản lý và Bảo vệ rừng (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) cho biết: “Cùng với những giải pháp trên, hiện ngành Kiểm lâm luôn đảm bảo các lực lượng trực, tuần tra canh gác lửa rừng ở các xã có rừng 24/24h; chuẩn bị chu đáo các nguồn nhân lực, phương tiện, cơ sở vật chất cần thiết cho công tác PCCCR tại các địa phương, nhất là vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng với 30 máy cắt thực bì, 34 máy thổi gió, 80 bàn dập lửa, 28 máy định vị toàn cầu GPS, 3 máy bơm chuyên dụng…; xây dựng gần 200km đường băng cản lửa; thành lập 1.279 tổ, đội PCCCR. Tuy nhiên, bên cạnh sự nỗ lực, vào cuộc tích cực của các đơn vị, địa phương, điều quan trọng là mỗi người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR, nhất là những người dân sống ở khu vực ven rừng”. (Báo Quảng Ninh 30/9) đầu trang(
Hiếm nơi nào có được rừng dẻ tự nhiên có tuổi đời ngót trăm năm như các xã vùng sâu, vùng xa của huyện Lục Nam (Bắc Giang).
Ngoài mang lại nguồn thu nhập cho hàng trăm hộ dân, rừng còn tạo nguồn sinh thủy dồi dào...
Cùng cán bộ xã Trường Sơn, chúng tôi đến Điếm Rén, thôn có hơn 50 ha rừng dẻ. Những vạt rừng xanh ngút ngàn nối tiếp nhau khiến không khí nơi đây thật trong lành, mát mẻ xua tan cái nắng nóng oi bức.
Dưới tán rừng, cây dẻ non màu xanh lá mạ mọc tua tủa do hạt rụng còn sót lại từ vụ trước. Ông Nguyễn Bá Dũng, người dân trong thôn giữ lại vài cây con ở nơi dẻ chưa khép tán để chúng sinh sôi. Ông cũng không nhớ rõ khu rừng có từ bao giờ nhưng nhận chăm sóc, bảo vệ đến nay đã được hơn 30 năm. Đường kính cây to khoảng 30 cm, cây nhỏ từ 15 - 20 cm.
Theo kinh nghiệm của ông Dũng thì năm nay dẻ được mùa. Ngoài cây dẻ cổ thụ thì cây dẻ mới tái sinh cũng cho quả. Dự kiến gia đình ông thu được khoảng 30 triệu đồng từ hạt dẻ trong vụ này. Đông nhân lực nên gia đình ông Nguyễn Tiến Đạt (cùng thôn) mấy năm gần đây thu được 40 triệu đồng với hơn 2 ha dẻ. Dẻ chín không tập trung nên phải thu hoạch thủ công.
Ông Đạt nói: “Năm ngoái, có ngày cả nhà tôi nhặt được 50 kg hạt dẻ. Công việc không nặng nhọc, người già, trẻ nhỏ đều làm được thế nhưng phải tốn công, tỉ mỉ sàng sảy loại bỏ tạp chất thì mới bán được”.
Mùa dẻ chín kéo dài từ tháng 8 đến hết tháng 10 âm lịch. Vào mùa, từ sáng sớm, nhà nhà trong thôn mang theo cơm nắm lên rừng quét, nhặt hạt dẻ đến xế chiều lại đồng loạt xuống núi.
Sản phẩm được thương nhân ở Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh thu mua tại chỗ, có đến đâu bán hết đến đó. Đầu vụ, giá 50 nghìn đồng/kg hạt dẻ, giữa vụ 25 - 30 nghìn đồng/kg.
Ông Nguyễn Văn Hưng, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Sơn cho biết: “Với diện tích hơn 160 ha, mỗi năm thu từ hạt dẻ toàn xã đạt hơn 2 tỷ đồng. Nhờ vậy nhiều gia đình có của ăn, của để làm giàu từ rừng”.
Cùng với Trường Sơn, xã Nghĩa Phương, Lục Sơn, Huyền Sơn, Bình Sơn và Vô Tranh, người dân cũng có nguồn thu đáng kể từ rừng dẻ. Tại xã Nghĩa Phương mỗi năm người dân thu khoảng 4 tỷ đồng từ hơn 600 ha rừng dẻ.
Điển hình là hộ ông Đặng Bá Ảnh, thôn Quýnh năm 2014 thu 50 triệu đồng nhờ bán hạt dẻ. Xã Lục Sơn có diện tích ít hơn nhưng thu nhập cũng đạt khoảng 1 tỷ đồng.
Theo Phòng NN-PTNT huyện Lục Nam, toàn huyện hiện có gần 1,5 nghìn ha dẻ. Năm nay sản lượng hạt dẻ ước đạt hơn 1 nghìn tấn, mang về cho người dân khoảng 20 tỷ đồng.
Nhờ có rừng dẻ mà hàng trăm hộ có thu nhập 35 - 40 triệu đồng/vụ. Đây là nguồn lợi không nhỏ đối với bà con vùng sâu, vùng xa. Ngoài mang lại hiệu quả kinh tế, rừng dẻ đã làm cho nguồn sinh thủy dồi dào.
Rõ nhất là hồ Khe Cát, xã Trường Sơn nước luôn đầy, trong xanh in bóng cây; con suối quanh năm chảy róc rách bảo đảm nước tưới cho hơn 100 ha lúa, hoa màu trong xã dù khô hạn kéo dài.
Coi rừng dẻ là vốn quý, tài sản hiếm nơi nào có được, UBND huyện Lục Nam chỉ đạo giữ diện tích rừng dẻ hiện có; đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng tự nhiên; cử cán bộ chuyên môn thường xuyên bám sát cơ sở, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng người dân để có hướng giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh liên quan đến rừng.
UBND huyện trích ngân sách hỗ trợ cán bộ lâm nghiệp tại các xã trồng dẻ 500 nghìn đồng/người/tháng. Sau nhiều năm thực hiện đồng bộ các biện pháp, đến nay không còn tình trạng vén rừng dẻ chuyển sang cây trồng khác như trước đây.
Để nâng cao giá trị hạt dẻ, từng bước đưa sản phẩm vào siêu thị, mang lại nguồn thu ổn định cho người trồng, năm 2014 UBND huyện Lục Nam đã thực hiện dự án xây dựng thương hiệu dẻ Lục Nam.
Dự kiến giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa sẽ được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH-CN) trao trong tháng 11 năm nay.
Cùng với các biện pháp trên, UBND huyện Lục Nam đang lập quy hoạch vùng dẻ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 gồm 6 xã: Lục Sơn, Bình Sơn, Trường Sơn, Vô Tranh, Nghĩa Phương, Huyền Sơn. Đây là những xã có diện tích dẻ lấy hạt lớn và ổn định; quỹ đất để phát triển cây dẻ còn nhiều.
Theo kế hoạch, huyện sẽ chỉ đạo tập trung cải thiện chất lượng gần 1,5 nghìn ha rừng hiện có bằng cách điều chỉnh mật độ, đầu tư chăm sóc, bảo vệ; trồng mới gần 200 ha; thí điểm một số sản phẩm chế biến từ hạt dẻ phục vụ người tiêu dùng tiến tới đầu tư chế biến đa dạng các sản phẩm từ hạt dẻ xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/10) đầu trang(
Ngày 29/9, trong khuôn khổ Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV, đã diễn ra Hội thảo chuyên đề về Bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với các vấn đề môi trường toàn cầu của Việt Nam.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã nghe các báo cáo về “Hiện trạng đa dạng sinh học và các vấn đềưu tiên trong quản lý đa dạng sinh học tại Việt Nam” do TS. Phạm Anh Cường, Cục trưởng CụcBảo tồn đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường trình bày, báo cáo về “Công tác bảo tồn đa dạngsinh học và phát triển bền vững các hệ sinh thái trên địa bàn tỉnh Nam Định” do Phan Văn Phong, Phó Giám đốc Sở TN&MT Nam Định trình bày, báo cáo về “Thách thức trong thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã và các giải pháp cấp bách cần triển khai thực hiện” do Bà Bùi Thị Hà, Phó Giám độc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên trình bày.
Theo báo cáo, Việt Nam là quốc gia giàu có về ĐDSH, được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật. Tính đa dạng về hệ sinh thái (HST) bao gồm rừng, biển, đất ngập nước; sự phong phú và giàu có về các loài và nguồn gen sinh vật; và dịch vụ sinh thái-môi trường do chúng mang lại; cùng hệ thống các kiến thức truyền thống và văn hóa địa phương về quản lý và sử dụng tài nguyên đã làm cho ĐDSH có vai trò và giá trị vô cùng to lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, nhất là lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản. Du lịch sinh thái cũng đang trở thành ngành kinh tế đầy tiềm năng, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
Nhận thức được sự cần thiết phải bảo tồn ĐDSH, từ đầu những năm 1960 của thế kỷ trước, Đảng và nhà nước đã có những chính sách bảo vệ các khu rừng nguyên sinh (rừng cấm), nhờ đó Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập. Tuy nhiên, quyết tâm và cam kết bảo tồn ĐDSH của nhà nước được chú trọng hơn sau khi Việt Nam trở thành viên công ước CBD và CITES năm 1994.
Một hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn (VQG/KBT) của Việt Nam đã được quy hoạch và thành lập trên toàn quốc (theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản). Đến nay, Việt Nam đã có 164 KBT rừng đặc dụng với tổng diện tích gần 2,2 triệu ha và dự kiến đến năm 2020 sẽ nâng lên 176 khu tương đương 2,4 triệu ha.
Thành tựu và cũng là cột mốc quan trọng nhất cho sự nghiệp bảo tồn ĐDSH Việt Nam là Luật ĐDSH được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2009. Luật ĐDSH được đánh giá là rất tiến bộ, có tầm nhìn, hệ thống và tiếp cận đầy đủ các cam kết và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn ĐDSH. Đây là khung luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH.
Trên cơ sở này, đến nay đã có 10 Nghị định của Chính phủ, 12 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 23 Thông tư của Bộ trưởng đã được ban hành, thể chế hóa các chiến lược, quy hoạch, cơ chế về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Việt Nam. Nhằm duy trì và bảo tồn ĐDSH và thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành TƯ Đảng, các cơ quan Nhà nước phải triển khai đồng bộ rất nhiều các giải pháp, biện pháp.
Tuy nhiên, để công tác bảo tồn ĐDSH sớm đi vào nề nếp và đạt hiệu quả thì việc xác định rõ và tổ chức triển khai các nhiệm vụ ưu tiên nhằm duy trì, bảo tồn sự ĐDSH của Quốc gia là việc quan trọng đầu tiên chúng ta phải làm.
Tại Hội thảo, GS. TSKH. Chu Hồi đã nêu ý kiến về việc bảo vệ lãnh thổ biển và sự quan trọng của đa dạng sinh thái biển, đồng quan điểm với GS.TSKH. Chu Hồi, các đại biểu  cũng nhất trí việc cần thiết đưa ra các luật và thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn sinh học biển nói riêng và bảo tồn đa dạng sinh học nói chung.
Những đóng góp, ý kiến của các đại biểu đã phần nào góp phần giải quyết được các khúc mắc, khó khăn trong việc thực hiện, thực thi pháp luật trong bảo vệ động vật hoang dã, cũng như trong công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học.
Thông qua Hội thảo, có thể thấy rằng đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường tại Việt Nam. Việc triển khai các công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức cần thiết và cấp bách. (Tin Môi Trường 30/9) đầu trang(
Đất rừng thuộc dự án đã chấm dứt, nhưng Lê Văn Phùng - Giám đốc Công ty Lê Gia vẫn rao bán và lừa đảo chiếm đoạt tiền tỷ.
Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đắc Nông đang hoàn tất hồ sơ chuyển Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị truy tố đối tượng Lê Văn Phùng (SN 1960, trú tại phường Long Bình, Quận 9, TP.HCM) - Giám đốc Công ty Lê Gia, có văn phòng tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo điều tra, tháng 9/2012, do có nhu cầu mua đất để trồng cao su, bà Lê Thị Vẹn (trú tại xã Đắc Ru, huyện Đắc R’lấp, tỉnh Đắc Nông) tìm gặp Lê Văn Phùng - Giám đốc Công ty Lê Gia- đơn vị có 300 ha đất rừng thuộc Dự án liên doanh liên kết tại xã Đắc Ngo, huyện Tuy Đức.
Do dự án triển khai không hiệu quả, đã bị chấm dứt từ đầu năm 2012, nhưng Lê Văn Phùng vẫn dẫn bà Vẹn đi xem đất và nói cho bà Vẹn biết đất này đang chuẩn bị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Từ đó bà Vẹn tin tưởng và đã đặt cọc cho Phùng 1 tỉ đồng.
Sau khi nhận số tiền này, Lê Văn Phùng đã không thực hiện được theo thỏa thuận, không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng, không giao đất và cũng không hoàn trả số tiền cọc.
Ngày 18/8/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắc Nông đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Lê Văn Phùng để điều tra, làm rõ về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đến ngày 15/9/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắc Nông đã ra lệnh truy nã đối với Lê Văn Phùng.
Ngày 23/9/2015, Phòng Cảnh sát truy nã tội phạm Công an tỉnh Đắc Nông đã bắt giữ Phùng tại quận Bình Thạnh, TP.HCM. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 30/9) đầu trang(
Tình trạng lâm tặc dùng mô tô độ, chế ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu là vấn đề nhức nhối khiến dư luận bức xúc nhiều năm qua. Do sự hung hãn, tinh vi của lâm tặc nên mọi nỗ lực ngăn chặn của các ngành chức năng gần như không mang lại kết quả đáng kể.
Đi trên các tuyến quốc lộ 25, 29, tỉnh lộ nối miền núi với đồng bằng, người ta dễ dàng bắt gặp tình trạng vận chuyển gỗ lậu bằng mô tô độ chế. Những chiếc xe “đặc chủng” này được gắn thêm ít nhất 2 đến 4 nhún chở theo can xăng, cưa máy, rú ga chạy thành từng đoàn với tốc độ chóng mặt. Trên đoạn đường từ xã Suối Bạc đến xã Ea Chà Rang, huyện Sơn Hòa, loại xe “đặc chủng” không biển số này thường được lâm tặc tập trung thành từng nhóm từ 5 đến 7 chiếc tại các quán giải khát bên đường để nghe ngóng tình hình, nắm lịch tuần tra của lực lượng chức năng.
Khoảng 7 giờ 30 sáng, chúng tỏa ra khắp các đường mòn, rầm rộ thẳng tiến vào rừng, nhất là khu vực giáp ranh với các tỉnh Tây Nguyên. Quan sát tại ngã ba giao nhau giữa quốc lộ 25 với đường vào rừng đặc dụng Krông Trai, chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, chúng tôi thấy có hơn 40 xe “đặc chủng” của lâm tặc ra vào rừng chở gỗ.
Một người dân ở xã Ea Chà Rang cho hay, thực trạng lâm tặc vào rừng cưa gỗ, chở ra khỏi rừng diễn ra hàng ngày, nhưng ít thấy các ngành chức năng ngăn chặn. Gỗ được vận chuyển bằng nhiều cách khác nhau. Tốp thì buộc một đầu khúc gỗ vào đuôi xe, đầu kia thả xuống đất có gắn bánh xe; tốp thì kẹp gỗ song song hai bên hoặc buộc ngang trên yên xe chạy bạt mạng, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng người đi đường.
Theo nhiều người dân sống dọc quốc lộ 25, lâm tặc thường đi một tốp 7 mô tô “đặc chủng”. Xe đầu tiên làm tiền trạm, thám thính, cảnh giới ở gần khu vực các cơ quan kiểm lâm, rồi gọi điện cho đồng bọn đồng loạt xuất phát khi thấy tình hình ổn định. Xe dẫn đầu đi không, xe sau cùng chở xăng, nhớt, cưa máy, các xe đi giữa mỗi xe chở từ 2 đến 3 súc gỗ hộp chạy thành từng đoàn hoặc dàn hàng ngang trên đường. Mục đích của xe đi đầu và cuối là để cản đường nếu gặp lực lượng chức năng truy đuổi.
“Mặc dù đứng ở xa, nhưng chỉ cần nghe tiếng xe rú ga là biết ngay lâm tặc chở gỗ. Họ chạy rất nhanh, rú ga ầm ĩ, đến mức ai nghe thấy cũng phải khiếp sợ, nhường đường. Nếu người đi đường nào yếu tim, rất dễ bị ngã xe vì hoảng loạn hoặc bị gỗ gạt gây tai nạn”, một người dân bức xúc.
Dọc quốc lộ 25 từ xã Suối Bạc lên xã Ea Chà Rang có hơn chục gara sửa mô tô. Để xâm nhập ghi hình, chúng tôi phải tự xả lốp xe để dắt vào bơm tại một gara ở xã Ea Chà Rang nhằm tránh sự chú ý. Tại đây có gần 10 chiếc mô tô đang trong giai đoạn hoàn thành, có xe được gắn hai bên 8 nhún sau và 4 nhún trước. Khung xe hàn chi chít những thanh sắt ngang, dọc để hỗ trợ vận chuyển tải trọng lớn.
Lân la dò hỏi, chủ gara tiết lộ lâm tặc đưa những xe quá đát, không biển số vào đây để “nâng cấp”. Máy được xoáy xi lanh nâng phân khối, đôn dên đủ mạnh để vượt mọi địa hình hiểm trở nhất mà mô tô bình thường không thể đi được. “Nhiều chiếc, họ còn yêu cầu tôi độ chế từ 10 đến 12 nhún. Các phụ kiện bên ngoài bỏ hết, chỉ giữ lại khung xe, rồi hàn gò lại theo yêu cầu họ đưa ra”, chủ gara này cho biết thêm.
Sau khi xuất xưởng, loại xe “đặc chủng” này có thể chở từ 2 đến 3 súc gỗ hộp nặng từ 2 đến 4 tạ và “chinh phục” bất kể địa hình nào, kể cả lội suối, vượt lầy đến đèo dốc, ngóc ngách trong rừng sâu, núi thẳm. Điều đáng nói là những mô tô chuyên dùng cho lâm tặc vận chuyển gỗ lậu được độ chế công khai bất hợp pháp tại các gara nhưng lâu nay không thấy cơ quan nào kiểm tra, ngăn chặn.
Nói về thực trạng này, ông Phan Văn Công, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết, lâu nay, chúng tôi thường xuyên chỉ đạo ngăn chặn nhưng lâm tặc rất ngoan cố. Sắp tới, Chi cục Kiểm lâm tỉnh sẽ tiếp tục triển khai lực lượng tuần tra, xửlý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Còn theo đại tá Nguyễn Phi Lương, Trưởng phòng CSGT Công an tỉnh, lâm tặc sửdụng loại xe “đặc chủng” rất cơ động, lúc ẩn lúc hiện, trong khi lực lượng CSGT tuần tra công khai nên dễ bị chúng phát hiện. Lâm tặc có cả đội chuyên đi do thám, khi thấy bóng dáng công an, họ điện thoại báo ngay cho đồng bọn lẩn trốn.
Khi phát hiện lực lượng CSGT tuần tra, truy đuổi, chúng lập tức cắt dây buộc, thả gỗ xuống đường, gây nguy hiểm cho lực lượng làm nhiệm vụ và người dân. Thậm chí, lâm tặc còn sửdụng cả ô tô hết đời, bố trí người ngồi sau, khi thấy lực lượng chức năng truy đuổi, chúng đổ nhớt, thả gỗ xuống đường để ngăn cản, tẩu thoát. (Báo Phú Yên 1/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 3/9/2015 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1347/QĐ-UBND ngày 3/9/2015 tạm giao kế hoạch trồng rừng năm 2016 cho các địa phương tổng diện tích 7.000ha.
Điểm mới trong cơ chế trồng rừng năm 2016 của tỉnh đó là trong tổng số 7.000 ha thì chỉ có  4.000ha được ngân sách nhà nước hỗ trợ (trong đó rừng đặc dụng là 50ha, rừng sản xuất tập trung 3.500ha), còn lại 3.000ha người trồng rừng phải tự đầu tư. Ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ đối với diện tích trồng rừng chu kỳ đầu tiên, những diện tích khai thác trồng lại thì không được hỗ trợ.
Diện tích trồng rừng lại chu kỳ II đã được tỉnh xác định cụ thể, nhiều địa phương diện tích này chiếm khá lớn. Ví dụ huyện Chợ Mới là 700ha/1.440 ha kế hoạch giao, Chợ Đồn 450/ 1.110ha kế hoạch. Bạch Thông 550ha/900ha kế hoạch, Ba Bể 400ha/850ha kế hoạch… (Báo Bắc Kạn 30/9) đầu trang(
Trong 9 tháng của năm nay, ngành Nông nghiệp - PTNT tỉnh đã kiểm tra và cấp 54 giấy chứng nhận nguồn gốc giống của lô cây con cho 28 tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp.
Tổng số cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn phục vụ trồng rừng là gần 11 triệu cây (trong đó keo nội có trên 3 triệu cây; keo Úc gần 7 triệu cây; mỡ 675 nghìn cây; quế trên 280 nghìn cây). Tính đến hết tháng 9, các địa phương trong tỉnh đã trồng được hơn 6.560ha rừng, trong đó: Trồng rừng sản xuất tập trung bằng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước là 5.766ha (đạt 102,8% kế hoạch); trồng rừng sản xuất tập trung do doanh nghiệp và người dân tự bỏ vốn thực hiện là 350ha; trồng cây phân tán 675 nghìn cây (tương đương 450ha).
Về khoán bảo vệ rừng đạt 10.259ha (bằng 127% kế hoạch); khoanh nuôi tái sinh rừng: 1.233ha (đạt 100% kế hoạch).
Cùng với việc trồng rừng, ngành Nông nghiệp - PTNT cũng đã tiến hành giám sát khai thác được gần 125.000m3 gỗ các loại (gồm trên 25.000m3 gỗ rừng trồng tập trung và gỗ vườn rừng, vườn nhà; gỗ khai thác từ cây trồng phân tán là 100.000m3). (Báo Thái Nguyên 30/9) đầu trang(
Huyện Ba Chẽ có trên 55.500ha đất lâm nghiệp, chiếm trên 91% tổng diện tích đất tự nhiên. Đây là cơ sở để Ba Chẽ đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp, ngành kinh tế chủ lực của địa phương này.
Tuy nhiên lâu nay, kinh tế lâm nghiệp Ba Chẽ vẫn chưa phát triển xứng tầm với tiềm năng thế mạnh đang có. Để cải thiện tình hình này, huyện Ba Chẽ đã và đang triển khai kế hoạch trồng rừng gỗ lớn, lấy đây là giải pháp phát triển rừng bền vững, tuy nhiên việc thực hiện xem ra còn không ít gian nan.
Theo tính toán, rừng trồng gỗ lớn cho giá trị kinh tế tăng theo cấp số nhân tuỳ theo tuổi khai thác và đường kính cây so với rừng trồng gỗ nhỏ. Chỉ tính riêng đối với loại cây trồng phổ biến là cây keo, khi là rừng trồng gỗ nhỏ, tức khai thác ở tuổi năm thứ 5 thì chỉ có thể bán dăm gỗ, giá trị đạt 32 triệu đồng/ha, trừ chi phí ban đầu cho thu 3,4 triệu đồng/ha.
Thế nhưng khi trở thành rừng trồng gỗ lớn, tức khai thác khi cây ở độ tuổi sau năm thứ 10, hầu hết các cây đã đạt đường kính trên 25cm thì khi đó rừng sẽ được bán theo giá gỗ nguyên liệu, gỗ chế biến với giá trị 1,8 triệu đồng/m3 đến 2 triệu đồng/m3. Tính ra đạt tổng giá trị 150-180 triệu đồng/ha, cao gấp 6 lần giá trị rừng gỗ nhỏ. Đối với rừng trồng gỗ lớn là các loài cây khác keo như thông, quế, sa mộc, lim xanh… còn cho giá trị kinh tế cao hơn.
Nhìn thấy rõ lợi nhuận từ trồng rừng gỗ lớn nên trong 2 năm gần đây, các doanh nghiệp lâm nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ đã bắt đầu triển khai trồng mới rừng gỗ lớn hoặc chuyển hoá rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn. Theo báo cáo của UBND huyện Ba Chẽ, hiện huyện có 5 công ty hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp (bao gồm Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ, HTX Toàn Dân, Công ty CP Phát triển rừng bền vững, Công ty CP Kim Long và Công ty CP Thương mại xây dựng TKL), tất cả đều đang trồng rừng gỗ lớn.
Tính đến cuối năm 2014, trong tổng diện tích trên 4.800ha rừng trồng của 5 đơn vị này đã có đến trên 2.000ha là rừng gỗ lớn (chủ yếu là diện tích rừng được tỉa thưa mật độ cây, chỉ để lại khoảng dưới 1.800 cây/ha để đảm bảo chuyển hoá từ gỗ nhỏ sang gỗ lớn). Riêng trong năm 2015 này, các đơn vị đã trồng mới được 500ha rừng trồng gỗ lớn. Qua kiểm tra, tất cả diện tích rừng gỗ lớn này đều đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định, trong đó diện tích chuyển hoá từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đều đã được tỉa thưa để đảm bảo mật độ dưới 1.800 cây/ha.
Xác định được giá trị kinh tế cũng như lợi ích về môi trường của rừng trồng gỗ lớn nên thời gian qua huyện Ba Chẽ đã khuyến khích các hộ trồng rừng theo định hướng này. Riêng giai đoạn 2015-2020, huyện đặt ra mục tiêu trồng mới rừng gỗ lớn và chuyển hoá rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn với tổng diện tích 3.800ha và chủ yếu nhân rộng diện tích rừng gỗ lớn trong nhân dân. Trong đó, trồng mới 1.320ha; chuyển hoá từ rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn 2.060ha.
Mục tiêu này được đánh giá phù hợp xu hướng phát triển chung và thực trạng trồng rừng trên địa bàn. Bởi thực tế hiện toàn huyện đang có gần 35.150ha rừng trồng thì diện tích rừng keo trong đó là gần 28.000ha, chiếm 77%. Đáng nói là diện tích rừng keo này chủ yếu là rừng trồng gỗ nhỏ, mật độ cây lên tới 3.000-3.500 cây/ha, cao gấp đôi quy định rừng trồng gỗ lớn.
Với mật độ quá dầy như này, cây chỉ đến khoảng 5 tuổi là không phát triển được nữa bởi bị chèn ép nhau, buộc người trồng rừng phải khai thác để bán dăm gỗ, đạt giá trị rất thấp. Trong khi đó đến thời điểm này, mặc dù có sự khuyến khích lớn của huyện Ba Chẽ nhưng dường như người dân chưa “bắt” chủ trương trồng rừng gỗ lớn. Kết quả trồng rừng gỗ lớn mà huyện Ba Chẽ đạt được 2 năm qua như đã nói ở trên đều là diện tích của doanh nghiệp, người dân chưa tham gia trồng bất cứ diện tích rừng trồng gỗ lớn nào.
Và như vậy thì mục tiêu nhân rộng diện tích rừng trồng gỗ lớn trong nhân dân, nhằm nâng cao hiệu quả giá trị đất rừng, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân mà huyện Ba Chẽ đặt ra có thể nói là chưa đạt được. Nguyên nhân của việc này được xác định là khó khăn về vốn.
Bởi việc trồng rừng gỗ lớn đòi hỏi thời gian chăm sóc, bảo vệ dài tối thiểu gấp đôi trồng rừng gỗ nhỏ dẫn đến quá trình được khai thác, thu hồi vốn đầu tư lâu, trong khi đó điều kiện người dân còn rất khó khăn, nhu cầu cuộc sống luôn cần tiền để trang trải. Bên cạnh đó, việc vay vốn để đầu tư trồng mới rừng gỗ lớn không hề dễ dàng. Mặc dù Nhà nước có những chế tài, chính sách tín dụng để phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên thực tế các ngân hàng thường ngại cho vay về lĩnh vực này vì rủi ro cao, thời gian trả nợ kéo dài.
Đây thực sự là một khó khăn lớn đối với người trồng rừng Ba Chẽ, nhất là trong kế hoạch phát triển trồng 3.800ha rừng gỗ lớn giai đoạn 2015-2020 của huyện Ba Chẽ, nhu cầu vốn đầu tư ban đầu cần tới trên 57 tỷ đồng, trong đó Nhà nước chỉ hỗ trợ trên 15 tỷ đồng (chủ yếu là giống cây trồng) còn lại người sản xuất phải tự huy động trên 42 tỷ đồng.
Khó khăn này của người dân cũng là khó khăn của doanh nghiệp, các doanh nghiệp thực tế cũng rất cần vốn để đầu tư nhưng việc tiếp cận được các nguồn vốn vay ngân hàng tương đối khó khăn. Bên cạnh đó hiện tổng diện tích đất được giao cho doanh nghiệp mà chưa trồng rừng còn lại không nhiều, với trên 1.600ha, đấy là chưa nói nhiều diện tích này phần lớn là diện tích núi cao, độ đốc lớn… rất khó trồng rừng...
Lợi ích trồng rừng gỗ lớn đã rõ, chủ trương của huyện cũng hết sức kịp thời, đúng đắn. Tuy nhiên, lộ trình để thực hiện chủ trương này là hết sức khó khăn, nếu như không có cơ chế, sự hỗ trợ phù hợp, hiệu quả chắc chắn sẽ khó đạt được như mong muốn. (Báo Quảng Ninh 30/9) đầu trang(
Hiện nay toàn tỉnh có gần 100 dự án sử dụng đất rừng để xây dựng hạ tầng kỹ thuật, kiến trúc cần phải thực hiện trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng theo quy định tại Nghị định số 23, ngày 3/3/2006 của Chính phủ và Thông tư số 24 ngày 6/5/2013 của Bộ NN&PTNT với diện tích hàng nghìn ha.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, mới chỉ có 23 phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt khi chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác với diện tích 244,7ha.
Theo Điều 29 - Nghị định 23 của Chính phủ và Thông tư số 24 của Bộ NN&PTNT quy định, tất cả các cá nhân, tổ chức khi sử dụng diện tích rừng sang mục đích khác không phải là lâm nghiệp đều phải trồng rừng thay thế, trồng rừng trực tiếp hoặc nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng của tỉnh, ít nhất bằng diện tích rừng đã sử dụng.
Các dự án, khi được phê duyệt đầu tư phải đồng thời được phê duyệt dự án trồng rừng thay thế. Đối với các dự án đã được phê duyệt đầu tư và đi vào hoạt động thì phải được phê duyệt phương án đầu tư trồng rừng thay thế bổ sung và hoàn thành việc trồng rừng thay thế trong vòng 18 tháng sau khi được phê duyệt. Quy định này nhằm duy trì và phát triển độ che phủ rừng, đảm bảo các yếu tố về môi sinh, môi trường, góp phần hỗ trợ cho mọi mặt đời sống xã hội. Tuy nhiên thực tế cho thấy, đến thời điểm này hầu như các quy định trên chưa được thực hiện hiệu quả.
Qua kiểm tra, rà soát của ngành chức năng, từ năm 2006 đến nay, toàn tỉnh có 82 dự án của 61 tổ chức, cá nhân có chuyển đổi mục đích sử dụng sang mục đích khác không phải là lâm nghiệp, trong đó có: 8 dự án chưa thực hiện và đang chờ phê duyệt; 10 dự án không thuộc đối tượng phải trồng rừng thay thế; còn lại 64 dự án thuộc đối tượng phải trồng rừng thay thế.
Trong số 64 dự án thì đến nay đã có 12 dự án đã lập phương án và đã thực hiện trồng rừng thay thế; 52 dự án chưa thực hiện lập phương án trồng rừng thay thế trình các cấp thẩm quyền phê duyệt; 6 dự án đăng ký nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng của tỉnh để thực hiện trồng rừng thay thế. Tổng diện tích đất sử dụng của các dự án thuộc đối tượng phải trồng rừng thay thế là 3.629,2ha, trong đó diện tích đất có rừng phải thực hiện trồng rừng thay thế là 869,8ha, còn lại 2.759,4ha là đất không có rừng và đất chưa xác định được diện tích có rừng.
Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Dương Minh Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN&PTNT): Mặc dù Nhà nước đã có nghị định quy định về việc trồng rừng thay thế từ năm 2006 song phải đến khi có Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24-1-2014 của Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế thì các đơn vị mới thực hiện.
Để xảy ra thực trạng trên một phần do các đơn vị chức năng trong quá trình thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư có sử dụng đất lâm nghiệp đã chưa thực sự chú ý đến những quy định liên quan đến trồng rừng thay thế. Để tăng cường thực hiện việc trồng rừng thay thế, Sở NN&PTNT đã phối hợp với các ngành chức năng rà soát, kiểm tra các dự án sử dụng đất rừng mà chưa trồng rừng thay thế. Theo tính toán giá trị đầu tư trồng rừng thay thế khoảng 30-45 triệu đồng/ha tuỳ vào điều kiện trồng rừng ở từng vùng.
Theo đánh giá của Thanh tra Sở NN&PTNT, hiện nay cái khó đối với các đơn vị, doanh nghiệp phải thực hiện việc trồng rừng thay thế là tổng kinh phí đầu tư của dự án đã được các cấp thẩm quyền phê duyệt dự toán đầu tư không có hạng mục kinh phí để trồng rừng thay thế, vì vậy các chủ đầu tư đều vướng mắc trong việc bố trí kinh phí cho việc trồng rừng thay thế.
Cùng với đó, việc xác định trách nhiệm trồng rừng thay thế cũng khó khăn do một số dự án đã dừng hoạt động hoặc dự án đã hoàn thành, bàn giao cho đơn vị khác sử dụng; có những đơn vị hiện nay không còn đủ tư cách pháp nhân do giải thể hoặc còn nhưng không đủ năng lực để thực hiện trách nhiệm trồng rừng thay thế.
Như vậy, có thể nói, đến thời điểm này mới chỉ có 23 phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt với diện tích 244,7ha là quá muộn theo quy định. Các đơn vị chức năng cần phải có sự tập trung, kiên quyết, buộc các đơn vị doanh nghiệp liên quan khẩn trương lên phương án và hoàn thành trách nhiệm trồng rừng thay thế một cách phù hợp, hiệu quả.
Để đảm bảo hoàn thành trồng rừng thay thế, tỉnh cần bố trí quỹ đất kịp thời trong năm nay để các tổ chức, cá nhân là chủ các dự án thực hiện việc trồng rừng thay thế và kiên quyết thu hồi đối với những dự án không còn đủ tư cách pháp nhân do giải thể hoặc còn nhưng không đủ năng lực để thực hiện trách nhiệm trồng rừng thay thế để giao cho các chủ đầu tư khác có đủ năng lực thực hiện. (Báo Quảng Ninh 30/9) đầu trang(
Thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt Đề án thực hiện chính sách chi trả DVMTR tỉnh Quảng Ninh giai đoạn đến năm 2020 làm cơ sở để triển khai Nghị định một cách hiệu quả, đem lại hiệu quả thiết thực góp phần quản lý, bảo vệ, phát triển rừng một cách bền vững.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR vẫn chậm và còn nhiều bất cập.
Theo Nghị định 99 của Chính phủ, các bên sử dụng DVMTR phải chi trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR sẽ phải trả tiền DVMTR tính bằng 1-2% doanh thu thực hiện trong kỳ. Các cơ sở sản xuất thuỷ điện, mức chi trả 20 đồng/Kwh điện thương phẩm; các cơ sở sản xuất nước sạch 40 đồng/m3 nước thương phẩm. Cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản cũng phải trả tiền DVMTR...
Với hơn 316.000ha rừng, Quảng Ninh là một trong những địa phương có diện tích rừng, độ che phủ rừng lớn trong cả nước. Xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3696/UBND-NLN2 ngày 19-9-2011 về kế hoạch triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và Quyết định số 3322/QĐ-UBND ngày 31-12-2014 phê duyệt đề án thực hiện chính sách chi trả DVMTR tỉnh Quảng Ninh giai đoạn đến năm 2020.
Quyết định 3322, UBND tỉnh đã xác định rõ các đối tượng sử dụng DVMTR sẽ thực hiện việc chi trả trong năm 2015 và các đối tượng sử dụng DVMTR kế hoạch chi trả đến năm 2020; xác định diện tích lưu vực cung ứng DVMTR; hệ số quy đổi; các đối tượng cung ứng DVMTR; giá trị chi trả môi trường rừng và kế hoạch chi trả cho từng giai đoạn một cách cụ thể. Theo đó, tổng diện tích cung ứng DVMTR trong toàn tỉnh được xác định là trên 13 lưu vực, với diện tích cung ứng quy đổi là 156.365ha với 2 nhóm cung ứng DVMTR gồm: Nhóm các hộ gia đình, hợp tác xã, cộng đồng thôn và UBND cấp xã; nhóm thứ 2 là 97 chủ rừng gồm các Ban quản lý rừng phòng hộ đặc dụng, công ty lâm nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp.
Đối tượng sử dụng DVMTR thực hiện chi trả từ năm 2015 bao gồm: Nhà máy thuỷ điện Khe Soong, thuộc Công ty CP An Sinh Lộc với công suất thiết kế 3,6MW, nằm trên lưu vực sông Tiên Yên; Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh với 9 đơn vị thành viên; Công ty CP Phát triển Tùng Lâm nằm trong ranh giới của Rừng Quốc gia Yên Tử. Tổng giá trị thu từ các đơn vị sử dụng DVMTR này qua tính toán sơ bộ ban đầu là 5,2947 tỷ đồng.
Giá trị chi trả DVMTR sẽ được tính toán và thay đổi hàng năm tuỳ thuộc vào sản lượng điện, sản lượng nước thương phẩm và doanh thu du lịch của năm đó theo giá trị thực mà các đơn vị sử dụng DVMTR đạt được. Cùng với đó, UBND tỉnh cũng sơ bộ xác định hơn 90 đối tượng sử dụng DVMTR tiềm năng với giá trị chi trả hàng trăm tỷ đồng.
Năm 2015, Sở NN&PTNT đang thực hiện thu dịch vụ thu quỹ môi trường rừng đối với Công ty CP Nước sạch và Công ty CP An Sinh (Nhà máy thuỷ điện Khe Song - huyện Tiên Yên) với tổng số tiền 1,601 tỷ đồng; tới nay đã thu được 784,657 triệu đồng (của Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh). Công ty CP An Sinh đã nộp trên 55 triệu đồng. Đối với DVMTR của Công ty CP Phát triển Tùng Lâm đến nay Công ty vẫn chưa thực hiện ký hợp đồng. Sở đang tiếp tục đôn đốc các đơn vị thực hiện chuyển tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng theo hợp đồng đã ký và ký hợp đồng uỷ thác đối với Công ty CP Phát triển Tùng Lâm.
Ông Phạm Văn Thanh, chuyên viên kỹ thuật, Chi cục Lâm nghiệp cho hay: Thực hiện chính sách chi trả DVMTR sẽ là bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm là 3 vấn đề cơ bản về môi trường, kinh tế và xã hội, góp phần giảm thiểu mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt.
Chính sách này sẽ tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và sẽ tăng cường sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa đơn vị chủ rừng với chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng bền vững. Thông qua chính sách này sẽ tạo ra mối liên kết mang tính bền vững giữa người sử dụng và người cung ứng DVMTR. (Báo Quảng Ninh 30/9) đầu trang(
Sáng 30-9, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế tổ chức cuộc họp về việc triển khai, thực hiện Dự án đầu tư phát triển rừng ven biển và đầm phá giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, dự án triển khai tại các huyện Quảng Điền, Phú Lộc, Phong Điền, Phú Vang và thị xã Hương Thủy qua việc quản lý và bảo vệ 5.000ha rừng phòng hộ ven biển, đầm phá. Đồng thời, trồng mới và chăm sóc 300ha rừng cát ven biển, 277ha rừng ngập mặn và 113ha rừng ngập nước ngọt…
Kinh phí hơn 110 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách trung ương. Ông Nguyễn Văn Cao, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cho rằng, dự án nhằm bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái ven biển và đầm phá; hạn chế cát bay, cát nhảy, xói lở, xâm nhập mặn, phòng chống thiên tai, bảo đảm an toàn cho vùng dân cư ven biển và đầm phá, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. (Sài Gòn Giải Phóng 1/10) đầu trang(
UBND thành phố vừa ban hành Quyết định số 5803/QĐ-UBND về việc phê duyệt danh sách 10 đơn vị thuộc diện phải chi trả tiền do được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng.
Trong số này có 8 doanh nghiệp đang kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch. 2 đơn vị còn lại hoạt động trên lĩnh vực sản xuất, cung cấp nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất.
Trong thời gian qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng thành phố phổ biến, tuyên truyền chính sách của Nhà nước tới các doanh nghiệp về mục đích của Chính sách chi trả Dịch vụ môi trường rừng.
Qua đó từng bước đổi mới cơ chế quản lý ngành lâm nghiệp, tạo nguồn tài chính cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; cải thiện và từng bước nâng cao thu nhập của những đối tượng trực tiếp tham gia bảo vệ và phát triển rừng; xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng để góp phần bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả. (Công An TP.Đà Nẵng 1/10) đầu trang(
Quỹ Ủy thác lâm nghiệp đã ký kết 40 thỏa thuận tài trợ cho 40 chương trình, dự án và các hoạt động phi dự án (chủ yếu tập trung thử nghiệm, thí điểm, xây dựng thể chế, chính sách, chiến lược ngành…).
Tại buổi “Tổng kết và chuyển giao kết quả hoạt động Quỹ Ủy thác lâm nghiệp” do Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT tổ chức ngày 30/9, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Giám đốc Quỹ Ủy thác lâm nghiệp cho biết, Quỹ đã tiếp nhận 28,9 triệu Euro trong tổng số 29,04 triệu Euro các tổ chức cam kết tài trợ.
Quỹ Ủy thác lâm nghiệp đã ký kết 40 thỏa thuận tài trợ cho 40 chương trình, dự án và các hoạt động phi dự án (chủ yếu tập trung thử nghiệm, thí điểm, xây dựng thể chế, chính sách, chiến lược ngành…). Các nhà tài trợ của Quỹ là Phần Lan với 13,9 triệu Euro (chiếm 48%), Hà Lan 7,3 triệu Euro (chiếm 25%), Thụy Sĩ 6,1 triệu Euro và Thụy Điển 1,7 triệu Euro. Bên cạnh đó, Đức hỗ trợ kỹ thuật.
Theo ông Phạm Hồng Lượng, đây là cơ chế tài chính viện trợ ODA rất hiệu quả vì đã gắn kết chặt chẽ hỗ trợ ODA với các ưu tiên trong chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam và hài hoà hoá cơ chế của các nhà tài trợ và cơ chế quốc gia về hỗ trợ ODA cho ngành lâm nghiệp. Việc tổ chức, quản lý Quỹ đúng với các quy định hiện hành, là mô hình thử nghiệm để vận dụng cơ chế ủy thác thành lập và vận hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, góp phần thực hiện thành công sáng kiến mới về chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ông Phạm Hồng Lượng mong muốn sau khi Quỹ Ủy thác lâm nghiệp sáp nhập vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, Quỹ Ủy thác lâm nghiệp vẫn duy trì quản lý các dự án còn hoạt động. Quỹ tiếp tục chia sẻ thành quả, bài học kinh nghiệm vận hành quỹ với các bên liên quan, hỗ trợ quá trình thành lập và vận hành Quỹ REED+ Việt Nam.
Đặc biệt, Quỹ tiếp tục kêu gọi các nhà tài trợ hỗ trợ ngành lâm nghiệp tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, thực thi Chương trình hành động quốc gia về REED+(Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon của rừng), Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững 2016-2020. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/10) đầu trang(
Đó là một trong những vấn đề trong quản lý và sử dụng đất rừng mà các chuyên gia khuyến nghị cần được xem xét khi sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004.
Vấn đề được phản ánh tại Hội thảo “Thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ở Việt Nam: Một số phát hiện và khuyến nghị từ các tổ chức xã hội” do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tổ chức sáng qua (30/9).
Hiện một số địa phương sau khi giao đất rừng cho người dân vẫn chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) - Kết quả tham vấn cho thấy có 12 cộng đồng (52% cộng đồng được khảo sát) chưa được cấp GCNQSDĐ sau khi được giao rừng.
Vì vậy, “cần có qui định cấp GCNQSDĐ khi giao rừng cho cộng đồng vừa để khẳng định về chủ quyền đất rừng được giao, vừa là cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra” – nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực lâm nghiệp đồng tình.
Cũng có ý kiến quan ngại, giao sổ đỏ đất rừng tự nhiên cho dân thì nguy cơ mất rừng càng nhanh vì giao sổ hôm trước, hôm sau dân bán ngay. Nhưng thực tế, vì quyền sử dụng đất rừng rất hạn chế, sổ đỏ đất rừng tự nhiên không được “cắm” để vay vốn nên người dân cho là không có giá trị như sổ đỏ đất sản xuất nông nghiệp, đất thổ cư hay đất trồng rừng sản xuất. “Do vậy, tác động của hộ gia đình đối với rừng tự nhiên là rất ít, chủ yếu là hoạt động trông coi rừng” – ông Vũ Long, Hội Khoa học Kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam cho biết.
Đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định cũng phản ánh, sau 2 năm Bình Định thí điểm giao rừng tự nhiên cho người dân quản lý thì 100% hộ dân “làm đơn xin trả lại rừng” tự nhiên được giao với lý do “bảo vệ rừng mệt quá mà lại làm không công cho Nhà nước”. Song, nếu cho phép chuyển nhượng đất rừng tự nhiên được giao thì “sẽ thành rừng của đại gia thành phố, rừng của tư nhân” nên cần cân nhắc các quyền của chủ sở hữu đất rừng.
Bên cạnh đó, hiện vai trò của người dân, cộng đồng, chính quyền cấp xã, thôn là rất hạn chế trong qui hoạch, phát triển rừng nên kết quả qui hoạch ở nhiều nơi không phù hợp, gây nhiều khó khăn cho người dân và cơ quan quản lý địa phương trong việc quản lý và sử dụng đất rừng.
Do vậy, cần tăng cường sự tham gia của đại diện cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong lập quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng để chính quyền địa phương thực hiện tốt các chính sách liên quan đến phát triển và bảo vệ rừng, còn người dân, cộng đồng được giao rừng có thể thực hiện đầy đủ quyền quản lý, bảo vệ và phát triển rừng…
Thống kê cho thấy, qua 5 năm thực hiện, tổng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng ước tính thu được 1.782 tỉ đồng (chiếm 0,8% ngân sách đầu tư lâm nghiệp).
Nhưng do thiếu các cơ sở pháp lý và các hướng dẫn chi tiết nên trong số các loại dịch vụ môi trường rừng (tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP, hiện mới có 2 dịch vụ được thực hiện là dịch vụ phòng hộ đầu nguồn và dịch vụ du lịch sinh thái), việc giải ngân từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tới những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng cũng đạt tỷ lệ khá khiêm tốn (46%).
Do đó, theo chuyên gia về lâm nghiệp, sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng “cần chú ý đến dịch vụ môi trường rừng để buộc xã hội đầu tư lại cho môi trường rừng, chống mất rừng vì ngành lâm nghiệp không thể cứ xin tiền nhà nước khi đất rừng đã giao cho dân quản lý”.
Liên minh đất rừng (FORLAND) còn khuyến nghị cần luật hóa việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các đối tượng rừng có nguy cơ bị xâm phạm chứ không chỉ hướng đến các diện tích rừng nằm trong các lưu vực thủy điện để hạn chế mất rừng như thực tế đang diễn ra.
Quan trọng hơn, cần phân tích lại cách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo lưu vực sông để rừng không bị “phân mảnh” cho việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng hoặc làm phát sinh mâu thuẫn trong cộng đồng do mức chi trả dịch vụ môi trường rừng chênh lệch giữa các diện tích rừng trong cùng một lưu vực sông. (Pháp Luật Việt Nam 1/10; Đại Đoàn Kết 1/10) đầu trang(
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ban hành năm 2004 đã có tác động tích cực đến sự phát triển rừng cũng như đời sống của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng đã bộc lộ một số điểm cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu quả của Luật.
Hôm 30/9, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT cùng Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo với chủ đề:“Thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ở Việt Nam: Một số phát hiện và khuyến nghị từ các tổ chức xã hội”.
Theo nghiên cứu của Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung (CRD) trực thuộc VUSTA, trong Điều 3 của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 (BV&PTR) giải thích, “cộng đồng dân cư thôn” là “toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”. Cộng đồng dân cư thôn là chủ thể được giao rừng theo qui định của Luật.
Theo khảo sát, đa số thành viên cộng đồng và cán bộ chính quyền địa phương cho rằng khó thực hiện đầy đủ quy định giao rừng cho toàn bộ cộng đồng dân cư thôn. Đơn vị khảo sát nghiên cứu cho rằng, Luật cần điều chỉnh khái niệm “cộng đồng dân cư thôn” được giao rừng, vì trên thực tế, quản lý rừng cộng đồng không thể đảm bảo đủ tiêu chí toàn bộ hộ gia đình, cá nhân trong thôn như quy định của Luật.
Khuyến nghị tiếp theo được đưa ra là cần có sự tham gia của đại diện cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong lập quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng.
Trong quy hoạch, vai trò tham gia của người dân, cộng đồng, chính quyền cấp xã, thôn là rất hạn chế, nên kết quả quy hoạch ở nhiều nơi chưa phù hợp. Điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho người dân và cơ quan quản lý địa phương trong việc quản lý và sử dụng đất rừng.
Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị về việc cần đơn giản hóa thủ tục để người dân thực hiện được quyền khai thác, tận thu gỗ từ rừng của mình.
Theo quy định tại Điều 30 và Điều 70 của Luật BV&PTR 2004, cộng đồng và hộ gia đình được quyền khai thác, sử dụng gỗ từ rừng được giao. Tuy nhiên, trên thực tế quyền này khó được thực hiện.
Theo kết quả tham vấn, phần lớn rừng tự nhiên giao cho cộng đồng và hộ gia đình là rừng nghèo kiệt, hoặc rừng trung bình, diện tích rừng giàu là rất ít. Mặc dù rừng có trữ lượng, nhưng theo đánh giá của người dân, diện tích rừng được giao thì cây rừng có giá trị là rất ít, phần lớn là cây gỗ tạp nên việc hưởng lợi từ gỗ là rất hạn chế.
Cùng với đó, Luật PT&BVR cần có các chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý bảo vệ rừng
Điều 10 của Luật PT&BVR 2004 đã nêu khá nhiều chính sách đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng như chính sách hỗ trợ việc bảo vệ và làm giầu rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo, trồng rừng sản xuất gỗ lớn, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng nguyên liệu, chính sách phát triển thị trường lâm sản…
Tuy nhiên, các chính sách này chưa được thực hiện đầy đủ do các quy định này còn mang tính định hướng mà không được cụ thể hóa. Do vậy, Luật cần có thêm các nội dung qui định về cơ chế hỗ trợ ban đầu, chia sẻ trách nhiệm với hộ gia đình và cộng đồng được giao rừng để họ có thể yên tâm quản lý bảo vệ các khu rừng được giao. (Chính Phủ 30/9) đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa có ý kiến chỉ đạo về việc giao đất, cho thuê đất sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Phó Thủ tướng giao UBND tỉnh Bình Phước tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật về đất đai, đặc biệt là việc quản lý, sử dụng đất tại các khu rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng gắn với di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn; việc triển khai các đề án, dự án tổng thể bố trí đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, gắn với các chương trình hỗ trợ đất ở, đất sản xuất... trên địa bàn đảm bảo sự công khai, minh bạch và các quy định của pháp luật nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng người dân trên địa bàn không có đất ở, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất.
UBND tỉnh Bình Phước chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, kiểm điểm đối với tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý dẫn đến xảy ra tình trạng chậm thực hiện các thủ tục cải tạo rừng nghèo kiệt, chậm hoặc chưa thực hiện thủ tục về đất đai và làm rõ những thiệt hại cụ thể để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đồng thời chỉ đạo việc hoàn thiện thủ tục pháp luật về đất đai cho các hộ gia đình, cá nhân đã được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương cho thuê đất trồng cao su, đã hoàn thiện đề án, dự án, các thủ tục chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cao su theo quy định, nay có nhu cầu tiếp tục thuê đất đảm bảo đúng đối tượng theo quy định.
Bên cạnh đó có giải pháp xử lý quyết liệt, kiên quyết thu hồi lại đất sau khi thực hiện rà soát, kiểm tra các trường hợp chưa hoàn thiện thủ tục, chậm thực hiện dự án hoặc không có đơn xin thuê đất, không trực tiếp sản xuất để đất hoang hóa, gây lãng phí đất đai; vi phạm pháp luật đất đai để quản lý, sử dụng đất theo quy hoạch, tránh tình trạng gây bức xúc trong dư luận. (Chính Phủ 30/9; Pháp Luật TP.HCM 1/10) đầu trang(
Với giá trị thương phẩm cao, thị trường liên tục được mở rộng khắp trong và ngoài nước. Sâm Ngọc Linh đang cho thấy những giá trị kinh tế đích thực, nhiều hộ dân đã thoát nghèo nhờ cây sâm.
Bên cạnh đó, Sâm Ngọc Linh đang dần chiếm được chỗ đứng trên thị trường trong và ngoài nước. Đây hứa hẹn sẽ là hướng đi đúng đắn để Nam Trà My, một huyện nghèo nhất cả nước vươn lên thoát nghèo bên vững.
Sâm Ngọc Linh, 1 trong 5 loại sâm quý nhất thế giới. Với tác dụng bồi bổ sinh lực, tăng khả năng phục hồi nhanh sau phẫu thuật, giảm đau, sâm Ngọc Linh đã trở thành 1 loại dược liệu quý bậc nhất Việt Nam hiện nay.
Chính vì thế giá thành của loại sâm này rất cao cùng với đó là giấc mơ làm giàu của rất nhiều bà con đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện nghèo Nam Trà My đang dần trở thành hiện thực.
Anh Hồ Văn Thể - Hộ trồng sâm Ngọc Linh, xã Trà Linh, huyện Nam Trà My nói: "Nếu mà tính giá cả thì sâm đem lại giá trị kinh tế cao cho bà con. Bởi vì tính ra trung bình hạng 2 hạng 3 cũng là khoảng 30 triệu /kg. Còn cây lúa chỉ để cho bà con đỡ phải mua gạo từ dưới lên thôi. Tính ra ở đây cũng có nhiều nhà nhờ cây sâm Ngọc Linh mà thoát nghèo. Có nhà được vài tỷ, có nhà thì được 20 tỷ.
Trong tháng 9/2015, một tin vui đã đến với đồng bào dân tộc vùng cao huyện Nam Trà My. Đề án bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh đã chính thức được chính phủ phê duyệt. Theo đó, chương trình được chia làm 2 giai đoạn từ 2016 – 2020 và từ 2020 đến 2030. Vì thế mọi công tác chuẩn bị về giống, cơ sở hạ tầng, và khoanh vùng nguyên liệu đang được gấp rút triển khai.
Anh Trịnh Minh Quý – Phó Giám đốc trung tâm sâm Ngoc Linh, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam cho biết: "Theo các tài liệu kỹ thuật thì cây sâm cần 4 năm mới ra hoa, tuy nhiên, mới năm thứ 3 mà nó đã ra hoa, chứng tỏ vùng đất này, tại đây điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng rất phù hợp cho phát triển cây sâm, nếu như vùng này được phát triển thành vùng sâm gốc, 100ha, thì sẽ tạo điều kiện cho cây sâm Ngọc Linh phát triển rất là tốt.
Ông Hồ Quang Bửu – Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam nói: "Tiến tới chúng tôi sẽ khoanh vùng 100ha trồng sâm, để cung cấp giống cho dân, hiện nay rất bức thiết về giống. Và bước đi đầu tiên của huyện cũng bắt đầu từ cây sâm gốc và cây sâm giống. ngoài ra huyện còn chủ trương là đào tạo cho người dân, không chỉ xã Trà Linh, vùng sâm gốc, mà còn những xã mà được tỉnh quy hoạch trên 15000 ha sâm. Và hàng ngày, hàng tuần hàng tháng sẽ có những đội tuyên truyền cũng như đội đào tạo người dân trồng sâm giữ rừng, phát triển cây sâm tại huyện Nam Trà My". Hiện nay, đầu ra cho loại sản phẩm này không ngừng được mở rộng khắp trong và ngoài nước. Tuy nhiên, giá thành của loại sâm này còn khá cao, 1 kg tương đương khoảng 10 củ có giá giao động từ 30 đến 55 triệu đồng.
Chính vì vậy, việc đầu tư trồng Sâm Ngọc Linh quy mô lớn sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho người dân trong nước có cơ hội sử dụng loại dược liệu thiên nhiên quý hiếm này. Và đặc biệt đây hứa hẹn sẽ là một hướng đi đúng đắn cho tiến trình giảm nghèo bền vững tại huyện vùng cao Nam Trà My. (ANTV 30/9) đầu trang(
Bằng ý chí, nỗ lực không mệt mỏi, đến nay anh Hồ Văn Thu (thôn Pa Hy, xã Tà Long, huyện Đakrông, Quảng Trị) đã có một cơ ngơi khá giả, đủ chăm lo cho con cái học hành và giúp dân bản thoát nghèo.
Dẫn chúng tôi băng qua những đồi sắn xanh ngút ngàn, anh Thu cho biết, là con thứ 2 trong gia đình đông anh em, nhà nghèo, nên dù đam mê cái chữ nhưng anh đành bỏ ngang năm lớp 9 để lên nương rẫy phụ cha mẹ kiếm cái ăn.
Năm 1996, anh Thu lấy vợ, sinh con rồi cũng sống trong cảnh túng thiếu. “Đối diện với cái nghèo, tôi suy nghĩ, mình tuổi thanh niên sức dài vai rộng, ở nơi núi rừng đất đai rộng thênh thang, vậy cớ sao phải chịu đói nghèo” – anh Thu kể.
Rồi anh Thu quyết định sẽ cùng vợ khai hoang đất trống, đồi núi trọc để trồng rừng. Từ những ngọn đồi chỉ toàn lau lách, hoang hóa, anh Thu đã biến chúng thành 2ha rừng tràm xanh ngút. Cứ 5 năm thu hoạch một lần, 2ha rừng tràm cho thu nhập trên 40 triệu đồng. Khai hoang trồng rừng thu được lợi ích lâu dài, còn để giải quyết thu nhập trước mắt, anh Thu khai hoang trồng thêm 1ha sắn cho thu nhập khoảng 15-20 triệu đồng/năm.
Để tận dụng nguồn đất đai rộng lớn của địa phương, anh Thu mạnh dạn đầu tư phát triển đàn trâu, bò của mình từ 1 con năm 2012 lên 7 con năm 2015. Riêng đàn trâu, bò của anh đã có giá 200 triệu đồng – một số tiền mơ ước của đồng bào Vân Kiều nơi núi đồi hiểm trở này.
Bà Hồ Thị Hoa – Phó Chủ tịch UBND xã Tà Long cho biết, anh Thu là nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp huyện, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế địa phương. Anh Thu thường vận động bà con dân bản mạnh dạn phát triển kinh tế, chia sẻ kinh nghiệm thoát nghèo, và ai cần vốn thì anh Thu đều cho mượn... (Dân Việt 30/9) đầu trang(
Ngày 30-9, UBND tỉnh Quảng Bình cho biết, vừa phê duyệt Dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển nam Quảng Bình giai đoạn 2015- 2020 với số tiền hơn 97 tỷ đồng nhằm ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ bờ biển.
Theo đó, dự án sẽ triển khai trồng và chăm sóc 1.300 ha rừng phòng hộ, bảo vệ 4.500 ha rừng; xây dựng 12 km đường lâm nghiệp, 15 km đường ranh phòng chống cháy rừng kết hợp đường giao thông; xây dựng hai trạm quản lý và bảo vệ rừng, hai chòi canh lửa và một số cơ sở phục vụ sinh kế kết hợp quản lý bảo vệ rừng và trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Hiện nay, rừng phòng hộ ven biển nam Quảng Bình có diện tích gần 15 nghìn ha, trong đó diện tích có rừng hơn 11 nghìn ha nằm trên địa phận của 11 xã thuộc hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy.
Hàng chục năm qua, vùng rừng này đã phát huy tốt chức năng chắn cát bay, cát chảy, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân trong vùng.
Bên cạnh đó, rừng còn có chức năng hạn chế tác động tiêu cực do nắng nóng khắc nghiệt của vùng cát và giảm cấp độ gió bão trước khi đổ bộ vào khu dân cư phía nam tỉnh Quảng Bình. (Nhân Dân 30/9) đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành văn bản chi đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT), UBND các huyện và TP, các đơn vị quản lý rừng trên địa bàn phải chấp hành nghiêm Thông tư số 26/2015/TT-BNNPTNT của Bộ NNPTNT quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác.
Theo đó, tổ chức, cá nhân là chủ dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác có trách nhiệm lập phương án trồng rừng thay thế với phần diện tích chuyển mục đích. Đối với dự án đã chuyển mục đích sử dụng rừng trước thời điểm Thông tư số 26/2015 có hiệu lực, Sở NNPTNT trình UBND tỉnh quyết định việc nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng chậm nhất là trước ngày 30/10/2015.
Được biết, Lâm Đồng đã phân bổ kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 trên địa bàn tỉnh gần 113ha. Kế hoạch trồng rừng thay thế của Lâm Đồng đã được phê duyệt là 772ha, trong đó gồm 334ha trồng rừng thay thế diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang làm thủy điện và 437ha diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang mục đích khác. (Pháp Luật Việt Nam 30/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhu cầu cao su tự nhiên trên toàn thế giới tăng vọt khiến các đồn điền cao su đang được mở rộng một cách nhanh chóng, lấn sâu vào những khu rừng giầu đa dạng sinh học và các vùng đất trồng trọt ở Đông Nam Á. Từ 2005 đến 2010, 110.000 héc-ta rừng thuộc các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao và khu bảo tồnđã bị cây cao su thay thế.
Các nhà nghiên cứu từ Trung Quốc, Singapore, Anh và Mĩ đã tiến hành đánh giá các khu vực có cao su tự nhiên phát triển và khảo sátquy mô mở rộng đồn điền cao su ở Đông Nam Á, nơi chiếm gần 97% diện tích cao su trên thế giới.Theo các tác giả, sau đợt bùng nổ cây cọ dầu, làn sóng trồng cao su được ví như “cơn sóng thần thứ hai” tại Đông Nam Á. Đây là nghiên cứu đầu tiên mang đến một bức tranh toàn cảnh, có tính định lượng trên toàn khu vực về phạm vi và xu hướng mở rộng diện tích trồng cao su.
Theo nghiên cứu, Sản lượng cao su ở Đông Nam Á tăng từ 300.000 tấn vào năm 1961 lên tới hơn 5 triệu tấn vào năm 2011, tương đương 1.500%. Trước đây, cao su thường được trồng cùng với cây lấy gỗ, cây ăn quả và một số loại cây khác. Cấu trúc nông – lâm kết hợp này tương tự rừng thứ cấp, có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì chức năng hệ sinh thái hơn phương pháp độc canh, giúp người nông dân mở rộng thêm nguồn thu nhập.
Tuy nhiên, ngày nay, phần lớn cao su được trồngtheo phương pháp độc canh, đi kèm với việc sử dụng nhiều phân bón và thuốc trừ sâu. Đây cũng là xu hướng được dự báo sẽ tiếp diễn trong tương lai để tối đa hóa hiệu suất và lợi nhuận. Khi phát triển độc canh, cao su cũng được mở rộng đến những khu vực không thuận lợi cho loài này.
Phân tích sản lượng cao su tại Đông Nam Á cho thấy, trong khi hơn một nửa sản lượng cao su thế giới được sản xuất tại phía Bắc Thái Lan, chỉ có 1,5% diện tích tại đây có môi trường thực sự thích hợp với cao su.
Chẳng hạn, từ năm 2005, việc trồng cao su được mở rộng tới những vùng không phù hợp với độ cao lớn hơn, trên các sườn đồi dốc hơn và thường phải chịu sương giá hay khô hạn kéo dài. Năm 2010, đã có gần 2 triệu héc-ta cao su được canh tác trên các khu vực như vậy, với xu hướng chuyển đổi chủ yếu diễn ra tại Myanmar, Việt Nam và Trung Quốc.
Sự thay đổi này cũng gia tăng nguy cơ mất năng suất cao su do thiên tai như bão lũ hay khô hạn. Chẳng hạn, cơn bão năm 2013 gây thiệt hại hơn 250 triệu USD đối với ngành cao su Việt Nam. Công tác phục hồi sau bão có thể mất từ 3 đến 7 năm, dẫn đến gián đoạn nguồn thu nhập. Hơn nữa, giá thành hạ cùng với nguy cơ mất mùa hay thiệt hại do môi trường có thể gây ra những hậu quả kinh tế khôn lường cho những chủ đất nhỏ.
Mặc dù chương trình lai giống đã được phát triển nhằm tăng cường khả năng chống chịu của cây cao su trong những điều kiện môi trường không tối ưu, song điều đó là chưa đủ. Thực tế cho thấy lợi ích thu về không đủ để bù lại những thiệt hại khi gặp rủi ro về môi trường. Những người nông dân trồng chè ở phía Nam Trung Quốc đã trải nghiệm điều này sau khi chuyển đổi sang trồng cao su và không thể thu hoạch do năng suất quá thấp.
Canh tác cao su tại các khu vực này cũng có thể gây ra những hậu quả sinh thái khác như làm xói mòn đất trên những sườn đồi dốc, thoái hóa đất do gia tăng sử dụng phân bón, giảm chất lượng nước…
Những đồn điền cao su còn lấn nhiều diện tích rừng và đất canh tác. Từ 2005 đến 2010, gần 250.000 ha rừng cây tự nhiên, 60.000 ha khu bảo tồnđã bị xóa sổ để trồng cao su do lợi nhuận hấp dẫn khi giá cao su tăng cao.
Trung Quốc là một ví dụ điển hình với tốc độ mở rộng diện tích cao su chóng mặt, điển hình là ở Tây Song Bản Nạp, phía Tây Nam tỉnh Vân Nam.Thậm chí, chính phủ còn khuyến khích trồng cao su với nhiều khoản trợ cấp. Từ 87.000 ha đất canh tác vào năm 1992, cây cao su đã chiếm diện tích 424.000 ha vào năm 2010 tại Tây Song Bản Nạp, theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Ecological Indicators. Tất nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc xóa sổ hầu hết các khu rừng tại đây. Ngoài các khu bảo tồn, rừng tự nhiên bị lấn chiếm hết, thậm chí đến tận ranh giới các khu bảo tồn.
Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại Lào và Campuchia. Hơn 70% trong diện tích 75.000 ha thuộc Khu bảo tồn hoang dã Snoul ở Campuchia đã bị tàn phá trong những năm 2009-2013 để trồng cao su. Dựa vào quy hoạch phát triển cây cao su, Ahrends và cộng sự dự báo rằng đến năm 2020, khoảng 640.000 ha diện tích các khu bảo tồn, hầu hết thuộc Việt Nam, Thái Lan và Campuchia sẽ bị chuyển đổi thành đất độc canh cao su.
Cây cao su chỉ có thể đem lại thu nhập tốt cho nhiều người nông dân khi được giá và sản lượng ổn định. Người nông dân canh tác nhỏ lẻ sẽ phải chịu rủi ro kinh tế khi giá cao su không ổn định và khả năng mất mùa do điều kiện thời tiết không phù hợp. Bên cạnh việc đe dọa đa dạng sinh học, chuyển đổi canh tác sang hướng độc canh cao su cũng đe dọa an ninh lương thực,hạn chế thu nhập tiềm năng của người nông dân và khiến họ trở nên phụ thuộc vào giá cả thị trường.
Theo các nhà nghiên cứu, mặc dù lợi ích đối với đa dạng sinh học của cây trồng này không thể bằng rừng nguyên sinh, nhưng vẫn có giá trị hơn các vùng đất trống hoặc bị thoái hóa. Trồng cao su phần nào cũng có thể giúp ổn định đất, giảm xói mòn và tăng lưu trữ carbon, và tất nhiên là có giá trị kinh tế nhất định.
Tuy nhiên, phá bỏ rừng nguyên sinh để trồng cao su, đặc biệt là vùng dễ bị tổn thương về khí hậu hoặc đất đai không phải là việc làm khôn ngoan. Cái giá phải trả cho đa dạng sinh học và môi trường là rất cao, trong khi lợi ích kinh tế lại chẳng là bao, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp như hiện nay. (Môi Trường Và Đời Sống 29/9) đầu trang(
Bộ trưởng Môi trường và Tài nguyên Singapore Vivian Balakrishnan khẳng định cần có nhiều hơn sự hợp tác quốc tế để giải quyết tình trạng khói mù vô cùng trầm trọng đang diễn ra.
Ông Vivian Balakrishnan nhấn mạnh trong Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp quốc về phát triển bền vũng 2015 diễn ra cuối tuần qua: “Bên cạnh nỗ lực giải quyết vấn đề của bản thân các nước, chúng ta cần có sự hợp tác khu vực và quốc tế để tạo áp lực pháp lý và thương mại để giải quyết”.
Điều này sẽ ngăn chặn các công tu thu lợi nhuận từ đất và rừng một cách không bền vững, ngăn chặn suy thoái đất.
Phát biểu của bộ trưởng đưa ra trong bối cảnh chất lượng không khí tại Singapore bị ảnh hưởng nghiêm trọng docháy rừng ở Indonesia. Thậm chí tất cả trường học buộc phải đóng cửa, cơ quan chức năng đưa ra mức cảnh báo sức khỏe tới tất cả người dân nhất là người già và trẻ nhỏ.
Tình hình này, buộc Singapore phải đơn phương tiến hành các hành động pháp lý chống lại 5 công ty được cho có liên quan đến các vụ cháy.
Ông Balakrishnan đã liên kết vấn đề ô nhiễm khói bụi với một vài vấn đề khác trong mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc đó là đảm bảo sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy phát triển ý tế cũng như quản lý bền vững rừng, ngăn chặn suy thoái đất đai và mất đa dạng sinh học.
Ông cũng nhấn mạnh rằng các vấn đề phát triển bền vững không thể giải quyết đơn phương, trong đó, cháy rừng và khói bụi ở Đông Nam Á đang gây ảnh hưởng tới hàng triệu người trong khu vực, gây thiệt hại kinh tế và an toàn các chuyến bay.
Bên cạnh đó, “Cháy rừng khiến một lượng lớn khí CO2 bị thải ra ngoài môi trường, càng khiến việc chống biến đổi khí hậu toàn cầu trở nên khó khăn hơn”.
Theo ông Nigel Sizer, giám đốc toàn cầu dự án về rừng cho biết chia sẻ thông tin là một trong những việc hợp tác giữa Singapore và Indonesia có thể thực hiện. (Infonet 30/9) đầu trang(
Sân bay Sultan Syarif Kasim II Pekanbaru (SSK II Pekanbaru) của tỉnh Riau thuộc đảo Sumatra (Indonesia) ngày 29/9 đã phải hủy bỏ 10 chuyến bay do khói bụi từ những đám cháy rừng làm ảnh hưởng đến các điều kiện an toàn bay.
Giám đốc sân bay SSK II Pekanbaru, Ibnu Hasan cho biết các chuyến bay thuộc ba hãng hàng không: Garuda Indonesia, Citilink và Lion Air đã buộc phải hủy bỏ vì phạm vi tầm nhìn bị hạn chế, chỉ còn 700 m.
Hiện nay có 11 hãng hàng không phục vụ khoảng 70 dịch vụ hàng không trong nước và quốc tế tại sân bay SSK II Pekanbaru mỗi ngày.
Kể từ ngày 2/9, khi những đám cháy rừng xảy ra ở Indonesia, sân bay SSK II Pekanbaru đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi khói mù. Mỗi ngày có hàng chục chuyến bay bị chậm hoặc hủy bỏ, gây ảnh hưởng liên hoàn đến hàng trăm chuyến bay cũng như hàng nghìn hành khách đến và đi ở sân bay này.
Những ngày qua, 16 sân bay trên đảo Sumatra và Kalimantan đã bị ảnh hưởng bởi khói do cháy rừng ở khu vực này. Nhiều chuyến bay tại các sân bày này phải hoãn hoặc hủy chuyến vì không thể cất cánh do hạn chế tầm nhìn.
Ảnh hưởng của đợt hạn hán kéo dài và tập quán canh tác của nông dân trong khu vực đã gây ra các vụ cháy rừng trên các đảo Sumatra, Kalimantan, Java và Sulawesi của Indonesia.
Các hình ảnh vệ tinh cho thấy có khoảng 190 điểm nóng cháy rừng ở Sumatra . Hầu hết các điểm nóng tập trung ở Nam Sumatra với 178 điểm, Jambi (11 điểm) và Bangka Belitung. (Vietnam + 30/9) đầu trang(
Những người bạn của nạn nhân cho hay họ bất ngờ nghe một tiếng hét lớn, khi nhìn lại thì chỉ thấy một con cá mập vùng vẫy điên cuồng trong vùng nước lúc này đã nhuốm máu đỏ.
Theo điều tra báo cáo mới đây bất ngờ tiết lộ, vào tháng hai năm ngoái, một con cá mập trắng khổng lồ đã xuất hiện tại bờ biển phía nam nước Úc và tấn công một giáo viên trung học tên Sam Kellett (28) khi anh đang đi đâm lao bắt cá với bạn bè tại bờ biển bán đảo Yorke.
Các nhân chứng đã mô tả lại cảnh con cá mập dài khoảng 5 m quẫy cái đuôi khổng lồ của nó và tung mình lên khỏi mặt nước ngay tại nơi nạn nhân từng đứng ít phút trước, xung quanh là một vùng nước nhuộm đỏ máu.
Bạn của anh Kellett nói rằng họ không chứng kiến trực tiếp cuộc tấn công của con cá mập nhưng họ đã biết rằng anh Kellett đã gặp chuyện tồi tệ khi chỗ anh ấy vừa đứng lúc trước nay đã chuyển thành một vũng máu đỏ.
Trước đó, nhóm mà anh Kellett tham gia đã lên kế hoạch tổ chức ở Chinamas Hat Island tại Vườn quốc gia Innes. Tuy nhiên, một cảnh báo cháy rừng buộc họ phải dời đến bãi biển Goldsmith, nơi xảy ra tai nạn, cách chỗ cũ hơn 100 km. Anh cùng nhóm đã tham gia một cuộc thi lặn kết hợp đánh bắt cá.
Trước khi xảy ra vụ việc, nạn nhân và nhóm bạn đã lặn đến ba tiếng đồng hồ nhưng không phát hiện dấu hiệu nào của con cá mập khổng lồ. Đến khi mọi người bắt đầu bắt cá, một người trong nhóm lặn thuật lại, họ mới nghe thấy một tiếng hét lớn. Khi quay lại nhìn, nhóm bạn chỉ còn thấy một con cá mập xuất hiện ngay chỗ mà anh Kellett vừa hiện diện vài giây trước đó.
Trong bản khai của mình, nhân chứng Nicholas Carson cho biết anh lúc đó chỉ cách Kellett khoảng 25 m. Anh nói: ”Tôi đang ở phía sau con cá mập nên có thể thấy rất rõ cái thân hình đồ sộ đó nhảy khỏi mặt nước như thế nào. Tôi nghĩ nó dài khoảng 5 m và có màu xám đậm. Nó trông giống như một con cá mập trắng, mọi thứ diễn ra quá nhanh và bất ngờ”.
Cảnh sát vẫn chưa thể tìm ra thi thể của anh Kellett nhưng họ đã tìm thấy các thanh chì hỗ trợ lặn và súng giáo của anh. Trên đó có in rõ vết răng phù hợp với vết cắn của cá mập, bản báo cáo cho hay. (Pháp Luật TP.HCM 30/9) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang